RSS

Tag Archives: Phật Giáo

Làm sao để đức Phật luôn có mặt với bạn

Làm Sao Để Đức Phật Luôn Có Mặt Với Bạn ( Thích Nhuận Hải )

 

Dưới lăng kính của Phật Giáo Đại Thừa, Đức Phật được biểu hiện qua nhiều hình ảnh và ý nghĩa, như chúng ta nghe nói đến “Tam Thân” của Phật, đó là: Báo thân, Hóa thân và Pháp thân. Trong ý nghĩa đó, dù Báo thân của Phật không còn, nhưng Hóa thân và Pháp thân vẫn luôn còn đó để soi đường chỉ lối cho chúng ta. Đức Phật vẫn hiện hữu giữa lòng nhân loại để đem nguồn hạnh phúc đến mọi người. Vấn đề là chúng ta phải làm sao tiếp xúc với Phật, để Đức Phật ở trong ta hiển lộ, để Đức Phật có mặt với chúng ta mỗi giây phút, làm cho đời sống của chúng ta trở nên có ý nghĩa, trở nên an vui thật sự.

Tùng Thẩm, một thiền sư nổi tiếng của Trung Hoa, có nói: “Phật vàng không khỏi hư hoại do lò đúc. Phật gỗ không khỏi hư hoại do lửa cháy và thời gian. Phật đất không khỏi hư hoại do nước. Duy chỉ có Phật thật ngồi ở bên trong thì bất hoại mà thôi.” Cho chúng ta thấy rằng Phật tánh trong mỗi chúng ta mới là quan trọng, còn mọi hình tướng bên ngoài chỉ là giả tướng, chứ bản chất vốn không thật. Như vậy, để Đức Phật có mặt với chúng ta, chúng ta phải tiếp xúc được với những đức tính của Phật, làm cho những đức tính đó hiển lộ ra nơi con người chúng ta. Làm được như vậy, Đức Phật sẽ có mặt với chúng ta, bảo hộ, che chở cho chúng ta.

Những đức tính biểu trưng của một Đức Phật là gì? Đó là tâm từ bi, là tuệ giácsự tỉnh thức thường trực. Các đức tính này có sẵn trong mỗi chúng ta, chỉ cần chúng ta biết tiếp xúc với các đức tính này thì Phật tánh ở trong chúng ta sẽ hiển lộ một cách tự nhiên. Tu tập có nghĩa là chúng ta có chánh niệm trong mọi hoàn cảnh, giữ tâm ý của chúng ta được định tĩnh, tự chủtỉnh thức trong mọi lúc, mọi nơi, để tạo ra nguồn an lạc cho chính mình và mọi loài xung quanh. Đây là cốt lõi của sự tu tập.

Một trong những pháp môn quan trọng trong đạo Phật, có khả năng giúp con người thoát ly những khổ đau, trói buộc của cuộc đời, là pháp môn thiền quán. Trong Kinh Tứ Niệm Xứ (Satipatthna Sutta), Phật dạy các thầy tỳ kheo rằng: “Này quý vị! Quý vị hãy an trú trong phép quán niệm thân thể nơi thân thể, cảm thọ nơi cảm thọ, tâm thức nơi tâm thức, và đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức một cách tinh cần, sáng suốt, và tỉnh thức để loại trừ mọi tham dục và chánh bỏ đối với cuộc đời.”

Như vậy, hành thiền có nghĩa là khi hành giả đang làm gì, nói gì và suy nghĩ gì, vị ấy đều phải ý thức rõ về những gì mình đang làm, nói và suy nghĩ; tức là tâm của hành giả phải trú trong hiện tại để sống trọn vẹn, định tĩnh và tự chủ với những gì đang xảy ra. Đây chính là sự thực hành thiền quán trong mỗi giây phút để chúng ta có thể trở về với chính mình một cách hoàn toàn, không để ngoại cảnh lôi kéo. Khi chúng ta ý thức được những gì đang xảy ra, chúng ta mới có thể ngăn ngừa không cho những ý niệm xấu xâm nhập vào tâm của chúng ta, cũng như không để cho chúng biểu hiện ra bên ngoài. Nhờ có ý thức được như vậy, chúng ta có thể làm chủ được mình và không để cho những điều không hay xảy ra. Nếu chúng ta không có sự tỉnh thức trong mọi hoàn cảnh, để khi sự việc đã xảy ra rồi, dù có muốn ngăn ngừa cũng đã quá trễ.

Làm sao để khi cư xử với mọi người trong đời sống hàng ngày, bạn có thể cư xử một cách nhân ái và tế nhị, là điều rất quan trọng. Cách sống của bạn nói lên thực chất con người bạn và chứng tỏ khả năng tu chứng của bạn. Thực tập quán sát chính mình trong đời sống hàng ngày sẽ giúp cho bạn hiểu rõ mình hơn. Điều quan trọng là bạn trở về với chính mình, nhận diện và kiểm soát tâm ý và hành động của bạn; dần dần, cách cư xử của bạn sẽ trở nên tinh tế hơn, từ ái hơn và chân thành hơn. Bạn sẽ là một người có an lạc và có thể mang nguồn vui đến cho mọi người. Nếu bạn có hạnh phúc, tất cả mọi người trong gia đình cũng như ngoài xã hội đều được thừa hưởng niềm hạnh phúc của bạn.

Tại Việt Nam cũng như các nước Á châu, mỗi gia đình theo đạo Phật thường có bàn thờ Phật rất trang nghiêm ở giữa nhà để thờ cúng, chiêm bái mỗi ngày. Đây là một truyền thống tốt đẹp. Nếu chúng ta biết áp dụng vào việc tu tập, bàn thờ Phật sẽ là nơi giúp ta và gia đình rất nhiều trong đời sống tâm linh. Tôi đã thấy ở Việt Nam có nhiều gia đình Phật tử thuần thành, mỗi buổi tối, cha mẹ và con cái sau khi ăn cơm và tắm rửa xong, đều đến trước bàn thờ Phật, cùng nhau dâng hương lễ Phật, rồi ngồi tĩnh tâm khoảng mười lăm phút và tụng một bài kinh ngắn, rất thah tịnh và ấm áp. Sau đó mọi người xá chào nhau và đi làm việc riêng của mình. Có những gia đình khác, mỗi buổi sáng, trước khi đi làm hay đi học, mọi người đến trước bàn thờ Phật. Họ ngồi xuống yên lặng, thỉnh ba tiếng chuông thật ấm và trong, thực tập theo dõi hơi thở và nở nụ cười trong vòng vài phút cho thân tâm nhẹ nhàng, định tĩnh. Sau đó họ đứng dậy xá Phật rồi mới rời nhà. Đây là một phương pháp thực tập rất hay. Nếu chúng ta biết bắt đầu mỗi ngày bằng sự tiếp xúc với Đức Phật thì còn gì cao đẹp hơn nữa? Và như vậy, chúng ta tiếp tục nuôi dưỡng sự tỉnh thức, nuôi dưỡng hình ảnh Đức Phật suốt ngày trong tâm tưởng thì chắc chắn chúng ta sẽ có một ngày an lạc.

Đây là những điều mà người lớn cần thực tập để trẻ em làm theo. Tức là chúng ta giáo dục con cái qua hành động chứ không bằng lời nói. Một Phật tử đã chia xẻ với tôi rằng: Bất cứ lúc nào anh cảm thấy bất an, thiếu tự chủ, thì anh thường bước vào căn phòng nhỏ của mình, ngồi xuống trong tư thế thoải mái và vững vàng để thực tập hơi thở và nụ cười như Đức Phật cho đến khi nào anh cảm thấy định tĩnh mới thôi. Anh cho biết phương pháp này đã giúp anh rất nhiều trong việc khôi phục chính mình và làm chủ hoàn cảnh chung quanh. Khi chúng ta biết thực tập thiền quán đều đặn mỗi ngày, chúng ta sẽ tạo được không khí yên tĩnh, ấm cúng và thương yêu trong gia đình. Lúc con cái của bạn có những khó khăn, bực bội, là lúc bạn tìm cách giúp chúng. Những lúc đó, sự trầm tĩnh của bạn rất cần thiết. Bạn không nên lớn tiếng hay la rầy con cái lúc đó, mà bạn hãy nên ôn tồn cầm tay con, rồi cùng đi vào trước bàn Phật, hay một căn phòng yên tĩnh, cùng ngồi xuống, thở những hơi thở khoan thai và đầy ý thức trước khi bắt đầu nói chuyện. Đây là cách thực tập để làm chủ chính mình.

Đức Phật vẫn luôn hiện hữu với mọi người và mọi loài, khắp mọi nơi, và ở ngay trong trái tim của mỗi chúng ta. Nếu chúng ta biết trở về, biết sống tỉnh thức trong từng phút giây một cách sâu sắc và trọn vẹn, thì ngay lúc đó chúng ta tiếp xúc được với đức Phật, với Phật tánh trong ta. Nụ cười sẽ nở trên môi bạn thật tươi thắm. Có niềm vui nào lớn hơn sự tịnh lạc của tâm hồn, phải không bạn?

Thứ sáu, ngày 06 tháng sáu năm 2008

Chấp tướng ( HT Tịnh Không )

 
Tâng bốc, khen ngợi mình, hạ thấp người khác trong Du Già Giới Bổn là một giới nặng nhất — giới tự tán hủy tha. Trong Phạm Võng Giới Bổn thì thấp hơn bốn giới trọng. Tại sao lại nặng như vậy. Vì chấp tướng. Tiêu chuẩn của kinh Kim Cang nói chấp bốn tướng thì chẳng phải Bồ Tát. Nếu cống cao ngã mạn, cứ nghĩ mình đúng, cứ nghĩ mình hạng nhất thì tiêu tùng rồi, cho dù làm được rất nhiều việc tốt thì cũng là phước báo hữu lậu của thế gian, đối với việc liễu sanh tử, xuất tam giới chẳng có liên quan gì hết.

Chúng ta học Phật, đặc biệt là người xuất gia, một lòng một dạ phải muốn thoát ly tam giới, đây là phương hướng, mục tiêu chung. Hết thảy danh văn lợi dưỡng, vinh hoa phú quý trong thế gian đều phải xả bỏ sạch sành sanh từ trong tận đáy lòng, phải niệm niệm vì Phật pháp, vì chúng sanh, vì muốn tương ứng với bổn nguyện của A Di Ðà Phật và mười phương chư Phật. Nếu niệm niệm vẫn còn một cái ‘Ta’ tồn tại thì sẽ tương ứng với ma. Chỗ khác nhau của ma và Phật tức là niệm niệm của ma đều vì tự mình

Phật Giáo Yếu Lược, Narada Thera – H.T. Thích Trí Chơn dịch
Phật Học Khái Luận, TT. Thích Chơn Thiện
Phật Giáo và Tự Do Tư Tưởng, Tỳ Kheo Thích Quảng Bảo
Phật Giáo Khái Luận, Thích Mật Thể

Advertisements
 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Một 4, 2010 in Phật Giáo

 

Nhãn:

Nghi thức tang lể – Chùa Phật Quang

Trang 1 9 8 7 2 3 4 5 6 10 11 12 13 14 15

NGHI THỨC TANG LỄ
            ***
LỄ NHẬP LIỆM
NIỆM HƯƠNG

Nguyện đem lòng thành kính
Gửi theo đám mây hương
Phảng phất khắp mười phương
Cúng dường ngôi Tam Bảo
Thề trọn đời giữ đạo
Theo Phật Pháp làm lành
Cùng pháp giới chúng sanh
Cầu Phật từ gia hộ
Tâm Bồ Đề kiên cố
Chí tu học vững bền
Xa bể khổ nguồn mê
Chóng quay về bờ giác.

KỲ NGUYỆN :
Hôm nay ngày ….. tháng ….. năm ………. đệ tử chúng con thành tâm quỳ trước Phật đài tụng kinh cầu nguyện cho hương linh …………………………………….
Ngưỡng mong mười phương chư Phật, chư vị Bồ Tát phóng quang tiếp dẫn hương linh, quy y Tam Bảo, xả bỏ duyên trần, tu tập pháp lành, nương nhờ Phật lực để sớm vãng sanh về cõi an lạc.
Nguyện cầu tất cả chúng sanh đồng thành Phật đạo.
Nam Mô Siêu Lạc Độ Bồ Tát (3 lần)

CÚNG HƯƠNG
Giới hương, định hương, dữ huệ hương
Giải thoát, giải thoát tri kiến hương
Quang minh vân đài biến pháp giới
Cúng dường thập phương Tam Bảo tiền
Nam Mô Hương Cúng Dường Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần)
(đứng dậy cắm hương lên rồi chắp tay đứng thẳng tụng bài Tán Thán Phật hoặc hát bài Khúc Tán Ca Tôn Kính Phật)

KHÚC TÁN CA TÔN KÍNH PHẬT

Kính lạy Đấng Vô Thượng
Người là cành Hoa Sen
Nơi biển đời nhân thế
Người là nguồn thương yêu
Bao dung khắp muôn loài
Là mặt trời ban mai
Đem ánh sáng cho đời
Dựng lại niềm tin sâu
Nơi tăm tối u sầu.
Quỳ lạy bậc Chánh Giác
Thầy của khắp trời người
Lòng từ bi bao la
Cha lành chung bốn loài
Người là một đại dương
Mà con như giọt nước
Người là ngọn cao sơn
Mà con như hạt bụi.
Con xin đảnh lễ Người
Với trọn lòng thiết tha
Quy y và tôn kính
Xin đem trọn cuộc đời
Đi theo bước chân Người
Xa lìa bờ vô minh
Tìm về nơi giác ngộ
Xin theo trái tim Người
Để trải lòng thương yêu
Bao dung khắp muôn loài
Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật (2 lần)

TÁN THÁN PHẬT

Đấng Pháp Vương Vô Thượng
Ba cõi chẳng ai bằng
Thầy dạy khắp trời người
Cha lành chung bốn loại
Nay con nguyện quy y
Diệt trừ vô lượng tội
Dâng lên lời tán thán
Ức kiếp vẫn không cùng

Phật chúng sanh tánh thường rỗng lặng
Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn
Lưới đế châu ví đạo tràng
Mười phương Phật bảo hào quang sáng ngời
Trước bảo tòa thân con ảnh hiện
Cúi đầu xin thệ nguyện quy y

LỄ PHẬT
• Chí tâm đảnh lễ: Nam mô khắp mười phương hư không tất cả Chư Phật (1 lạy)
• Chí tâm đảnh lễ: Nam mô khắp mười phương hư không tất cả Chánh Pháp (1 lạy)
• Chí tâm đảnh lễ: Nam mô khắp mười phương hư không tất cả Hiền Thánh Tăng (1 lạy)

TÁN LƯ HƯƠNG

Hương trầm thơm đốt
Xông thấu mười phương
Lòng thành dâng cúng
Chư Phật tỏ tường
Mây lành hóa hiện
Mưa Pháp tràn tuôn
Thấm nhuần khắp cõi
Ba nẻo sáu đường
Nam Mô Hương Vân Cái Bồ Tát (3 lần)
Kính lạy mười phương Phật
Kính lạy mười phương Pháp
Kính lạy muời phương Tăng
Xin từ bi tiếp dẫn
Cho hương linh nơi đây
Thân nằm nhẹ hồn bay
Duyên trần thôi đã hết
Cho hương linh nương tựa
Về an trú già lam
Được thấu rõ đạo mầu
Quy y và siêu thoát
Cúi xin chư Hộ Pháp
Dạy dỗ cho hương linh
Biết tôn kính Phật Đà
Chư Bồ Tát từ bi
Chư Thánh Tăng giác ngộ
Cúi xin chư Hộ Pháp
Dạy dỗ cho hương linh
Dâng trọn cả lòng mình
Kính tin Ba Ngôi Báu
Cho hương linh ý thức
Tuân thủ các giới điều
Không phóng dật tự kiêu
Sống trong vòng khuôn phép
Dạy hương linh hiểu biết
Cuộc sống ở thế trần
Danh lợi tựa phù vân
Hèn sang như giấc mộng
Dạy hương linh hiểu thấu
Từ chấp ngã ban đầu
Lòng ích kỷ ăn sâu
Thành tham lam ác độc
Hương linh hiểu kiêu mạn
Làm ô nhiễm thân tâm
Làm phát khởi lòng sân
Khiến tan dần công đức
Dạy hương linh cẩn thận
Chớ chia rẽ con người
Chớ chỉ trích chê cười
Để cho người nhục nhã
Dạy hương linh thấu rõ
Ngũ uẩn vốn hợp duyên
Sanh diệt mãi triền miên
Có gì đâu quyến luyến
Dạy hương linh Nhân Quả
Báo ứng rất công bình
Thiện ác rõ phân minh
Bởi nhân nào quả nấy
Cúi xin mười phương Phật
Gia hộ cho hương linh
Được sáng suốt an lành
Hướng về nơi cao thượng
Hương linh giờ hiểu rõ
Cùng tĩnh niệm chắp tay
Trọn kiếp chẳng đổi thay
Nguyện tin sâu Tam Bảo
Hương linh sống hòa hợp
Tâm nhu nhuyến hiền hòa
Đầy nhân ái vị tha
Đầy yêu thương hỷ xả
Nguyện làm lành không mỏi
Ác đạo quyết xa rời
Tinh tấn chẳng buông lơi
Không biếng lười giãi đãi
Nguyện thấy mình hạt cát
Giữa sa mạc mênh mông
Là giọt nước thanh trong
Giữa đại dương bát ngát
Nguyện xóa dần chấp ngã
Đã trói buộc bao đời
Tình thương trải muôn nơi
Bằng trái tim rộng mở
Đạo đức thơm lan tỏa
Mọi ngõ ngách cuộc đời
Nguyện chân lý tuyệt vời
Chiếu soi trong hoàn vũ
Nguyện đời đời theo Phật
Muôn kiếp vẫn không cùng
Lòng quyết giữ thủy chung
Dù chông gai nguy khó
Kính lạy Mười Phương Phật
Chư Bồ Tát Thánh Hiền
Trong pháp giới vô biên
Phóng từ quang tiếp dẫn
Cho hương linh tĩnh lặng
Dứt bỏ hết duyên trần
Ba nghiệp hết tham sân
Ra khỏi vòng tăm tối
Cho hương linh thấy lỗi
Hết ích kỷ, mạn, nghi
Phát khởi tâm từ bi
Yêu thương và độ lượng
Cho hương linh hướng thượng
Quyết dõng mãnh tu trì
Thoát ái dục mê si
Tiến tu sâu thiền định
Cho hương linh trí tuệ
Không lui bước giữa đường
Tâm nhẫn nhục kiên cường
Đến tận cùng tuyệt đối
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần)
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát (3 lần)
Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát (3 lần)
Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát (3 lần)
Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát (3 lần)

HỒI HƯỚNG
Nguyện pháp giới chúng sanh
Cùng tinh tấn tu hành
Thoát chấp ngã vô minh
Đồng viên thành Phật đạo.

LỄ PHÁT TANG
Xướng: Gia quyến cùng quỳ trước linh đài
Lạy hương linh (2 lạy)
TÁN THÁN PHẬT
Đại từ đại bi thương chúng sinh
Đại hỷ đại xả cứu muôn loài
Tướng tốt soi sáng tự trang nghiêm
Chúng con trọn tâm thành đảnh lễ
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Đây vành khăn trắng ngang đầu
Tâm trung chữ hiếu niệm đầu chữ nhân
Lòng thành tưởng nhớ người thân
Anh em cha mẹ ân nhân họ hàng
Công cha nặng cao bằng non Thái
Nghĩa mẹ sâu Đông Hải trùng dương
Phu thê… duyên nợ đoạn trường
Cả đời nương tựa đôi đường cách xa
Tình huynh đệ ruột rà ràng buộc
Nghĩa họ hàng quyến thuộc tình thân
Vô thường già trẻ chẳng phân
Âm dương cách biệt sơ thân hai đường
Nay tử biệt sinh ly cách trở
Mà thế trần duyên nợ đa mang
Hương linh tỉnh ngộ hồi tâm
Nương theo Chánh Pháp ngập tràn tình thương
Cúi lạy Phật mười phương gia hộ
Rải lòng từ tiếp độ hương linh
Chánh tà phải biết phân minh
Nương nhờ Phật lực tâm linh sáng dần
Hương linh nguyện chân thành học Phật
Hiểu thế gian muôn vật đổi dời
Thoát vòng sinh tử luân hồi
Nhất tâm tĩnh niệm thảnh thơi an nhàn
Hương linh nguyện siêng làm việc thiện
Dứt tham sân, đoạn tận gian tà
Mở lòng từ ái vị tha
Độ người, giúp vật thoát ra thế trần
Dâng trọn vẹn lòng thành tưởng niệm
Chấp tay sen khấn nguyện mười phương
Nguyện trên chư Phật tỏ tường
Cho hương linh được về nương cõi lành
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (10 lần)
Nam Mô Đại Từ Di Lặc Tôn Phật (3 lần)
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát (3 lần)
Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát (3 lần)
Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát (3 lần)
Nam Mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát(3 lần)

TAM QUY Y
• Tự quy y Phật nguyện cho chúng sanh hiểu sâu đạo cả phát tâm vô thượng (1 lạy)
• Tự quy y Pháp nguyện cho chúng sanh thấu rõ Kinh tạng trí huệ như biển (1 lạy)
• Tự quy y Tăng nguyện cho chúng sanh tâm ý hòa hợp biết thương mến nhau (1 lạy)

Xướng: lễ vừa hoàn mãn
toàn gia quyến lạy hương linh hai lạy.

LỄ CÚNG HƯƠNG LINH
Xướng: Gia quyến cùng quỳ
trước hương linh lễ hương linh (2 lạy)

TÁN CÀNH DƯƠNG
Cam lồ nước mát
Rải khắp tam thiên
Cành dương huyền nhiệm
Muôn loài tựa nương
Lòng từ rộng lớn
Công đức khôn lường
Sen hồng hóa hiện
Tiêu hết oan khiên
Nam Mô Thanh Lương Địa Bồ Tát (3 lần)

Đây vật thực thơm ngon tinh khiết
Của gia đình dâng cúng hương linh
Biết bao ơn nghĩa ân tình
Tĩnh tâm thọ lãnh, hương linh an lành.
Thọ thực xong tâm thành nghe pháp
Hiểu thế gian vui ít khổ nhiều
Kiếp người như nắng buổi chiều
Như sương buổi sớm lắm điều đổi thay
Đời đau khổ bởi đầy mê muội
Ích kỷ sâu, lầm lỗi càng tăng.
Kiêu căng, làm bậy sống càn
Chẳng so tội phước, chẳng màng nghiệp duyên
Đời hạnh phúc khi lòng rộng mở
Trọn vòng tay giúp đỡ thương nhau
Từ tâm đức hạnh nhiệm mầu
Ác duyên chấm dứt về mau cõi lành
Hương linh phát tâm thành theo Phật
Đấng đại hùng, đại lực, đại bi.
Tin sâu giáo lý diệu kỳ
Cứu người biển khổ thoát ly ách nàn
Thọ thực xong an lành mãn nguyện
Cùng pháp mầu huyền nhiệm cao sâu
Hương linh hết khổ hết sầu
Hết tâm phiền muộn vui câu an nhàn.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (10 lần)
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát (3 lần)
Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát (3 lần)
Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát (3 lần)
Nam Mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát (3 lần)

PHỤC NGUYỆN
Hương linh vừa thọ thực đầy đủ và an lành
Vừa nghe lời pháp nhủ mau phát khởi tâm thành
Nguyện tin sâu Tam Bảo thề dứt ác làm lành
Nguyện phát khởi thiện tâm được rộng sâu trí tuệ
Nguyện tu hành tinh tấn dù gian khó không sờn
Nguyện khắp cả tam thiên đồng trọn thành chánh giác.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

TAM QUY Y

• Tự quy y Phật nguyện cho chúng sinh hiểu sâu đạo cả phát tâm vô thượng (1 lạy)

• Tự quy Pháp nguyện cho chúng sinh thấu rõ kinh tạng trí tuệ như biển (1 lạy)

• Tự quy y Tăng nguyện cho chúng sinh tâm lý hòa hợp biết thương mến nhau (1 lạy)

Xướng: lễ vừa hoàn mãn, gia quyến lễ tạ hương linh hai lạy.

Phật Giáo Thời Kỳ Đầu, Nguyễn Ước
Phật Giáo Nền Tảng Của Khoa Học, Hòa thượng Prayudh Payutto, Tỳ Kheo Thích Tâm Quang Việt dịch
Phật Học Tinh Hoa, Một Tổng Hợp Triết Lý, HT. Thích Ðức Nhuận
Phật Học Tinh Yếu, HT. Thích Thiền Tâm
Phật Giáo Dưới Mắt Nhà Trí Thức, Tỳ Kheo Thích Tâm Quang dịch

 

Nhãn: ,

Nghi thức cầu siêu cho hương linh chết nước

Những Bài Kinh Tụng Hàng Ngày

Trang 1 9 8 7 2 3 4 5 6 10 11 12 13 14 15

 

        NGHI THỨC CẦU SIÊU
CHO HƯƠNG LINH CHẾT NƯỚC

LỜI NÓI ĐẦU

Tuy không thê thảm như chúng sinh ở dưới địa ngục, nhưng các vong linh chết dưới nước cũng bội phần khổ sở. Họ bị ràng buộc bởi chỗ chết mà không tự do thoát ra chỗ khác. Cảm giác đói và lạnh là nỗi bức xúc thường xuyên. Nhiều nỗi khổ khác rất chi tiết mà chúng ta không tiện nói ra hết vì e nhiều người không tin cho rằng mê tín. Sự ràng buộc bởi nghiệp chết nước cũng khá lâu dài, khiến họ cứ lẩn quẩn không thoát đi đâu được.
Những chúng sinh nhảy sông tự tử càng đau khổ nhiều hơn nữa. Họ tưởng chết rồi là không còn đau khổ vì chuyện thế gian, nhưng chết xong rồi mới biết làm ma chết nước thật là cay đắng, còn khổ hơn những chuyện đau khổ trên đời. Họ mới hối hận thà trước kia chịu đựng nhẫn nhục mọi điều để được sống mà làm phước, hơn là bây giờ không làm được điều gì để giải nghiệp.
Chỉ có những anh hùng tuẫn tiết vì đại sự thì không bị làm ma chết nước mà có thể tự tại đi nơi này nơi kia theo ý muốn của mình. Những người nhảy xuống nước cứu người để rồi chính mình lại bị chết đuối sau đó thì không bị ràng buộc dưới nước mà lại được phước sinh về cõi lành.
Còn những chúng sinh chết nước vì tai nạn đều bị ràng buộc rất lâu. Đó là do xưa kia họ cứ muốn dìm ai dưới nước. Bây giờ quả báo hiện ra là họ không đi đâu ra khỏi nước được.
Chúng ta cũng nghe danh từ dân gian “hà bá”. Đó là một viên chức nhỏ cai quản một vùng sông nước nào đó. Họ thường buộc các vong linh mới chết phải làm công việc coi ngó một khúc sông. Chỉ khi nào có người khác thay thế thì vong linh cũ mới được tự do rời đi.
Vì thương xót cho nỗi đau khổ của các chúng sinh mắc nghiệp chết nước nên chúng tôi soạn bài sám này để cầu giải nghiệp cho họ. Kính mong quý Tăng Ni và Phật tử ở gần vùng sông nước nên thỉnh thoảng ra bờ sông, bờ biển để tụng cầu siêu cho các vong linh chết nước. Được như vậy thì thật là âm dương đôi đường đều lợi, sống chết hai ngã đều an.
Nguyện mười phương pháp giới chúng sinh đồng thành Phật đạo.
Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

       SÁM CẦU SIÊU
HƯƠNG LINH CHẾT NƯỚC

(Chuẩn bị hoa quả, bánh trái, cơm nước, thức ăn, nhang đèn và đứng nơi gần bờ sông, bờ biển để tụng cầu siêu cho các vong linh chết nước.)

NIỆM HƯƠNG

Nguyện đem lòng thành kính
Gởi theo đám mây hương
Phảng phất khắp mười phương
Cúng dường ngôi Tam bảo
Thề trọn đời giữ đạo
Theo Phật pháp làm lành
Cùng pháp giới chúng sinh
Cầu Phật từ gia hộ
Tâm Bồ đề kiên cố
Chí tu học vững bền
Xa bể khổ nguồn mê
Chóng quay về bờ giác

KỲ NGUYỆN

Hôm nay, đệ tử chúng con vân tập về đây thành tâm trì tụng kinh “Sám cầu siêu cho những hương linh chết nước” nguyện mười phương chư Phật, chư Bồ Tát, chư Hộ Pháp phóng quang tiếp dẫn cho các hương linh đang chịu nhiều đau khổ vì mắc nghiệp chết nước về đây, thọ thực no đủ, nghe thấu lời kinh, phát khởi tâm thành quy y Tam Bảo, tinh tấn tu hành cùng tất cả chúng sinh đều trọn thành Phật đạo.
Nam Mô Siêu Lạc Độ Bồ Tát (3 lần)

CÚNG HƯƠNG
Giới hương, định hương, dữ huệ hương
Giải thoát, giải thoát, tri kiến hương
Quang minh vân đài biến pháp giới
Cúng dường thập phương Tam bảo tiền.
Nam Mô Hương Cúng Dường Bồ Tát (3 lần)

TÁN THÁN PHẬT

Đấng Pháp vương vô thượng
Ba cõi chẳng ai bằng
Thầy dạy khắp trời người
Cha lành chung bốn loại
Nay con nguyện quy y
Diệt trừ vô lượng tội
Dâng lên lời tán thán
Ức kiếp vẫn không cùng
Phật chúng sanh tánh thường rỗng lặng
Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn
Lưới đế châu ví đạo tràng
Mười phương Phật bảo hào quang sáng ngời
Trước bảo tòa thân con ảnh hiện
Cúi đầu xin thệ nguyện quy y.

LỄ PHẬT
• Chí tâm đảnh lễ: Nam mô khắp mười phương hư không tất cả Chư Phật (1 lạy)
• Chí tâm đảnh lễ: Nam mô khắp mừời phương hư không tất cả Chánh Pháp (1 lạy)
• Chí tâm đảnh lễ: Nam mô khắp mười phương hư không tất cả Hiền Thánh Tăng (1 lạy)

KHAI KINH

Pháp vi diệu rất sâu vô lượng
Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu
Con nay nghe được xin trì tụng
Nguyện hiểu Như Lai nghĩa nhiệm mầu.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần)

SÁM HỐI CHO HƯƠNG LINH
Thầy chủ lễ xướng:
Hương linh:……………………….
Đại chúng hòa theo:
Từ trước lỡ tạo nhiều ác nghiệp
Vì tham sân si mạn gây nên
Phát ra lời nói với việc làm
Hôm nay hương linh xin sám hối
Nam Mô Cầu Sám Hối Bồ Tát (3 lần, 3 lạy)

LẠY PHẬT QUY Y CHO HƯƠNG LINH
Thầy chủ lễ xướng:
Hương linh: ……………………..
Đại chúng hòa theo
Chí thành đảnh lễ mười phương Phật
Trí tuệ Từ bi che khắp nơi
Công đức thần oai trùm ba cõi
Cha lành Thầy dạy cả trời người
Hương linh với trọn lòng tôn kính
Muôn kiếp ngàn đời nguyện Quy y
Thân tâm từ đây cúng dường Phật
Vâng theo Chánh pháp để tu trì.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (1 lạy)
Nam Mô Đại Từ Di Lặc Tôn Phật (1 lạy)
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát (1 lạy)
Nam Mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát (1 lạy)
Nam Mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát (1 lạy)
Nam Mô Đại Lực Đại Thế Chí Bồ Tát (1 lạy)
Nam Mô Mười Phương Tất Cả Chư Phật Bồ Tát Hiền Thánh Tăng (1 lạy)

Tụng tiếp:

Quy y Phật rồi quy y Pháp
Lời dạy sâu mầu của Như lai
Khiến người lìa mê và thoát khổ
Chân lý muôn đời không đổi thay
Hương linh từ đây tôn kính Pháp
Trì tụng, khắc ghi để thực hành
Và nguyện ngàn sau muôn kiếp tới
Pháp lành đem độ khắp nơi nơi.

Nam Mô Phật Đà Vô Lượng Vô Biên Chánh Pháp (1 lạy)
Nam Mô Tam Thế Như Lai Tứ Diệu Đế Kinh (1 lạy)
Nam Mô Tam Thế Như Lai Bát Chánh Đạo Kinh (1 lạy)
Nam Mô Mười Phương Chư Phật Tứ Vô Lượng Tâm Kinh (1 lạy)
Nam Mô Mười Phương Chư Phật Vô Ngã Tối Thắng Kinh (1 lạy)
Nam Mô Mười Phương Chư Phật Bát Nhã Siêu Việt Kinh (1 lạy)
Nam Mô Mười phương Hiền Thánh Lưu Truyền Chân Chính Giáo Ngôn (1 lạy)

Tụng tiếp :

Quy y Pháp rồi quy y Tăng
Những vị xuất gia hành đúng pháp
Thay Phật giáo hoá giữa cuộc đời
Trí tuệ Từ bi như trăng tỏ
Hương linh từ đây tôn kính Tăng
Thường theo các chùa để nghe Pháp
Âm thầm ủng hộ chốn già lam
Yên ổn tu hành không chướng nạn.

Nam Mô Ma Ha Ca Diếp Đại Thánh Tăng (1 lạy)
Nam Mô Xá Lợi Phất Đại Thánh Tăng (1 lạy)
Nam Mô Mục Kiền Liên Đại Thánh Tăng (1 lạy)
Nam Mô A Nan Đà Đại Thánh Tăng (1 lạy)
Nam Mô Bồ Đề Đạt Ma Tổ Sư (1 lạy)
Nam Mô Điều Ngự Giác Hoàng Tổ Sư (1 lạy)
Nam Mô Hư Vân Đại Lão Thiền Sư (1 lạy)
Nam Mô Thập Phương Tam Thế Hiền Thánh Tăng (1 lạy)

CẦU SIÊU CHO HƯƠNG LINH
Kính lạy Phật từ bi cứu khổ
Phát thần oai tế độ chúng sinh
Năm xưa vương vấn tội tình
Bỏ thân chết dưới dòng xanh nước đầy
Bao năm tháng đọa đày khổ sở
Đêm mùa đông lạnh giá khôn nguôi
Bơ vơ đói kém chưa vơi
Lạc loài nhìn thấy dòng đời chảy xuôi

Theo bờ bụi sống chui sống rúc
Dưới gầm cầu lúc đục lúc trong
Cùng bèo trôi dạt lông bông
Gió to mưa lớn biển sông hãi hùng
Có khi chết nơi dòng nước thối
Chịu xiết bao rác rưởi tanh hôi
Khổ sầu chưa phút nào thôi
Nghiệp ràng buộc chặt chẳng dời đi đâu
Có khi chết biển sâu sóng cả
Thân nát tan tôm cá rỉa ăn
Dập dềnh theo sóng trôi lăn
Không bờ không bến nhọc nhằn điêu linh
Có khi tự gieo mình xuống nước
Cứ tưởng rằng chết được là yên
Nào ngờ cái chết tự quyên
Còn thê thảm gấp bội lần trước đây.
Nghiệp chết nước thật đầy cảnh tội
Do thuở xưa lầm lỗi gây nhân
Bây giờ sám hối ăn năn
Cầu xin Phật tổ ân cần thứ tha.
Hương linh nguyện thiết tha theo Phật
Lòng chí thành chuyên nhất quy y
Thênh thang đạo lộ từ bi
Mục tiêu Vô ngã bước đi đến cùng.

Vâng lời Phật mở lòng thương quý
Đến vạn loài pháp giới chúng sinh
Mong cho tất cả sinh linh
Thoát vòng khổ nạn, yên bình hân hoan
Hương linh nguyện muôn ngàn kiếp tới
Lòng không màng danh lợi thế gian
Tránh xa thù hận bạo tàn
Vượt qua ích kỷ dối gian tị hiềm.

Đối với Phật một niềm tôn kính
Giữ thân tâm chân chính cúng dường
Nghìn đời chỉ một con đường
Hướng về giác ngộ, hoằng dương đạo mầu
Nhờ Phật lực thẳm sâu rộng lớn
Đưa hương linh về chốn thanh lương

Xa lìa cảnh khổ thảm thương
Từ nay thệ nguyện kiên cường tiến tu.
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát (21 lần)

PHỤC NGUYỆN

Hôm nay, đệ tử chúng con vì chúng sinh bị mắc nghiệp chết nước mà trì tụng kinh này, nguyện mười phương chư Phật, chư Bồ Tát, chư Hộ Pháp gia hộ cho các chúng sinh bị đọa ở chốn này sớm thoát tội khiên, quy y Tam Bảo, khởi được Từ tâm, tạo công đức lành để hưởng phước nhơn thiên và tiến tu giải thoát.
Nguyện cho tất cả chúng sinh đều tin theo Phật Pháp, tránh xa điều ác, làm các việc lành, huân tu đạo đức, tinh tấn thiền định, tất cả đều thành tựu vô thượng Bồ Đề viên mãn chánh giác.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

TAM QUY Y

• Tự quy y Phật nguyện cho chúng sanh hiểu sâu đạo cả phát tâm vô thượng (1 lạy)
• Tự quy y Pháp nguyện cho chúng sinh thấu rõ kinh tạng trí tuệ như biển (1 lạy)
• Tự quy y Tăng nguyện cho chúng sinh tâm ý hòa hợp biết thương mến nhau (1 lạy)

 

Nhãn: ,

Lịch sử tam tạng kinh điển

Lịch sử Tam Tạng Kinh Điển
(Bình Anson)

Trong 45 năm truyền giảng con đường giải thoát, Đức Phật thu nhận rất nhiều đệ tử, có người xuất gia theo ngài và lập thành Tăng đoàn (Sangha), có người cũng còn tại gia, gọi là các cư sĩ. Vùng truyền giáo của ngài là vùng Đông Bắc Ấn Độ giáp biên giới xứ Nepal, dọc theo các nhánh sông thượng nguồn sông Gange (Hằng hà) [1, 2, 3].

Ngài thường được gọi là Đức Phật Cồ Đàm (Buddha Gotama). Chữ “Phật” là tiếng gọi tắt của “Phật Đà”, phiên âm từ chữ Phạn “Buddha” – người bình dân Việt Nam có nơi gọi là ông Bụt – nghĩa là người đã giác ngộ (Giác Giả) . Trong các kinh sách ghi lại, ngài thường tự gọi mình là Tagatatha (Như Lai). Ngài có rất nhiều đệ tử từ các quốc gia trong vùng, gồm đủ mọi thành phần trong xã hội, lứa tuổi, nam nữ, và từ nhiều nguồn gốc tín ngưỡng khác nhau.

Đức Phật đã để lại một kho tàng quí giá gồm nhiều bài thuyết giảng (Kinh, Sutta), thường được gọi tổng quát là “tám vạn bốn ngàn” pháp môn, trong nhiều dịp giảng dạy cho hàng đệ tử, bậc thánh thanh văn, cư sĩ, … Với sự phát triển và bành trướng của Tăng đoàn, Ngài đặt ra nhiều giới luật để tạo điều kiện thuận lợi trong công tác tu tập (Vinaya, Giới). Ngoài ra còn nhiều bài giảng đặc biệt khác mà về sau nầy được đúc kết lại trong bộ A Tỳ Đàm (Abhidhamma).

Kết Tập Đầu TiênBa tháng sau khi Đức Phật tịch diệt, một đại hội các vị tu sĩ (Tỳ khưu, Bhikkhu) được tổ chức, ngày nay được gọi là Đại Hội Tăng Già I, tại vùng đồi núi ngoại thành Rajagaha (Vương Xá). Mục đích là để kết tập các bài kinh giảng và các điều luật thành một hệ thống chặt chẻ hơn [4]. Chủ trì phần Luật là Tỳ khưu Upali (Ưu Ba Ly), và chủ trì phần Kinh là Tỳ khưu Ananda (A Nan Đà), là người cận sự với Đức Phật và vì thế có nhiều dịp nhất để nghe và ghi nhớ các bài giảng của Ngài. Đại hội gồm khoảng 500 vị cao tăng duyệt lại các giới luật và các bài thuyết pháp, sắp xếp thành hai nhóm chính: Luật Tạng và Kinh Tạng. Qua những thu thập lúc đó, Kinh Tạng được phân chia làm 4 Bộ chính: Trường bộ, Trung bộ, Tương ưng bộ, và Tăng Chi bộ.

Kết Tập Lần Thứ 2Trong 45 năm hoằng dương đạo pháp, Đức Phật đã đi nhiều nơi, giảng đạo cho nhiều người và kết nạp nhiều đệ tử. Các đệ tử của Ngài ở rải rác khắp nơi, không thể nào cùng về tham dự Đại hội đầu tiên. Do đó có thể có một số bài thuyết giảng và giới luật phụ do Đức Phật đặt ra đã không được kết tập trong kỳ Đại hội đó [4].

Vì vậy mà khoảng 100 năm sau, năm 383 trước CN, một đại hội kết tập kinh điển được tổ chức, theo yêu cầu của tăng chúng thành Vesali và Vajji [5]. Sau lần kết tập nầy, Luật Tạng được mở rộng với các giới luật mà các đại biểu cho rằng đã không được kết tập trong kỳ Đại Hội I, và một số các bài kinh giảng khác chưa kết tập, tạo thành một bộ kinh thứ 5 của Kinh Tạng (Tiểu Bộ).

Sau lần kết tập nầy, Luật Tạng và Kinh Tạng xem như đã thành hình, và các bài giảng có lẽ cũng giống như bài giảng mà chúng ta có được trong bộ Đại Tạng hiện nay [4].

Kết Tập Lần Thứ 3Một trăm ba mươi năm sau đó, năm 253 trước CN, vua Asoka (A Dục) của Ấn Độ cho triệu tập Đại hội lần thứ III. Tiểu Bộ của Kinh Tạng lại được mở rộng và kết tập thêm nhiều bài kinh giảng khác. Quan trọng hơn hết là việc Đại hội đã đúc kết các bài giảng về tâm lý, thể tính và sự tướng của vạn pháp, tạo thành Thắng Pháp Tạng (Abhidhamma, A Tỳ Đàm, Vi Diệu Pháp, Luận Tạng).

Kết Tập Lần Thứ 4Khoảng năm 20 trước CN, 500 năm sau ngày Phật nhập Đại Niết Bàn, vua Vattagamani của Tích Lan (Sri Lanka) triệu tập Đại Hội Tăng Già IV tại Aluhivihara — gần thành phố Kandy ngày nay [1], kết tập lại các phần Kinh, Luật, và đúc kết phần Thắng Pháp Tạng [6]. Để gìn giữ các bài giảng của Đức Phật dù đã kết tập nhưng chỉ truyền khẩu trong 500 năm qua, ba tạng kinh điển được cho viết lại trên một loại giấy bằng lá bối-đa khô [4, 10]. Từ đó Tam Tạng Pali được thành hình, và không còn thay đổi nào khác.

Trong thời kỳ gần đây, Miến Điện có tổ chức hai kỳ kết tập khác: kết tập lần thứ V, năm 1870, và lần thứ VI, năm 1954. Tuy nhiên các kỳ kết tập nầy chỉ để làm sáng tỏ các điểm chính trong kinh, nhưng không thay đổi gì trong bộ Tam Tạng [5].

Tam Tạng Kinh Điển“Tạng” hay “Tàng” là giỏ chứa, chổ chứa, tiếng Pali gọi là Pitaka. Ngày xưa tại các chùa lớn thường có một thư viện gọi là “Tàng Kinh Các” để lưu trữ các bộ kinh quí. Tam Tạng theo tiếng Pali gọi là Tipitaka, Ba Giỏ Chứa (The Three Baskets), gồm có Luật Tạng (Vinaya Pitaka), Kinh Tạng (Sutta Pitaka), và Thắng Pháp Tạng (Abhidhamma Pitaka, còn gọi là Vi Diệu Pháp, hay Luận Tạng). Sau đây là sơ lược về các tạng nầy:

1. Luật Tạng (Vinaya Pitaka)Tạng nầy bao gồm các giới luật và nghi lễ cho nam tu sĩ (Bhikkhu, Tỳ khưu) và nữ tu sĩ (Bhikkhuni, Tỳ khưu ni), cách thức gia nhập tăng đoàn, truyền giới luật, sinh hoạt tăng chúng, cách hành xử trong các trường hợp vi phạm giới luật, vv. Tạng nầy thường được chia làm 5 bộ [1, 7]:

1. Ba-la-di (Parajika),
2. Ba-dật-đề (Pacittiya),
3. Đại Phẩm (Mahavagga),
4. Tiểu Phẩm (Cullavagga), và
5. Toát Yếu (Parivara).

2. Kinh Tạng (Sutta Pitaka)Gồm 5 bộ chính (Nikaya): Trường Bộ (Digha Nikaya), Trung Bộ (Majjhima Nikaya), Tương Ưng Bộ (Samyutta Nikaya), Tăng Chi Bộ (Anguttara Nikaya), và Tiểu Bộ (Khuddaka Nikaya). Trong hệ Sanskrit (Bắc Phạn), các bộ nầy được gọi là các bộ A Hàm (Agamas). Tuy nhiên, các bộ A Hàm nguyên thủy đã bị thất lạc và chỉ còn tìm thấy các bản kinh tiếng Sanskrit rời rạc, mà hiện nay chỉ còn các bộ Hán dịch từ nhiều nguồn gốc bộ phái và qua nhiều đời khác nhau [6].

Trường Bộ là tập hợp các bài kinh dài, gồm 34 bài kinh, đã được dịch sang Việt ngữ, trong đó có hai quyển phổ thông nhất: Kinh Đại Bát Niết Bàn (Maha Parinibanna Sutta) và Kinh Đại Quán Niệm (Maha Satipattana Sutta). Ngoài các bài thuyết giảng của Đức Phật, Bộ nầy cũng có các bài giảng của Đại Đức Sariputta (Xá Lợi Phất), vị đệ tử hàng đầu có tài thuyết giảng hùng biện nhất thời đó, và các vị đệ tử nỗi tiếng khác.

Trung Bộ gồm có 152 bài kinh sắp xếp trong 15 phẩm, theo từng chủ đề. Bộ kinh nầy rất phổ thông trong giới Phật tử sử dụng Anh ngữ và cũng đã được dịch sang Việt ngữ. Bản dịch Anh ngữ được hiệu chỉnh nhiều lần, và bản dịch mới nhất đã được hội Buddhist Publication Society, Tích Lan, xuất bản năm 1995. Các bài kinh quan trọng thường có liên quan đến phép hành thiền quán niệm (Satipattana Sutta), chính kiến (Sammaditthi), cách tịnh tâm (Kakacupama), cuộc đời Đức Phật (Ariyaparyesana), tứ diệu đế (Mahahatthipadopama), không tính (Culasunnata), quán niệm hơi thở (Anapanasati), vv… Có thể nói đây là một bộ kinh quan trọng nhất, bao gồm các bài giảng thiết yếu trên đường tu tập, thực hành lời Phật dạy.

Tương Ưng Bộ gồm 2,889 bài kinh ngắn, chia làm 5 chương và 56 phẩm. Đây là tập hợp các bài kinh có chủ đề giống nhau về một điểm thảo luận, hoặc về một nhân vật nào đó trong thời Đức Phật. Có những bài giảng quan trọng về 12 nhân duyên và về 37 phần bồ đề (37 phẩm trợ đạo).

Tăng Chi Bộ là bộ kinh dựa theo cách sắp xếp số học (pháp số), từ các chủ đề có liên quan đến 1 phần tử, 1 yếu tố, dần dần lên đến các chủ đề có 11 phần tử hay yếu tố. Vì vậy, bộ kinh được chia làm 11 chương, gồm 2,308 bài kinh.

Tiểu Bộ thật ra không phải là bộ sách nhỏ, mà là tập hợp 15 bộ sách nhỏ:

  1. Tiểu Tụng, Khuddaka Patha
  2. Pháp Cú, Dhammapada
  3. Phật Tự Thuyết, Udana
  4. Như Thị Ngữ (Phật Thuyết Như Vậy), Itivuttaka
  5. Kinh Tập, Sutta Nipata
  6. Thiên Cung Sự, Vimana Vatthu
  7. Ngạ Quỷ Sự, Peta Vatthu
  8. Trưởng Lão Tăng Kệ, Theragatha
  9. Trưởng Lão Ni Kệ, Therigatha
  10. Bổn Sanh, Jataka
  11. Nghĩa Thích, Niddesa
  12. Vô Ngại Giải Đạo, Patisambhidamagga
  13. Thí Dụ, Apadana
  14. Phật Sử, Buddhavamsa
  15. Sở Hạnh Tạng, Cariya Pitaka

3. Thắng Pháp Tạng (Abhidhamma Pitaka)Còn gọi là Vi Diệu Pháp hay Luận Tạng, đây là tập hợp các bài giảng của Đức Phật về thể tính và sự tướng của vạn pháp, phân giải triết học và tâm lý học. Thắng Pháp Tạng gồm có 7 quyển:

1. Pháp tụ (Dhammasangani)
2. Phân biệt (Vibhanga)
3. Giới thuyết (Dhatukatha)
4. Nhân thi thiết (Puggala Pannatti)
5. Biện giải (Kathavathu)
6. Song luận (Yamaka)
7. Nhân duyên thuyết (Patthana).

4. Các thánh điển trọng yếu khác:Ngoài Tam Tạng Kinh Điển còn có các bộ Chú Giải và Phụ Chú Giải Kinh Điển, và một số các tác phẩm Pali quan trọng khác cũng được học tập và lưu truyền cho đến ngày nay:

Đảo sử (Dipavamsa)
Đại sử (Mahavamsa)
Tiểu sử (Culavamsa)
Mi Lan Đa vấn đạo (Milindapanha)
Thanh tịnh đạo luận (Visuddhi Magga)
Thắng pháp tập yếu luận (Abhidhammattha Sanghaha)

Đại Tạng Việt NgữMặc dù Phật Giáo là một tôn giáo lớn ở Việt Nam và đã có mặt lâu đời tại đất nước ta trên 18 thế kỷ, cho đến nay chúng ta vẫn chưa có một bộ Tam Tạng đầy đủ bằng chữ Việt. Điều nầy đã được ghi nhận từ đầu thập niên 1950 [5], mà đã 40 năm qua, công tác dịch thuật vẫn chưa hoàn tất. Thật ra, công trình dịch thuật sang chữ quốc ngữ từ các kinh điển Hán tạng bắt đầu trong thập niên 1930 với nhiều vị danh tăng và học giả trong các phong trào phục hưng Phật Giáo và chấn hưng Phật học [11].

Một chương trình phiên dịch và ấn hành Đại Tạng Kinh Việt Nam đã được tiến hành trở lại từ năm 1989, dựa trên các bộ chữ Pali và chữ Hán. Đến nay (1998), Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam đã phát hành Trường Bộ (và Trường A Hàm), Trung Bộ (và Trung A Hàm), Tương Ưng Bộ (và Tạp A Hàm), Tăng Chi Bộ (và Tăng Nhất A Hàm) bằng Việt ngữ, cùng với các quyển trong Tiểu Bộ: Kinh Tập, Pháp Cú, Như Thị Ngữ, Phật Tự Thuyết, Trưởng Lão tăng Kệ, Trưởng Lão Ni Kệ, Bổn Sanh, v.v.

Hệ phái Nguyên Thủy (Nam Tông) Việt Nam đã ấn hành các bộ Vi Diệu Pháp do Hòa thượng Tịnh Sự dịch. Bộ Luật cơ bản đã được dịch từ các bản chữ Hán (Luật Tứ Phần Giới Bổn Như Thích, HT Hành Trụ dịch). Các quyển Thanh Tịnh Đạo (Ni sư Trí Hải dịch), Thắng Pháp Tập Yếu Luận (HT Minh Châu dịch) và Mi Lan Đa Vấn Đạo (Mi Tiên Vấn Đáp, HT Giới Nghiêm dịch) cũng đã được xuất bản trong những năm gần đây. Thêm vào đó, vào cuối năm 2005, Tỳ khưu Indacanda đã hoàn tất công tác dịch thuật toàn bộ Tạng Luật từ nguồn Pali.

-oOo-
Ghi chú: Toàn bộ kinh điển Pali ngữ và bản dịch Anh ngữ đã được Hội Kinh Điển Pali (Pali Text Society) lần lượt xuất bản trong 100 năm qua. Xin xem bài giới thiệu bằng Anh ngữ  http://zencomp.com/greatwisdom/ebud/ebsut028.htm

Tham Khảo[1] Narada Mahathera (1980), The Buddha and His Teachings, Buddhist Publication Society, Sri Lanka (Đức Phật và Phật Pháp, bản dịch Việt ngữ của Phạm Kim Khánh)
[2] Thích Nhất Hạnh (1992), Đường Xưa Mây Trắng, Lá Bối, France
[3] Sister Vijira and Francis Story (1988), The Maha Parinibbana Sutta, Buddhist Publication Society, Sri Lanka
[4] Bodhesako (1984), Beginnings: The Pali Suttas, Buddhist Publication Society, Sri Lanka
[5] Thích Đức Nhuận (1983), Phật Học Tinh Hoa, Phật Học Viện Quốc Tế, USA
[6] Christmas Humprhey (1962), Buddhism, Penguin Books, UK
[7] Russell Webb (1991), An Analysis of The Pali Canon, Buddhist Publication Society, Sri Lanka
[8] Thích Chơn Thiện (1991), Tăng Già Thời Đức Phật, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, Vietnam
[9] Phạm Kim Khánh (1997), Hành Hương Xứ Phật, Trung Tâm Narada, Seatle, USA
[10] H.W. Schuman, The Historical Buddha (Đức Phật Lịch Sử, bản dịch Việt ngữ của Trần Phương Lan, Viện Nghiên Cứu Phật Học, Sài Gòn, 1997).
[11] Nguyễn Lang (1985), Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, Tập 3, Lá Bối, France.

Làm Thế Nào Cứu Vãn Phong Khí Xã Hội, HT. Tịnh Không Giảng (PDF)
Lược Sử Thời Gian
Lược Sử Thời Gian, (A Brief History of Time), Tác Giả:-Steven Hawking – Dịch Giả:-Thích Viên Lý
Lược Sử Thời Gian, Dịch Gỉa: Cao Chi và Phạm Văn Thiều
Luận Về Nhân Quả, TT. Thích Chân Quang

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Một 4, 2010 in Phật Giáo

 

Nhãn:

Nghi thức quy y tam bảo – Chùa Phật Quang

Nghi Thức Quy Y Tam Bảo

Trang 1 2

Phần I
Ý KIẾN BAN ĐẦU

Chúng tôi soạn Nghi Thức Lễ Quy Y này với ít cải cách để phù hợp với nhu cầu phát triển của Đạo Phật trong thời đại mới.
Lễ Quy Y là cửa ngõ vào Đạo của mọi Đệ Tử Phật. Nếu Lễ Quy Y chu đáo, hoàn chỉnh, trang trọng thì ấn tượng tốt đẹp để lại trong lòng người Phật tử đủ mạnh để họ có thể tăng tiến Đạo tâm lâu dài về sau. Ngược lại, một lễ Quy Y hời hợt, vội vã, thiếu trang trọng thì người Phật tử cũng dễ mau quên.
Những Nghi Thức chúng tôi giới thiệu trong đây chỉ là sự gợi ý. Các vị Bổn Sư có thể uyển chuyển, sáng tạo sao cho phù hợp với tình hình thực tế và hoàn chỉnh hơn.
Chúng tôi cho rằng Năm Giới Cấm chưa đủ nói lên Đạo Đức của Đạo Phật vốn rất mênh mông vi diệu (xin xem Quan Điểm Người Trụ Trì, Chơn Quang). Vì thế chúng tôi mạnh dạn đưa vào Bảy Điều Nguyện để Phật tử “phải” thọ trì khi Quy Y. Bảy Điều Nguyện đó là: tập ăn chay, học pháp, thực hành tu tập, làm việc từ thiện, Phật hóa gia đình, phổ biến giáo pháp và kiên cường hộ đạo.
Bảy Điều Nguyện này thúc đẩy sự tích cực năng động nơi một người Phật tử. Nếu tất cả Phật tử đều có sự tích cực năng động như vậy thì Toàn Bộ Đạo Phật sẽ chuyển mình để trở thành một sự hiện diện đầy lợi ích cho xã hội.
Chúng tôi đề nghị nên để một người có những hiểu biết về Phật Pháp tương đối nào đó đủ để họ tin rằng trở thành Đệ Tử Phật là một điều đúng đắn, trước khi được vị Bổn Sư chấp nhận cho Quy Y. Có thể họ đã xem qua vài cuốn sách, dự vài buổi giảng, nghe vài cuộn băng và mong được trở thành Phật tử.
Nhưng đôi khi một bậc cha mẹ đã cho con trẻ đến chùa Quy Y khi chúng chưa hiểu nhiều về Phật Pháp, và vị Bổn Sư cũng không thể từ chối. Trường hợp như vậy, vị Bổn Sư phải giao trách nhiệm hướng dẫn sự tu học cho đứa trẻ nơi cha mẹ của chúng.
Nên cho (đúng ra là nên cưỡng bách) trẻ tụng bài “Lời Nguyện Cầu Buổi Sáng Dành Cho Trẻ” mỗi ngày để chúng huân tập những ý niệm đơn giản về lòng tôn kính Phật, về lòng hiếu thảo, về lòng thương người, về Đạo Đức.dần dần.
Trước khi lên Chánh Điện làm lễ thì pháp danh đã được đặt, lá phái đã được viết. Không nên làm lễ rồi mà chưa có pháp danh hay lá phái. Buổi lễ sẽ mất ấn tượng. Nghĩa là Phật tử phải ghi tên từ trước để vị Bổn Sư có thời gian đặt pháp danh, để người trong chùa viết lá phái. Phật tử phải có hình để dán vào sổ lưu của chùa. Trong sổ lưu này có địa chỉ liên lạc và hình chân dung của Phật tử để chùa cần thì liên hệ và… nhìn hình để nhớ mặt.
Về mẫu lá phái thì chúng tôi cũng đề nghị một mẫu mới với lối trang trí hiện đại hơn, đẹp hơn. Trong đây, phần Tam Quy được định nghĩa:
Quy Y Phật, đệ tử nguyện trọn đời tôn thờ Đấng Chánh Giác.
Quy Y Pháp, đệ tử nguyện trọn đời tôn thờ lời Phật dạy.
Quy Y Tăng, đệ tử nguyện trọn đời tôn thờ những vị xuất gia tu hành chân chính.
Phần Năm Giới Cấm thì giới thứ tư ghi là “không nói bậy” vì nói bậy bao gồm cả 4 điều: ác ngữ, nói dối, nói chia rẽ, nói khoe khoang. Giới thứ năm ghi là “không dùng các chất gây say nghiện” để bao gồm luôn cả ma túy.
Sau Năm Giới Cấm là Bảy Điều Nguyện. Dưới Bảy Điều Nguyện là phần tên, năm sinh (không ghi tuổi), pháp danh, địa chỉ và lời phát nguyện Quy Y thọ trì Tam Quy, Năm Giới, Bảy Nguyện.
Hình Phật được chụp Scanner, nền được quét màu chuyển từ vàng sang hồng. Một hoa sen hồng to lót giữa nền phái. Kỹ thuật in Offset thay cho lối in lụa sơ sài.
Có những trường hợp một Phật tử đã từng Quy Y nơi khác, nay lại đến xin Quy Y lại. Vị Bổn Sư nên dè dặt để tránh mích lòng. Nếu vị Bổn Sư cũ đã tịch lâu, ý Phật tử cảm thấy muốn xin Quy Y để gắn bó thân tình hơn thì có thể chấp nhận. Nếu trước kia người Phật tử dự Quy Y tại một chùa nào đó một cách vội vã, hoặc chỉ ghi tên rồi nhận lá phái, hoặc sau Quy Y rồi chẳng hề gặp lại Bổn Sư… thì có thể chấp nhận.
Có trường hợp một người từ Thiên Chúa Giáo xin Quy Y. Vị Bổn Sư, dĩ nhiên phải khuyên họ phải lập bàn thờ Phật để lễ kính, nhưng cũng nên khuyên họ giữ tượng Chúa ở một nơi nào trang trọng. Nên xem Chúa Jésus như là một Bồ Tát thị hiện giáo hóa cho dân Do Thái vốn tin vào Cựu Ước một cách lạc hậu và hẹp hòi. Chúa Jésus đã có những cải cách rất đáng kể và rất gần với Đạo Phật.
Trên đây là vài ý kiến đối với vấn đề Quy Y Tam Bảo, kính mong các vị Tôn Túc khoan thứ cho những sai lầm và xin bổ sung những điều còn thiếu.
Kính ghi
Tỳ kheo CHÂN QUANG
(2007)

NGHI THỨC QUY Y TAM BẢO
—&–

Phật tử mặc áo tràng nghiêm chỉnh tập trung vào chánh điện, đứng chắp tay hướng về tượng Phật, nghe một hồi khánh xá Phật rồi quỳ xuống nghe thầy Bổn Sư niệm hương.

NIỆM HƯƠNG
Nguyện đem lòng thành kính
Gởi theo đám mây hương
Phảng phất khắp mười phương
Cúng dường ngôi Tam Bảo
Thề trọn đời giữ đạo
Theo Phật Pháp làm lành
Cùng pháp giới chúng sanh
Cầu Phật từ gia hộ
Tâm Bồ Đề kiên cố
Xa bể khổ nguồn mê
Chóng quay về bờ giác.

KỲ NGUYỆN
Hôm nay các Phật tử:
…………………………………………………
cần thỉnh đệ tử Tỳ Kheo: ……………………………………………………
tác lễ truyền trao Tam Quy, Ngũ Giới, Thất Nguyện. Cầu trên Mười Phương Tam Bảo lai lâm chứng giám, khiến cho các đệ tử tội diệt phước sanh, thiện căn tăng trưởng, đạo tâm bất thối, tinh tấn tu hành, chóng thành Phật Đạo.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

NIỆM HƯƠNG
Giới hương, định hương, dữ huệ hương
Giải thoát, giải thoát tri kiến hương
Quang minh vân đài biến Pháp giới
Cúng dường Thập Phương Tam Bảo tiền
Nam Mô Hương Cúng Dường Bồ Tát

TÁN PHẬT
Đấng Pháp Vương Vô Thượng
Ba cõi chẳng ai bằng
Thầy dạy khắp trời người
Cha lành chung bốn loại
Nay con nguyện Quy Y
Diệt trừ vô lượng tội
Dâng lên lời tán thán
Ức kiếp vẫn không cùng.
Phật, chúng sanh tánh thường rỗng lặng
Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn
Lưới đế châu ví đạo tràng
Mười Phương Phật bảo hào quang sáng ngời
Trước bảo tòa thân con ảnh hiện
Cúi đầu xin thệ nguyện Quy Y.
LỄ PHẬT
– Chí tâm đảnh lễ: Nam mô khắp Mười Phương hư không tất cả Chư Phật. (1 lạy)
– Chí tâm đảnh lễ: Nam mô khắp Mười Phương hư không tất cả Chánh Pháp. (1 lạy)
– Chí tâm đảnh lễ: Nam mô khắp Mười Phương hư không tất cả Hiền, Thánh, Tăng. (1 lạy)
Thầy Bổn Sư nói:
Hôm nay quý Phật tử phát tâm Quy Y Tam Bảo, trước hết hãy ngồi để nghe thầy giải thích ý nghĩa Quy Y Tam Bảo để hiểu rồi mới thọ trì sau.
Các Phật tử ngồi xuống, Thầy Bổn Sư ngồi ghế bên cạnh chuông.
Thầy Bổn Sư nói: (bài gợi ý)
Quy Y Tam Bảo nói cho đủ là Quy Y Phật, Quy Y Pháp, Quy Y Tăng.
– Quy Y Phật là gì?
Quy Y có nghĩa là trở về và nương tựa, đó là từ xưa của Ấn Độ. Ngày nay hay người ta hay dùng chữ khác là nhập môn, tôn làm Thầy để trở thành đệ tử. Nhưng nói cho đúng nghĩa Quy Y là tôn thờ, tôn kính với trọn lòng tha thiết.
Vậy khi chúng ta Quy Y Tam Bảo nghĩa là kể từ đây chúng ta là đệ tử của Đức Phật, học theo Chánh Pháp, nương với chư Tăng.
Như chúng ta đã biết Đức Phật là một người như mọi người, là chúng sinh như mọi chúng sinh, nhưng là một con người phi thường. Từ vô lượng kiếp xưa Ngài đã tu tập hoàn thiện chính mình rất là tuyệt hảo, Ngài đã tích lũy vô lượng công đức, rèn luyện vô biên giới hạnh, làm lợi ích vô biên khắp chúng sinh. Khi công thành quả mãn đến kiếp cuối cùng Ngài hiện thân ở đất nước Ấn Độ và tu hành thành quả vị Phật. Ở quả vị Phật này Ngài đạt được sự giác ngộ tận cùng tuyệt đối, đạt được sự vô ngã hoàn toàn, lòng từ bi phủ trùm, Ngài thương yêu tất cả mọi loài chúng sinh. Ngài thấu rõ bản thể của vũ trụ pháp giới, từ đó không chuyện gì mà Ngài không biết. Ngài thấu suốt vô lượng kiếp của chính mình, thấy rõ đường đi luân hồi Nhân Quả của chúng sinh. Ngài vĩnh viễn không còn si mê đọa lạc, biết rõ bản chất của cuộc đời là ràng buộc, khổ đau. Từ sự giác ngộ này Ngài trở thành đồng nhất với vũ trụ pháp giới, chúng ta gọi là đạt được sự giải thoát hoàn toàn viên mãn đến tuyệt đối.
Nay chúng ta hiểu được Đức Phật, tin được Đức Phật và đến quỳ dưới chân Ngài để từ đây là đệ tử của Ngài.
Khi chúng ta là đệ tử của Phật, chúng ta hiểu được những ý nghĩa sau:
* Thứ nhất là sự tối cao trong vũ trụ này không phải là một thần linh mà là sự giác ngộ. Nên khi chúng ta Quy Y Phật là chúng ta cũng tự đặt cho mình một mục tiêu, một lý tưởng là hướng về sự giác ngộ, sự giải thoát.
* Thứ hai là Đạo Phật có khác với các tôn giáo khác. Ở các tôn giáo khác đấng tối cao là một vị Thượng Đế, một thần linh mà không ai có thể đạt đến địa vị đó, chỉ có vị đó là tối cao duy nhất. Còn ở Đạo Phật, đấng tối cao là đấng Giác ngộ. Tất cả chúng sinh nếu biết tu tập, đi đúng đường, với sự nỗ lực phi thường thì ai cũng có thể đạt được sự giác ngộ như vậy. Đây là tính nhân bản trong đạo Phật.
Ngoài ra khi Quy Y Phật chúng ta cũng còn được dặn dò một điều là khi đã Quy Y Phật rồi, từ đây không còn Quy Y theo tà thần quỷ vật nào khác. Nghĩa là khi đến ngôi đền, ngôi miếu nào đó chúng ta không còn phải lễ lạy nữa. Vì đến với Phật Pháp chúng ta chỉ cúi đầu trước từ bi, trước trí tuệ, trước sự giác ngộ, trước sự giải thoát chứ không cúi đầu trước cái gì gọi là quyền lực siêu nhiên. Đây là điều mà quý Phật tử phải nhớ trong ý nghĩa Quy Y Phật.
– Quy Y Pháp là gì?
Pháp là lời dạy của Đức Phật. Khi chúng ta Quy Y Pháp nghĩa là từ đây chúng ta là đệ tử Phật, chúng ta học hỏi những lời dạy của Ngài để lại trong kinh điển, sách sử. Tuy nhiên ý nghĩa về Pháp rất rộng, Pháp còn có nghĩa là chân lý, là lẽ phải.
Có một lần đi ngang khu rừng, Đức Phật hái một nắm lá, đưa lên hỏi các đệ tử của Ngài:
– Nắm lá trong tay của ta so với lá trong khu rừng là nhiều hay ít?
Các đệ tử của Ngài đáp:
– Bạch Thế Tôn, nắm lá trong tay của Đức Thế Tôn rất là ít, lá trong rừng rất là nhiều.
Đức Phật nói:
– Này các Tỳ kheo ! Cũng vậy, những điều mà ta biết như lá trong rừng, những điều ta nói như lá trong bàn tay.
Nghĩa là suốt 45 năm Đức Phật thuyết pháp mặc dù rất nhiều nhưng chỉ là một phần rất nhỏ so với những chân lý trong vũ trụ này.
Tuy nhiên, đó là nền tảng, là thềm thang để chúng ta đến với chân lý. Và như vậy, khi một người đệ tử của Đức Phật, học hỏi giáo pháp của Đức Phật thì không được hạn chế trên những gì thuộc về hình thức của Đạo Phật.
Không phải bất cứ điều nào mang nhãn hiệu Đạo Phật đều được chúng ta tin nhận lập tức, vì qua mấy ngàn năm, đã có những sự pha trộn nhiều tư tưởng từ bên ngoài. Chúng ta phải tỉnh táo suy xét xem những tư tưởng đó phù hợp với các giáo lý căn bản của Đạo Phật từ trước hay không. Có những giáo lý, những lời dạy, những tư tưởng không phải của Đạo Phật mà là của một danh nhân, một nhà tư tưởng nào đó nói lên, nhưng khi chúng ta bình tâm suy xét thì chúng ta thấy điều này hợp với lẽ phải thì chúng ta vẫn tôn kính, vẫn chấp nhận. Vì chân lý là lẽ phải.
Cho nên ý nghĩa Quy Y Pháp là chúng ta nương theo lời dạy của Đức Phật đồng thời cũng biết tôn trọng học hỏi những lẽ phải từ mười phương khắp thế giới không hạn cuộc.
Khi Quy Y Pháp chúng ta cũng được dặn dò thêm là từ đây không được Quy Y tà giáo ngoại đạo. Từ đây chúng ta không còn học những kinh sách bậy bạ mà không dựa trên luật Nhân Quả Nghiệp Báo. Chúng ta không mê muội theo những điều chỉ theo sự vẽ vời tạm bợ nào đó chứ không có thực .
Gần đây có một số giáo phái phao lên là đã sắp tới ngày tận thế, họ kêu gọi mọi người đóng tiền cho họ để được cứu rỗi. Hoặc họ tin vào những thần linh nào do họ đặt, do họ dựng lên làm cho tín đồ họ mê muội tin theo, không tự kiểm soát lấy chính mình, không dựa vào luật Nhân Quả. Đó là tin vào tà giáo ngoại đạo.
Vì vậy khi chúng ta Quy Y Pháp, nương vào lời dạy của Đức Phật, tin vào những lẽ phải ở khắp nơi và loại bỏ những gì tà mị, mê tín sai lầm.
– Quy Y Tăng là gì?
Tăng là những người xuất gia từ bỏ gia đình để dành trọn cuộc đời thực hành lời dạy của Đức Phật. Ở đây chúng ta chỉ nói những vị chân tu. Khi chúng ta Quy Y Tăng, chúng ta nương tựa với Mười Phương Tăng không riêng vị Thầy Bổn Sư của mình.
Tuy nhiên chúng ta phải có sự gạn lọc suy xét. Mặc dù chúng ta quý kính chư Tăng nhưng chúng ta phải biết nhận xét những chư Tăng nào mà mình thấy chân chính thì mới tôn kính. Vì thời đại này càng lúc càng xa Phật, trong Phật Pháp đã có sự dễ dãi lỏng lẻo, cho nên có những người tuy mang hình tướng chư Tăng nhưng sự thật nội tâm và hành động không giống như vậy. Do đó chúng ta không dựa vào hình thức để đặt lòng tôn kính mà phải dựa vào thực chất, nghĩa là phải biết rõ, phải nhận xét thấy những chư Tăng chân chính, mình mới nương tựa, mới học hỏi, mới tôn kính.
Ngoài ra nơi ý nghĩa Quy Y Tăng này, chúng ta còn được dặn là từ đây không được Quy Y thầy tà, bạn ác. Nghĩa là những người nào không có cuộc sống tốt đẹp, trong lành để mình có thể học hỏi thì không được thân cận học hỏi họ. Chỉ khi nào đạo lực mình rất vững, mình có khả năng giáo hóa thì lúc đó mới đến với những người xấu để giáo hóa. Còn trong khi mình đang nương tựa học hỏi thì nên tránh những người thầy tà, bạn ác.
Đó là ý nghĩa Quy Y Tam Bảo, Phật – Pháp – Tăng.
Thầy Bổn Sư nói tiếp:
Quý Phật tử đã nghe giải thích ý nghĩa Quy Y Tam Bảo xong. Bây giờ quý Phật tử quỳ lên sám hối cho tam nghiệp được thanh tịnh để làm lễ Quy Y.
Khi Phật tử quỳ lên rồi, thầy Bổn Sư mới đọc để Phật tử đọc theo.
Thầy Bổn Sư:
– Đệ tử chúng con từ vô thủy (ngừng để cho Phật tử lặp lại)
– lỡ tạo bao điều lầm lỗi ( – )
– ngày hôm nay cầu xin sám hối ( – )
– xin chư Phật thương xót cho chúng con ( – )
Nam Mô Cầu Sám Hối Bồ Tát (lạy Phật 1 lạy) (Lặp lại 3 lần Bài Sám Hối.)
Thầy Bổn Sư nói tiếp:
Bây giờ đến lúc phát nguyện Quy Y Tam Bảo. Thầy nói và các Phật tử nói theo, ai tên gì nói tên đó.
Thầy Bổn Sư :
– Đệ tử chúng con tên là:…………………. (ngừng để cho Phật tử lặp lại)
– Xin suốt đời Quy Y Phật. ( – )
– Xin suốt đời Quy Y Pháp ( – )
– Xin suốt đời Quy Y Tăng ( – )
(lạy Phật 1 lạy) – (Lặp lại 3 lần.)

Thầy Bổn Sư nói tiếp, quý Phật tử đọc theo.
– Đệ tử chúng con,
– Quy Y Phật rồi khỏi đọa địa ngục (ngừng để cho Phật tử lặp lại)
– Quy Y Pháp rồi khỏi đọa ngạ quỷ (-)
– Quy Y Tăng rồi khỏi đọa súc sinh (-)
(lạy Phật 1 lạy) – (Lặp lại 3 lần.)

Nghi Thức Quy Y Tam Bảo

Trang 1 2

Thầy Bổn Sư nói:
Bây giờ phần Tam quy đã xong, mời quý Phật tử ngồi xuống nghe Thầy giải thích thế nào là Năm Giới Cấm của người Phật tử tại gia.
Phàm khi người đệ tử cư sĩ đã Quy Y Phật, trở thành đệ tử của Phật thì phải giữ gìn Năm Giới cấm để làm tư cách căn bản của con người.
* Thứ nhất là Giới sát sinh.
Giới sát sinh này có nghĩa là ngăn cấm sự giết người và cả ý nghĩ muốn hại người, trừ trường hợp bảo vệ quê hương và đạo pháp. Các loài thú vật lớn như trâu, bò, heo, chó cũng không được giết hại, vì chúng có nhân quả rất gần với loài người. Còn những thú vật nhỏ như tôm, cá… càng hạn chế càng tốt, rồi tiến dần đến không xâm phạm là hoàn hảo. Đó là giới sát sinh.
Ngoài ra chúng ta còn phải biết bảo vệ môi trường như giữ gìn những cây xanh, không chặt phá cây rừng, trồng thêm cây xanh quanh nhà để góp phần làm tăng thêm thảm thực vật cho địa cầu. Đó là giữ giới sát sinh.
Người giữ được giới sát sinh thì nhiều đời được khỏe mạnh, ít bệnh hoạn, dung mạo đẹp đẽ, ít bị tai nạn, đi vào những chỗ nguy hiểm không sợ sệt. Đó là phước của người giữ giới sát sinh.
* Thứ hai là Giới trộm cắp.
Giới trộm cắp là không lấy những gì không phải của mình, không phải người khác cho mình, nhặt của rơi phải tìm cách trả lại cho người đánh mất, không vui mừng dấu để sử dụng, vì như vậy là mình đã vui mừng trên sự đau khổ của người khác. Ngay cả những người làm viên chức, làm nơi tập thể thì không thâm lạm của công, phải giữ gìn của công một cách kỹ lưỡng. Đối với những tài nguyên chung thì không được xâm phạm, không tham dự các trò chơi, cờ bạc, cá độ, đá gà, đua ngựa… Tự mình xét nét những hành động của mình để không rơi vào giới trộm cắp. Đó là giới trộm cắp.
* Thứ ba là Giới tà dâm.
Người Phật tử khi có vợ có chồng thì phải giữ đời sống một vợ một chồng cho ổn định, không lang chạ ngoại tình. Vì điều đó đem lại hạnh phúc cho gia đình và ổn định cho xã hội.
* Thứ tư là Giới nói bậy.
Giới nói bậy gồm có 4 phần:
1. Không nói lời độc ác.
Người Phật tử khi giữ giới này không nên nói nặng lời với người khác, không chửi rủa, nhục mạ người khác quá đáng.
2. Không nói dối.
Người đệ tử Phật cố gắng chỉ nói sự thật và chỉ nói cho những người đáng nghe. Không được nói dối, nhiều khi sự nói dối đó có đem lại lợi ích nhưng cũng phải dè dặt. Vì lời nói dối không có giá trị lâu dài. Người Phật tử phải ráng sống chân chính và nói thật.
3. Không nói lời chia rẽ.
Thế giới này cần phải thương yêu, người ta đau khổ vì người ta phải đối diện với sự thù ghét, đố kỵ. Vì vậy, để cho cuộc sống được yên vui, hạnh phúc thì chúng ta chỉ nên đem lại sự đoàn kết thương yêu với nhau. Không nói những lời làm cho người này ghét người kia, người kia nghĩ xấu người nọ. Chỉ nên nói những lời vui vẽ, hòa ái, đem lại sự thân ái với nhau.
4. Không nói lời khoe khoang, nói đùa vô ích.
Người Phật tử lúc nào cũng khiêm cung, mình làm phước giúp được rất nhiều người, tu tập có tiến bộ nhưng vẫn dấu lại, kín đáo không khoe khoang, sợ bị tổn phước. Đó là tư cách khiêm cung kín đáo của người Phật tử.
* Thứ năm là Giới dùng những chất làm say, làm nghiện, làm mất trí tuệ như: rượu, ma túy, thuốc lá.
Rượu khi uống vào làm cho đầu óc mình không còn tỉnh táo rồi lại sinh ra nghiện. Thuốc lá hại sức khoẻ mình và mọi người chung quanh. Hoặc ma túy, khi sử dụng ma túy nó làm nghiện rồi quên hết tất cả chỉ biết tới ma túy mà bất chấp tội lỗi. Tư cách của người Phật tử không cho phép mình làm những việc đó.
Đây là Năm Giới cấm mà Đức Phật chế ra để chúng ta có được những tư cách căn bản của con người.
Sau khi giải thích Năm giới xong, Thầy Bổn Sư mời quý Phật tử quỳ lên để thọ trì năm giới.
Thầy Bổn Sư nói:
Quý Phật tử khi nghe Thầy hỏi từng giới, thì nói: “Mô Phật con giữ được”
Thầy Bổn Sư :
– Thứ nhất: Giới sát sinh. Là người đệ tử Phật suốt đời không được sát sinh hại vật, trừ trường hợp bảo vệ quê hương, đạo pháp. Đó là giới của người cư sĩ tại gia. Vậy quý Phật tử có giữ được không?
Phật tử:
‘Mô Phật con xin giữ được’ (lạy Phật 1 lạy)
Thầy Bổn Sư :
– Thứ hai: Giới trộm cắp. Là người đệ tử Phật suốt đời không được gian tham trộm cắp. Đó là giới của người cư sĩ tại gia. Vậy quý Phật tử có giữ được không?
Phật tử:
‘Mô Phật con xin giữ được’ (lạy Phật 1 lạy)
Thầy Bổn Sư :
– Thứ ba: Giới tà dâm. Là người đệ tử Phật suốt đời không được tà dâm, ngoại tình. Đó là giới của người cư sĩ tại gia. Vậy quý Phật tử có giữ được không?
Phật tử:
‘Mô Phật con xin giữ được’ (lạy Phật 1 lạy)
Thầy Bổn Sư :
– Thứ tư: Giới nói bậy. Là người đệ tử Phật suốt đời không được nói bậy, nói điều sai quấy. Đó là giới của người cư sĩ tại gia. Vậy quý Phật tử có giữ được không?
Phật tử :
‘Mô Phật con xin giữ được’ (lạy Phật 1 lạy)
Thầy Bổn Sư :
– Thứ năm: Giới dùng những chất làm say, làm nghiện. Là người đệ tử Phật suốt đời không được dùng các chất làm say, làm nghiện. Đó là giới của người cư sĩ tại gia. Vậy quý Phật tử có giữ được không?
Phật tử :
‘Mô Phật con xin giữ được’ (lạy Phật 1 lạy)
Thầy Bổn Sư :
Đó là năm giới cấm mà quý Phật tử đã thọ trì trước Phật thì phải ráng suốt đời còn lại giữ gìn kỹ lưỡng để không bị sai phạm. Và bây giờ phần thọ trì Tam Quy, Ngũ Giới đã xong mời quý Phật tử ngồi xuống nghe Thầy giải thích Bảy Điều Nguyện để thọ trì. Vì có Bảy Điều Nguyện này mới làm cho Phật Pháp năng động hơn, mạnh mẽ hơn, đem lại lợi ích phước báo vô lượng cho Phật tử.

Thầy Bổn Sư giải thích:
* Điều 1: Phật tử phải phát nguyện tập ăn chay dần dần mỗi tháng.
Ngoài việc thọ trì Năm Giới Cấm, Phật tử phải tập ăn chay. Mới ban đầu dùng ít, có thể 1 tháng ăn chay 2 ngày là mùng 01 và rằm. Sau đó quen dần tăng lên 4 ngày là 30, mùng 01, 14, 15, tăng dần đến khi có thể ăn cả tuần liên tiếp vẫn cảm thấy nhẹ nhàng bình thường. Phật tử phải tập ăn chay để góp phần giảm thiểu nhu cầu dùng thịt cá cho xã hội. Vì chỉ cần một người thêm một miếng thịt thôi, chừng vài ba chục người là đủ giết most con heo. Và cứ nhiều người như vậy thì người ta phải sát sinh quá nhiều. Đó là nguyên nhân làm cho thế giới này chiến tranh không bao giờ chấm dứt. Chúng ta thấy trên thế giới các quốc gia cứ mưu cầu tìm hòa bình, họ lập hết tổ chức này đến tổ chức kia, giàn xếp hết chuyện này đến chuyện kia nhưng không bao giờ chiến tranh chấm dứt được.
Vậy người Phật tử phải cố gắng tập ăn chay mỗi ngày tiến lên dần để giảm bớt sự sát sinh và thế giới sẽ dần dần được hòa bình. Đó là điều phát nguyện thứ nhất.

* Điều 2: Phật tử phải phát nguyện học hỏi giáo pháp.
Người đệ tử Phật khi đã Quy Y rồi thì phải học hỏi giáo pháp. Chính vì chúng ta không nắm vững đạo lý nên chúng ta không biết tu, không biết sống và lập trường mình bị dao động. Đứng trước một cám dỗ nhiều khi mình bị sa ngã, đứng trước một tài sản, mình không cưỡng lại được lòng tham để lao vào tội lỗi. Nhiều khi có người tu thấy người trong gia đình mình bỏ đạo mà vẫn xem bình thường. Vì chính mình không hiểu được đạo lý, không thấy được Phật Pháp là vô cùng lợi ích cho con người, nên để người thân mình bước ra khỏi đạo mà mình vẫn nhìn một cách bình thản. Đó là vô trách nhiệm, là tội lỗi. Nên phải học hỏi giáo Pháp để mình có lập trường kiên định, hiểu sâu áp dụng tu cho mình và làm lợi ích cho những người chung quanh. Chúng ta tôn thờ Phật, phải tôn thờ lời Phật dạy, học hỏi lời Phật dạy để áp dụng cho bản thân mình. Việc học Pháp có nghĩa là hoặc chúng ta trực tiếp đi nghe giảng, hoặc đọc sách, hoặc nghe băng, hoặc trao đổi với những người hiểu đạo.v.v… Dĩ nhiên là chúng ta phải học pháp một cách tỉnh táo có chọn lọc. Đừng tưởng rằng bất cứ vị Thầy nào giảng cũng đều là chân lý Phật dạy, đừng tưởng cuốn sách nào viết là không sai, đừng tưởng các băng nào giảng cũng đều là hoàn hảo. Cho nên chúng ta siêng học hỏi nhưng phải biết tỉnh táo, phán xét và chọn lọc.

* Điều 3: Phật tử phát nguyện mỗi ngày phải có một nghi thức trong ba nghi thức này, hoặc là cả ba, hoặc là một: Lễ Phật, niệm Phật, tọa thiền, mỗi ngày ít nhất một lần.
Mỗi ngày phải bày tỏ lòng tôn kính đối với Đức Phật và có giờ để tu hành. Hoặc chỉ lễ Phật thôi nếu mình quá bận không thể tu tập được. Còn tốt hơn thì một ngày phải lễ Phật một lần rồi sau đó ngồi tọa thiền hay niệm phật tùy theo pháp môn của mình. Không thể một ngày trôi qua mà không nhìn đến mặt Phật ra sao hết. Đó là điều không thể chấp nhận được đối với một người Phật tử. Sở dĩ tín đồ Hồi giáo kiên trung với đạo của họ vì mỗi ngày họ phải cầu nguyện 5 lần. Nếu lâu ngày chúng ta không lễ Phật thì đạo tâm sẽ lui sụt nhanh chóng. Muốn đạo Phật thêm sức mạnh thì từng người Phật tử phải siêng năng lễ Phật.

* Điều 4: Người Phật tử phải suốt đời sống vị tha, siêng năng làm việc từ thiện.
Chúng ta không thể suốt đời chỉ đi tìm miếng ăn miếng mặc cho chính mình, vì như thế thật là một cuộc đời uổng phí. Ý nghĩa tốt đẹp của cuộc sống là chúng ta quên mình để sống cho người khác. Tuy chúng ta còn phải có bổn phận là phải làm ăn kiếm sống, nhưng phải biết sống vì người khác, phải biết làm việc từ thiện . Việc làm từ thiện đó có thể là việc rất nhỏ, có thể là việc rất lớn, nhưng theo khả năng của mình, theo nhân duyên của mình, điều gì làm được thì phải ráng mà làm. Một ngày, một tuần, một tháng trôi qua, nhìn lại thấy mình chưa từng làm một việc từ thiện gì với ai hết thì phải biết đó là những tháng ngày mình sống một cách rỗng tuếch, tầm thường, ích kỷ, thấp kém. Ai nhờ mình làm việc gì nếu làm được phải ráng làm, còn không làm được phải thấy xót xa, thấy tiếc chứ đừng bực bội. Vì nếu bực bội thì tâm vị tha, nguyện từ thiện của mình đang chết dần chết mòn.

* Điều 5: Người Phật tử phải Phật hóa gia đình mình.
Người Phật tử hiểu đạo cần phải làm cho gia đình mình cùng tin hiểu và Quy Y Phật Pháp. Không để tình trạng cha mẹ biết Phật Pháp mà con cái lêu lỏng, hoặc ngược lại, người con biết Phật Pháp cần hướng dẫn tạo điều kiện cho cha mẹ tu hành. Chúng ta báo hiếu cho cha mẹ bằng cách giúp cho cha mẹ biết tu hành, biết Phật Pháp. Đó là sự báo hiếu đúng nghĩa nhất. Trách nhiệm gần gũi nhất đối với chúng ta là gia đình mình. Phải làm sao cho gia đình mình biết Phật Pháp.
Nếu người Phật tử đã thấy Phật Pháp là an vui, là hạnh phúc, là chân lý, là ánh sáng thì phải làm sao cho gia đình mình biết được Phật Pháp. Có khi mình nói gia đình mình không nghe vì sự tu hành của mình chưa đủ sức thuyết phục. Vậy mình phải ráng sống tốt với mọi người, làm mọi người cảm động. Lúc đó họ mới thấy rằng Phật Pháp đã tạo nên niềm vui trong gia đình, rồi dần dần họ tin theo. Bằng lối sống và cư xử tốt đẹp, chúng ta sẽ làm cho mọi người chung quanh tin hiểu Phật Pháp hơn. Do đó, người Phật tử phải phát nguyện Phật hóa gia đình, không được tu riêng cho bản thân mình.

* Điều 6: Người Phật tử phải phát nguyện đem Phật Pháp đến cho những người chưa biết, để mọi người có được niềm vui, được hạnh phúc trong cuộc sống này.
Người Phật tử nên thường xuyên đưa kinh, băng giảng hoặc sách giáo lý cho mọi người tin hiểu được Phật Pháp, tin hiểu luật Nhân Quả. Vì khi tin hiểu luật Nhân Quả họ mới biết tránh tội, làm phước. Họ tin được Phật Pháp, nghe được lời dạy của Đức Phật, của quý Thầy, họ sẽ sửa được cuộc sống của họ. Có như thế cuộc đời họ mới có được niềm vui và những người chung quanh cũng lây lan được niềm vui đó.
Do đó người Phật tử phải suốt đời không bao giờ ngừng ước nguyện đem Phật Pháp đến cho những người chưa biết.
Người Phật tử mà chưa hề nói chuyện đạo lý với ai, chưa hề dắt ai đi chùa, chưa hề đưa băng giảng cho ai nghe, chưa hề đưa sách giáo lý cho ai đọc, phải biết là mình chưa làm tròn trách nhiệm của người đệ tử Phật.

* Điều 7: Người Phật tử phải phát nguyện dù gặp hoàn cảnh khó khăn, gian khổ vẫn kiên cường hộ đạo.
Cuộc đời không bao giờ suôn sẻ. Có những hoàn cảnh thật vô cùng khó khăn. Hoặc chúng ta bị hoàn cảnh gia đình, xã hội gây khó khăn, hoặc là chịu những sự dụ dỗ nào đó, thì chúng ta dù bỏ thân mạng mình chứ không bỏ đạo. Đồng thời, chúng ta còn phải quyết tâm bảo vệ đạo Pháp một cách kiên quyết, khôn khéo, bản lĩnh. Vì thân mạng này bỏ đi kiếp sau chúng ta có thân khác tốt đẹp hơn. Nếu trong tâm mình có một lần bỏ đạo thì những kiếp sau không gặp lại Phật pháp nữa, mà không gặp lại Phật Pháp nữa nghĩa là chúng ta đã quay lưng với ánh sáng và đi dần về phía âm u tăm tối. Nên người Phật tử phải có ý nguyện thà chết vẫn phải kiên cường hộ đạo.
Tương lai sắp tới, thế giới buộc phải tìm ra một tôn giáo đúng nhất cho nhân lọai. Lúc đó, ngoài việc dùng lý luận để chứng tỏ tôn giáo mình hay, một số tôn giáo sẽ dùng đến thủ đọan và bạo lực đ63 tranh giành lãnh thổ và tín đồ.
Nếu tôn giáo bạn dùng lý luận, đệ tử Phật chúng ta dùng lý luận. Nếu tôn giáo bạn dùng họat động từ thiện, đệ tử Phật chúng ta dùng họat động từ thiện. Nếu tôn giáo bạn dùng thủ đọan, đệ tử Phật chúng ta dùng mưu trí. Nếu tôn giáo bạn dùng vũ khí, đệ tử Phật ta cũng cầm vũ khí đứng lên quyết tâm chiến đấu.
Thầy Bổn Sư giải thích xong rồi mời quý Phật tử quỳ lên để thọ trì Bảy Điều Nguyện. Thầy Bổn Sư đọc rồi Phật tử đọc theo.
* Điều 1: Chúng con phát nguyện, từng bước dần dần, dùng thức ăn chay, đều đặn mỗi tháng. (lạy Phật 1 lạy)
* Điều 2: Chúng con phát nguyện, siêng năng học Pháp, cố gắng hiểu sâu, áp dụng tu hành. (lạy Phật 1 lạy)
* Điều 3: Chúng con phát nguyện, mỗi ngày lễ Phật, niệm Phật, tọa thiền, không cho gián đoạn. (lạy Phật 1 lạy)
* Điều 4: Chúng con phát nguyện, suốt cuộc đời này, biết sống vị tha, siêng làm việc thiện. (lạy Phật 1 lạy)
* Điều 5: Chúng con phát nguyện, giúp thân quyến mình, nhất là trẻ em, tin hiểu Phật Pháp (lạy Phật 1 lạy)
* Điều 6: Chúng con phát nguyện, giúp cho tất cả, kẻ gần người xa, tin hiểu Phật Pháp. (lạy Phật 1 lạy)
* Điều 7: Chúng con phát nguyện, dù gặp khó khăn, vẫn quyết một lòng kiên cường hộ đạo. (lạy Phật 1 lạy)

Đó là Bảy Điều Nguyện mà quý Phật tử đã thọ trì trước Phật. Vậy quý Phật tử cố gắng giữ gìn để đem lại niềm vui cho mọi người và làm cho Phật Pháp được ngày càng hưng thịnh.
Sau khi quý Phật tử đã thọ trì Tam quy Ngũ giới và Thất nguyện xong, mời quý Phật tử ngồi xuống để Thầy cho pháp danh mỗi người. Pháp danh là tên trong đạo để khi đến chùa quý Phật tử gọi nhau bằng pháp danh.
Khi trở về địa phương, quý Phật tử nên tập hợp thành Đạo Tràng để cùng nhau sách tấn tu học, làm phước hoặc tham gia theo những Đạo Tràng đã thành lập sẵn.
Tiếp theo Thầy Bổn Sư phát lá phái cho Phật tử . Từng người lên nhận lá phái.
Sau cùng quý Phật tử quỳ lên lễ Tam Tự Quy Y rồi lui ra.
TAM TỰ QUY Y
Tự Quy Y Phật
Nguyện cho chúng sanh
Hiểu sâu đạo cả
Phát tâm vô thượng. (1 lạy)

Tự Quy Y Pháp
Nguyện cho chúng sanh
Thấu rõ kinh tạng
Trí tuệ như biển. (1 lạy)

Tự Quy Y Tăng
Nguyện cho chúng sanh
Tâm ý hòa hợp
Biết thương mến nhau. (1 lạy)

Kinh Tỳ Kheo Na Tiên, Thiện Nhựt
Nghiệp và Kết Quả, TỲ Kheo Thích Chân Quang
Nhập Bồ Tát Hạnh, Tịch Thiên (Shantideva) – Việt dịch: Thích Nữ Trí Hải
Nhập Hạnh Bồ Tát, Sàntideva (Tôn giả Tịch Thiên) – Việt dịch:  Nguyên Hiển
Những Hạt Ngọc Trí Tuệ Phật Giáo, Tỳ Kheo Thích Tâm Quang

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Một 4, 2010 in Phật Giáo

 

Nhãn:

Thế nào là luân hồi ?

Thế nào là luân hồi?

Luân hồi (Samsàra): là sự sống chết nối tiếp nơi một chúng sinh. Như chúng ta biết, dòng nhân quả diễn tiến một cách tương tục mà không bị hạn cuộc trong đời sống hiện tại. Do đó khi nào còn lòng tham sống và còn gây nghiệp (karma) thì lúc đó chúng ta sau khi chết vẫn còn sinh trở lại và nhận lấy quả báo.

 

Nói cách khác, sau khi thân xác này ngừng hoạt động, dòng sống vẫn còn tiếp diễn, mặc dù hình thái của sự sống ở giai đoạn sau không phải là hình thái của sự sống ở giai đoạn trước. Cần lưu ý dòng sống này luôn chuyển biến chứ không phải là một linh hồn bất tử (âme éternelle) đi từ đời này qua đời khác như một lữ khách đi từ quán trọ này đến quán trọ kia.

Sự tái sinh (renaissance): theo đạo Phật, không có nghĩa là sự nhập xác (rénacarnation) hay là sự nhất tính sinh trở lại thế giới loài người này với “cái linh hồn xưa cũ không thay đổi”. Do nghiệp lực ác hay lành (sức mạnh của hành động có cố ý) mà sau khi thân xác này chết, một hình thái khác cao hơn loài người như các loài trời (deva) hoặc thấp hơn loài người như cầm thú, ma quỷ và các loài cực khổ sẽ hiện thành.

Như vậy dòng suối, cứ tiếp diễn trong trạng thái đổi thay như dòng nước chảy xiết. Chúng sinh sau thừa hưởng gia tài tốt hay xấu của chúng sinh trước. Hai hình thái sống của hai giai đoạn thời gian và hai hoàn cảnh “không giống nhau nhưng cũng không khác nhau”.

Không có vấn đề con người trở thành trời hoặc thú, mà chính hành động của thân, miệng, ý (nghiệp) mang tính chất trời hay thú. Không những trong tương lai mà ngay cả hiện tại, chúng ta có thể trở thành thế này hay thế khác tùy theo hành động (nghiệp) của chúng ta.

Giáo lý luân hồi là câu trả lời duy nhất hợp lý cho câu hỏi “Sau khi chết còn hay mất”, chứ không phải là câu trả lời “sau khi chết người ta sẽ sinh vào thiên đàng hay địa ngục và sống ở đó đời đời kiếp kiếp” hay câu trả lời “không còn gì nữa sau khi chết”.

Không có nghiệp thì không tái sinh ví như trường hợp của các vị A la hán và Phật. Đức Phật và A la hán là các bậc giải thoát: không có những hành động vì “ta”, không tạo nhân sống chết cho nên không còn sống chết. Giải thoát ra khỏi luân hồi là đều rất khó. Cho nên đối với chúng sinh chưa đủ sức giải thoát, Đức Phật dạy cho họ những phương pháp tu dưỡng để khỏi sa đọa sinh vào những cảnh giới xấu, khổ như súc sinh, ngạ quỷ và loài cực khổ và để sanh vào thế giới an lành như cảnh giới các trời hay ít nhất là để được sanh lại trong thế giới loài người, những nơi mà điều kiện sinh sống tương đối an vui và có thể giúp họ tiếp tục tiến bộ trên đường giác ngộ.

Thích Thiện Châu (Theo VHPG)

Trang 1 2

Những Lời Dạy của Ðức Phật về Hòa Bình và Giá Trị Con Người, HT. Thích Minh Châu
Những Điểm Đặc Sắc của Phật Giáo, Thích Chân Tính Việt dịch
Những Hạt Sương, Thích Chơn Thiện
Những Tôn Giáo Lớn Trong Đời Sống Nhân Loại, Tiến Sĩ Floyd H. Ross và Giáo Sư Tynette Hills, Tỳ Kheo Thích Tâm Quang dịch

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Một 4, 2010 in Phật Giáo

 

Nhãn:

Nghi thức cầu an – Chùa Phật Quang

Trang 1 9 8 7 2 3 4 5 6 10 11 12 13 14 15

NGHI THỨC CẦU AN

NIỆM HƯƠNG
(Chủ lễ đốt 3 cây hương quỳ trước bàn Phật nguyện)
Nguyện đem lòng thành kính
Gửi theo đám mây hương
Phảng phất khắp mười phương
Cúng dường ngôi Tam Bảo
Thề trọn đời giữ đạo
Theo Phật Pháp làm lành
Cùng pháp giới chúng sanh
Cầu Phật từ gia hộ
Tâm bồ đề kiên cố
Chí tu học vững bền
Xa bể khổ nguồn mê
Chóng quay về bờ giác.
(xá 3 xá rồi đọc bài kỳ nguyện)

KỲ NGUYỆN
(Đọc thầm)
Hôm nay đệ tử chúng con trì tụng kinh …….. nguyện mười phương Chư Phật từ bi gia hộ…………tội diệt, phước sanh, thiện căn tăng trưởng, đạo tâm kiên cố, tinh tấn tu hành, cùng pháp giới chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.

CÚNG HƯƠNG
Giới hương, định hương, dữ huệ hương
Giải thoát, giải thoát tri kiến hương
Quang minh vân đài biến pháp giới
Cúng dường thập phương Tam Bảo tiền
Nam mô hương cúng dường Bồ Tát (3 lần)
(Đứng dậy cắm hương lên lư rồi chắp tay đứng thẳng tụng bài tán thán Phật, hoặc hát bài Khúc Tán Ca Tôn Kính Phật)

TÁN THÁN PHẬT
Đấng Pháp vương vô thượng
Ba cõi chẳng ai bằng
Thầy dạy khắp trời người
Cha lành chung bốn loại
Nay con nguyện quy y
Diệt trừ vô lượng tội
Dâng lên lời tán thán
Ức kiếp vẫn không cùng.
Phật, chúng sanh tánh thường rỗng lặng
Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn.
Lưới đế châu ví đạo tràng
Mười phương Phật bảo hào quang sáng ngời.
Trước bảo tòa thân con ảnh hiện
Cúi đầu xin thệ nguyện quy y.

KHÚC TÁN CA TÔN KÍNH PHẬT

Kính lạy Đấng Vô Thượng
Người là cành hoa sen
Nơi biển đời nhân thế
Người là nguồn thương yêu
Bao dung khắp muôn loài
Là mặt trời ban mai
Đem ánh sáng cho đời
Dựng lại niềm tin sâu
Nơi tăm tối u sầu.
Quỳ lạy Bậc Chánh Giác
Thầy của khắp trời người
Lòng từ bi bao la
Cha lành chung bốn loài.
Người là một đại dương
Mà con như giọt nước
Người là ngọn cao sơn
Mà con như hạt bụi.
Con xin đảnh lễ Người
Với trọn lòng thiết tha
Quy y và tôn kính
Xin đem trọn cuộc đời
Đi theo bước chân Người
Xa lìa bờ vô minh
Tìm về nơi giác ngộ
Xin theo trái tim người
Để trải lòng thương yêu
Bao dung khắp muôn loài.
Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật (2 lần)

LỄ PHẬT
• Chí tâm đảnh lễ: Nam mô khắp mười phương hư không tất cả chư Phật (1 lạy).
• Chí tâm đảnh lễ: Nam mô khắp mười phương hư không tất cả Chánh Pháp (1 lạy).
• Chí tâm đảnh lễ: Nam mô khắp mười phương hư không tất cả Hiền Thánh Tăng (1 lạy).

KHAI KINH
Pháp vi diệu rất sâu vô lượng
Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu
Con nay nghe được xin trì tụng
Nguyện hiểu Như Lai nghĩa nhiệm mầu.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (3 lần)

KINH TỪ TÂM
Tôi từng nghe kể như vầy
Một thời, Xá vệ, tại ngay Kỳ Hoàn
Thế Tôn cho gọi chúng Tăng
Các Thầy cung kính thưa vâng đáp lời
Thế Tôn dạy chuyện ở đời
Liên quan tu tập nên người Từ Tâm
Là người rất đỗi ân cần
Thương yêu trải khắp kẻ gần người xa
Tấm lòng nhân ái bao la
Thật là thuần khiết, thật là cao thâm
Hướng về tất cả chúng sinh
Người Từ Tâm trọn quên mình mà thương
Không vì ái luyến vấn vương
Không vì mong đợi chút đường lợi danh
Không vì ân nghĩa riêng dành
Không vì cân nhắc với mình lạ quen
Thương người quen lẽ tất nhiên
Cũng thương những kẻ chưa quen bao giờ
Xóa đi ngăn cách lạ xa
Xóa đi ngần ngại hững hờ bấy lâu
Tình thương lan tỏa đến đâu
Giúp xây nơi ấy nhịp cầu cảm thông
Người Từ Tâm đủ bao dung
Đủ lòng độ lượng, đủ lòng thương yêu
Với người mưu hại đủ điều
Bất nhân, ác cảm, gây bao hận thù
Người Từ Tâm trước như sau
Trải lòng ra mãi đậm sâu thương người
Với người oán ghét bao đời
Nguồn thương yêu ấy làm vơi tị hiềm
Chuyện không hay chẳng trách phiền
Cho vơi bớt những nghiệp duyên với người
Người Từ Tâm trước muôn loài
Đem lòng thương xót cảnh đời không may
Thương người sống kiếp đọa đày
Làm thân cầm thú nghiệp gây chẳng lành
Hoặc loài ngạ quỷ vô hình
Hoặc trong địa ngục tội tình vương mang
Từ Tâm như ánh trăng ngàn
Dịu dàng soi thấu mọi đường trầm luân
Ở đâu có chúng hữu tình
Thì nơi ấy có Từ Tâm hướng về
Như tàng lá mát rộng che
Chúng sanh vô lượng tâm từ vô biên
Tâm từ như suối triền miên
Thấm vào mạch sống mọi miền an vui
Tâm từ làm gốc vun bồi
Cho người cao thượng cho đời thăng hoa
Thấy người khổ nạn khó qua
Lòng mình đau xót như là khổ chung
Thấy người hạnh phúc thành công
Lòng mình vui sướng như cùng vui theo
Thấy người lầm lỗi ít nhiều
Lòng mình tha thứ mến trìu càng hơn
Người từ tâm sống vẹn tròn
Thương yêu bình đẳng sắt son bền lòng
Cho dù không ước không mong
Phước lành tự đến do công đức thành
Một là ngủ được an lành
Bởi lòng mình đã chân thành thương yêu
Bởi không lừa lọc dệt thêu
Bởi không toan tính lắm điều chua ngoa
Tâm mình không gợn xấu xa
Tham lam, sân hận, si mê mịt mờ
Đầu hôm đến lúc tinh mơ
Khổ ưu lặng tắt thới thơ giấc nồng
Hai là rời bước khỏi giường
Lòng mình một mực bình thường yên vui
Khi đi đứng, lúc nằm ngồi
Không còn tiếc nhớ, đua đòi, ước ao
Từ tâm hóa giải đẹp sao
Muộn phiền, sân hận tan vào hư không
Lòng mình luôn giữ trắng trong
Nguồn an lạc trải tựa đồng bao la
Ba là từ ái lan xa
Làm cho cảm ứng chan hòa rộng theo
Ai ai cũng thấy mến yêu
Đem lòng ngưỡng mộ người nêu tâm từ
Bốn là loài chẳng phải người
Một khi cảm nhận biết người từ tâm
Cũng dành cho những tình thâm
Hộ trì người được những thành tựu vui
Năm là thiên chúng cõi trời
Xưa kia tu tập nên người từ tâm
Thấy người nào tính ai lân
Nay theo gia hộ để cùng tiến tu
Sáu là hiểm nạn đang chờ
Dầu sôi lửa bỏng mịt mờ kiếm cung
Cùng bao nhiêu thứ độc trùng
Không sao xâm phạm đến vùng trú thân
Bảy do huân tập từ tâm
Thác sanh phạm chúng làm dân cõi trời
Được nhiều phước báo tuyệt vời
Và tâm từ được trau dồi hơn thêm
Tám là đầy đủ thiện duyên
Người từ tâm biết thường xuyên chuyên cần
Làm cho đức hạnh được thuần
Thành vườn ruộng tốt gieo trồng đại bi
Đượm nhuần vô ngã vô si
Con đường giải thoát bước đi thêm gần
Khéo an trú, khéo tác thành
Thân tâm an ổn, vững vàng lắng sâu
Tâm từ khi được khéo tu
Làm cho kiết sử bị mau yếu dần
Không còn dấu vết tham sân
Niết Bàn hiển lộ thênh thang giữa đời
Thế Tôn thuyết giảng mấy lời
Các Thầy vui nhận, tin, rồi làm theo.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 Lần)

Không truy tìm quá khứ
Không ước vọng tương lai
Quá khứ đã qua rồi
Tương lai lại chưa đến
Chỉ có pháp hiện tại
Tuệ quán chính là đây
Bất động chẳng lung lay
Hãy thực hành như thế
Không một ai biết trước
Cái chết đến lúc nào
Tử thần có đợi đâu
Làm sao điều đình được
Vì thế nên nỗ lực
Tinh tấn suốt đêm ngày
Tỉnh giác từng phút giây
An trú bằng chánh niệm
Như vậy mới xứng đáng
Người biết sống một mình
Kẻ ấy đã tôn vinh
Đạo nhiệm mầu vô thượng.

LỜI KHẤN NGUYỆN
Kính lạy mười phương Phật
Kính lạy mười phương Pháp
Kính lạy mười phương Tăng
Xin chứng giám lòng con
Với tất cả tâm thành
Dâng lên lời khấn nguyện
Xin cho con mãi mãi
Lòng tôn kính vô biên
Hơn núi biển mông mênh
Dâng lên mười phương Phật
Xin cho con mãi mãi
Lòng thương yêu không cùng
Trải thế giới tam thiên
Đến chúng sinh vô tận
Xin cho khắp muôn loài
Sống yên lành bên nhau
Không ganh ghét oán thù
Không chiến tranh giết chóc
Xin cho kẻ bất thiện
Biết tin có luân hồi
Có nghiệp báo trả vay
Để hồi đầu hướng thiện
Xin kẻ mù được sáng
Kẻ điếc lại được nghe
Kẻ nghèo được ấm no
Kẻ ốm đau bình phục
Xin cho loài cầm thú
Thoát được nghiệp ngu si
Tái sinh vào cõi người
Biết tu theo Phật Pháp
Các vong linh vất vưởng
Trong cõi giới u huyền
Thoát nghiệp đói triền miên
Quy y và siêu thoát
Xin cho nơi địa ngục
Chúng sinh đang đọa đày
Khởi được tâm từ bi
Để xa lìa cảnh khổ
Cúi xin mười phương Phật
Chư Bồ Tát Thánh Hiền
Đem chánh pháp thiêng liêng
Sáng soi nghìn thế giới
Cho chúng con mãi mãi
Dù sinh về nơi đâu
Đều gặp pháp nhiệm mầu
Để nương theo tu tập
Cho con biết khiêm hạ
Biết tôn trọng mọi người
Tự thấy mình nhỏ thôi
Việc tu còn kém cỏi
Cho tay con rộng mở
Biết san sẻ cúng dường
Biết giúp đỡ yêu thương
Đến những người khốn khó
Xin cho con bình thản
Trước nghịch cảnh cuộc đời
Dù bị mắng bằng lời
Hay bằng điều mưu hại
Xin tâm con sung sướng
Khi thấy người thành công
Hoặc gây tạo phước lành
Như chính con làm được
Cho con biết im lặng
Không nói lỗi của người
Chỉ lặng lẽ dùng lời
Cầu cho người hết lỗi
Xin vòng dây tham ái
Rời khỏi cuộc đời con
Để cho trái tim con
Biết yêu thương tất cả
Cúi lạy mười phương Phật
Đau khổ đã nhiều rồi
Vô lượng kiếp luân hồi
Đắng cay và mỏi mệt
Nay con dâng lời nguyện
Giải thoát, quyết tìm về
Giác ngộ, quyết lìa mê
Độ sinh, đền ơn Phật
Xin cho con giữ vững
Được chí nguyện tu hành
Không một phút buông lơi
Không một giờ xao lãng
Xin vẹn toàn giới hạnh
Với thiền định lắng sâu
Với trí tuệ nhiệm mầu
Xóa tan dần chấp ngã
Xin cho con tỉnh táo
Không kiêu mạn tự hào
Dù tu tiến đến đâu
Vẫn tự tìm chỗ dở
Nguyện cho con đi mãi
Không đứng lại giữa đường
Đến tuyệt đối vô biên
Tâm đồng tâm chư Phật
Rồi trong muôn vạn nẻo
Của sinh tử luân hồi
Con mãi mãi không thôi
Độ sinh không dừng nghỉ
Cúi lạy mười phương Phật
Xin chứng giám lòng con
Lời khấn nguyện sắt son
Dâng lên ngôi Tam Bảo
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần)
PHỤC NGUYỆN
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam Mô Đương Lai Từ Phụ Di Lặc Tôn Phật
Nam Mô đại bi Quán Thế Âm Bồ Tát
Hôm nay đệ tử chúng con thành tâm quỳ trước Phật đài trì tụng kinh Từ Tâm và Lời Khấn Nguyện
Cầu nguyện:
Đạo pháp sáng soi, giáo lý rộng truyền.
Vì đạo quên mình, bốn ơn nặng nhớ
Thế giới hòa bình hết khổ đao binh
Mưa nắng thuận hòa chúng sinh an lạc.
Đại chúng tiến tu tỉnh rõ lỗi lầm
Rộng mở từ tâm vì người làm gốc
Chốn chốn già lam tỏa hương đạo đức
Cho cả muôn loài quy phục tựa nương
Hết thảy vong linh trong cõi siêu hình
Bỏ ác làm lành, quy y Tam Bảo
Pháp giới rộng trùm ba cõi bốn loài
Đồng thoát luân hồi trọn thành Phật đạo.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (1 lần)

TAM QUY Y

• Tự quy y Phật nguyện cho chúng sinh hiểu sâu đạo cả, phát tâm vô thượng (1 lạy)

• Tự quy y Pháp nguyện cho chúng sinh thấu rõ kinh tạng trí tuệ như biển (1 lạy)

• Tự quy y Tăng nguyện cho chúng sinh tâm ý hòa hợp biết thương mến nhau (1 lạy)

VÌ ĐẠO THIÊNG (Đồng ca)
Đạo thiêng như ánh trăng soi trên ngàn thế gian
Từ bi ấm áp xua tan ưu sầu khóc than
Đời thôi bớt điêu tàn, tình thương sẽ tuôn tràn
Tiếng chuông dịu dàng lòng con trầm lắng.
Từ đây cho đến vô biên vô tận kiếp sau.
Nguyện đem chánh pháp, cho nhau quên ngàn nỗi đau.
Lời Kinh rất sâu mầu, quỳ dâng những nguyện cầu.
Trái tim xin vì Đạo thiêng khát khao.
Đời là những đắng cay vui buồn ghét thương.
Kiếp nhân sinh lệ tuôn trên khắp nẻo đường.
Rồi Phật Pháp giúp ta qua ngàn muôn hướng
Để hôm nay ta sống cho nhau đẹp ngời
Thân và tâm nguyện xin dâng đến Như Lai
Trọn cuộc sống bước chân vững vàng đi tới
Ánh Đạo mầu tỏa sáng tấm lòng muôn nơi.
Vì Đạo thiêng, xin thương mến cả nhân sinh
Vì Đạo thiêng, xin đem hết lòng tôn kính
Trước đài sen mong khắp nơi vui thanh bình
Những ân tình như biển triều dâng sóng lên.
Vì Đạo Pháp ta đi gieo rắc ngàn nơi
Với con tim bao la như ánh mặt trời
Giữa cuộc đời Phật đạo bừng lên nắng tươi
Vui bên nhau hạnh phúc thênh thang rạng ngời. (2 lần)

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Một 4, 2010 in Phật Giáo

 

Nhãn: