RSS

Tag Archives: Bài Giảng

Các bài giảng audio của TT Thích Chân Quang

Những bài giảng hay của Thượng Tọa Thích Chân Quang
Tổng hợp và upload

01. Có và không
Download

02. Cõi bình an
Download

03. Đất
Download

04. Hiểu lầm
Download

05. Có gì đó
Download

06. Chúng sinh vạn loài
Download

07. Giúp nhau sinh kế
Download

08. Đạo đức giao tiếp
Download

09. Hãy tự mình thắp đuốc mà đi
Download

10. Hơn và Kém
Download

11. Nhân và Duyên
Download

12. Kiếp Người
Download

13. Người với Người
Download

14. Dẫu xây chín đốt phu đồ
Download

15. Hoa Sen Mọc lên từ lửa
Download

16. Nhớ Cội Nguồn
Download

17. Pháp Cụ 04
Download

18. Pháp Cụ 11
Download

19. Trưởng Thành
Download

20. Thanh Gươm Pháp Hộ
Download

20(+1). Bát nhã tâm kinh
Download

21.Gia Đình
Download

22. Nhân Quả
Download

23. Như Thế Vẫn Chưa Đủ
Download

24. Triết Lý Bàn Tay
Download

25. Thực Tập Hạnh Phúc
Download

26. Mùa Xuân
Download

27. Tiền Bạc
Download

28. Trung Đạo
Download

29. Xây dựng cho kiếp sau
Download

30. Hạnh nguyên người trụ trì
Download

Advertisements
 

Nhãn: , ,

Hòa thượng Tố Liên

HỘI THẢO KHOA HỌC
HÒA THƯỢNG TỐ LIÊN (1903-1977) 
TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM VÀ PHẬT GIÁO QUỐC TẾ
Phân viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam tại Hà Nội 
phối hợp cùng Viện Nghiên cứu Tôn giáo tổ chức

HOÀ THƯỢNG TỐ LIÊN VỚI VAI TRÒ CỦA GIÁO HỘI
SƯ TĂNG VÀ CƯ SĨ

Cuộc chấn hưng lần thứ nhất ở đầu thế kỷ 20; cuộc chấn hưng PG lần hai lại sẽ bắt đầu ở đầu thế kỷ 21, và sẽ bắt đầu tại VN. Những ai sẽ là người có công trong cuộc chấn hưng PG lần thứ hai này sẽ tùy thuộc vào sự đánh giá của lịch sử, sẽ tùy thuộc vào trí tuệ và công lao của những vị đó. Cuộc chấn hưng lần này sẽ gay go không kém gì lần trước vì các tôn giáo bạn với thế lực mạnh mẽ của mình sẽ không muốn cho PG cất cánh, nên sẽ có nhiều phương thức tinh vi để gây chia rẽ, gây khó khăn cho những hoạt động của PG sắp tới.

Kính thưa chư vị tôn túc và các vị khách quý,

Vào những thập niên 20 và 30, phong trào chấn hưng Phật giáo đã dần dần hình thành rõ nét, được cho là bắt đầu ở miền Nam với nhân vật tiên phong là hòa thượng Khánh Hòa của chùa Tiên Linh, Bến Tre. Miền Trung nối bước, rồi sau đó là miền Bắc cũng đi theo. Tuy nhiên, khi đánh giá lại sự chấn hưng PG của VN, nhiều nhà sử học đã công nhận rằng tuy miền Bắc khởi sự chấn hưng sau, nhưng đã nhanh chóng đạt được nhiều kết quả tốt đẹp, có khi còn hơn cả 2 miền kia nữa. Kết quả đó có được cũng là do công lao đóng góp của một danh tài PG kiệt xuất là thầy Tố Liên, khi ấy hãy còn khá trẻ.

Tuy nhiên trước khi nói về những dấu ấn đặc biệt mà thầy Tố Liên đã tạo nên trong cuộc chấn hưng PG, ta hãy làm một cuộc lãng du quay ngược thời gian thêm một chút để nhìn thấy một nhân vật Nghệ An đã là tác nhân âm thầm cho cuộc chấn hưng PG của hòa thượng Khánh Hòa, đó là cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Huy. 

Nghệ An đã từng là đất Phật với hàng trăm ngôi chùa, và những cuộc trỗi dậy chống Pháp từ trong những ngôi chùa đó, ví dụ như cuộc nỗi dậy của tăng sĩ Vương Quốc Chính ở Hà Nội có lực lượng tham gia rất đông đảo của PG Nghệ An. Cụ Nguyễn Sinh Huy, cùng với những bạn bè đồng chí như Phan Bội Châu, sau này có thêm Phan Chu Trinh, cũng đều là những người uyên thâm kinh Phật, và đều chủ trương dùng PG trong công cuộc đấu tranh với Pháp. Sở dĩ các cụ có tư tưởng đó vì các cụ đã nhận ra vai trò của Ki tô giáo trong việc xâm chiếm và cai trị VN của Pháp. Vì thế muốn chống lại sự cai trị của Pháp thì ta cũng phải chấn hưng lại nền PG nước nhà để gọi là “giữ lại linh hồn” cho đồng bào trước sự xâm lăng về tín nguỡng của thực dân Pháp.

Sau này vào Nam, cụ Nguyễn Sinh Huy đã đến gặp gỡ rất nhiều các bậc cao tăng để bàn về việc chấn hưng PG. Cụ đã ghé thăm hòa thượng Huệ Đăng chùa Thiên Thai, Bà Rịa; hòa thượng Chí Thành chùa Phi Lai, Châu Đốc; hòa thượng Khánh Hòa chùa Tiên Linh, Bến Tre, vân vân… Cụ mất sớm vào năm 1929, nhưng từ đó hòa thượng Khánh Hòa đã phát động cuộc chấn hưng PG rất thành công. Dĩ nhiên không phải chỉ vì một cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Huy hay một hòa thượng Khánh Hòa có thể tạo nên cuộc chấn hưng PG mạnh mẽ khắp 3 miền như thế. Chính rất nhiều vị cao tăng tu hành âm thầm rải rác khắp đất nước đã nuôi dưỡng Phật chất cho các đệ tử của mình để chờ ngày các vị này đủ duyên đứng lên gánh vác sứ mệnh chấn hưng PG. Nhưng dù sao cũng đã có một cái vòng tròn độc đáo từ Nghệ An với Nguyễn Sinh Huy, Phan Bội Châu, đến Quảng Nam với Phan Chu Trinh, và nổi lên với Khánh Hòa ở Bến Tre. Rồi từ miền Nam như thế, phong trào chấn hưng lại chạy ngược ra Huế và các tỉnh miền Trung, rồi trở ra Hà Nội, để cho một Tố Liên dẫn đầu đoàn PGVN đi dự đại hội thành lập Hội Liên Hữu Phật Giáo Thế Giới năm 1950.

Bài tham luận này không kể lại các hành trạng đặc biệt của ngài Tố Liên nữa, mà chỉ nhân dịp tưởng nhớ về Ngài, xin có vài suy nghĩ về vai trò của Giáo hội, Sư tăng và người tại gia cư sĩ Phật tử trong thời đại hôm nay.

Kính thưa quý vị,

Sau khi chứng kiến những việc làm chấn hưng PG rất tốt đẹp của miền Nam và miền Trung, năm 1934, một số thượng tọa ở miền Bắc tiêu biểu như sư Trí Hải, Tâm Ứng, Tâm Bảo đã đi từ Hà Đông về Hà Nội để vận động thành lập một hội Phật giáo cho miền Bắc. Các vị tiếp xúc với các học giả, nhà văn Phật tử có uy tín thời bấy giờ trước khi phối hợp với các Sư Tăng. Những cư sĩ có tiếng tăm thời đó như Nguyễn Hữu Kha (hiệu là Thiều Chửu), Nguyễn Năng Quốc, Trần Trọng Kim (sau này làm thủ tướng thời gian ngắn), Bùi Kỷ, Cung Đình Bính, Trần văn Giáp, Dương Bá Trạc (hiện có tên đường ở tpHCM), Nguyễn văn Tố, Nguyễn văn Ngọc, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Trọng Thuật (Đồ Nam)… đã tham dự những buổi bàn bạc đầu tiên để đồng ý thành lập Bắc Kỳ Phật Giáo Hội. Điều đặc biệt là hầu hết những chức vụ nòng cốt đều do cư sĩ đảm nhiệm, ví dụ ông Nguyễn Năng Quốc là Hội trưởng, Nguyễn Văn Ngọc và Nguyễn Quốc Thanh là hội phó… Mặc dù sự vận động ban đầu là do quý thượng tọa sư tăng, nhưng chức vụ thì lại do cư sĩ, tuy hòa thượng Thanh Hanh vẫn được bầu làm thiền gia pháp chủ nhưng chỉ để chứng minh. Hội PG miền Bắc khác hơn hai miền kia chính là chỗ cư sĩ đảm đương chức vụ hầu hết. Còn tại miền Trung và miền Nam thì tỉ lệ giữa sư tăng và cư sĩ là không chênh lệch mấy. Ta có cư sĩ Lê Đình Thám ở miền Trung, Mai Thọ Truyền ở miền Nam, và nhiều vị cư sĩ đặc sắc cũng đã góp phần trong những ngày đầu chấn hưng PG. Như cư sĩ Lê Văn Định làm hội trưởng Hội VN Phật học ở Huế từ ngày đầu tiên đến 3 niên khóa liên tiếp. Hoặc bác sĩ Nguyễn văn Khỏe làm hội trưởng Hội Phật học Nam Việt từ khi thành lập năm 1950 cho đến năm 1952 thì giao lại cho thượng tọa Quảng Minh. Đến năm 1955 thì ông Mai Thọ Truyền lại đảm nhiệm hội trưởng cho đến khi mất năm 1973.

Sau này, vì cảm thấy việc cư sĩ lãnh đạo Hội PG có vẻ bất tiện nên năm 1949 thượng tọa Tố Liên đã vận động thành lập Hội Phật Giáo Tăng Già Bắc Việt để dành riêng cho sư tăng bên cạnh Hội Phật Giáo chung cả sư tăng và cư sĩ do cụ Bùi Thiện Cơ làm hội trưởng. Đến năm 1951 thì thượng tọa Mật Ứng được suy tôn làm Thiền gia Pháp chủ của Hội Tăng Già Bắc Việt. Ở trong miền Nam và miền Trung, sự lãnh đạo các tập đoàn PG cũng chuyển dần sang các vị xuất gia một cách tương tự.

Hiện nay thì hầu hết các chức vụ lãnh đạo trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam đều do Sư Tăng đảm trách, rất khác với những ngày ban đầu chấn hưng PG. Người bây giờ khó hình dung được tại sao lại có cái thời mà cư sĩ làm hội trưởng PG như thế. Nhưng việc gì cũng có cái lý do của nó. 

Sở dĩ cư sĩ lại nhận những chức vụ nòng cốt trong buổi đầu thành lập Hội Phật Giáo chỉ bởi vì ai cũng nhận thấy rằng đó là những cư sĩ nhiệt thành, có đạo đức, có trình độ, có kiến thức Phật học, có uy tín, và nhất là có kinh tế gia đình ổn định. Trong khi đó sư tăng thì ít người, chỉ quen ẩn tu, chưa quen xông xáo đối mặt với chính quyền, luật pháp và xã hội…, thậm chí sư tăng cũng ít có trình độ uy tín thuộc về xã hội. Nếu nói theo phạm trù Phật giáo thì sư tăng có thể có đức hơn cư sĩ, nhưng cư sĩ đã có phúc hơn sư tăng, ít ra trong giai đoạn như thế.

Ta cũng dễ thấy những điều tương tự khi có người cư sĩ nào đó thân tình với chùa, chăm lo cho chùa, có uy tín với bổn đạo, lâu ngày cũng được giao cho các nhiệm vụ quan trọng trong chùa như Thủ quỹ, giữ kho, thư ký, tri khách, trưởng ban hộ tự, vân vân… Ngày đó cũng vậy, chính hoạt động đầy hiệu quả từ trước của các cư sĩ với chùa và với xã hội đã khiến cho sư tăng cũng phải chấp nhận cho cư sĩ giữ chức vụ cao hơn mình trong Hội PG như thế.

Tình trạng đó không kéo dài được lâu vì khi sư tăng bước vào hoạt động tận tâm thì bỗng nhiên mọi người lại nhận ra rằng thực sự đã có những vị sư tăng đầy đủ tài đức có thể lèo lái con thuyền PG tiến tới một cách vững vàng. Thầy Tố Liên của chúng ta chính là một trong những hình ảnh đẹp ngời như thế.

Những bài viết liên tiếp trên báo Đuốc Tuệ đã dần dần định hướng cho đường lối hoạt động của Phật Giáo VN, chuẩn bị cho một cuộc bùng phát mạnh mẽ của PG trên nhiều phương diện. Khi nhiều người say đắm các kinh Đại thừa với tư tưởng Chân Không, thầy Tố Liên đã nhắc nhở họ về ý niệm Nhân Quả như là sự cân bằng giữa Không và Hữu; khi nhiều người quen niệm Phật cầu vãng sinh thì Thầy lại nhắc nhở hạnh nguyện dấn thân phụng sự cho đời, và xem niệm Phật cũng là cách để nhiếp tâm như Thiền vậy; khi mà các tự viện chỉ biết hướng về sơn môn tổ đình của riêng mình thì Thầy lại nhắc nhở tất cả hãy hướng về một Hội Phật Giáo chung để tập hợp sức mạnh chấn hưng PG.

Thầy đã vào Huế đàm đạo với các vị tôn túc và cư sĩ Lê Đình Thám nhằm học hỏi ở chư Tăng Huế những điều cần thiết áp dụng vào miền Bắc, trong đó Thầy đã ủng hộ việc thành lập đoàn thể Gia Đình Phật Hóa Phổ như một môi trường tập hợp lớp trẻ Phật tử để giáo dục dần dần. Rất nhiều rất nhiều những hoạt động của Thầy về từ thiện xã hội, cứu đói năm 1945, giáo dục bình dân, nuôi dưỡng trẻ mồ côi, hoặc giáo dục Tăng Ni, mở rộng Hội Phật giáo về các tỉnh đều khiến cho uy tín của sư tăng ngày càng nổi trội so với cư sĩ. Vì thế, theo luật Nhân Quả, từ đó vai trò của sư tăng cũng đương nhiên vượt lên cao hơn rất nhiều trong mắt mọi người. 

Nhưng không vì thế mà Thầy xem nhẹ vai trò của cư sĩ. Những công tác Phật sự tiếp theo, ngay cả những chuyến đi xuất ngoại họp với Phật giáo Thế giới, Thầy vẫn đề nghị danh sách cư sĩ tham dự với tỉ lệ cao. Điển hình là trong chuyến đi năm 1952 đến Tokyo Nhật Bản, Thầy đã lập danh sách xin phép xuất cảnh với chỉ 03 sư tăng là Tố Liên, Trí Quang, Quảng Minh, nhưng với 08 cư sĩ đi kèm.

Như ta biết, theo định nghĩa về Sangha, Tăng già, đó là một cộng đồng của những người xuất gia theo Phật, sống hiền lành thương yêu nhau để cùng tu hành cho lý tưởng giác ngộ giải thoát.

Định nghĩa như vậy thích hợp cho những cộng đồng nho nhỏ vừa phải, ở chung một địa điểm. Còn khi nhiều cộng đồng sư tăng ở nhiều nơi muốn tạo mối quan hệ mật thiết với nhau để hỗ trợ nhau, để giữ giềng mối Phật Pháp đồng nhất khắp nơi thì buộc ta phải phát triển thành một Giáo Hội Congregation, hoặc ta phải hiểu Sangha theo một khái niệm lớn hơn nữa.

Một hình thức Sangha tự phát theo dòng phái sơn môn vẫn luôn luôn tồn tại, theo đó, từ một vị thầy có uy tín, nhiều đệ tử nối tiếp tỏa ra nhiều nơi để trụ trì và giáo hóa, nhưng vẫn giữ mối quan hệ sơn môn khắng khít với nhau. Việt Nam tồn tại rất nhiều hình thức Sangha sơn môn như vậy. Tuy nhiên, Sangha sơn môn kiểu này không ổn định vì tùy thuộc vào uy đức để lại của vị tổ ban đầu. Có những dòng phái truyền thừa rất lâu như phái Liễu Quán phát tích từ Phú Yên; nhưng cũng có những dòng phái tắt sớm vì không có đệ tử xuất gia tiếp nối.

Nhiều dòng phái sơn môn kiểu đó, nếu không được tổ chức lại thì gây nên sự phân hóa cho toàn bộ Phật giáo. Những ai có lòng với cơ đồ chung của Phật giáo đều phải trăn trở cho sự hợp nhất tổ chức tất cả sư tăng thành một mối của Giáo Hội, mà những bậc tôn túc ngày đầu chấn hưng PG đều nhắm đến. Thầy Tố Liên cũng là người đau đáu vận động tổ chức cho sự hợp nhất toàn bộ sư tăng PG như thế.

Đến đây ta lại phát hiện ra một quy luật khác. Hầu như tổ chức giáo hội thì lấy địa phương hành chính làm đơn vị, chia ra từng tỉnh, huyện; nhưng sơn môn dòng phái thì lấy chùa làm đơn vị, mà chùa của sơn môn thì chạy khắp chỗ theo duyên, chẳng có theo trật tự hành chính gì cả. Thế là từ khi có Giáo hội, ta có 2 tổ chức song song tồn tại, một theo đơn vị hành chính quốc gia, một theo sơn môn dòng phái. Các chùa vẫn vui vẻ chấp nhận mình được quản lý bởi cả hai hệ thống như thế, một bên là Giáo hội chung lớn lao hơn, một bên là tình nghĩa tổ thầy. Các chùa vẫn vui vẻ làm các bổn phận mỗi khi có sự yêu cầu từ các hệ thống quản lý đó.

Theo quy luật của Nhân Quả và cuộc sống, ta thấy rõ ai là người ban bố giúp đỡ thì tất nhiên sẽ đứng vai trò cao hơn. Mối tương quan giữa sư tăng và cư sĩ cũng chịu sự chi phối của quy luật đó.

Cư sĩ là người giúp đỡ về tài vật cho sư tăng nên rất dễ trở nên có tiếng nói nhiều ảnh hưởng đối với sư tăng, nếu, ta nhấn mạnh chữ nếu, nếu sư tăng không có đạo lý gì để ban bố làm gương trở lại cho họ. Từ một số sư tăng âm thầm lặng lẽ rải rác trong các tự viện xa xôi không gây ảnh hưởng gì nhiều cho quần chúng, bất ngờ, qua cuộc chấn hưng PG, một số vị xuất sắc bước ra và trở thành sáng chói, thu phục được sự nguỡng mộ của quần chúng. Thế là, từ một PG với vai trò cư sĩ nổi trội đã biến thành một Hội PG với vai trò sư tăng lãnh đạo vững vàng. Chính thầy Tố Liên mới 47 tuổi đã được đưa lên làm chủ tịch Hội Tăng Ni Chỉnh Lý Bắc Việt năm 1949 cũng bởi vì bản lĩnh trí tuệ của Người thật sự chinh phục lòng kính nể của đại chúng.

Sau này nhiều Tăng Ni được học hành đàng hoàng nên nhân sự cho Giáo hội không thiếu, và Giáo hội hầu như được điều hành bởi Tăng Ni. Ai cũng cho như vậy là ổn định cả nên không thắc mắc gì. Nhưng nếu xét xa hơn một chút ta sẽ thấy vấn đề không đơn giản. 

Kể từ cuộc chấn hưng PG miền Bắc cho đến tận ngày hôm nay, ta vẫn hoàn toàn không nghe nhắc đến PG khu vực Tây Bắc. Ta đã bỏ trống khu vực đó quá lâu. Một số tôn giáo nguy hiểm đang ráo riết truyền bá lôi kéo tín đồ ở đấy và đe dọa an ninh chính trị cả khu vực. Bây giờ có muốn phát triển PG về hướng đó, ta cũng không đủ Tăng Ni đảm đương công việc. Một vài Tăng Ni có phát tâm về vùng xa thì không được các vị tôn túc của Giáo hội động viên giúp đỡ nên hiệu quả chưa cao. Chùa ở đô thị hay vận động tài chánh để trùng tu xây cất lớn, nhưng ít có vị nào vận động tài chánh để ủng hộ cho Tăng Ni đang hoằng hóa ở vùng xa.

Không khác gì Tây Bắc, khu vực Tây Nguyên Trung Bộ cũng đang thiếu Tăng Ni dấn thân hoằng hóa. Một vài vị phát tâm về vùng xa thì lại không được cả Giáo hội lẫn chính quyền địa phương nâng đỡ nên gặp rất nhiều khó khăn đến nỗi có người phải bỏ về lại thành thị.

Nói chung, PG chưa “phủ sóng” toàn bộ mọi miền đất nước, và trách nhiệm trước hết thuộc về Giáo Hội. Cuộc chấn hưng PG thời bấy giờ chưa đặt nền tảng đầy đủ cho sự phát triển PG đến tận những biên giới xa xôi. Ta không thể trách các vị tôn túc thời đó được vì hoàn cảnh đất nước ta khi đó chưa cho phép, mặc dù các vị đã tận tâm toàn ý cả, mặc dù các vị đã rất bản lĩnh vững vàng. Thầy Tố Liên của chúng ta ngoài việc phải lo xây dựng Giáo hội buổi đầu, phải lo liên kết với PG hai miền trong kia, phải lo thêm công việc đối với Phật Giáo Thế Giới, phải lo hoạt động từ thiện xã hội, phải lo ủng hộ cuộc kháng chiến của cả dân tộc… Nói chung Người đã quá tận tụy, đã quá tuyệt vời, ta không thể đòi hỏi gì thêm nữa.

Bây giờ ta phải đòi hỏi chính chúng ta. Ta phải làm gì để nối tiếp công lao của các vị tôn túc thời đó đã khổ công làm công cuộc chấn hưng PG như thế? Ta phải làm gì để con cháu ta sau này được hưởng một nền Phật Pháp tốt đẹp nhất?

Trong các vấn đề ta đặt ra, có vấn đề nhân sự là cơ bản nhất. Thiếu yếu tố con người là thiếu tất cả. Không có người lo việc cho Giáo Hội thì Giáo Hội là vô nghĩa. Muốn có nhân sự đầy đủ thì ta phải chăm lo việc giáo dục, hoằng pháp, song song với việc tổ chức thực hành tu tập cho mọi người từng bước chiến thắng tham sân si trong tâm hồn mình. Có học đạo lý rồi, có được tu tập rồi, ta còn phải tạo điều kiện cho người được bắt tay làm các công đức để tăng trưởng phúc duyên nữa.

Ba điều đó, học, thực hành, và gây tạo công đức khiến cho một người lớn mạnh trưởng thành đúng nghĩa trong giáo pháp của Như Lai. Từ đó ta mới có nhân sự giỏi để chung lo việc Phật Pháp.

Nhân sự ta muốn nói ở đây là cả sư tăng lẫn cư sĩ. Chuyện Phật Pháp mênh mông, Tăng Ni không đủ để đáp ứng toàn bộ, mà phải trông cậy rất nhiều vào lực lượng cư sĩ. Nhưng muốn cư sĩ tham gia gánh vác chuyện Phật Pháp thì ta phải quan tâm một số điều.

Cư sĩ rất bận rộn lo việc gia đình và xã hội nên chỉ những cư sĩ nào rất có tâm, rất có điều kiện mới có thể tham gia hoạt động Phật sự. Cái Tâm nhiệt thành đó có được là do hiểu sâu đạo lý. Ai hiểu sâu đạo lý của Phật rồi đều sẽ trở nên nhiệt thành lo cho Phật Pháp cả. Giúp cho cư sĩ hiểu sâu đạo lý là trách nhiệm muôn đời của Giáo Hội Tăng Ni.

Còn cái điều kiện mà ta nêu ra chính là thời gian, trí tuệ và tài vật. Nhưng ta cũng muốn nói về tài vật nhiều hơn. Cư sĩ có thoải mái về kinh tế thì mới giúp chuyện Phật Pháp được. Ta sẽ đổ thừa cho Nghiệp Duyên đời trước nên bây giờ người ta phải chịu nghèo hay giàu như thế. Thật ra nếu tất cả Phật tử biết giúp nhau làm ăn thì kinh tế ai cũng sẽ khá lên cả. Và cơ hội để góp sức cho hoạt động Phật sự sẽ có nhiều hơn. Muốn cho tất cả Phật tử biết tử tế giúp nhau sinh kế thì lại cũng là trách nhiệm của Giáo Hội Tăng Ni. Tăng Ni phải giáo dục cho Phật tử biết giúp nhau làm ăn, làm giàu, vì đó là thiện nghiệp rất lớn sẽ đem đến quả phúc rất bền bĩ. 

Rốt cục lại, để cho cư sĩ có tâm và có điều kiện cũng đều phải do Tăng Ni giáo hóa cả.

Khi cư sĩ có thể tham gia rồi thì vấn đề còn lại là công việc tổ chức, phân công, tập huấn, kiểm tra, điều chỉnh, khen thưởng vân vân… 

Ta sẽ phân ra làm hai hạng cư sĩ trong đạo Phật. Một hạng cư sĩ quy y Tam Bảo nhưng không gắn bó với Giáo Hội để làm Phật sự. Một hạng cư sĩ gắn bó với Giáo Hội để tham gia Phật sự, chịu khuôn phép, biết vâng lời, gắng tu tập. 

Chính hạng thứ hai này là chỗ dựa rất đắc lực cho Giáo Hội. Giáo hội phải có một chính sách thích hợp để tập hợp những cư sĩ ưu hạng này, để phát huy năng lực của hạng cư sĩ này trong việc hoạt động Phật sự và truyền bá chính pháp. Khi cư sĩ qua một thời gian “thử việc”, có thể gắn bó lâu dài với Giáo Hội để làm Phật sự, biết vâng lời, có đạo đức, chịu khuôn phép, họ cũng phải được cấp thẻ Cư sĩ Hộ đạo chính thức, giống như Tăng Ni được cấp Giấy Tăng Tịch (Chứng nhận Tăng Ni). Hoặc là họ được thầy trú trì tại chùa bảo đảm để được Giáo Hội cấp giấy, hoặc là họ được chức sắc của Giáo Hội bảo đảm cho cấp giấy. Những ai có thẻ Cư sĩ Hộ đạo này thì cũng được quyền bỏ phiếu bầu trong những kỳ bầu cử của Giáo Hội. Giáo Hội có thể tổ chức thi cử kiểm tra trước khi cấp thẻ, giống như phần sát hạch Tăng Ni giới tử trước khi quyết định cho đăng đàn thọ giới vậy. Họ cũng phải dự lễ phát nguyện dõng mãnh trước Phật để làm một Cư sĩ Hộ đạo chân chính suốt đời, với bao nhiêu lời nguyện, bao nhiêu quy luật mà Giáo Hội đưa ra.

Phật giáo VN không thích hợp có hình thức Tân Tăng, nhưng rất thích hợp có hình thức Cư sĩ đặc biệt này cùng tham gia gánh vác Phật sự và hoằng truyền chính pháp. Con số Cư sĩ đặc biệt này cần phải đông gấp 10 lần Tăng Ni, hoặc nhiều hơn càng tốt. Sở dĩ ta đưa ra con số này vì dựa trên ý nghĩa Tăng Ni là người chỉ đạo tổng quát, còn Cư sĩ là người thực hiện. Một người xuất gia có thể lãnh đạo mười người Cư sĩ như thế, tính theo tỉ lệ trung bình.

Hiện nay Giáo Hội chưa đủ sức cúng dường cho Tăng Ni hàng tháng để hỗ trợ việc tu học và làm Phật sự của Tăng Ni, nên cũng chưa đủ sức trợ cấp sinh hoạt phí cho Cư sĩ. Ai cũng đang phải nỗ lực tự thân để vừa lo cho mình vừa lo cho việc chung, thậm chí nhiều Cư sĩ vừa tham gia hoạt động Phật sự vừa còn phải lấy tiền cúng dường cho chùa nữa. Tấm lòng đó thật đáng ca ngợi; công đức đó chắc chắn được Tam Bảo chứng minh. Nhưng ta vẫn mơ ước ngày kia Giáo Hội có được ngân quỹ dồi dào để có thể cung cấp cho các chùa, có thể trợ cấp cho các Cư sĩ đã dành hầu hết thời gian lo cho Đạo.

Vào những ngày đầu của công cuộc chấn hưng PG, bác sĩ Lê Đình Thám cùng với các cộng sự của mình có lập ra hình thức Gia Đình Phật Hóa Phổ để tập hợp giáo dục các thanh thiếu niên Phật tử, sau này gọi là Gia Đình Phật tử. Chính thầy Tố Liên của ta cũng khen ngợi hình thức này và cho triển khai ở Hà Nội, Hải Phòng. Tổ chức GĐPT này đã làm nên nhiều công lao đối với sự nghiệp chung của Phật giáo VN. Tuy nhiên, chính hệ thống dọc với các cán bộ huynh truởng độc lập đã làm cho tổ chức này dần dần trở nên xa rời Giáo Hội và Tăng Ni, thậm chí các giáo trình giảng dạy của Tổ chức đã yêu cầu các đoàn sinh phải vâng lời huynh truởng hơn cả Tăng Ni, và cũng tự ý so sánh cấp hàm của mình tương đương với giáo phẩm thượng tọa, hòa thượng. Những khuynh hướng kiêu mạn ngấm ngầm đó bây giờ để lại di chứng khó chịu đối với toàn bộ nền Phật Pháp chung.

Rút kinh nghiệm về GĐPT trên, ta sẽ tổ chức lực lượng Cư sĩ Hộ đạo không có hệ thống dọc riêng biệt, Cư sĩ nào có duyên với chùa nào thì sẽ chịu sự lãnh đạo của chùa đó. Trụ trì sẽ chịu trách nhiệm về các hoạt động của Cư sĩ do mình lãnh đạo. Chức sắc nào bảo đảm cho Cư sĩ tham gia hoạt động thì sẽ chịu trách nhiệm về Cư sĩ đó. 

Muốn cho Cư sĩ hoạt động ổn định lâu dài, Giáo hội và các chùa cũng phải sắp xếp cho Cư sĩ được tu và học có chiều sâu dần dần. Không ai có thể làm việc Phật mà thiếu đạo lực được. Thiếu đạo lực tu hành, ta sẽ làm Phật sự với đủ thứ tham sân si, hơn thua, mưu tính, danh lợi, hiềm hận, bè phái, bị mua chuộc vân vân… Ngay cả Tăng Ni mà thiếu tu thiếu học thì cũng sẽ giống như vậy mà thôi. 

Định nghĩa lại cho chính xác thì Giáo Hội chính là môi trường để đệ tử Phật nương tựa nhau, giúp đỡ nhau tu hành và truyền bá chính pháp. Giáo Hội chỉ là phương tiện cho một cứu cánh cao hơn, đó là tu hành và hoằng hóa. Nhưng trong thực tế, sau nhiều công sức vất vả để tổ chức được Giáo Hội, nhiều vị đã xem Giáo hội là cứu kính mà bỏ quên mất cứu kính thật sự chính là tu hành và hoằng hóa. Thế rồi hàng loạt các sai lầm xuất hiện khi các ngài phân biệt giáo hội, cố chấp chức vụ của giáo hội, sẵn sàng nghe theo sự xúi giục của ngoại bang nếu họ hứa hẹn ủng hộ giáo hội của các ngài, thậm chí các ngài hành xử y như thế gian với đủ thủ đoạn thêu dệt, gian dối, vu khống…

Khi bắt tay chấn hưng PG, buộc các vị tôn túc phải tổ chức giáo hội vì có giáo hội rồi thì Tăng Ni và Phật tử mới có môi trường tu hành, làm việc, học tập, và có tiếng nói đáng kể với xã hội. Nhưng rồi không khéo Giáo hội sẽ trở thành một sự cố chấp mới, một trở ngại mới nếu chúng ta quên đi ý nghĩa đích thực của giáo hội là gì. Ngày nay có một số vị chức sắc cũng lợi dụng chức vụ của mình để tham nhũng gây phiền hà cho các chùa. Họ quên mất Giáo hội chỉ là công cụ cho mục tiêu tu hành hoằng hóa. Nếu nhớ rằng giáo hội chỉ là công cụ, là môi trường cho một mục đích cao cả hơn, đó là giúp nhau tu hành và hoằng hóa thì các vị chức sắc lãnh đạo Giáo hội phải ra sức giúp đỡ Tăng Ni và Phật tử đi theo mục đích đó, giúp cho Tăng Ni Phật tử cảm nhận được tình thuơng yêu đồng đạo ấm áp thân thương. Cũng như Giáo hội sẽ đứng vai trò trung gian điều phối các chùa giúp đỡ hỗ trợ nhau trong việc tu hành hoằng hoá, khiến cho Phật giáo trở nên gắn bó hòa hợp đúng như lời Phật dạy.

Ta có 2 cực đoan cần phải tránh trong quan niệm về Giáo hội. Thứ nhất, quan niệm cho rằng mục tiêu chính là tu hành nên nếu ai đủ sức tự tu thì không cần phải gắn bó với Giáo hội. Thứ hai, cố chấp Giáo hội như là cứu cánh đến nỗi không còn xem việc tu hành là quan trọng nữa.

Cực đoan thứ nhất, không cần gắn bó với Giáo hội, lại cũng là biểu hiện của sự yếu kém đạo lực. Nếu người tu mà không thể sống hòa hợp với nhau được thì phải biết có cái gì trục trặc trong kiến giải đạo lý tu hành. Một trong những biểu hiện của đạo lực chính là sống hòa hợp với nhau dễ dàng. Sống với nhau không vui vẻ hòa ái tức là có cái gì sai với đạo lý Phật dạy, cần phải điều chỉnh lại.

Cực đoan thứ hai, xem Giáo hội là tất cả, lại là một cố chấp khác, thường hiện hữu nơi những người có chức sắc của giáo hội, tồn tại nơi những ai đã dày công xây dựng giáo hội. Họ xem tổ chức giáo hội chính là tất cả Phật Pháp, xem tên gọi giáo hội là cao quý hơn cả, cố chấp tẳn mẳn tỉ mỉ từng quy định để bảo vệ sự thực hữu của giáo hội. Đó cũng là biểu hiện của một nội tâm sai lệch đạo lý, chưa thành tựu được công phu hàm dưỡng nội tại.

Công cuộc chấn hưng PG của những vị tôn túc như Hòa thượng Tố Liên từ những thập niên đầu thế kỷ 20 đã để lại những dấu ấn mạnh mẽ trên sự phát triển của Phật Pháp đến tận hôm nay, cả 3 miền Nam Trung Bắc, nhưng thật sự thì đã có sự trở ngại chứ không phải là liên tục. Trong miền Nam, qua thời kỳ Ngô Đình Diệm với chủ trương làm suy yếu PG, rồi qua thời kỳ Nguyễn Văn Thiệu vẫn nối tiếp sách lược của Diệm (mà tác giả Đỗ Mậu đã cho rằng Thiệu cũng chính là Diệm dù không có Diệm), PG đã bị cản trở rất nhiều.

Riêng miền Bắc với việc dồn mọi nỗ lực cho chiến tranh giải phóng thống nhất đất nước, đồng thời với hệ tư tưởng Marxism thiên về Duy vật, cũng không thích hợp cho các sinh hoạt của PG. Dù hòa thượng Tố Liên yêu nước và nhiệt thành với đạo, với bối cảnh như thế Người cũng đành phải lui về nghỉ ngơi, rồi thanh thản ra đi năm 1977.

Ngày hôm nay bỗng nhiên hoàn cảnh biến đổi kỳ lạ. Đảng Cộng Sản Việt Nam tiến hành đổi mới, đưa đất nước đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giữ vững an ninh chính trị, nâng cao tăng truởng kinh tế, nâng cao vị thế uy tín của VN trên trường quốc tế, phát triển dân chủ và đời sống cho nhân dân, công nhận giá trị của đạo Phật đối với văn hóa và tinh thần dân tộc, đã khích lệ cho PG một sự tiến bộ mới… Rồi các tôn giáo với sách lược truyền bá ồ ạt để thu hút quần chúng để có thể biến thành lực lượng chính trị đã gây áp lực lên PG phải có một cuộc chấn hưng lần thứ hai nếu không muốn bị gạt ra khỏi đời sống xã hội.

Hai yếu tố đó đã thúc đẩy PG phải chuẩn bị làm một điều gì đó, rất kỳ diệu, để phát triển PG sang một tầm cao mới, xứng đáng là một tôn giáo của nhân loại như Einstein đã ca ngợi.

Cuộc chấn hưng lần thứ nhất ở đầu thế kỷ 20; cuộc chấn hưng PG lần hai lại sẽ bắt đầu ở đầu thế kỷ 21, và sẽ bắt đầu tại VN.

Những ai sẽ là người có công trong cuộc chấn hưng PG lần thứ hai này sẽ tùy thuộc vào sự đánh giá của lịch sử, sẽ tùy thuộc vào trí tuệ và công lao của những vị đó. Cuộc chấn hưng lần này sẽ gay go không kém gì lần trước vì các tôn giáo bạn với thế lực mạnh mẽ của mình sẽ không muốn cho PG cất cánh, nên sẽ có nhiều phương thức tinh vi để gây chia rẽ, gây khó khăn cho những hoạt động của PG sắp tới. Tuy nhiên ta có quyền hy vọng rất nhiều.

Xin cám ơn chư tôn và quý khách đã chú ý theo dõi. Xin chúc quý vị vô lượng an lạc.  

Thích Chân Quang
Phật Tử Việt Nam

03-29-2007 08:56 

Cuộc chấn hưng lần thứ nhất ở đầu thế kỷ 20; cuộc chấn hưng PG lần hai lại sẽ bắt đầu ở đầu thế kỷ 21, và sẽ bắt đầu tại VN. Những ai sẽ là người có công trong cuộc chấn hưng PG lần thứ hai này sẽ tùy thuộc vào sự đánh giá của lịch sử, sẽ tùy thuộc vào trí tuệ và công lao của những vị đó. Cuộc chấn hưng lần này sẽ gay go không kém gì lần trước vì các tôn giáo bạn với thế lực mạnh mẽ của mình sẽ không muốn cho PG cất cánh, nên sẽ có nhiều phương thức tinh vi để gây chia rẽ, gây khó khăn cho những hoạt động của PG sắp tới.

Kính thưa chư vị tôn túc và các vị khách quý,

Vào những thập niên 20 và 30, phong trào chấn hưng Phật giáo đã dần dần hình thành rõ nét, được cho là bắt đầu ở miền Nam với nhân vật tiên phong là hòa thượng Khánh Hòa của chùa Tiên Linh, Bến Tre. Miền Trung nối bước, rồi sau đó là miền Bắc cũng đi theo. Tuy nhiên, khi đánh giá lại sự chấn hưng PG của VN, nhiều nhà sử học đã công nhận rằng tuy miền Bắc khởi sự chấn hưng sau, nhưng đã nhanh chóng đạt được nhiều kết quả tốt đẹp, có khi còn hơn cả 2 miền kia nữa. Kết quả đó có được cũng là do công lao đóng góp của một danh tài PG kiệt xuất là thầy Tố Liên, khi ấy hãy còn khá trẻ.

Tuy nhiên trước khi nói về những dấu ấn đặc biệt mà thầy Tố Liên đã tạo nên trong cuộc chấn hưng PG, ta hãy làm một cuộc lãng du quay ngược thời gian thêm một chút để nhìn thấy một nhân vật Nghệ An đã là tác nhân âm thầm cho cuộc chấn hưng PG của hòa thượng Khánh Hòa, đó là cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Huy. 

Nghệ An đã từng là đất Phật với hàng trăm ngôi chùa, và những cuộc trỗi dậy chống Pháp từ trong những ngôi chùa đó, ví dụ như cuộc nỗi dậy của tăng sĩ Vương Quốc Chính ở Hà Nội có lực lượng tham gia rất đông đảo của PG Nghệ An. Cụ Nguyễn Sinh Huy, cùng với những bạn bè đồng chí như Phan Bội Châu, sau này có thêm Phan Chu Trinh, cũng đều là những người uyên thâm kinh Phật, và đều chủ trương dùng PG trong công cuộc đấu tranh với Pháp. Sở dĩ các cụ có tư tưởng đó vì các cụ đã nhận ra vai trò của Ki tô giáo trong việc xâm chiếm và cai trị VN của Pháp. Vì thế muốn chống lại sự cai trị của Pháp thì ta cũng phải chấn hưng lại nền PG nước nhà để gọi là “giữ lại linh hồn” cho đồng bào trước sự xâm lăng về tín nguỡng của thực dân Pháp.

Sau này vào Nam, cụ Nguyễn Sinh Huy đã đến gặp gỡ rất nhiều các bậc cao tăng để bàn về việc chấn hưng PG. Cụ đã ghé thăm hòa thượng Huệ Đăng chùa Thiên Thai, Bà Rịa; hòa thượng Chí Thành chùa Phi Lai, Châu Đốc; hòa thượng Khánh Hòa chùa Tiên Linh, Bến Tre, vân vân… Cụ mất sớm vào năm 1929, nhưng từ đó hòa thượng Khánh Hòa đã phát động cuộc chấn hưng PG rất thành công. Dĩ nhiên không phải chỉ vì một cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Huy hay một hòa thượng Khánh Hòa có thể tạo nên cuộc chấn hưng PG mạnh mẽ khắp 3 miền như thế. Chính rất nhiều vị cao tăng tu hành âm thầm rải rác khắp đất nước đã nuôi dưỡng Phật chất cho các đệ tử của mình để chờ ngày các vị này đủ duyên đứng lên gánh vác sứ mệnh chấn hưng PG. Nhưng dù sao cũng đã có một cái vòng tròn độc đáo từ Nghệ An với Nguyễn Sinh Huy, Phan Bội Châu, đến Quảng Nam với Phan Chu Trinh, và nổi lên với Khánh Hòa ở Bến Tre. Rồi từ miền Nam như thế, phong trào chấn hưng lại chạy ngược ra Huế và các tỉnh miền Trung, rồi trở ra Hà Nội, để cho một Tố Liên dẫn đầu đoàn PGVN đi dự đại hội thành lập Hội Liên Hữu Phật Giáo Thế Giới năm 1950.

Bài tham luận này không kể lại các hành trạng đặc biệt của ngài Tố Liên nữa, mà chỉ nhân dịp tưởng nhớ về Ngài, xin có vài suy nghĩ về vai trò của Giáo hội, Sư tăng và người tại gia cư sĩ Phật tử trong thời đại hôm nay.

Kính thưa quý vị,

Sau khi chứng kiến những việc làm chấn hưng PG rất tốt đẹp của miền Nam và miền Trung, năm 1934, một số thượng tọa ở miền Bắc tiêu biểu như sư Trí Hải, Tâm Ứng, Tâm Bảo đã đi từ Hà Đông về Hà Nội để vận động thành lập một hội Phật giáo cho miền Bắc. Các vị tiếp xúc với các học giả, nhà văn Phật tử có uy tín thời bấy giờ trước khi phối hợp với các Sư Tăng. Những cư sĩ có tiếng tăm thời đó như Nguyễn Hữu Kha (hiệu là Thiều Chửu), Nguyễn Năng Quốc, Trần Trọng Kim (sau này làm thủ tướng thời gian ngắn), Bùi Kỷ, Cung Đình Bính, Trần văn Giáp, Dương Bá Trạc (hiện có tên đường ở tpHCM), Nguyễn văn Tố, Nguyễn văn Ngọc, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Trọng Thuật (Đồ Nam)… đã tham dự những buổi bàn bạc đầu tiên để đồng ý thành lập Bắc Kỳ Phật Giáo Hội. Điều đặc biệt là hầu hết những chức vụ nòng cốt đều do cư sĩ đảm nhiệm, ví dụ ông Nguyễn Năng Quốc là Hội trưởng, Nguyễn Văn Ngọc và Nguyễn Quốc Thanh là hội phó… Mặc dù sự vận động ban đầu là do quý thượng tọa sư tăng, nhưng chức vụ thì lại do cư sĩ, tuy hòa thượng Thanh Hanh vẫn được bầu làm thiền gia pháp chủ nhưng chỉ để chứng minh. Hội PG miền Bắc khác hơn hai miền kia chính là chỗ cư sĩ đảm đương chức vụ hầu hết. Còn tại miền Trung và miền Nam thì tỉ lệ giữa sư tăng và cư sĩ là không chênh lệch mấy. Ta có cư sĩ Lê Đình Thám ở miền Trung, Mai Thọ Truyền ở miền Nam, và nhiều vị cư sĩ đặc sắc cũng đã góp phần trong những ngày đầu chấn hưng PG. Như cư sĩ Lê Văn Định làm hội trưởng Hội VN Phật học ở Huế từ ngày đầu tiên đến 3 niên khóa liên tiếp. Hoặc bác sĩ Nguyễn văn Khỏe làm hội trưởng Hội Phật học Nam Việt từ khi thành lập năm 1950 cho đến năm 1952 thì giao lại cho thượng tọa Quảng Minh. Đến năm 1955 thì ông Mai Thọ Truyền lại đảm nhiệm hội trưởng cho đến khi mất năm 1973.

Sau này, vì cảm thấy việc cư sĩ lãnh đạo Hội PG có vẻ bất tiện nên năm 1949 thượng tọa Tố Liên đã vận động thành lập Hội Phật Giáo Tăng Già Bắc Việt để dành riêng cho sư tăng bên cạnh Hội Phật Giáo chung cả sư tăng và cư sĩ do cụ Bùi Thiện Cơ làm hội trưởng. Đến năm 1951 thì thượng tọa Mật Ứng được suy tôn làm Thiền gia Pháp chủ của Hội Tăng Già Bắc Việt. Ở trong miền Nam và miền Trung, sự lãnh đạo các tập đoàn PG cũng chuyển dần sang các vị xuất gia một cách tương tự.

Hiện nay thì hầu hết các chức vụ lãnh đạo trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam đều do Sư Tăng đảm trách, rất khác với những ngày ban đầu chấn hưng PG. Người bây giờ khó hình dung được tại sao lại có cái thời mà cư sĩ làm hội trưởng PG như thế. Nhưng việc gì cũng có cái lý do của nó. 

Sở dĩ cư sĩ lại nhận những chức vụ nòng cốt trong buổi đầu thành lập Hội Phật Giáo chỉ bởi vì ai cũng nhận thấy rằng đó là những cư sĩ nhiệt thành, có đạo đức, có trình độ, có kiến thức Phật học, có uy tín, và nhất là có kinh tế gia đình ổn định. Trong khi đó sư tăng thì ít người, chỉ quen ẩn tu, chưa quen xông xáo đối mặt với chính quyền, luật pháp và xã hội…, thậm chí sư tăng cũng ít có trình độ uy tín thuộc về xã hội. Nếu nói theo phạm trù Phật giáo thì sư tăng có thể có đức hơn cư sĩ, nhưng cư sĩ đã có phúc hơn sư tăng, ít ra trong giai đoạn như thế.

Ta cũng dễ thấy những điều tương tự khi có người cư sĩ nào đó thân tình với chùa, chăm lo cho chùa, có uy tín với bổn đạo, lâu ngày cũng được giao cho các nhiệm vụ quan trọng trong chùa như Thủ quỹ, giữ kho, thư ký, tri khách, trưởng ban hộ tự, vân vân… Ngày đó cũng vậy, chính hoạt động đầy hiệu quả từ trước của các cư sĩ với chùa và với xã hội đã khiến cho sư tăng cũng phải chấp nhận cho cư sĩ giữ chức vụ cao hơn mình trong Hội PG như thế.

Tình trạng đó không kéo dài được lâu vì khi sư tăng bước vào hoạt động tận tâm thì bỗng nhiên mọi người lại nhận ra rằng thực sự đã có những vị sư tăng đầy đủ tài đức có thể lèo lái con thuyền PG tiến tới một cách vững vàng. Thầy Tố Liên của chúng ta chính là một trong những hình ảnh đẹp ngời như thế.

Những bài viết liên tiếp trên báo Đuốc Tuệ đã dần dần định hướng cho đường lối hoạt động của Phật Giáo VN, chuẩn bị cho một cuộc bùng phát mạnh mẽ của PG trên nhiều phương diện. Khi nhiều người say đắm các kinh Đại thừa với tư tưởng Chân Không, thầy Tố Liên đã nhắc nhở họ về ý niệm Nhân Quả như là sự cân bằng giữa Không và Hữu; khi nhiều người quen niệm Phật cầu vãng sinh thì Thầy lại nhắc nhở hạnh nguyện dấn thân phụng sự cho đời, và xem niệm Phật cũng là cách để nhiếp tâm như Thiền vậy; khi mà các tự viện chỉ biết hướng về sơn môn tổ đình của riêng mình thì Thầy lại nhắc nhở tất cả hãy hướng về một Hội Phật Giáo chung để tập hợp sức mạnh chấn hưng PG.

Thầy đã vào Huế đàm đạo với các vị tôn túc và cư sĩ Lê Đình Thám nhằm học hỏi ở chư Tăng Huế những điều cần thiết áp dụng vào miền Bắc, trong đó Thầy đã ủng hộ việc thành lập đoàn thể Gia Đình Phật Hóa Phổ như một môi trường tập hợp lớp trẻ Phật tử để giáo dục dần dần. Rất nhiều rất nhiều những hoạt động của Thầy về từ thiện xã hội, cứu đói năm 1945, giáo dục bình dân, nuôi dưỡng trẻ mồ côi, hoặc giáo dục Tăng Ni, mở rộng Hội Phật giáo về các tỉnh đều khiến cho uy tín của sư tăng ngày càng nổi trội so với cư sĩ. Vì thế, theo luật Nhân Quả, từ đó vai trò của sư tăng cũng đương nhiên vượt lên cao hơn rất nhiều trong mắt mọi người. 

Nhưng không vì thế mà Thầy xem nhẹ vai trò của cư sĩ. Những công tác Phật sự tiếp theo, ngay cả những chuyến đi xuất ngoại họp với Phật giáo Thế giới, Thầy vẫn đề nghị danh sách cư sĩ tham dự với tỉ lệ cao. Điển hình là trong chuyến đi năm 1952 đến Tokyo Nhật Bản, Thầy đã lập danh sách xin phép xuất cảnh với chỉ 03 sư tăng là Tố Liên, Trí Quang, Quảng Minh, nhưng với 08 cư sĩ đi kèm.

Như ta biết, theo định nghĩa về Sangha, Tăng già, đó là một cộng đồng của những người xuất gia theo Phật, sống hiền lành thương yêu nhau để cùng tu hành cho lý tưởng giác ngộ giải thoát.

Định nghĩa như vậy thích hợp cho những cộng đồng nho nhỏ vừa phải, ở chung một địa điểm. Còn khi nhiều cộng đồng sư tăng ở nhiều nơi muốn tạo mối quan hệ mật thiết với nhau để hỗ trợ nhau, để giữ giềng mối Phật Pháp đồng nhất khắp nơi thì buộc ta phải phát triển thành một Giáo Hội Congregation, hoặc ta phải hiểu Sangha theo một khái niệm lớn hơn nữa.

Một hình thức Sangha tự phát theo dòng phái sơn môn vẫn luôn luôn tồn tại, theo đó, từ một vị thầy có uy tín, nhiều đệ tử nối tiếp tỏa ra nhiều nơi để trụ trì và giáo hóa, nhưng vẫn giữ mối quan hệ sơn môn khắng khít với nhau. Việt Nam tồn tại rất nhiều hình thức Sangha sơn môn như vậy. Tuy nhiên, Sangha sơn môn kiểu này không ổn định vì tùy thuộc vào uy đức để lại của vị tổ ban đầu. Có những dòng phái truyền thừa rất lâu như phái Liễu Quán phát tích từ Phú Yên; nhưng cũng có những dòng phái tắt sớm vì không có đệ tử xuất gia tiếp nối.

Nhiều dòng phái sơn môn kiểu đó, nếu không được tổ chức lại thì gây nên sự phân hóa cho toàn bộ Phật giáo. Những ai có lòng với cơ đồ chung của Phật giáo đều phải trăn trở cho sự hợp nhất tổ chức tất cả sư tăng thành một mối của Giáo Hội, mà những bậc tôn túc ngày đầu chấn hưng PG đều nhắm đến. Thầy Tố Liên cũng là người đau đáu vận động tổ chức cho sự hợp nhất toàn bộ sư tăng PG như thế.

Đến đây ta lại phát hiện ra một quy luật khác. Hầu như tổ chức giáo hội thì lấy địa phương hành chính làm đơn vị, chia ra từng tỉnh, huyện; nhưng sơn môn dòng phái thì lấy chùa làm đơn vị, mà chùa của sơn môn thì chạy khắp chỗ theo duyên, chẳng có theo trật tự hành chính gì cả. Thế là từ khi có Giáo hội, ta có 2 tổ chức song song tồn tại, một theo đơn vị hành chính quốc gia, một theo sơn môn dòng phái. Các chùa vẫn vui vẻ chấp nhận mình được quản lý bởi cả hai hệ thống như thế, một bên là Giáo hội chung lớn lao hơn, một bên là tình nghĩa tổ thầy. Các chùa vẫn vui vẻ làm các bổn phận mỗi khi có sự yêu cầu từ các hệ thống quản lý đó.

Theo quy luật của Nhân Quả và cuộc sống, ta thấy rõ ai là người ban bố giúp đỡ thì tất nhiên sẽ đứng vai trò cao hơn. Mối tương quan giữa sư tăng và cư sĩ cũng chịu sự chi phối của quy luật đó.

Cư sĩ là người giúp đỡ về tài vật cho sư tăng nên rất dễ trở nên có tiếng nói nhiều ảnh hưởng đối với sư tăng, nếu, ta nhấn mạnh chữ nếu, nếu sư tăng không có đạo lý gì để ban bố làm gương trở lại cho họ. Từ một số sư tăng âm thầm lặng lẽ rải rác trong các tự viện xa xôi không gây ảnh hưởng gì nhiều cho quần chúng, bất ngờ, qua cuộc chấn hưng PG, một số vị xuất sắc bước ra và trở thành sáng chói, thu phục được sự nguỡng mộ của quần chúng. Thế là, từ một PG với vai trò cư sĩ nổi trội đã biến thành một Hội PG với vai trò sư tăng lãnh đạo vững vàng. Chính thầy Tố Liên mới 47 tuổi đã được đưa lên làm chủ tịch Hội Tăng Ni Chỉnh Lý Bắc Việt năm 1949 cũng bởi vì bản lĩnh trí tuệ của Người thật sự chinh phục lòng kính nể của đại chúng.

Sau này nhiều Tăng Ni được học hành đàng hoàng nên nhân sự cho Giáo hội không thiếu, và Giáo hội hầu như được điều hành bởi Tăng Ni. Ai cũng cho như vậy là ổn định cả nên không thắc mắc gì. Nhưng nếu xét xa hơn một chút ta sẽ thấy vấn đề không đơn giản. 

Kể từ cuộc chấn hưng PG miền Bắc cho đến tận ngày hôm nay, ta vẫn hoàn toàn không nghe nhắc đến PG khu vực Tây Bắc. Ta đã bỏ trống khu vực đó quá lâu. Một số tôn giáo nguy hiểm đang ráo riết truyền bá lôi kéo tín đồ ở đấy và đe dọa an ninh chính trị cả khu vực. Bây giờ có muốn phát triển PG về hướng đó, ta cũng không đủ Tăng Ni đảm đương công việc. Một vài Tăng Ni có phát tâm về vùng xa thì không được các vị tôn túc của Giáo hội động viên giúp đỡ nên hiệu quả chưa cao. Chùa ở đô thị hay vận động tài chánh để trùng tu xây cất lớn, nhưng ít có vị nào vận động tài chánh để ủng hộ cho Tăng Ni đang hoằng hóa ở vùng xa.

Không khác gì Tây Bắc, khu vực Tây Nguyên Trung Bộ cũng đang thiếu Tăng Ni dấn thân hoằng hóa. Một vài vị phát tâm về vùng xa thì lại không được cả Giáo hội lẫn chính quyền địa phương nâng đỡ nên gặp rất nhiều khó khăn đến nỗi có người phải bỏ về lại thành thị.

Nói chung, PG chưa “phủ sóng” toàn bộ mọi miền đất nước, và trách nhiệm trước hết thuộc về Giáo Hội. Cuộc chấn hưng PG thời bấy giờ chưa đặt nền tảng đầy đủ cho sự phát triển PG đến tận những biên giới xa xôi. Ta không thể trách các vị tôn túc thời đó được vì hoàn cảnh đất nước ta khi đó chưa cho phép, mặc dù các vị đã tận tâm toàn ý cả, mặc dù các vị đã rất bản lĩnh vững vàng. Thầy Tố Liên của chúng ta ngoài việc phải lo xây dựng Giáo hội buổi đầu, phải lo liên kết với PG hai miền trong kia, phải lo thêm công việc đối với Phật Giáo Thế Giới, phải lo hoạt động từ thiện xã hội, phải lo ủng hộ cuộc kháng chiến của cả dân tộc… Nói chung Người đã quá tận tụy, đã quá tuyệt vời, ta không thể đòi hỏi gì thêm nữa.

Bây giờ ta phải đòi hỏi chính chúng ta. Ta phải làm gì để nối tiếp công lao của các vị tôn túc thời đó đã khổ công làm công cuộc chấn hưng PG như thế? Ta phải làm gì để con cháu ta sau này được hưởng một nền Phật Pháp tốt đẹp nhất?

Trong các vấn đề ta đặt ra, có vấn đề nhân sự là cơ bản nhất. Thiếu yếu tố con người là thiếu tất cả. Không có người lo việc cho Giáo Hội thì Giáo Hội là vô nghĩa. Muốn có nhân sự đầy đủ thì ta phải chăm lo việc giáo dục, hoằng pháp, song song với việc tổ chức thực hành tu tập cho mọi người từng bước chiến thắng tham sân si trong tâm hồn mình. Có học đạo lý rồi, có được tu tập rồi, ta còn phải tạo điều kiện cho người được bắt tay làm các công đức để tăng trưởng phúc duyên nữa.

Ba điều đó, học, thực hành, và gây tạo công đức khiến cho một người lớn mạnh trưởng thành đúng nghĩa trong giáo pháp của Như Lai. Từ đó ta mới có nhân sự giỏi để chung lo việc Phật Pháp.

Nhân sự ta muốn nói ở đây là cả sư tăng lẫn cư sĩ. Chuyện Phật Pháp mênh mông, Tăng Ni không đủ để đáp ứng toàn bộ, mà phải trông cậy rất nhiều vào lực lượng cư sĩ. Nhưng muốn cư sĩ tham gia gánh vác chuyện Phật Pháp thì ta phải quan tâm một số điều.

Cư sĩ rất bận rộn lo việc gia đình và xã hội nên chỉ những cư sĩ nào rất có tâm, rất có điều kiện mới có thể tham gia hoạt động Phật sự. Cái Tâm nhiệt thành đó có được là do hiểu sâu đạo lý. Ai hiểu sâu đạo lý của Phật rồi đều sẽ trở nên nhiệt thành lo cho Phật Pháp cả. Giúp cho cư sĩ hiểu sâu đạo lý là trách nhiệm muôn đời của Giáo Hội Tăng Ni.

Còn cái điều kiện mà ta nêu ra chính là thời gian, trí tuệ và tài vật. Nhưng ta cũng muốn nói về tài vật nhiều hơn. Cư sĩ có thoải mái về kinh tế thì mới giúp chuyện Phật Pháp được. Ta sẽ đổ thừa cho Nghiệp Duyên đời trước nên bây giờ người ta phải chịu nghèo hay giàu như thế. Thật ra nếu tất cả Phật tử biết giúp nhau làm ăn thì kinh tế ai cũng sẽ khá lên cả. Và cơ hội để góp sức cho hoạt động Phật sự sẽ có nhiều hơn. Muốn cho tất cả Phật tử biết tử tế giúp nhau sinh kế thì lại cũng là trách nhiệm của Giáo Hội Tăng Ni. Tăng Ni phải giáo dục cho Phật tử biết giúp nhau làm ăn, làm giàu, vì đó là thiện nghiệp rất lớn sẽ đem đến quả phúc rất bền bĩ. 

Rốt cục lại, để cho cư sĩ có tâm và có điều kiện cũng đều phải do Tăng Ni giáo hóa cả.

Khi cư sĩ có thể tham gia rồi thì vấn đề còn lại là công việc tổ chức, phân công, tập huấn, kiểm tra, điều chỉnh, khen thưởng vân vân… 

Ta sẽ phân ra làm hai hạng cư sĩ trong đạo Phật. Một hạng cư sĩ quy y Tam Bảo nhưng không gắn bó với Giáo Hội để làm Phật sự. Một hạng cư sĩ gắn bó với Giáo Hội để tham gia Phật sự, chịu khuôn phép, biết vâng lời, gắng tu tập. 

Chính hạng thứ hai này là chỗ dựa rất đắc lực cho Giáo Hội. Giáo hội phải có một chính sách thích hợp để tập hợp những cư sĩ ưu hạng này, để phát huy năng lực của hạng cư sĩ này trong việc hoạt động Phật sự và truyền bá chính pháp. Khi cư sĩ qua một thời gian “thử việc”, có thể gắn bó lâu dài với Giáo Hội để làm Phật sự, biết vâng lời, có đạo đức, chịu khuôn phép, họ cũng phải được cấp thẻ Cư sĩ Hộ đạo chính thức, giống như Tăng Ni được cấp Giấy Tăng Tịch (Chứng nhận Tăng Ni). Hoặc là họ được thầy trú trì tại chùa bảo đảm để được Giáo Hội cấp giấy, hoặc là họ được chức sắc của Giáo Hội bảo đảm cho cấp giấy. Những ai có thẻ Cư sĩ Hộ đạo này thì cũng được quyền bỏ phiếu bầu trong những kỳ bầu cử của Giáo Hội. Giáo Hội có thể tổ chức thi cử kiểm tra trước khi cấp thẻ, giống như phần sát hạch Tăng Ni giới tử trước khi quyết định cho đăng đàn thọ giới vậy. Họ cũng phải dự lễ phát nguyện dõng mãnh trước Phật để làm một Cư sĩ Hộ đạo chân chính suốt đời, với bao nhiêu lời nguyện, bao nhiêu quy luật mà Giáo Hội đưa ra.

Phật giáo VN không thích hợp có hình thức Tân Tăng, nhưng rất thích hợp có hình thức Cư sĩ đặc biệt này cùng tham gia gánh vác Phật sự và hoằng truyền chính pháp. Con số Cư sĩ đặc biệt này cần phải đông gấp 10 lần Tăng Ni, hoặc nhiều hơn càng tốt. Sở dĩ ta đưa ra con số này vì dựa trên ý nghĩa Tăng Ni là người chỉ đạo tổng quát, còn Cư sĩ là người thực hiện. Một người xuất gia có thể lãnh đạo mười người Cư sĩ như thế, tính theo tỉ lệ trung bình.

Hiện nay Giáo Hội chưa đủ sức cúng dường cho Tăng Ni hàng tháng để hỗ trợ việc tu học và làm Phật sự của Tăng Ni, nên cũng chưa đủ sức trợ cấp sinh hoạt phí cho Cư sĩ. Ai cũng đang phải nỗ lực tự thân để vừa lo cho mình vừa lo cho việc chung, thậm chí nhiều Cư sĩ vừa tham gia hoạt động Phật sự vừa còn phải lấy tiền cúng dường cho chùa nữa. Tấm lòng đó thật đáng ca ngợi; công đức đó chắc chắn được Tam Bảo chứng minh. Nhưng ta vẫn mơ ước ngày kia Giáo Hội có được ngân quỹ dồi dào để có thể cung cấp cho các chùa, có thể trợ cấp cho các Cư sĩ đã dành hầu hết thời gian lo cho Đạo.

Vào những ngày đầu của công cuộc chấn hưng PG, bác sĩ Lê Đình Thám cùng với các cộng sự của mình có lập ra hình thức Gia Đình Phật Hóa Phổ để tập hợp giáo dục các thanh thiếu niên Phật tử, sau này gọi là Gia Đình Phật tử. Chính thầy Tố Liên của ta cũng khen ngợi hình thức này và cho triển khai ở Hà Nội, Hải Phòng. Tổ chức GĐPT này đã làm nên nhiều công lao đối với sự nghiệp chung của Phật giáo VN. Tuy nhiên, chính hệ thống dọc với các cán bộ huynh truởng độc lập đã làm cho tổ chức này dần dần trở nên xa rời Giáo Hội và Tăng Ni, thậm chí các giáo trình giảng dạy của Tổ chức đã yêu cầu các đoàn sinh phải vâng lời huynh truởng hơn cả Tăng Ni, và cũng tự ý so sánh cấp hàm của mình tương đương với giáo phẩm thượng tọa, hòa thượng. Những khuynh hướng kiêu mạn ngấm ngầm đó bây giờ để lại di chứng khó chịu đối với toàn bộ nền Phật Pháp chung.

Rút kinh nghiệm về GĐPT trên, ta sẽ tổ chức lực lượng Cư sĩ Hộ đạo không có hệ thống dọc riêng biệt, Cư sĩ nào có duyên với chùa nào thì sẽ chịu sự lãnh đạo của chùa đó. Trụ trì sẽ chịu trách nhiệm về các hoạt động của Cư sĩ do mình lãnh đạo. Chức sắc nào bảo đảm cho Cư sĩ tham gia hoạt động thì sẽ chịu trách nhiệm về Cư sĩ đó. 

Muốn cho Cư sĩ hoạt động ổn định lâu dài, Giáo hội và các chùa cũng phải sắp xếp cho Cư sĩ được tu và học có chiều sâu dần dần. Không ai có thể làm việc Phật mà thiếu đạo lực được. Thiếu đạo lực tu hành, ta sẽ làm Phật sự với đủ thứ tham sân si, hơn thua, mưu tính, danh lợi, hiềm hận, bè phái, bị mua chuộc vân vân… Ngay cả Tăng Ni mà thiếu tu thiếu học thì cũng sẽ giống như vậy mà thôi. 

Định nghĩa lại cho chính xác thì Giáo Hội chính là môi trường để đệ tử Phật nương tựa nhau, giúp đỡ nhau tu hành và truyền bá chính pháp. Giáo Hội chỉ là phương tiện cho một cứu cánh cao hơn, đó là tu hành và hoằng hóa. Nhưng trong thực tế, sau nhiều công sức vất vả để tổ chức được Giáo Hội, nhiều vị đã xem Giáo hội là cứu kính mà bỏ quên mất cứu kính thật sự chính là tu hành và hoằng hóa. Thế rồi hàng loạt các sai lầm xuất hiện khi các ngài phân biệt giáo hội, cố chấp chức vụ của giáo hội, sẵn sàng nghe theo sự xúi giục của ngoại bang nếu họ hứa hẹn ủng hộ giáo hội của các ngài, thậm chí các ngài hành xử y như thế gian với đủ thủ đoạn thêu dệt, gian dối, vu khống…

Khi bắt tay chấn hưng PG, buộc các vị tôn túc phải tổ chức giáo hội vì có giáo hội rồi thì Tăng Ni và Phật tử mới có môi trường tu hành, làm việc, học tập, và có tiếng nói đáng kể với xã hội. Nhưng rồi không khéo Giáo hội sẽ trở thành một sự cố chấp mới, một trở ngại mới nếu chúng ta quên đi ý nghĩa đích thực của giáo hội là gì. Ngày nay có một số vị chức sắc cũng lợi dụng chức vụ của mình để tham nhũng gây phiền hà cho các chùa. Họ quên mất Giáo hội chỉ là công cụ cho mục tiêu tu hành hoằng hóa. Nếu nhớ rằng giáo hội chỉ là công cụ, là môi trường cho một mục đích cao cả hơn, đó là giúp nhau tu hành và hoằng hóa thì các vị chức sắc lãnh đạo Giáo hội phải ra sức giúp đỡ Tăng Ni và Phật tử đi theo mục đích đó, giúp cho Tăng Ni Phật tử cảm nhận được tình thuơng yêu đồng đạo ấm áp thân thương. Cũng như Giáo hội sẽ đứng vai trò trung gian điều phối các chùa giúp đỡ hỗ trợ nhau trong việc tu hành hoằng hoá, khiến cho Phật giáo trở nên gắn bó hòa hợp đúng như lời Phật dạy.

Ta có 2 cực đoan cần phải tránh trong quan niệm về Giáo hội. Thứ nhất, quan niệm cho rằng mục tiêu chính là tu hành nên nếu ai đủ sức tự tu thì không cần phải gắn bó với Giáo hội. Thứ hai, cố chấp Giáo hội như là cứu cánh đến nỗi không còn xem việc tu hành là quan trọng nữa.

Cực đoan thứ nhất, không cần gắn bó với Giáo hội, lại cũng là biểu hiện của sự yếu kém đạo lực. Nếu người tu mà không thể sống hòa hợp với nhau được thì phải biết có cái gì trục trặc trong kiến giải đạo lý tu hành. Một trong những biểu hiện của đạo lực chính là sống hòa hợp với nhau dễ dàng. Sống với nhau không vui vẻ hòa ái tức là có cái gì sai với đạo lý Phật dạy, cần phải điều chỉnh lại.

Cực đoan thứ hai, xem Giáo hội là tất cả, lại là một cố chấp khác, thường hiện hữu nơi những người có chức sắc của giáo hội, tồn tại nơi những ai đã dày công xây dựng giáo hội. Họ xem tổ chức giáo hội chính là tất cả Phật Pháp, xem tên gọi giáo hội là cao quý hơn cả, cố chấp tẳn mẳn tỉ mỉ từng quy định để bảo vệ sự thực hữu của giáo hội. Đó cũng là biểu hiện của một nội tâm sai lệch đạo lý, chưa thành tựu được công phu hàm dưỡng nội tại.

Công cuộc chấn hưng PG của những vị tôn túc như Hòa thượng Tố Liên từ những thập niên đầu thế kỷ 20 đã để lại những dấu ấn mạnh mẽ trên sự phát triển của Phật Pháp đến tận hôm nay, cả 3 miền Nam Trung Bắc, nhưng thật sự thì đã có sự trở ngại chứ không phải là liên tục. Trong miền Nam, qua thời kỳ Ngô Đình Diệm với chủ trương làm suy yếu PG, rồi qua thời kỳ Nguyễn Văn Thiệu vẫn nối tiếp sách lược của Diệm (mà tác giả Đỗ Mậu đã cho rằng Thiệu cũng chính là Diệm dù không có Diệm), PG đã bị cản trở rất nhiều.

Riêng miền Bắc với việc dồn mọi nỗ lực cho chiến tranh giải phóng thống nhất đất nước, đồng thời với hệ tư tưởng Marxism thiên về Duy vật, cũng không thích hợp cho các sinh hoạt của PG. Dù hòa thượng Tố Liên yêu nước và nhiệt thành với đạo, với bối cảnh như thế Người cũng đành phải lui về nghỉ ngơi, rồi thanh thản ra đi năm 1977.

Ngày hôm nay bỗng nhiên hoàn cảnh biến đổi kỳ lạ. Đảng Cộng Sản Việt Nam tiến hành đổi mới, đưa đất nước đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giữ vững an ninh chính trị, nâng cao tăng truởng kinh tế, nâng cao vị thế uy tín của VN trên trường quốc tế, phát triển dân chủ và đời sống cho nhân dân, công nhận giá trị của đạo Phật đối với văn hóa và tinh thần dân tộc, đã khích lệ cho PG một sự tiến bộ mới… Rồi các tôn giáo với sách lược truyền bá ồ ạt để thu hút quần chúng để có thể biến thành lực lượng chính trị đã gây áp lực lên PG phải có một cuộc chấn hưng lần thứ hai nếu không muốn bị gạt ra khỏi đời sống xã hội.

Hai yếu tố đó đã thúc đẩy PG phải chuẩn bị làm một điều gì đó, rất kỳ diệu, để phát triển PG sang một tầm cao mới, xứng đáng là một tôn giáo của nhân loại như Einstein đã ca ngợi.

Cuộc chấn hưng lần thứ nhất ở đầu thế kỷ 20; cuộc chấn hưng PG lần hai lại sẽ bắt đầu ở đầu thế kỷ 21, và sẽ bắt đầu tại VN.

Những ai sẽ là người có công trong cuộc chấn hưng PG lần thứ hai này sẽ tùy thuộc vào sự đánh giá của lịch sử, sẽ tùy thuộc vào trí tuệ và công lao của những vị đó. Cuộc chấn hưng lần này sẽ gay go không kém gì lần trước vì các tôn giáo bạn với thế lực mạnh mẽ của mình sẽ không muốn cho PG cất cánh, nên sẽ có nhiều phương thức tinh vi để gây chia rẽ, gây khó khăn cho những hoạt động của PG sắp tới. Tuy nhiên ta có quyền hy vọng rất nhiều.

Xin cám ơn chư tôn và quý khách đã chú ý theo dõi. Xin chúc quý vị vô lượng an lạc.  

Thích Chân Quang
Phật Tử Việt Nam

03-29-2007 08:56

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Mười Hai 20, 2009 in Bài Giảng, Phật Giáo

 

Nhãn: ,

Quy Y Phật là gì ? – Thích Chân Quang

Quy Y Phật là gì ?

                                                  Tỳ Kheo Thích Chân Quang

Phật là ai? Phật được dịch nghĩa là Đấng giác ngộ. Đấng giác ngộ là ai ? Từ vô lượng kiếp xưa, Ngài cũng là người như mọi người mà kiếp cuối cùng trở thành Đức Phật còn gọi là Phật Thích Ca. Nhưng trong vô lượng kiếp, Ngài đã sống với lòng từ bi vô lượng, luôn luôn thương yêu trất cả chúng sinh và làm lợi ích cho chúng sinh không bao giờ mệt mỏi. Song song với việc sống, với lòng từ bi và làm lợi ích cho chúng sinh, Ngài luôn luôn nổ lực trong việc thực hành Thiền định. Hai yếu tố Thiền định và lòng từ bi đã tạo thành công đức tích lủy từ kiếp này sang kiếp khác cho đến vô lượng kiếp như vậy. Và ở duyên cuối cùng, nơi quả vị chín muồi này, Ngài đã trở thành một Đấng giác ngộ. Đôi khi chúng ta hiểu một cách đơn giản như vậy, nhưng thật ra sự giác ngộ này chứa đựng một giá trị tâm linh vô cùng to lớn. Chúng ta không thể dùng ngôn từ của thế gian để diển tả cho sự giác ngộ tột cùng này. Khi vô minh hoàn toàn chấm dứt, trí tuệ bừng sáng, Ngài đủ sức mạnh thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử, không một nghiệp lực nào có thể chi phối buộc Ngài phải trầm luân trở lại. Nơi sự giác ngộ này, cái chấp ngã kiên cố ngàn đời tan vở và biến mất, tâm Ngài phủ trùm vạn vật, trở thành chung đồng, chan hoà với tất cả chúng sinh. Cho nên ý nghĩa của sự giác ngộ này thật lớn lao vĩ đại, mà những ngôn từ bình thường của thế gian chỉ có thể gợi ý cho chúng ta chứ không thể nào diển tả đầy đủ được. Tuy Ngài đã giác ngộ, nhưng ở thế giới loài người đã ít biết đến Ngài trừ một số ít người có duyên với Ngài. Nhưng trong mười phương cỏi khác tất cả đều tôn vinh, ca ngợi, xưng tụng Ngài là Đấng chánh giác, là chổ dựa, là bậc Thầy của tất cả chúng sinh. Ở đây chúng ta thấy rỏ điều này, Đức Phật không phải là một vị thần linh từ một cỏi nào đến để có thể ban phước, giáng họa, Đức Phật cũng không phải là một Thượng đế đã tạo nên tất cả. Trong đạo Phật không co khái niệm thần quyền, tức là thượng đế đã tạo nên tất cả. VỚI sao? VỚI Đức Phật dạy rất kỹ rằng tất cả mọi điều đều do nhiều nhân duyên, do nhiều yếu tố hợp thành. Không có điều gì tự trở thành nên không hề có điều gọi là Đấng Thượng đế để có thể tạo nên tất cả. Do đó lời Đức Phật nói rất phù hợp với sự tiến bộ của khoa học. Hàng ngàn năm trôi qua, khoa học càng tiến bộ, thì lời nói của Đức Phật càng được chứng minh là đúng. Hầu hết các tôn giáo khác đều tin vào thần quyền, các tín đồ cho rằng có một đấng sáng tạo đã tạo ra tất cả, còn Đức Phật là con người, không phải là đấng sáng tạo nên không có gì cao siêu. Chúng ta không tranh cải hơn thua mà chỉ mỉm cười với điều gọi là đấng sáng tạo thật ra chỉ là huyền thoại chứ không thể nào có thật. Vì sao? Vì nếu có một đấng sáng tạo thì không lẽ đấng đó  tạo nên sự đau khổ cho con người như: chiến tranh, bệnh tật, thiên tai, và tội lổi trong lòng con người. Và không thể có một đấng toàn năng nào tạo ra tất cả bằng một cách rất hoàn hảo, có thể nói là ác độc. Do đó chúng ta vũng tin vào lý nghiệp duyên, trong đó tâm lý chúng sinh chính là khởi điểm tạo nên rất nhiều điều trong thế gian này. Và khi chúng ta Quy Y Phật, nghĩa là Quy Y Đấng giác ngộ, là đấng từ một chúng sinh, là một con người trở thành tuyệt đối. Như vậy không có một Đức Phật duy nhất cho toàn thể vuơ trụ mà bất cứ ai đi đúng như con đường Đức Phật dạy đều có thể chứng đạt được, đều trở thành tuyệt đối như Đức Phật. Và đây là một giá trị nhân bản mà không có một triết thuyết tôn giáo nào bằng hoặc hay hơn được. Điểm giá trị cao nhất ở Đấng giác ngộ không phải là một người duy nhất mà mở rộng cho tất cả chúng sinh, cho bất cứ người nào tìm thấy được chân lý, sống hợp, sống đúng với chân lý.

Nơi ý nghĩa Quy Y Phật, chúng ta được dạy rằng từ đây không được tôn thờ tà thần quỹ vật, nghĩa là khi đến đình miếu thờ các vị thần, chúng ta không được xem như đấng mình phải tôn kính tuyệt đối. Chúng ta chỉ cúi đầu đảnh lể trước sự giác ngộ, trước những con người đã giác ngộ, hoặc đang đi trên con đường giác ngộ, giải thoát chứ không cúi đầu đảnh lể trước một người không đi đúng con đường giải thoát , dù đó là một vị thần linh có quyền năng ban phước, giáng hoạ. Chúng ta không sợ hải họ dù chúng ta vẩn kính trọng họ, nhưng chúng ta chỉ kính trọng như kính trọng mọi người trong cuộc sống này, chỉ là tôn trọng chứ không phải tôn thờ. Đó là điều chúng ta được dặn khi Quy Y Phật.

                                                                            Tỳ Kheo Thích Chân Quang

Đọc Thêm

Lại Chuyện Bất Đắc Dĩ về Nguyễn Văn Lục
Lại Chuyện Bất Đắc Dĩ Về Tiến Sĩ Nguyễn Học Tập (Trần Chung Ngọc)
Lại Chuyện Bất Đắc Dĩ về Tú Gàn (1)
Lại Chuyện Bất Đắc Dĩ về Tú Gàn (2)
Lại Chuyện Ruồi Bu của Trần Trung Đạo (Trần Chung Ngọc)

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Mười Hai 19, 2009 in Phật Giáo, Thích Chân Quang

 

Nhãn: , ,

Quan niệm về Ông Trời của người Việt

                             Quan niệm “Ông Trời” của người Việt

Từ ngàn xưa, dân tộc Việt Nam đã có nhiều ý niệm về “Ông Trời”. Những ý niệm đó đã được bộc lộ qua các câu ca dao tục ngữ hoặc trong thi phú của giới trí thức nho học uyên thâm mà ta thường gọi là “văn chương bác học”. Tuy nhiên, muốn hiểu ý nghĩa thật sự của Ông Trời Việt Nam chúng ta cần phải khảo sát văn chương bình dân vì chỉ trong văn chương bình dân tâm hồn chất phác của nông dân Việt Nam mới được thể hiện trọn vẹn và trung thực. Đối với các nhà nho chịu ảnh hưởng văn hóa Trung quốc thì Ông Trời là “Ngọc Hoàng Thượng Đế” mà người Hoa thường lập bàn thờ để thờ, hoặc có thể là “Hoàng Thiên” như trong câu “Hoàng thiên bất phụ hảo tâm nhân”. Điểm khác biệt giữa quan niệm của người Tàu về Ngọc hoàng Thượng đế (hoặc Hoàng Thiên) với quan niệm về “Ông Trời” của người Việt Nam là người Việt không tôn trọng Ông Trời. Ngay cách gọi Trời bằng “Ông” cũng đã là một cách diễu cợt. Người Việt Nam coi Trời không hơn ông hàng xóm: “Bắc thang lên hỏi ông trời!”.

Có lẽ chỉ có người Việt nam “dám” gọi Trời bằng Ông mà thôi vì chúng ta không hề thấy một cách gọi tương đương trong các ngôn ngữ khác. Chúng ta không hề thấy người Tàu gọi “Ngọc hoàng Thượng đế” là Ngọc hoàng tiên sinh, Thượng đế tiên sinh hoặc Hoàng thiên tiên sinh…. Chúng ta cũng không hề thấy người Anh hoặc người Pháp gọi Thiên Chúa là Mr. God! Monsieur Dieu!…. Hơn thế nữa, người Việt Nam còn tỏ thái độ xem thường ông Trời qua cách gọi Trời là “Con Tạo” hoặc “Trẻ Tạo Hóa”, thậm chí còn gọi con cóc là cậu ông trời!

– “Con cóc là cậu ông trời

Hễ ai đánh nó thì trời đánh cho” (Ca dao)

– “Trẻ tạo hóa đành hanh quá ngán” (Nhị Độ Mai)

– “Đố kỵ sá chi con tạo

Nợ tang bồng quyết trả cho xong” (Nguyễn Công Trứ)

Đối với người Việt Nam bình dân, “Ông Trời” cũng tương tự như “Ông Trăng” “Ông Sao” mà thôi, tuyệt nhiên không hề có ý nghĩa là Đấng Tối Cao hoặc Đấng Toàn Năng theo quan điểm của Kitô giáo.

Một sĩ phu nổi tiếng trong Phong trào Cần Vương là Trần cao Vân đã lột tả quan niệm của ông về “Ba Ngôi” trong vũ trụ là: Trời, Đất, Người (Thiên – Địa –Nhân) có mối tương quan đồng cảm và đồng dẳng qua bài thơ sau đây:

Trời đất sinh ta có ý không?

Chưa sinh trời đất, có Ta trong

Ta cùng Trời Đất, ba Ngôi sánh

Trời đất sinh ta một chữ Đồng

Đất nứt ta ra, Trời chuyển động

Ta thay trời mở đất mênh mông

Trời che đất chở, ta thong thả

Trời, Đất, ta đây đủ hóa công.

Đối với Hồi giáo, Do thái giáo và Ki tô giáo, các tín đồ đều được gọi là “những kẻ kính sợ Chúa” (God-fearers). Trái lại, người Việt Nam bình dân không hề “sợ Trời”. Họ tin rằng nếu con người cố gắng phấn đấu cũng có thể “thắng trời” như thường:

– Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều!

hoặc cứ liều làm theo ý mình và mặc cho trời muốn làm gì thì làm:

– Cũng liều nhắm mắt đưa chân

Thử xem Con tạo xoay vần đến đâu. (Nguyễn Du)

Ý niệm thông thường nhất của người Việt Nam về “Ông Trời” chính là bầu trời xanh vật chất ở trên đầu chúng ta. Đó là môi trường thiên nhiên của mọi biến chuyển về thời tiết như mưa nắng, gió bão v.v… thể hiện nổi bật ý niệm này là bài thơ “Vịnh Ông Trời” của Nguyễn Khuyến (1835-1909):

Cao cao muôn trượng ấy là Tao

Dẫu pháo thăng thiên chẳng tới nào

Nhắn bảo dưới trần cho chúng biết

Tháng ba, tháng tám tớ mưa rào.

Khi người Việt nam nói “trời mưa”, “trời nắng” thì chỉ có nghĩa là thời tiết mưa hay nắng chứ không hề có nghĩa là “Đức Chúa Trời mưa” hay “Đức Chúa Trời nắng”!

Nguyễn Bính có hai câu thơ rất hay:

Nắng mưa là bệnh của trời

Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng

Trời của Nguyễn Bính trong câu thơ trên cũng chỉ là thời tiết mà thôi. Trong những trường hợp khác, Trời được hiểu là Luật thiên nhiên trong vũ trụ như:

– Cha mẹ sinh con, trời sinh tính

– Trời sinh, trời dưỡng

– Trời sinh voi, trời sinh cỏ

Người Việt nam bình dân cũng quan niệm “Ông Trời” như số mệnh của con người hoặc số phận được quyết định bởi những yếu tố vuợt quá tầm kiểm soát của con người, chẳng hạn như:

Ngẫm hay muôn sự tại trời (số mệnh !)

Trời kia đã bắt làm người có thân

Bắt phong trần phải phong tràn

Cho thanh cao mới được phần thanh cao

Nguyễn Du

hay:

Trời sao ăn ở chẳng cân

Kẻ ăn không hết, người lần chẳng ra

Ông Trời cũng có thể được hiểu là luật Nhân Quả, nếu ta cố gắng tu thân và có lòng nhân ái, chắc chắn sẽ gặt kết quả tốt:

Trời sinh, trời ắt đã dành phần

Tu hãy cho bền, dạ có nhân

Nguyễn Bỉnh Khiêm

– Có trời mà cũng có ta

Tu là cõi phúc, tình là dây oan (Nguyễn Du)

Trên đây là những ý niệm của người Việt nam về ông Trời đã được thể hiện qua ca dao, tục ngữ và văn chương bác học, tuyệt nhiên không có ý nghĩa là Đấng Tòan Năng hoặc Thiên Chúa của đạo Kitô. Ông Trời trong tâm thức của người Việt nam luôn luôn chân chất hồn nhiên và rất hiền hòa, hòan tòan trái ngược với Thiên Chúa trong Kinh thánh Cựu ước là một ác thần hay đúng hơn là một ác quỷ.

Vả lại, nước ta vốn là một nước nông nghiệp, truyền thống dân giả Việt nam vốn tin vào Trời như sự tuần hoàn tự nhiên của vũ trụ thiên nhiên. Người nông dân luôn luôn phải quan sát thiên nhiên để đoán trước các biến chuyển về thời tiết hầu ứng dụng vào công cuộc trồng cấy:

Trông trời, trông đất, trông mây

Trông mưa, trông gió, trông ngày trông đêm

Trông cho chân cứng đá mềm

Trời êm bể lặng mới yên tấm lòng

Khi thấy người dân Việt nam hay nói đến Trời, các mục sư Tin lành và các tu sĩ Công giáo mừng khấp khởi như bắt được vàng. Các vị này đã hết sức trổ tài hùng biện để chứng minh rằng: Mỗi khi người Việt nam kêu “Trời ơi!” chính là lúc họ kêu cứu một đấng Thiên Chúa đang làm chủ trên vòm trời xanh!

Họ trí trá ca ngợi cái kho tàng bốn ngàn năm văn hiến của dân tộc Việt nam có một giá trị cao quí nhất là niềm tin vào ông Trời. Các mục sư Tin lành và các linh mục Công giáo truyền đạo ra sức gò ép ý niệm Ông Trời Việt nam vào ý niệm Thiên Chúa của đạo Kitô. Đây là một thủ đoạn gian trá nhằm vào mục đích xiềng xích trì trệ chất phác của người dân quê Việt nam vào những cái khung cứng ngắc của niềm tin giả tạo vào Thiên Chúa của họ.

Những hành động này hoàn toàn tương phản với tâm hồn chất phác của người dân Việt vốn chỉ tin tưởng vào Thiên Nhiên và Định Mệnh con người mà thôi.

Có nhiều trí thức và tu sĩ Công giáo khai thác ý niệm Ông Trời Việt nam để truyền đạo. Chúng ta có thể nêu lên một số trường hợp điển hình sau đây:

1. Linh mục (Lm) Trần cao Tường: Trên báo “Thế kỷ 21” số 125 tháng 9/99 có đăng bài “Đạo kính tổ tiên, điểm gặp gỡ chung cho các tín ngưỡng Việt” của Lm Trần cao Tường. Trong bài này, Lm Tường cố ý xuyên tạc đạo hiếu và Ông Trời để phục vụ cho mục tiêu truyền đạo. Lm Tường viết: “Có thể nói, niềm tin vào ông Trời đã có sẵn trong tâm thức người Việt trước cả khi các tôn giáo du nhập…” Cuối cùng, Lm Tường cố ý gán ghép ý niệm Ông Trời (tức Thiên Nhiên) của dân tộc Việt với ý niệm Thiên Chúa của đạo Kitô (The Christian God). Khi gán ghép như vậy, Lm Tường đã tự tố cáo sự hiểu biết nông cạn của mình vì thực sự ông ta không hiểu gì về sự khác biệt như nước với lửa giữa Ông Trời Việt nam và Thiên Chúa ba ngôi của đạo Kitô. Tôi sẽ phân tích rõ về sự khác biệt ở phần cuối bài này.

2. Trí thức Công giáo Nguyễn huy Lai: Ông lai là một trí thức Công giáo sinh trưởng tại Hà nội. Cuối thập niên 1920 ông du học tại Paris và đậu tiến sĩ luật năm 1935. Trong đầu thập niên 1930, ông viết sách “La Tradition Religieuse Spirituelle Sociale au Vietnam” (Truyền thống Tôn giáo Tâm linh Xã hội tại Việt nam) nhưng đến năm 1981 sách này mới được xuất bản lần đầu tại Pháp. Ông Lai qua đời năm 1992 tại VN, thọ 84 tuổi.

Báo Đất mẹ (số 103, tháng 2/2003, trang 23) trích dịch một phần sách của ông Lai, trong đó có đoạn viết: “Ông Trời được người Việt nam tôn kính không phải là một ông thần hộ mệnh mà là một Thiên Chúa Ngôi vị (Dieu personnel / Thiên Chúa Ba ngôi) ngự trị trên các tầng trời”. Trường hợp của trí thức Công giáo Nguyễn huy Lai cũng như Linh mục Trần cao Tường nói trên, cả hai đều không nhận ra sự khác biệt sâu xa giữa Ông Trời Việt nam và Thiên Chúa của đạo Kitô (tức Thiên Chúa Ba ngôi). Đây là sự khác biệt như hai thái cực tương phản khiến cho không một ai có thể đồng hóa được.

3. Linh mục Giuse Trương đức Kỷ tức Cao phương Kỷ, giáo sư môn thần học tại nhiều chủng viện Việt nam và Hoa kỳ, tác giả sách “Thiên Chúa giáo và Tam giáo”, 536 trang, xuất bản tại Mỹ năm 2000. Đây là một cuốn sách triệt để khai thác và xuyên tạc ý niệm Ông Trời để phục vụ cho nhu cầu truyền đạo Kitô.

Trong Lời giới thiệu, Lm Trần công Nghị (thuộc Hội đồng Chỉ đạo Liên tôn) đã viết về tác giả của cuốn sách như sau: “Sọan giả nêu ra những chân lý chung làm nền tảng mà bất cứ giáo phái nào cũng công nhận… mẫu số chung cho các tín ngưỡng của người Việt nam là niềm tin ở Ông Trời, tức Đấng Siêu Việt”.

Rõ ràng một điều là cả Lm Trần công Nghị lẫn Lm Cao phương Kỷ đã cương ẩu vì trong ca dao tục ngữ cũng như trong thi phú Việt nam chẳng có câu nào ca ngợi Ông Trời là “Đấng Siêu Việt” cả. Ngay danh xưng “Ông Trời” cũng đã hàm ý – phủ nhận cái ý nghĩa “Đấng Siêu Việt” rồi, vì liệu Lm Cao phương Kỷ có thể gọi Đấng Siêu Việt là “Ông Siêu Việt” được không? Nếu coi Trời là Đấng Siêu Việt thì tại sao người Việt nam lại gọi Trời là Con Tạo, Trẻ Tạo Hóa, con cóc là cậu ông Trời? Chẳng lẽ con cóc là cậu của Đấng Siêu Việt?

Nơi trang 4 sách dẫn chiếu, Lm Cao phương Kỷ ca ngợi cố đạo Alexandre de Rhodes là người am trường tín ngưỡng đặc biệt của Việt nam: “Cha Đắc Lộ đề cao niếm tin cổ truyền ở một Vị Thần Siêu Việt mà dân chúng thường kêu xin là Ông Trời.”

Quả thật, Đắc Lộ đã sáng tác ra danh từ “Đức Chúa Trời” và y là người đầu tiên xử dụng danh từ này trong nhiều trường hợp:

– Đắc Lộ lập ra hội “Nhà Đức Chúa Trời” có mục tiêu đào tạo các thầy giảng cho giáo hội Việt nam.

– Đắc Lộ dịch sách giáo lý bằng tiếng La-tinh “Cathéhismes” ra tiếng Việt, đó là sách “Phép giảng tám ngày cho kẻ muốn chịu phép rửa tội mà vào đạo thánh Đức Chúa Trời.”

– Đắc Lộ thay thế tiếng “Chúa Dêu” phiên âm từ tiếng La-tinh “DEUS” bằng danh từ “Đức Chúa Trời” trong các bài kinh nguyện của Việt nam. Thí dụ như kinh Kính Mừng trước kia được phiên âm từ tiếng La-tinh như sau: “Ave Maria, đầy ga-ra-xi-a, Đức Chúa Dều ở cùng bà…”.

Đắc Lộ là người đầu tiên đưa đạo Công giáo hội nhập vào văn hóa Việt nam bằng cách mô phỏng danh từ “Ông Trời” để sáng chế ra danh từ “Đức Chúa Trời” đã trở thành rất thông dụng trong quần chúng Công giáo Việt. Nhưng Đắc Lộ đã thất bại khi gò ép chứng minh Ông Trời là “Vị Thần Siêu Việt” mà Linh mục Cao phương Kỷ muốn chúng ta hiểu là Thiên Chúa của đạo Kitô (Christian God).

Trong thực tế, Matteo Ricci ở Trung-Quốc và cố đạo Đắc Lộ tại Việt nam đều không dám đề cập đến Thiên Chúa của đạo Kitô là Thiên Chúa Ba ngôi (Christian Gos is Trinity God) trong các sách giáo lý của họ. Bởi lẽ Thiên Chúa Ba ngôi là một thứ “toán học kỳ quặc”: Ba là Một, Một là Ba. Jesus là Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người, đồng thời cũng là Đức Chúa Cha tạo thành vũ trụ vạn vật và cũng là Đức Chúa Thánh thần, chồng của mẹ ông. Nói đúng hơn, Thiên Chúa Ba ngôi là một quái thai tư tưởng mà bản thân Matteo Rici và Alexandre de Rhodes cũng không hiểu nổi và cũng không thể giảng giải cho người khác hiểu được. Vì thế họ đành phải câm miệng.Tuy nhiên, Alexandre de Rhodes nhận thấy người Việt có phong tục ăn mừng suốt ba ngày trong dịp tết Nguyên đán nên y thực hiện quỉ kế là khuyên giáo dân dành ba ngày tết để tôn thờ Thiên Chúa Ba ngôi: Ngày mồng một tết tôn thờ Đức Chúa Cha, ngày mồng hai tôn thờ Đức Chúa Con (tức Jeus) và ngày mồng ba tôn thờ Đức Chúa Thánh thần. Trải qua trên ba thế kỷ, nhiều giáo xứ Công giáo Việt nam hiện vẫn còn giữ tập tục tôn thờ Thiên Chúa Ba ngôi trong ba ngày tết. Hành động này đã khiến cho giáo dân Việt nam mặc nhiên chấp nhập tín điều Thiên Chúa Ba ngôi mà không cần phải dùng lý trí để phân biệt đúng sai.

Tiếp tục tán láo trong chiều hướng gò ép nhằm cưỡng chế người đọc phải hiểu Ông Trời là Thiên Chúa, Linh mục Cao phương Kỷ viết: “Theo truyền thống cố hữu của dân tộc Việt nam thì niềm tin vào một Đấng Bề Trên đã được biểu lộ trong nghi lễ tế tự, ca dao tục ngữ, văn thơ và đặc biệt trong lời kêu cứu cầu xin chân thành đặt hết ước vọng của cuộc đời vào sự quan phòng của Ông Trời (sđd, Thiên Chúa giáo và Tam giáo, trang 387); “con người hướng tâm linh lên một Quyền lực Thiêng liêng làm chủ tể muôn loài…. đầy tình thương xót, có thể lắng nghe những lời cầu kinh:

Lạy Trời mưa xuống

Lấy nước tôi uống

Lấy ruộng tôi cầy

Lấy dầy bát cơm,

Lấy rơm đun bếp.”

(sđd, trang 392)

Linh mục Cao phương Kỷ đã trắng trợn cưỡng đoạt bài ca dao Việt nam “Lạy Trời mưa xuống” và biến nó thành một bài kinh nguyện (prayer) của đạo Công giáo!

Linh mục Kỷ nên nhớ rằng: tuyệt đại đa số dân Việt là những nhà nông, chuyện nắng mưa là vấn đề sinh tử đối với họ. Bài ca dao nói trên chỉ mô tả ước vọng của nông dân Việt nam mong sao cho mưa thuận gió hòa để họ được mùa và có gạo mà ăn. Đơn giản chỉ có vậy thôi! Khi người nông dân Việt nam nói: “Lạy Trời mưa xuống, lấy nước tôi uống, lấy ruộng tôi cày…” họ không hề quì gối chấp tay với nét mặt thẩn thờ mất trí như khi người Công giáo đọc kinh cầu Chúa. Vậy không thể nói người nông dân Việt nam “cầu kinh” với ông Trời!

Trong suốt cuốn sách dầy trên 500 trang, Linh mục Cao phương Kỷ luôn luôn bẻ cong ngòi bút để viết những lời cường điệu thô bỉ khiến người đọc phải “lợm giọng”. Tôi thật sự phải “lợm giọng” khi đọc những dòng sau đây:

“Lịch sử của vũ trụ, của nhân loại cũng là lịch sử Cứu Độ, vì tất cả mọi sự hiện hữu đều do Đấng Cứu Thế (Jesus) mà có. Không có Đấng Cứu Thế thì không có vũ trụ, không có lịch sử, không có nhân loại, nhân sinh.” (Sách đã dẫn, trang 113)

Tôi không biết trình độ trí thức của Linh mục Cao phương Kỷ tới mức nào mà viết lời ca ngợi Jesus như lời của một kẻ mê sảng: “Tất cả mọi sự hiện hữu đều do Jesus mà có”. nếu quả thật như vậy thì chuyện Jesus chết trên thập giá chỉ là một trò hề vì cây thập giá và đoàn quân La mã đóng đinh y trên núi Sọ đều là những sản phẩm do y tạo ra, tất cả đều do Jesus sinh ra và do y hoàn toàn làm chủ. Vậy làm sao y có thể là một nạn nhân phải chịu cực hình để chuộc tội thiên hạ? Ngay cả mẹ của Jesus cũng do Jesus đẻ ra hay sao?

Tôi mong Linh mục Cao phương Kỷ và Linh mục Trần công Nghị (cả hai đều là tiến sĩ thần học) hãy bình tâm coi lại Thánh kinh Tân ước, chỉ cần tìm ra vài câu nói điển hình của Jesus cũng đủ thấy Jesus là một kẻ khùng:

Nếu không phải là kẻ khùng thì tại sao Jesus lại dạy tín đồ: “Phúc cho ai không thấy mà tin”? Cái giá trị cao nhất khiến con người “linh ư vạn vật” là trí tuệ, vậy muốn xứng đáng làm người thì phải biết xử dụng trí tuệ suy xét mọi việc trước khi tin vào bất cứ điều gì. Jesus dạy tín đồ vứt bỏ cái giá trị quí báu nơi con người là trí tuệ để nhắm mắt tin bừa vào những điều y nói. Vậy y chẳng phải là một kẻ khùng hay sao?

Phải chăng hai tiến sĩ thần học Cao phương Kỷ và Trần công Nghị đã vâng theo “Lời u mê” mà vất bỏ trí tuệ của mình để viết nên cuốn sách “Thiên Chúa giáo và Tam giáo” và viết lời giới thiệu cho cuốn sách “cỏ rác” này?

Truyền thống cao quí của dân tộc Việt nam từ xưa đến nay là Đạo Hiếu. Nói đúng hơn, đó là truyền thống biết ơn các đấng sinh thành, các bậc tổ tiên và còn nới rộng ra tới các vị anh hùng dân tộc nữa. Vì thế mới có bàn thờ gia tiên trong mỗi gia đình, có đền thờ tổ, đền thờ Hai Bà Trưng, đền thờ Đức Thánh Trần v.v… Nhưng Jesus hoàn toàn không biết đến đạo hiếu là gì. Jesus đã công khai dạy các tín đồ của y như sau: “Bất cứ kẻ nào đến với ta mà không thù ghét cha mẹ vợ con và anh chị em, thậm chí không ghét bỏ cuộc sống của chính nó, thì không thể là môn đệ ta” (If any man comes to me and hate not his father, and mother, and wife, and children, and brother, and sisters, yea, even his own life, he can not be my discipline – Luke 14:26).

Vậy những kẻ tự xưng là tín đồ đạo Kitô (Christians) phải là những kẻ đại bất hiếu vì nếu không thù ghét cha mẹ thì không thể là môn đệ của Jesus! Chẳng những thế, họ còn phải thù ghét vợ con (bất nghĩa) và ghét cả anh chị em họ hàng (bất nhân) nữa! Thiên Chúa của đạo Kitô dạy các tín đồ những điều vô giáo dục như vậy sao? Vậy chính Jesus là tác giả của lời dạy đó là người như thế nào, nếu không phải là một người vô giáo dục? Theo tôi, nếu Jesus quả thực đã thốt ra những lời như vậy thì ông là một kẻ khốn nạn.

Ngoài ra, Jesus còn tuyên bố: “Ta không đem hòa bình cho thế gian nhưng chỉ mang gươm giáo mà thôi” (I came not to send peace to the world, but a sword – Revelation 22:11). Riêng về điều này thì Jesus nói đúng vì từ ngày có đạo Kitô đến nay, trên 200 triệu người đã bị giết chết bởi những dàn hỏa, các cuộc thập tự chinh và các cuộc chiến tranh do Kitô giáo trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra (Deceptions and Myth of the Bible – Lloyd M. Graham, p. 463).

Jesus đã hiển nhiên là một kẻ khùng, và là một kẻ gieo tai họa cho nhân loại như lời tự thú của chính hắn. Vậy Jesus có đáng được chúng ta tôn thờ hay chỉ đáng cho chúng ta “phỉ nhổ”?

Tôi yêu cầu Linh mục Cao phương Kỷ hãy lên tiếng trả lời câu hỏi này. Nếu linh mục khẳng định “Jesus đáng cho chúng ta tôn thờ” thì ông là một người đã mất hết lý trí và niềm tin của ông chỉ là một đức tin mù (a blind faith) ! Thật sự ông chỉ là một kẻ đáng thương hại mà thôi. Dầu sao chăng nữa tôi cũng nhận thấy Lm Cao phương Kỷ là một “trí thức” rất thông thạo Anh ngữ vì ông đã từng là giáo sư thần học tại nhiều chủng viện Công giáo Hoa kỳ nên tôi khuyên ông hãy tìm đọc cuốn sách best-seller của sử gia nổi tiếng Lloyd M. Graham, đó là cuốn Deceptions and Myths of the Bible. Mong ông hãy bình tâm suy nghĩ về những lời khuyên chí lý và chí tình của tác giả:

– “Hiểu đúng là do biết đúng chứ không do lòng tin” (Right understanding comes from knowing, not just believing. Page 419).

– “Cái gọi là Đức Tin chỉ là niềm tin vào cái không biết. Cái không biết cũng là cái không có thật. Đức tin vào cái không biết và không thật là sự điên rồ. Đó chỉ là niềm tin vào những sự phỏng đoán ngu ngốc của kẻ khác” (Faith is belief in the unknown. But since the unknown is likely the unreal also. Faith in the unknown is foolishness, only belief in other believers’ ignorant asumptions – page 413).

Nếu ông còn chút lương tri, chắc chắn ông sẽ nhận ra Lloyd M. Graham là vị thầy dạy về Đức Tin Thông Minh (Intelligent Faith) còn Jesus là một “kẻ khốn nạn” đã dậy các tín đồ và tông đồ của nó một thứ Đức Tin Mù (Blind Faith):

Phúc cho ai không thấy mà tin”!

(độc giả có thể tìm đọc hai trang viết tay rong bài viết Công giáo là Đạo Thờ Bò Cải Biến trong cuốn “ Thực Chất Đạo Công giáo và các Đạo Chúa” do GĐ xuất bản, Xuân 2003 – từ các trang 89-111).

Lịch sử đã chứng minh: Thiên Chúa Ba Ngôi là sản phẩm của công đồng Nicea nhằm tôn Jesus lên làm Ngôi Hai Thiên Chúa. Chính cái tín điều quái gở này đã phát sinh ra hai hệ quả sau đây:

1. Về ngoại hình, Thiên Chúa là một “quái vật ba đầu” gồm có đầu bò El (Chúa Cha) đầu Jesus (Chúa Con) và đầu con chim bồ câu (Chúa Thánh Thần).

2. Về đức hạnh, tín điều Thiên Chúa Ba ngôi đã biến Jesus thành một đứa con loạn luân với mẹ ruột y. Chẳng cần phải tìm bằng cớ ở đâu xa: Trong sách Chứng nhân Hy Vọng (trang 293) tác giả là Hồng y Nguyễn Văn Thuận đã viết về mối tương quan giữa bà Maria với ba ngôi Thiên Chúa như sau:

“Là nữ tử của Thiên Chúa Cha, Đức Mẹ đã trở thành mẹ của Ngôi Lời Nhập Thể (Jesus / Chúa Con) và là hiền thê của Chúa Thánh Thần”. Vì cả ba ngôi chỉ là một Thiên Chúa Duy Nhất (Tam Vị Nhất Thể) nên cùng một lúc bà Maria là con gái, mẹ, và vợ của Jesus. Ngược lại Jesus cùng một lúc vừa là Cha, là Con và là chồng của bà Maria. Nếu đã tin vào tín điều Thiên Chúa Ba ngôi thì đương nhiên phải tin Jesus là một thằng con mất dạy vì y đã loạn luân với mẹ ruột của y. Tôi thách đố toàn giáo hội Công giáo Việt nam phản bác lại điều này.

Ngoài ra, theo đúng tinh thần của Cựu ước thì Chúa Cứu Thế phải là người thuộc dòng dõi của vua David. Nếu Jesus là Chúa Cứu Thế thuộc dòng dõi David thì không thể là Con của Chúa Thánh Thần. Nếu thuộc dòng dõi vua David thì Jesus phải là con ruột của Giuse và như vậy thì bà Maria đã bị mất “chữ trinh đáng giá ngàn vàng” !

Ngược lại, nếu Jesus là con của Chúa Thánh Thần thì y không thể là Chúa Cứu Thế vì y không thuộc dòng David. Và như vậy Jesus cũng chẳng phải là Thiên Chúa mà chỉ là người thường như chúng ta. Vậy tại sao phải tôn thờ Jesus?

Tục ngữ Việt nam có câu “dấu đầu hở đuôi” để lột tả cái hậu quả đương nhiên của những kẻ chuyên môn dối trá bịp bợm. Dù sớm hay muộn, những điều dối trá cuối cùng cũng bị lật tẩy mà thôi.

Công cuộc lật tẩy mọi dối trá bịp bợm của Kitô giáo – gồm cả Công giáo lẫn Tin lành – là nhiệm vụ hàng đầu của mọi chiến sĩ văn hóa chân chính của dân tộc Việt nam trong giai đoạn hiện tại. Phơi bày bộ mặt thật, bỉ ối của Kitô giáo trước công luận rộng rãi trong và ngoài nước là một phương cách hữu hiệu để cứu nguy dân tộc và bảo vệ tiền đồ văn hóa của Tổ quốc.

Một trong những thái độ cần thiết của người chiến sĩ văn hóa là phải tự coi mình như một người lính gác giặc, luôn luôn đề cao cảnh giác để kịp thời phát hiện mọi tên gián điệp văn hóa của địch. Trong số các chiến sĩ văn hóa hàng đầu trong lãnh vực này, chúng ta phải kể đến nhà nghiên cứu văn hóa chính trị Lê trọng Văn qua nhiều tác phẩm của ông, đặc biệt là cuốn “Lột Mặt Nạ Những Con Thò Lò Chính Trị”, 455 trang, do tác giả xuất bản tại hải ngoại năm 1991. Tác giả đã dành ra 100 trang sách để lột mặt nạ tên gián điệp đội lốt thầy tu là Linh mục Lương kim Định trong nhiệm vụ thực hiện y khuôn sách lược lừa bịp của Vatican. Tác giả đã chỉ cho chúng ta thấy rõ cái thủ đoạn rất quen thuộc của bọn gián điệp là “tìm cách hòa đồng để rồi đồng hóa”. Điểm mặt những tên gián điệp văn hóa theo những tiêu chuẩn nói trên, tôi nhận thấy có hai tên đáng chú ý là:

1. Linh mục Cao phương Kỷ thuộc Dòng Đồng Công ở Carthage, bang Missouri, Mỹ, tác giả cuốn “Thiên Chúa giáo và Tam Giáo” mà tôi đã trình bày sơ lược ở phần trên của bài viết này. Nhân tiện tôi cũng xin nói thêm vài điều về Dòng Đồng Công. Dòng tu này được thành lập tại Bùi Chu vào đầu thập niên 1940 do lệnh của Giáo hoàng Pio XII. Chúng ta đã biết Pio XII đã nối tiếng là tên tội phạm chiến tranh đứng hàng thứ hai sau Hitler. Tên giáo hoàng phát xít này rất muốn công bố tín điều: “Đức Mẹ Đồng Công cứu cuộc” (the dogma of Co-Redemtrix) nhưng y đã không thực hiện được vì gặp phải những phản ứng mãnh liệt của Anh giáo, Chính thống giáo và các giáo phái Tin lành. Họ lý luận rằng: Chỉ một mình Jesus Christ có tư cách Thiên Chúa cứu chuộc loài người và Chúa không cần tới sự cộng tác của bất cứ ai, kể cả bà Maria, để hoàn thành công cuộc Cứu độ. Tín điều “Đức Mẹ Đồng Công cứu chuộc” đã làm hạ giá Chúa Jesus và là “chiếc đinh cuối cùng đậy nắp hòm của sự hòa giải giữa các giáo phái Kitô” (Newsweek số ra ngày 25-8-1997).

Do đó, Vatican đã phải tạm hoãn việc công bố tín điều Đức Mẹ Đồng Công nhưng đồng thời tìm nhiều phương cách chuận bị dư luận để sẽ công bố tín điều đó khi có cơ hội. Một trong những phương cách chuẩn bị dư luận là Vatican chỉ thị cho địa phận Bùi Chu lập ra dòng tu mang danh hiệu “Đức Mẹ Đồng Công Cứu chuộc”, gọi tắt là dòng Đồng Công – Pio XII và đồng bọn tại Vatican trong thời kỳ Đệ nhị Thế chiến đa số là người Đức rất hiếu chiến và cuồng tín cực đoan.

Tập đoàn phe cực đoan của Pio XII đã bị Gioan XXIII loại trừ khỏi giai cấp lãnh đạo chóp bu ở Vatican trong Công đồng Vaticano II năm 1962. Dòng Đồng Công là cặn bã của phe Pio XII còn rơi rớt lại đến ngày nay. Mặc dầu như rắn mất đầu nhưng những thày tu của dòng này vẫn giữ nguyên bản chất cuồn tín cực đoan rất nguy hiểm trong nghề gián điệp văn hóa. Tôi thiết nghĩ việc loại trừ mọi sinh hoạt của dòng Đồng Công dưới bất cứ hình thức nào tại Việt nam là điều cần thiết. Cuốn sách “Thiên Chúa giáo và Tam Giáo” của Cao phương Kỷ là một sản phẩm văn hóa của dòng tu phản động này.

2. Linh mục Trần công Nghị là người viết Lời giới thiệu cho cuốn sách của Cao phương Kỷ nói trên. Nghị sinh tại Phát Diệm, được gửi đi du học tại Rome năm 1967, thụ phong linh mục năm 1971 cũng tại Rome và được gửi đi du học tiếp tại Mỹ, sau đó trở lại Rome để lấy bằng Tiến sĩ Thần học. Trong thập niên 1990, Lm Nghị được cử làm đại diện cộng đồng Công giáo Việt nam tại địa phận Los Angeles. Từ 1997, Lm Nghị trở thành chủ nhiệm báo Dân Chúa kiêm Giám đốc VietCatholic Network (vietcatholic.net) với sự cộng tác của trên 200 linh mục và trí thức Công giáo (báo Công giáo Viet Tide số 55 tháng 8/2002, trang 20).

Để kết thúc bài viết này, tôi xin minh xác với quí vị độc giả về ba điều sau đây:

Điều thứ nhất: Xác định vấn đề ngôn từ và sự thật

Như đã nói ở đoạn trên, chiến sĩ văn hóa Lê trọng Văn đã chỉ cho chúng ta thấy thủ đoạn quen thuộc của bọn gián điệp văn hóa của Vatican là “Tìm Cách Hòa Đồng Để Rồi Đồng Hóa”. Linh mục Cao phương Kỷ đã áp dụng đúng thủ đoạn này trong cuốn sách “Thiên Chúa giáo và Tam Giáo” của y: Trước hết, y vận dụng và xuyên tạc ca dao tục ngữ Việt nam để ngụy biện cho rằng Ông Trời Việt nam là Đấng Siêu Việt. Bước kế tiếp, y xử dụng môn thần học nhảm nhí của Vatican để chứng minh Jesus chính là Đấng Siêu Việt đó:

– “Tất cả vạn sự vạn vật đều vận chuyển theo một chiều hướng là quy tụ lại nơi Chúa Cứu Thế (tức Jesus) như tâm điểm và tuyệt đỉnh của vũ trụ”, trang 168.

– “Chỉ nhờ vào đời sống và sự chết của Chúa Jesus mà nhân loại được tha tội và hy vọng được hưởng phúc trường sinh”, trang 171.

– “Nhân loại và vũ trụ đang biến hóa theo chiều bản vị hóa và đang đồng qui vào ngôi Vị Tối Cao, chính là Chúa Cứu thế (tức Jesus)”, trang 351.

– “Lịch sử của vũ trụ, của nhân loại cũng là lịch sử cứu độ vì tất cả mọi sự hiện hữu đều do Đấng Cứu Thế (Jesus) mà có. Không có Đấng Cứu Thế (tức không có Jesus) thì không có vũ trụ, không có lịch sử, không có nhân loại”, trang 113.

Tất cả những lý luận thần học ngu xuẩn nói trên chỉ là những lời nói vu vơ và hoàn toàn rỗng tuếch vì không có một cơ sở lý luận nào cả và tuyệt nhiên không có bằng cớ nào để chứng minh.

Có gì chứng minh là “vạn sự vạn vật đều qui tụ vào Chúa Cứu Thế Jesus như tuyệt đỉnh của vũ trụ”? Liệu có gì chứng minh là Jesus hiện đang còn sống để cho “vạn vật qui tụ” vào y như tâm điểm? Lịch sử khách quan chứng minh rằng: Tất cả các tử tội do La mã xử tử bằng cách đóng đinh trên thập giá đều bị vứt xác cho kên kên, ác thú và chó rừng ăn thịt. Tuyệt đối không có một xác tử tội nào được trao cho người nhà đem về chôn. Việc chôn xác Jesus trong hang đá rồi sau đó vài ngày Jesus sống lại lên trời để rồi sẽ xuống thế gian lần thứ hai trong ngày tận thế … là chuyện hoang đường tồi tệ và khốn nạn nhất trong lịch sử văn hóa của nhân loại.

Cái tư tưởng ngu xuẩn cho rằng “vạn vật đều qui tụ vào Jesus như tâm điểm vũ trụ” hoặc “nhân loại và vũ trụ đang biến hóa theo chiều bản-vị-hóa và đang đồng qui vào Ngội Vị Tối Cao, chính là Chúa Cứu Thế Jesu”…. chỉ có thể có trong những đầu óc thần học như Cao phương Kỷ, Trần công Nghị. Đầu của bọn ngu xuẩn này chẳng khác gì đầu tôm vì không có óc mà chỉ có phân mà thôi.

Bọn gián điệp ngu xuẩn này chẳng có một mục tiêu nào khác hơn là xử dụng các ngôn từ thần học hoang tưởng nhằm lường gạt những đồng bào ngờ nghệch dại khờ để xiềng xích trí tuệ của họ vào niềm tin Jesus là Đấng Siêu Việt và cũng là Ông Trời Việt nam.

Để đập tan luận điệu thần học vu vơ hoang tưởng của tên gián điệp Cao phương Kỷ, tôi đã chứng minh ca dao tục ngữ Việt nam không có một câu nào nói Ông Trời là “Đấng Siêu Việt”. Đồng thời tôi cũng chứng minh rằng: Jesus chẳng bao giờ là Đấng Siêu Việt, trái lại Jesus chỉ là một kẻ khùng, một kẻ khốn nạn, một kẻ mất dạy loạn luân với mẹ của y, một kẻ ngu như bò và y cũng là một kẻ gieo tai họa lớn nhất cho nhân loại.

Bọn linh mục ngu xuẩn làm gián điệp văn hóa cho Vatican xử dụng tòan những ngôn từ trống rỗng và vô nghĩa để lừa gạt những người nhẹ dạ cả tin. Trái lại, tôi xử dụng những ngôn từ thoạt đầu nghe chói tai nhưng nghĩ cho kỹ sẽ thấy những ngôn từ đó phản ảnh sự thật:

– Phúc âm Tân ước Mattew 1:18-24 nói về thiên thần Gabriel đến báo tin về việc giáng sinh của Jesus: “Này, một trinh nữ sẽ mang thai và sẽ sinh ra một con trai và sẽ được đặt tên là Emmanu-El” (Behold, a vurgin shall be with child and shall bring forth a son and they shall call his name Emmanuel).

Theo ngôn ngữ tiếng Hebrew thì Emmanuel có nghĩa là “Con bò El ở cùng chúng ta” (El with us – xin đọc thêm “Công giáo là đạo thờ bò cải biến” trên trang nhà GĐ tháng 6/2003). Chính Kinh thánh của đạo Kitô đã xác nhận Jesus là một con bò . Dù là bò đực, bò cái, bò mộng hay bò thần thì cũng là bò. Vậy tôi nói “Jesus là một thằng ngu ‘như bò’ vẫn còn nhẹ hơn là ‘một con bò ở cùng chúng ta : Emmanu-El)!

– Khi trình bày về mối tương quan giữa bà Maria và Thiên Chúa Ba ngôi ở đoạn trên, chúng ta đã thấy Jesus cùng một lúc vừa là cha, vừa là con và cũng là chồng của bà Maria! Vậy, theo đúng giáo lý Kitô giáo, Jesus đích thị là một đứa mất dạy loạn luân với mẹ. Nếu tín đồ Kitô giáo nào muốn phủ nhận cái sự thật đáng xấu hổ này thì họ chỉ có một con đường duy nhất là phủ nhận Thiên Chúa giáo ba ngôi và phủ nhận tính cách Thiên Chúa của Jesus, ngoài ra họ không còn con đường nào khác!

– Tôi đã căn cứ vào những lời của Jesus ghi trong Tân ước như: “Phúc cho ai không thấy mà tin”, “Ai không thù ghét cha mẹ, vợ con, anh chị em mình thì không xứng đáng là môn đệ ta….” Tôi khẳng định những lời trên đây đã thốt ra từ một thằng khốn nạn, một đứa vô giáo dục hoặc nhẹ nhất là thằng khùng! Tôi thách thức bất cứ ai không đồng ý với những ngôn từ tôi xử dụng để phản ảnh những thuộc tính của Jesus theo “Thánh kinh” hoặc giáo lý của đạo Kitô… thì xin hãy lên tiếng. Tôi thật sự cầu mong có một cuộc tranh luận rộng rãi về vấn đề này để mọi sự thật về Kitô giáo, cũng như về cá nhân Jesus, sẽ được sáng tỏ hơn nữa trong dư luận quần chúng trong và ngoài nước.

Điều thứ hai: Xác định giới hạn cho công việc truyền đạo của các người truyền giáo Kitô.

Khi nói “các người truyền giáo Kitô” là tôi muốn nói đến tất cả các tu sĩ Công giáo, các mục sư và các người làm công tác truyền giáo của đạo Tin lành (missionaries). Chúng ta cần nói cho họ biết: mọi người đều có quyền tự do tín ngưỡng nghĩa là muốn tôn thờ ai thì thờ, nhưng tự do tín ngưỡng không có nghĩa là tự do truyền đạo. Rất nhiều nước đã ban hành những đạo luật nhằm hạn chế việc truyền đạo, nhất là đối với Công giáo và Tin lành. Chẳng hạn như ở Nga thời Yelsin đã có đạo luật cấm truyền đạo Công giáo và Tin lành. Do thái cấm truyền đạo Kitô với hình phạt dành cho người vi phạm là 5 năm tù và 4200 đôla tiền phạt. Mới đây nhất, tại Ấn độ là nước có đa số dân theo Ấn giáo, mới ban hành đạo luật cấm cải đạo sang Kitô giáo (New anti-conversion laws in Hindu – majority India – Houston Chronicle, Saturday April 19, 2003, page 6E).

Các người Công giáo hay Tin lành muốn đưa Jesus lên Ngôi Hai Thiên Chúa hoặc đấng Siêu Việt, đấng Toàn Năng v.v… là quyền của họ. Nhưng những người truyền đạo Ktiô không có quyền bóp méo, xuyên tạc ý niệm Ông Trời của người Việt nam để cuối cùng gán ghép Ông Trời với Thiên Chúa Siệu Việt của đạo Kitô. Các người không được phép xử dụng những ngôn từ thần học mập mờ, huênh hoang, lươn lẹo để lừa gạt đồng bào và lôi kéo họ vào bóng tối tâm linh để cuối cùng biến họ thành tay sai mù quáng cho ngoại bang. Tất cả các âm mưu đen tối của các người đều sẽ bị các chiến văn hóa yêu nước theo dõi, phát hiện và sẽ giáng trả bằng những đòn đích đáng.

Điếu thứ ba: Xác định thái độ kiên quyết, không khoan nhượng đối với bọn gián điệp văn hóa lưu manh và ngoan cố.

Luôn luôn đề cao cảnh giác để sớm phát hiện những âm mưu phá hoại của bọn gián điệp là điều cần thiết tiên quyết nhưng sau đó chúng ta lại ngập ngừng hay e dè chẳng làm gì cả hoặc chỉ hành động hời hợt thì kết quả cũng chỉ là con số không. Chúng ta cần phải khẳng định rằng: bọn gián điệp văn hóa của Vatican hay của đế quốc Tin lành đều là bọn Việt gian cuồng tín, vọng ngoại, chuyên dùng các thủ đoạn lưu manh lừa gạt đồng bào để mở rộng nước Chúa, thực chất là mở rộng lãnh thổ của đế quốc. Bọn chúng đều là những kẻ thù nguy hiểm của dân tộc Việt nam. Do đó, thái độ thích hợp nhất đối với kẻ thù là chúng ta phải đấu tranh với chúng một cách kiên quyết không khoan nhượng nhằm mục đích cuối cùng là loại trừ hết mọi thứ “độc tố văn hóa” mà bọn chúng đã gieo rắc trên đất nước ta từ trước tới nay.

Chúng ta không nên nhẹ tay đối với bọn gián điệp văn hóa, bởi lẽ chúng tuy rất lưu manh trong hành động nhưng lại là những kẻ ngủ mê trên phương diện tâm linh. Nếu chúng ta đối xử với chúng bằng thái độ lịch sự nhẹ nhàng thì chẳng khác nào gãi ngứa cho chúng và chúng sẽ ngủ mê hơn nữa. Muốn đánh thức chúng dậy trong cơn ngủ mê chúng ta phải xối một thùng nước lạnh vào mặt chúng hoặc đập vào người chúng một cú thật mạnh như trời giáng thì may ra chúng mới tỉnh ngủ để nhìn thấy sự thật dưới ánh sáng mặt trời.

Câu hỏi trước nhất được đặt ra là: Làm thế nào để nhận diện một tên gián điệp văn hóa lưu manh và nguy hiểm? Đó là những tên đã được bọn đại lưu manh quốc tế ở Rome huấn luyện nhồi sọ và cấp cho học vị “tiến sĩ thần học”. Điển hình là những tên như Linh mục Cao phương Kỷ và Lm Trần công Nghị. Bọn này thực hiện đúng theo sách lược xâm lăng văn hóa Á châu của Vatican (Tông huấn Ecclesia in Asia của John Paul II).

Trong sách “Thiên Chúa giáo và Tam Giáo”, Cao phương Kỷ lươn lẹo ca ngợi Ông Trời là Đấng Siêu Việt, và dùng lý luận thần học nhảm nhí chứng minh Đấng Siêu Việt đó là Thiên Chúa Ba ngôi của đạo Kitô. Mục tiêu cuối cùng của họ là tạo cho đồng bào nhẹ dạ có ảo tưởng rằng: Thiên Chúa của đạo Kitô chẳng phải là ai xa lạ mà chính là “Ông Trời Siêu Việt” của mình và Đạo Kitô cũng không phải là một món hàng ngoại nhập mà là một niềm tin đã tiềm ẩn từ lâu đời trong lòng dân tộc Việt nam.

Đây là một thủ đoạn vô cùng thâm độc của Vatican do bọn tham mưu đại lưu manh nghiên cứu từ lâu và chỉ thị cho bọn gián điệp văn hóa thi hành.

Ngoài việc khai thác ý niệm Ông Trời phục vụ cho nhu cầu truyền đạo, Cao phương Kỷ còn xuyên tạc Tam giáo (Phật, Khổng, Lão) là các đạo đều có niềm tin vào Đấng Tối Cao như Kitô giáo. Việc đánh lận con đen Tam giáo với Kitô giáo là một chuyện hàm hồ đáng bị vạch mặt: Trước hết, cả ba đạo Phật, Khổng, Lão đều là những đạo của lý trí, nói đúng hơn thì đó là ba triết lý sống hoặc ba cách sống (ways of life). Cả ba không hẳn là ba tôn giáo vì không có giáo hội, không có giáo đồ và nhất là không có giáo điều (tín điều). Cả ba đạo Phật, Khổng, Lão đều coi trọng lý trí và khuyên mọi người phải vận dụng lý trí để suy xét mọi điều trước khi tin vào điều đó. Sở dĩ có “tam giáo đồng lưu” tại nước ta vì người dân Việt nam đã vận dụng lý trí để phân biệt những giá trị chung của cả ba tôn giáo để dung nạp vào văn hóa dân tộc và để cuối cùng làm thăng hoa đời sống của dân tộc.

Khác hẳn với đặc tính căn bản của Kitô giáo là loại bỏ lý trí (Phúc cho ai không thấy mà tin – lời của Jesus).

Toàn bộ hệ thống giáo lý của Kitô giáo là hàng loạt các tín điều được đưa ra để buộc các tín đồ phải chấp nhận vô điều kiện. Do đó, cái gọi là Đức Tin Kitô hoàn toàn chỉ là Đức Tin Mù. Trái hẳn với đức tin Tam giáo là đức tin sáng suốt vì là sản phẩm của lý trí.

Hậu quả của đức tin mù là các tín đồ Kitô luôn luôn phải sống trong mặc cảm tội lỗi, luôn luôn tự xưng là kẻ có tội nên cần có Chúa và bọn tu sĩ lưu manh cứu giúp!

Bọn lãnh đạo Kitô giáo trở thành những kẻ ngạo mạn kiêu căng, lúc nào cũng nghĩ rằng tôn giáo của mình là độc tôn và là duy nhất đúng. Điều này hàm ý rằng các tôn giáo khác với mình đều phải chết.

Trong thực tế của lịch sử dân tộc, Tam giáo đã góp phần củng cố nền độc lập của nước nhà, trong khi đó Kitô giáo đã đưa dân tộc vào vòng nô lệ thực dân Pháp hơn 80 năm và hiện nay một bộ phận của dân tộc (Công giáo) vẫn là những kẻ nô lệ tinh thần của đế quốc Vatican. Các vụ nổi loạn của những người thiểu số Tin lành ở miền cao nguyên chứng tỏ những tín đồ Kitô giáo luôn luôn làm nội tuyến cho ngoại bang và đi ngược lại quyền lợi thiêng liêng của tổ quốc.

Tất cả những tai họa đó đều do bọn gián điệp văn hóa gây ra. Cho nên thái độ cần thiết và cấp bách của các chiến sĩ văn hóa yêu nước là phải cương quyết chiếm lãnh thế chủ động trên diễn đàn văn hóa để giáng trả bọn kẻ thù của dân tộc những đòn đích đáng, buộc chúng phải câm miệng, cúi mặt gục đầu và không dám ngóc đầu dậy.

Charlie Nguyễn

Tháng 6.2003

-Xem thêm những bài viết khác về Ông Trời:

Có Jehovah trong Ca dao Việt ? !! (Thiên Lôi)

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Mười Hai 19, 2009 in Bài Giảng, Tin Lành, Vatican

 

Nhãn: , ,

Quy Y Phật là gì ? -TT Thích Chân Quang

Quy Y Phật là gì ?

                                                  Tỳ Kheo Thích Chân Quang

Phật là ai? Phật được dịch nghĩa là Đấng giác ngộ. Đấng giác ngộ là ai ? Từ vô lượng kiếp xưa, Ngài cũng là người như mọi người mà kiếp cuối cùng trở thành Đức Phật còn gọi là Phật Thích Ca. Nhưng trong vô lượng kiếp, Ngài đã sống với lòng từ bi vô lượng, luôn luôn thương yêu trất cả chúng sinh và làm lợi ích cho chúng sinh không bao giờ mệt mỏi. Song song với việc sống, với lòng từ bi và làm lợi ích cho chúng sinh, Ngài luôn luôn nổ lực trong việc thực hành Thiền định. Hai yếu tố Thiền định và lòng từ bi đã tạo thành công đức tích lủy từ kiếp này sang kiếp khác cho đến vô lượng kiếp như vậy. Và ở duyên cuối cùng, nơi quả vị chín muồi này, Ngài đã trở thành một Đấng giác ngộ. Đôi khi chúng ta hiểu một cách đơn giản như vậy, nhưng thật ra sự giác ngộ này chứa đựng một giá trị tâm linh vô cùng to lớn. Chúng ta không thể dùng ngôn từ của thế gian để diển tả cho sự giác ngộ tột cùng này. Khi vô minh hoàn toàn chấm dứt, trí tuệ bừng sáng, Ngài đủ sức mạnh thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử, không một nghiệp lực nào có thể chi phối buộc Ngài phải trầm luân trở lại. Nơi sự giác ngộ này, cái chấp ngã kiên cố ngàn đời tan vở và biến mất, tâm Ngài phủ trùm vạn vật, trở thành chung đồng, chan hoà với tất cả chúng sinh. Cho nên ý nghĩa của sự giác ngộ này thật lớn lao vĩ đại, mà những ngôn từ bình thường của thế gian chỉ có thể gợi ý cho chúng ta chứ không thể nào diển tả đầy đủ được. Tuy Ngài đã giác ngộ, nhưng ở thế giới loài người đã ít biết đến Ngài trừ một số ít người có duyên với Ngài. Nhưng trong mười phương cỏi khác tất cả đều tôn vinh, ca ngợi, xưng tụng Ngài là Đấng chánh giác, là chổ dựa, là bậc Thầy của tất cả chúng sinh. Ở đây chúng ta thấy rỏ điều này, Đức Phật không phải là một vị thần linh từ một cỏi nào đến để có thể ban phước, giáng họa, Đức Phật cũng không phải là một Thượng đế đã tạo nên tất cả. Trong đạo Phật không co khái niệm thần quyền, tức là thượng đế đã tạo nên tất cả. VỚI sao? VỚI Đức Phật dạy rất kỹ rằng tất cả mọi điều đều do nhiều nhân duyên, do nhiều yếu tố hợp thành. Không có điều gì tự trở thành nên không hề có điều gọi là Đấng Thượng đế để có thể tạo nên tất cả. Do đó lời Đức Phật nói rất phù hợp với sự tiến bộ của khoa học. Hàng ngàn năm trôi qua, khoa học càng tiến bộ, thì lời nói của Đức Phật càng được chứng minh là đúng. Hầu hết các tôn giáo khác đều tin vào thần quyền, các tín đồ cho rằng có một đấng sáng tạo đã tạo ra tất cả, còn Đức Phật là con người, không phải là đấng sáng tạo nên không có gì cao siêu. Chúng ta không tranh cải hơn thua mà chỉ mỉm cười với điều gọi là đấng sáng tạo thật ra chỉ là huyền thoại chứ không thể nào có thật. Vì sao? Vì nếu có một đấng sáng tạo thì không lẽ đấng đó  tạo nên sự đau khổ cho con người như: chiến tranh, bệnh tật, thiên tai, và tội lổi trong lòng con người. Và không thể có một đấng toàn năng nào tạo ra tất cả bằng một cách rất hoàn hảo, có thể nói là ác độc. Do đó chúng ta vũng tin vào lý nghiệp duyên, trong đó tâm lý chúng sinh chính là khởi điểm tạo nên rất nhiều điều trong thế gian này. Và khi chúng ta Quy Y Phật, nghĩa là Quy Y Đấng giác ngộ, là đấng từ một chúng sinh, là một con người trở thành tuyệt đối. Như vậy không có một Đức Phật duy nhất cho toàn thể vuơ trụ mà bất cứ ai đi đúng như con đường Đức Phật dạy đều có thể chứng đạt được, đều trở thành tuyệt đối như Đức Phật. Và đây là một giá trị nhân bản mà không có một triết thuyết tôn giáo nào bằng hoặc hay hơn được. Điểm giá trị cao nhất ở Đấng giác ngộ không phải là một người duy nhất mà mở rộng cho tất cả chúng sinh, cho bất cứ người nào tìm thấy được chân lý, sống hợp, sống đúng với chân lý.

Nơi ý nghĩa Quy Y Phật, chúng ta được dạy rằng từ đây không được tôn thờ tà thần quỹ vật, nghĩa là khi đến đình miếu thờ các vị thần, chúng ta không được xem như đấng mình phải tôn kính tuyệt đối. Chúng ta chỉ cúi đầu đảnh lể trước sự giác ngộ, trước những con người đã giác ngộ, hoặc đang đi trên con đường giác ngộ, giải thoát chứ không cúi đầu đảnh lể trước một người không đi đúng con đường giải thoát , dù đó là một vị thần linh có quyền năng ban phước, giáng hoạ. Chúng ta không sợ hải họ dù chúng ta vẩn kính trọng họ, nhưng chúng ta chỉ kính trọng như kính trọng mọi người trong cuộc sống này, chỉ là tôn trọng chứ không phải tôn thờ. Đó là điều chúng ta được dặn khi Quy Y Phật.

                                                                                    Tỳ Kheo Thích Chân Quang

16. Nhớ Cội Nguồn
Download

17. Pháp Cụ 04
Download

18. Pháp Cụ 11
Download

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Mười Hai 18, 2009 in Bài Giảng, Thích Chân Quang

 

Nhãn: ,

Nói với người xuất gia trẻ (2)

NÓI CHUYỆN VỚI NHỮNG NGƯỜI XUẤT GIA TRẺ (2)

                                                       Thích Nhất Hạnh (Làng Mai-Pháp)            

Hạnh phúc và chánh niệm

Bản chất của giới luật là chánh niệm. Nếu đã từng học hỏi và thực tập năm giới quý báu thì quý vị đã biết rằng tất cả năm giới đều phát xuất từ chánh niệm, tức là từ cái thấy và cái nhận biết của mình. Vì có chánh niệm về những khổ đau gây ra do việc không giữ giới cho nên ta đã phát nguyện giữ giới. Giới là sự biểu hiện cụ thể của chánh niệm. Ví dụ ta biết rằng ăn uống không cẩn thận sẽ gây ra khổ đau trong cơ thể. Nhờ chánh niệm ấy mà ta bắt đầu ăn uống trở lại cho đàng hoàng. Cái đó gọi là giới. Tất cả các giới, dầu là năm giới hay mười giới hay hai trăm năm mươi giới, đều phát sinh từ chánh niệm cả. Kinh dạy người xuất gia trong năm năm đầu nên chuyên môn học hỏi và thực tập giới luật. Điều này có nghĩa là người mới tu phải biết thực tập chánh niệm cho thật vững chãi. Giới luật không phải là những gò bó có tính cách hình thức; giới luật phải có chánh niệm làm nội dung. Chánh niệm nghĩa là ý thức được những gì đang xảy ra bây giờ trong giờ phút hiện tại. Đi thì biết là đi, ngồi thì biết là ngồi, nói thì biết là nói, nghe thì biết là nghe. Chánh niệm là Bụt, là năng lượng soi sáng cho từng giây phút của cuộc sống hằng ngày. Trong nếp sống chánh niệm ta có hạnh phúc. Trong những giây phút thực tập chánh niệm, Tâm Bồ Đề của ta được vận hành và nuôi dưỡng. Tâm Bồ Đề không phải là một khối năng lượng nằm yên trong ta. Một chiếc đồng hồ khi đã được lên giây thì liên tiếp chạy đều cả đêm ngày. Chánh niệm cũng thế. Nó là một thứ năng lượng điều khiển đời sống hàng ngày của ta. Nếu ta không phạm giới thì đó không phải là do ta cực nhọc tranh đấu để giữ giới, mà tại vì trong ta có Bồ Đề Tâm. Tại vì ta biết rằng nếu ta phạm giới thì tất cả sẽ tan nát hết. Cái ước vọng lớn của ta sẽ không thành. Nếu một chú Sa di không phạm giới thứ ba, không phải vì sư chú ấy đã cực nhọc tự đè nén mình để giữ giới, mà tại vì trong chú có tình thương. Cái tình thương ấy, cái chí nguyện ấy lớn quá nên sư chú biết rõ rằng nếu sư chú đi ngủ với một người phụ nữ thì cuộc đời tu hành của sư chú sẽ bị tan nát hết và cái chí nguyện lớn của sư chú cũng không bao giờ thành tựu được. Không những trong khi phạm giới, sư chú phá hoại đời tu của mình mà sư chú cũng phá hoại cuộc đời của người kia và gây thiệt hại cho gia đình và cho tăng thân của sư chú. Sở dĩ ta giữ giới được là nhờ ta có cái tâm thương yêu. Ta thương ta, ta thương gia đình ta, thương xã hội ta, thương thầy ta, thương tăng thân ta, thương nếp sống giải thoát của ta cho nên ta không phạm giới. Phạm giới là chết, nghĩa là chấm dứt đời sống và chí nguyện của một người xuất gia. Sở dĩ sư chú có cái biết đó là tại vì sư chú có chánh niệm. Chánh niệm ấy phát xuất từ tâm thương yêu. Nó là một nguồn năng lượng vĩ đại đã thúc đẩy ta trở thành một người xuất gia. Nguồn năng lượng này quan trọng vô cùng. Ta đừng để nó bị soi mòn trong cuộc sống hằng ngày. Thất niệm (lãng quên) là yếu tố làm soi mòn Tâm Bồ Đề của ta.

Ngay từ buổi đầu, người xuất gia trẻ đã được chỉ dẫn thực tập uy nghi trong sinh hoạt thiền môn; phải học đi, đứng, nằm, ngồi, mặc áo, quơ dép, rửa tay, làm thị giả, v.v…, như thế nào để mỗi cử động và tư thế đều phản chiếu được nếp sống vững chãi, thảnh thơi và ung dung. Nhưng uy nghi mà không phát xuất từ chánh niệm thì uy nghi chỉ là giả trang thiền tướng, nghĩa là chỉ có hình thức bên ngoài. Chánh niệm là bản chất của uy nghi. Không những chánh niệm là bản chất của uy nghi, chánh niệm còn là bản chất của giới luật và của cảnh sách. Bốn cuốn luật gọi là luật tiểu của các vị Sa di và Sa di ni đều là những hình thái thực tập chánh niệm.

Nếu trong đời sống hằng ngày người xuất gia có hạnh phúc, nếu môi trường xuất gia thuận tiện thì ngày nào người xuất gia cũng nuôi lớn Bồ Đề Tâm của mình. Nếu tu mà có hạnh phúc, an ổn và thảnh thơi, thì những dục lạc của thế gian không có đủ sức để làm cho người xuất gia xiêu đổ. Không có một thứ dục lạc nào ở ngoài thế gian có đủ sức mạnh hấp dẫn mình và kéo mình ra khỏi đời tu. Còn nếu ta đang thất bại trong chùa, nếu ta đang khổ đau với thầy và với anh chị em trong tăng thân, nếu ta đang nghi ngờ và giận hờn anh chị em trong tăng thân, thì đó quả là một tình trạng cực kỳ nguy hiểm. Người xuất gia trong trường hợp ấy sớm muộn gì cũng sẽ chấm dứt đời sống xuất gia của mình. Ta đã biết môi trường rất quan trọng. Người tu không thể ở một mình. Người tu không có thể tu học mà không có thầy, không có bạn. Người tu không thể chạy theo một cái ước muốn riêng, như đi học ở ngoài đời để cố thi đậu một cái bằng cấp. Nếu tôi không muốn các sư chú và các sư cô đi công tác Phật sự một mình, đó không phải là vì tôi nghi ngờ khả năng của sư chú hay của sư cô, cũng không có nghĩa là vì tôi không tin vào học trò của tôi, nhưng vì tôi biết rất rõ là khi được cùng đi với tăng thân thì sư cô hoặc sư chú sẽ vững mạnh hơn nhiều lắm.

Sơ tâm là hảo tâm

Hủy hình phi pháp phục
Cát ái, từ sở thân
Xuất gia hành Phật đạo
Nguyện độ nhất thiết nhân

Đó là bốn câu thơ rất đẹp ca ngợi chí hướng người xuất gia. Hủy hình có nghĩa là hủy bỏ cái vẻ đẹp trần tục bên ngoài. Tóc mình xanh mướt như vậy, nhưng mình đã cạo sạch. Phấn son và vòng xuyến, tất cả những thứ ấy mình đã gạt bỏ. Đó là một hành động rất cách mạng. Chỉ khi nào có một năng lượng rất lớn trong lòng thì người ta mới làm được chuyện ấy. Phi pháp phục tức là khoác lên chiếc áo pháp, nghĩa là áo của người tu. Cát ái tức là cắt đứt mọi ân ái buộc ràng. “Ái ân lưới nọ dang tay xé’’. Đó là một câu trong bài kệ truyền đăng tôi đã trao cho Sư chị Chân Viên Quang. Ta thấy đời sống lứa đôi không phải là cái hoài bão lớn của ta. Ta muốn làm hạnh phúc không phải cho một người mà cho rất nhiều người. Vì vậy ta không muốn bị vướng kẹt vào lưới tình ái. Vì vậy cho nên ta nói với người kia rằng anh muốn đi trên con đường của một vị Bồ Tát để có thể thương được tất cả mọi người, trong đó có em. Hoặc là ta nói với người kia rằng em muốn đi trên con đường của một vị Bồ Tát, em muốn hiến tặng trái tim này cho tất cả mọi người, trong đó chắc chắn là có anh. Đó gọi là cát ái, để không còn bị sợi giây ái ân ràng buộc. Mình chỉ cần một lát kéo và sợi dây ấy đứt. Đó là ý nghĩa của hành động cạo sạch mái tóc. Đó là ý nghĩa của hai chữ hủy hình. Từ sở thân là từ giã những người thân của mình, trong đó có cha mẹ, anh chị và em mình. Tại sao mình phải xa cha, xa mẹ, xa anh, xa em mà đi tu? Đó là tại vì mình có chí nguyện lớn. Những người đi làm cách mạng cũng chỉ làm như vậy mà thôi, nghĩa là cũng phải cát ái từ sở thân. Người đi tu đích thực là một nhà cách mạng. Người đi tu có một hoài bão lớn. Vì vậy cho nên người ấy có đủ năng lượng để chặt đứt sợi dây tình ái. Xuất gia hành Phật đạo là ra khỏi cái nếp sống gia đình để đi trên con đường của Bụt. Nguyện độ nhất thiết nhân là thề nguyền thương yêu và độ thoát cho tất cả mọi người, chứ không phải chỉ lo cho hạnh phúc một người. Khi đi lấy chồng hay là đi cưới vợ, người ta chỉ nguyện làm hạnh phúc cho một người, và mai này cho ba bốn người là nhiều, nhưng chưa chắc gì người ta đã làm được. Trong cuộc nhân sinh này, lắm khi sống với nhau chỉ có hai ba người mà người ta cũng tạo ra địa ngục cho nhau. Người xuất gia phải hết lòng trân quý tự do của mình. Nếu vướng vào vòng tình lụy, nếu đánh mất tự do của mình rồi thì người xuất gia đâu còn làm hạnh phúc cho ai được? Biết bao là hệ lụy, chìm đắm và khổ đau. Vì thấy được điều đó nên ta xót thương. Vì muốn có khả năng cứu vớt họ cho nên ta đã đi xuất gia. Ta thấy cái khổ tràn ngập quanh ta. Ta không muốn đi vào trong những nẻo đường tăm tối đó. Ta muốn đi tìm một con đường sáng, muốn tìm cách cởi trói cho ta và sau đó đi vào trong nhân gian để cứu giúp độ thoát cho người. Ước muốn này là Tâm Bồ Đề, là nguồn năng lượng lớn, hay tâm thương yêu lớn. Không phải là mình hết thương người mình thương. Không phải là mình bỏ người mình thương. Chỉ là vì mình không muốn thương bằng thứ tình thương chiếm hữu, hệ lụy, sầu đau. Thương như thế chỉ là để làm khổ cho nhau. Mình muốn tiếp tục thương, nhưng với một thứ tình thương mà trong đó cả người thương và người được thương đều bảo trì được toàn vẹn tự do của nhau, tự do cho nhau; một thứ tình thương có khả năng hiến tặng niềm vui và chuyển hóa đau khổ. Đây là thứ tình thương Bụt dạy. Hiến tặng niềm vui mà không gây khổ lụy là Từ. Chuyển hóa khổ đau là Bi. Tình thương mà không hệ lụy, tình thương mà trong đó tự do còn được bảo trì nguyên vẹn là Xả. Trong tình thương này, những người thương chỉ hiến tặng cho nhau niềm vui, mà không bao giờ kéo nhau vào vòng bi lụy. Đó là Hỷ. Chính vì muốn thương với tình thương mầu nhiệm ấy mà ta đã phát nguyện sống đời xuất gia.
Tôi có dịch tạm bài thơ trên, nhưng vì dịch thành bốn câu hơi khó nên tôi đã dùng tới sáu câu:

Bỏ cái đẹp trần thế
Cắt đứt dây ái ân
Xuất gia mặc áo pháp
Từ giã những người thân
Đi trên đường của Bụt
Nguyện độ hết xa gần

Bài dịch này tuy nói được hết ý của nguyên văn, nhưng không có được cái hùng tráng của nguyên văn. Bài thơ này cũng là để ca ngợi Bồ Đề Tâm. Bồ Đề Tâm là nguồn năng lượng căn bản cho người xuất gia. Nuôi dưỡng được nguồn năng lượng ấy thì dầu ở bên ta đang có bão tố, có sấm chớp, có muôn vạn khó khăn, ta vẫn còn có thể đứng vững được. Người xuất gia phải làm hết tất cả những gì mình có thể làm để bảo vệ Tâm Bồ Đề. Như ta đã biết, động lực thúc đẩy ta đi xuất gia là Bồ Đề Tâm, tức là tâm thương yêu. Nguồn năng lượng đẹp đẽ này có khi cũng được gọi là Sơ Tâm, nghĩa là Tâm Buổi Ban Đầu. Tâm Buổi Ban đầu là một trái tim tốt lành còn nguyên vẹn, còn lành lặn, còn nóng hổi, còn đẹp đẽ. Ta phải giữ gìn trái tim ấy cho mẹ, cho cha, cho tất cả mọi người, mọi loài, cho Bụt, cho Pháp và cho Tăng. Mà phương thức hay nhất để giữ gìn nó là sống và thực tập trong một môi trường thuận lợi. Tôi có phước duyên gìn giữ được sơ tâm. Tôi cầu mong quý vị cũng sẽ giữ được trái tim đẹp đẽ ấy mãi mãi, ngàn đời.
Viết thêm cho người xuất gia trẻ

Này người xuất gia trẻ, các em hãy lắng nghe tôi nói đây. Tôi biết có những người xuất gia trẻ hiện đang được sống trong một môi trường tu học thích ứng, được thầy thương yêu và tin cậy, được anh chị em đồng tu khuyến khích và nâng đỡ, được có cơ hội học hỏi và thực tập hằng ngày. Tuy nhiên số lượng những người may mắn ấy còn rất hiếm. Có thể đọc đến dòng chữ này em đang khóc. Tôi biết có rất nhiều người học tăng trẻ đang gặp nhiều khó khăn, kể cả những khó khăn về cơm áo. Tôi đã đi ngang qua những chặng đường như thế rồi, nên tôi hiểu họ.

Những khó khăn

Xuất gia, sống trong chùa hay trong học viện, chúng ta cũng có thể có những khó khăn như sống trong gia đình. Nếu trong đời sống gia đình, ta có thể có vấn đề với cha mẹ hay anh chị em, thì sống trong chùa cũng thế. Em có thể đang có khó khăn với thầy em, và hai thầy trò đang khổ. Có thể em đang có cảm giác thầy em không thương em, không hiểu em, và có thể thầy em cũng đang nghĩ là em không có đủ tinh thần trách nhiệm, không chịu nghe lời thầy. Việc truyền thông giữa hai thầy trò đã trở nên khó khăn, và cả hai thầy trò đang không có hạnh phúc. Em nghĩ là đời sống ở chùa bận rộn quá, em phải làm nhiều việc quá, em không có thời giờ để học hỏi và tu tập, mà chính thầy em cũng không có thì giờ học hỏi và tu tập. Em rất muốn được thầy em gửi em vào nội trú một Viện Phật Học để em có thể để hết thì giờ vào việc tu học, nhưng vì chùa neo người, thầy em chưa cho em đi. Các vị thân sinh ra em có thể đã không muốn em đi tu. Họ nói gia đình đang cần em chống đỡ mà em lại bỏ đi tu. Các vị nghĩ rằng đi tu là bỏ bê gia đình, và em rất lấy làm khổ tâm. Người khác đi xuất gia thì được gia đình yểm trợ tinh thần, còn em thì không. Em có thể đang có vấn đề với sư anh, sư chị hay sư em của em. Em trách họ không hiểu em, nặng lời với em, kỳ thị em, mách những khuyết điểm của em với thầy để thầy không thương em… Những vấn đề như thế có bản chất giống hệt như những vấn đề ngoài đời. Em khổ. Và sự kiện em đang khổ là một thua thiệt lớn cho em, cho tôi, cho tất cả tăng thân. Em khổ mà không chuyển hóa được cái khổ của em thì làm sao em đi trọn con đường tu học?

Có khi em bực mình nghĩ rằng hay là em nên ly khai tăng thân, ra lập một cái am nhỏ, kiếm vài bà bổn đạo yểm trợ tài chánh cho em, đủ để trả tiền nhà, tiền ăn và tiền đi xe buýt, để em có thể đi học. Em tự bảo: học Phật pháp và sinh hoạt với tăng đoàn là chuyện ta sẽ làm suốt đời, cần gì phải gấp gáp; bây giờ mình hãy lo học để đạt tới một trình độ văn hóa khá cao của thế học đã, rồi nghiên cứu Phật học sau cũng không muộn. Hơn nữa nếu có một cái bằng cấp tốt nghiệp đại học thì không những học Phật mau thành mà nói gì người ta cũng tin, tại vì mình đã đậu cử nhân, phó tiến sĩ hay tiến sĩ… Những tư tưởng như vậy làm em bất an, không an trú được trong nếp sống thường nhật. Những tư tưởng ấy lại rất tai hại, bởi vì chúng đang có thể kéo em ra khỏi con đường tu mà em không biết.

Con đường thoát

Nếu em đang ở vào một hoàn cảnh có nhiều khó khăn, tôi muốn em đừng vội ly khai môi trường hiện tại, bỏ thầy, bỏ chùa, bỏ chúng mà đi tìm nơi khác. Đừng đi vào dấu chân của những người đứng núi này, trông núi nọ. Có thể em đang mơ ước được vào nội trú Viện Phật Học, nhưng cũng có thể một người khác đang nội trú trong Viện Phật Học lại mơ ước được ra ở chùa ngoài như em. Nếu em chưa tìm ra một giải pháp thỏa đáng, thích hợp với những điều tôi căn dặn trong bài pháp thoại ngày 2 tháng 5 năm 1996 thì em phải tìm tới tham vấn một vị thiện tri thức mà em tin cậy. Vị thiện tri thức này có thể là một thầy hay một sư cô có tuệ giác, có đức độ, có an lạc. Em hãy trình bày lên vị ấy tất cả những nỗi lòng của em và những sự thực về hoàn cảnh em. Vị ấy sẽ chỉ cho em đường đi, nước bước em cần phải theo. Nếu tôi được em tham vấn, tôi sẽ nói rằng em cần thực tập để thiết lập ngay lại sự truyền thông với thầy em và với huynh đệ em càng sớm càng tốt. Em phải học hạnh đế thính (lắng nghe) và ái ngữ (ngôn từ hòa ái). Phải biết ngồi nghe một cách chăm chú, tĩnh lặng, phải học nghe với tâm không thành kiến, đừng tỏ vẻ nóng nảy, đừng có khuynh hướng phán xét và phản ứng; những năng lượng này một khi biểu hiện ra nét mặt, đôi mắt, hơi thở hay ra cử chỉ sẽ làm cho người nói không còn cảm hứng nói ra những điều người ấy muốn nói. Phải tập theo dõi hơi thở để giữ sự bình tĩnh trong lúc nghe, để tiếp thu được những điều mình nghe, dù những điều đang nghe không phù hợp với nhận thức sẵn có của em về sự thật. Em phải tập nghe thầy, nghe huynh đệ em theo cách ấy, và khoảng một tháng sau, sự truyền thông (communication) sẽ được tái lập giữa em và những người ấy. Khi em nói, em phải tập nói với ngôn từ hòa ái. Phải nói như thế nào để chứng tỏ mình đang bình tĩnh trình bày cho người kia thấy sự thật, chứ không phải là mình đang nói để tỏ lộ sự bực dọc hay bất bình của mình. Tuyệt đối không trách móc. Em chỉ nói về những khó khăn, những đau khổ của em thôi, và cầu xin sự giúp đỡ của người kia. Đế thính và ái ngữ là nội dung của giới thứ tư trong năm giới quý báu. Thực tập giới này em sẽ chuyển đổi được tình trạng, em có thể thuyết phục thầy và huynh đệ của em cùng góp sức chuyển hóa môi trường hiện thời thành một môi trường thích hợp hơn cho sự tu học, nghĩa là cho sự thực hiện lý tưởng cao đẹp của người xuất gia hảo tâm. Trong một Viện Phật Học, có thể cũng có những hiện tượng chống báng, phe phái, chia rẽ và kỳ thị. Nếu em là tăng sinh trong Viện Phật Học, hoặc giả nếu em là một vị giáo thọ trẻ của Viện Phật Học, em cũng phải thực tập như thế để dần dần chuyển hóa Viện Phật Học thành một môi trường thật sự thuận lợi cho sự thực hiện lý tưởng của người xuất gia. Tôi biết những lời tôi đang viết đây cũng sẽ được các vị sư trưởng của các chùa, các vị giáo thọ trong các Viện Phật Học đọc, tôi tin chắc quý vị cũng đang thao thức như tôi và như em trong vấn đề chuyển hóa môi trường tu học cho môi trường ấy trở thành thuận lợi, và như thế mọi người trong ban giám hiệu, ban giáo thọ cũng như tất cả các tăng sinh sẽ có hạnh phúc nhiều hơn trong đời sống tu học hằng ngày. Hạnh phúc của em rất cần thiết cho tôi và cho tất cả mọi người, vì vậy em không có quyền tiếp tục đau khổ. Nếu em tiếp tục đau khổ, chúng tôi sẽ mất em. Đau khổ cần thiết cho tuệ giác nếu ta biết quán chiếu nó, nhìn sâu vào bản chất nó, để tìm lối ra. Vì vậy đau khổ là một thánh đế, nghĩa là một sự thật linh thiêng. Nhưng nếu ta tự để đắm chìm trong khổ đau mà không thấy được bản chất và con đường thoát khổ, thì đau khổ không còn là một thánh đế nữa.

Ăn cơm có canh

Nhà sử học Anh Arnold Toynbee có tiên đoán rằng sự gặp gỡ giữa đạo Bụt và văn minh Tây phương sẽ là một biến cố quan trọng nhất của thế kỷ tới. Tôi tin rằng từ cuộc gặp gỡ đó một nền văn hóa mới cho nhân loại sẽ được khai sáng. Em phải chuẩn bị để đóng góp phần em vào biến chuyển lịch sử. Em phải áp dụng cho được giáo pháp của đức Thế tôn trong đời sống hằng ngày để chuyển hóa khổ đau của em và của tăng thân em. Tăng thân là đoàn thể tu học của mình, gồm có thầy và các sư anh, sư chị, sư em của mình. Tăng thân cũng là một thứ thân thể của mình. Nếu mỗi người đều có Phật thân và Pháp thân của mình thì đoàn thể tu học của mình cũng tức là tăng thân của mình. Phải hết lòng thực tập hơi thở và bước chân chánh niệm. Phải sống cho sâu sắc mỗi giây phút của đời sống hằng ngày. Phải biết tiếp xúc với những nhiệm mầu của sự sống trong em và chung quanh em trong từng giây từng phút. Phải tỉnh thức lại, phải thấy được trúc tím, hoa vàng, trăng trong và mây trắng là biểu hiện của Pháp thân mầu nhiệm. Phải sống cho được giáo lý hiện pháp lạc trú như thầy Tam Di Đề (Sammidhi), một vị xuất gia trẻ hồi thời của Bụt, rất được Bụt và tăng đoàn thương mến. Thầy La Hầu La (Rahula) là người trẻ đầu tiên được gia nhập vào giáo đoàn xuất gia, và đã được thầy Xá Lợi Phất trao truyền mười giới Sa di. Thầy La Hầu La sau này đã thành công như một trong mười vị đệ tử lớn của Bụt. Thầy A Nan (Ananda) cũng là một người xuất gia trẻ sống hạnh phúc đời sống xuất gia với một trái tim thương yêu trinh nguyên. Nhờ thông minh và trí nhớ phi thường của Thầy mà biết bao nhiêu kinh điển của Bụt đã được lưu truyền lại. Thầy Ly Bà Đa (Revata) em út của thầy Xá Lợi Phất vì thấy được lẽ vô thường và biến hoại của mọi nhan sắc, nên đã xin đi xuất gia từ hồi còn niên thiếu. Thầy sống rất thoải mái và hạnh phúc nơi những vùng núi rừng thanh tịnh. Thầy Tu Bồ Đề (Subhuti) em trai của trưởng giả Cấp Cô Độc cũng là người niên thiếu xuất gia, được Bụt khen ngợi là thông suốt phép Từ quán và Bi quán. Cả hai đều nhìn vào gương tu tập của người anh. Thầy Tu Na Ka (Sonaka) phát Tâm Bồ Đề ngay sau khi được nghe bài thuyết pháp ở tu viện Trúc Lâm, đã phải nhịn ăn nhiều tuần lễ, thân thể ốm mòn, mới được phép cha mẹ cho đi xuất gia. Các thầy Bà Đề (Bhaddiya) và A Nậu Lâu Đà (Anurudha) đều là con trai dòng quý tộc, đã bỏ quyền hành và giàu sang để xuất gia theo Bụt, sống đời giải thoát. Sư cô Liên Hoa Sắc (Uppalavana) và sư cô Thu Ba (Subha) đều là những thiếu nữ nổi tiếng là sắc nước hương trời, nhưng đã cắt bỏ mọi ân ái buộc ràng để trở nên người xuất gia, sống tu đạo với một quyết tâm ít ai bì kịp. Sư cô Tôn Đà Lợi Nan Đà (Sundarinanda) em cùng cha khác mẹ của Bụt, cũng đã đi xuất gia lúc chưa đầy hai mươi tuổi, và đã được Bụt khen là rất thành công trong công phu thiền tập… Các vị đều là những tấm gương sáng cho em.
Chúng ta không tu một mình. Chúng ta chỉ có thể tu với tăng thân. Không sống, không tu học và làm việc với tăng thân thì ta sẽ yếu lắm. Sống và tu học với tăng thân ta được tăng thân soi sáng và yểm trợ; đó thực sự là quy y Tăng. Quy y Tăng không phải chỉ là một đức tin mà là một sự thực tập hằng ngày. Nếu không quay về nương tựa Tăng, em sẽ đánh mất lý tưởng xuất gia đẹp đẽ của em trong một tương lai rất gần. Người Việt chúng ta đã có kinh nghiệm sâu sắc về tuệ giác này, cho nên chúng ta ai cũng biết câu “ăn cơm có canh, tu hành có bạn”.

Gia tài của Bụt

Là người xuất gia, là những người con gần gũi nhất của Bụt, em phải biết thừa hưởng gia tài của Bụt. Phải thực tập cho được những pháp môn căn bản để có hạnh phúc. Phải nắm vững các pháp môn thiền tọa, thiền hành, quán niệm hơi thở, ăn cơm chánh niệm, quán chiếu vô thường, quán chiếu vô ngã, quán Từ, quán Bi, nhận diện và chuyển hóa khổ đau, xây dựng tăng thân và làm hạnh phúc cho đời. Khi học kinh, nên luôn luôn tự hỏi: những tư tưởng này của kinh có dính líu gì tới đời sống hàng ngày của ta không, có giúp ta chuyển hóa khổ đau và tạo thành an lạc không? Cố nhiên là các kinh lớn như Kim Cương, Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Bảo Tích… chứa đựng nhiều tư tưởng siêu việt, nhưng mục đích học kinh không phải là để thưởng thức triết lý thâm uyên, lặp lại những tư tưởng ấy và đi tìm sự thỏa thích trong khi giải bày những tư tưởng ấy. Phật pháp là chiếc bè đưa ta qua sông; em phải sử dụng được chiếc bè để qua tới bến bờ của chuyển hóa và an lạc. Mục đích của người xuất gia không phải là để trở thành nhà Phật học hay nhà triết học, mà là trở thành một người an lạc, giải thoát, một vị đạo sư đích thực có khả năng độ đời. Cho nên em phải tránh con đường chất chứa kiến thức. Phải theo nguyên tắc thực học, thực tu, thực chứng. Em phải thấy được vô thường, vô ngã, từ, bi… là những dụng cụ quán chiếu để chuyển hóa khổ đau, chứ không phải là những lý thuyết. Nếu em biết cách quán chiếu vô thường, vô ngã, từ và bi, em sẽ phá được những nhận thức sai lầm (vọng tưởng) của em trong đời sống hằng ngày, sẽ trở nên hiểu biết và bao dung hơn, và tình thương trong em càng ngày càng lớn. Có tình thương thì cuộc đời ta mới có hạnh phúc. Những người chỉ có trách móc và hận thù trong tâm là những người đau khổ. Chừng nào em thấy chất liệu của Từ và Bi lớn lên trong em, chừng nào em nhận thấy em đã bắt đầu biết nhìn người khác bằng con mắt từ bi (từ nhãn thị chúng sinh) không còn khắt khe, không còn oán trách, thì em biết lúc đó em đã bắt đầu có nhiều hạnh phúc. Đây là một chuyển hóa lớn của người tu. Tôi đã từng đi trên 30 quốc gia trên thế giới, tổ chức những khóa tu học cho người bản xứ. Có những khóa tu kéo dài được ba tuần, nhưng cũng có những khóa tu rất ngắn, chỉ kéo dài có bốn hôm. Ấy vậy mà có những thiền sinh và gia đình họ sau bốn ngày tu đã được chuyển hóa, đã tìm lại được sự tha thứ, thương yêu, hài hòa trong lòng họ và trong gia đình họ. Người xuất gia không nên quên rằng mình có cái may mắn là được thường trú trong khung cảnh tu học: nếu để tháng ngày đi qua mà không hạ thủ công phu thì uổng phí cuộc đời xuất gia của mình. Người nông phu sau khi thí nghiệm một loại hạt giống, một loại phân bón hoặc một phương pháp canh tác mới mà không thành công thì chắc chắn sẽ thay đổi hạt giống, phân bón hoặc phương pháp canh tác ấy. Chúng ta cũng vậy. Nếu tu tập từ ba tới sáu tháng mà không thấy hoặc chưa thấy có chuyển hóa gì, ta phải biết là có một cái gì không đúng trong phương pháp tu học. Ta phải lập tức tìm thầy và bạn để tham vấn, tìm ra những pháp môn thích hợp và hữu hiệu cho ta. Tôi thấy có những người tu suốt mấy mươi năm mà nhận thức, cách sống và tập khí khổ đau vẫn không hề thay đổi. Thật là uổng phí cho họ và cho chính ta.

Bạn đồng hành của Bồ Tát

Thực tập Từ và Bi cho đúng phép, một ngày nào đó em sẽ thấy năng lượng từ bi trong em đòi em phải thể hiện qua hành động. Từ và Bi không phải là những nguyên tắc sống, đó là những năng lượng đòi hỏi được biểu hiện cụ thể bằng sự sống. Có thể em là một người xuất gia muốn biểu lộ từ bi qua công tác cứu trợ người nghèo đói, chăm sóc cô nhi, người khuyết tật, hoặc phục vụ tại các nhà thương và nhà tù. Những công tác này là những bài thuyết pháp đích thực, nếu quả thực công tác của em được thúc đẩy bởi động lực thương yêu. Mỗi cử chỉ săn sóc người ốm đau, người tàn tật hay người nghèo khó có thể là một lời pháp ngữ hùng hồn. Dù vị pháp sư thuyết pháp hay, nhưng nếu những lời vị ấy nói ra không phải là do năng lượng từ bi thúc đẩy thì bài pháp cũng chỉ là một công tác danh lợi, không phải là một bài thuyết pháp đích thực. Tôi rất không muốn sư cô và sư chú mải mê làm công tác xã hội mà quên mất mục đích thật sự của người xuất gia là tu tập để diệt trừ phiền não, chuyển hóa khổ đau. Em không nên để hết thì giờ vào việc xã hội. Phận sự của em không phải là bác sĩ, y tá hay cán sự xã hội. Em có thể phát nguyện làm việc mỗi tuần vài ba buổi tại các bệnh viện, trại giam hoặc nhà cô nhi, nhưng trong khi làm việc em phải làm cho thật có chánh niệm, luôn luôn trầm tĩnh, có đủ phong độ, uy nghi và không bao giờ đánh mất mình trong thất niệm. Nếu em biết theo dõi hơi thở và thực tập an trú trong giây phút hiện tại thì công tác giúp người của em cũng đồng thời là công phu tu tập, cũng quan trọng như thực tập ngồi thiền hoặc tụng kinh.
Tại các nước phát triển ở Âu và Bắc Mỹ Châu, rất nhiều bệnh viện có thánh đường và thiền đường để cho bệnh nhân và những người thân nhân của họ thực tập.

Có những giây phút bệnh nhân hoặc thân nhân của họ cần phải tĩnh tâm để cầu nguyện, như những lúc trước giờ giải phẫu, những lúc giải phẫu hay cấp cứu, những lúc chờ đợi hồi sinh… Thánh đường, niệm Phật đường hay thiền đường vì vậy rất cần thiết. Có những người xuất gia nguyện phục vụ trong ấy. Họ phải được học hỏi cách thức để có thể giúp người bệnh và thân nhân của họ đạt tới sự an tâm. Trong các nhà giam cũng vậy. Có những người tu được đào tạo để có thể phục vụ những người đang bị giam giữ. Căn bản tâm lý học, phương pháp an ủi và giải tỏa tâm lý rất cần thiết. Vào những nơi này để phục vụ, em sẽ có cảm tưởng là Bồ Tát Địa Tạng cũng cùng đang đi bên em để đem lại sự bình yên cho tâm hồn những người trong ấy. Em phải làm công tác với tất cả trái tim em, vì em đang là một vị bồ tát, bạn đồng hành của Bồ Tát Địa Tạng. Mà đã là Bồ Tát thì giây phút nào cũng tập luyện tỉnh thức, đừng để công việc kéo đi, lọt vào thế giới của thất niệm. Chúng ta nói chúng ta thực tập từ bi mà nếu chúng ta không có mặt tại những nơi có khổ đau như nhà thương và trại giam thì đó là một điều khó hiểu. Tại nhiều nước Tây Phương như Anh và Mỹ, sách của tôi viết được gửi vào các trại giam nhiều lắm, thỉnh thoảng những thành phần của chúng chủ trì dòng tu Tiếp hiện cũng vào thăm viếng các tù nhân để ủy lạo và hướng dẫn thiền tập cho họ. Tôi đã nhận được rất nhiều thư cám ơn của các độc giả trong tù. Nhiều vị nói trong tù họ thực tập tinh chuyên lắm, và tin tưởng nơi những phương pháp thực tập ấy, vì tâm hồn họ được an tĩnh và niềm tin của họ được hồi sinh. Các vị lãnh đạo giáo hội, các bậc sư trưởng của em thế nào cũng phải can thiệp với các cấp chính quyền để tại mỗi bệnh viện và nhà giam sẽ được thiết lập một thiền đường, và can thiệp với các Viện Phật Học để chuẩn bị huấn luyện một số tăng sinh sau này có thể phục vụ tại những nơi như thế.

Phẩm vật hiến tặng

Hiến tặng là hành động cao đẹp nhất của người tu. Phẩm vật hiến tặng có ba thứ: tài vật, pháp môn tu học và sự an vững của tâm hồn (tài thí, pháp thí và vô úy thí). Người xuất gia đâu có tài vật gì nhiều để hiến tặng? Chính nhờ đức độ và tình thương của ta mà thiên hạ đã tin cẩn và giao phó cho ta một ít tài vật của họ để ta làm công việc cứu trợ và ủy lạo. Pháp môn tu học mà ta đã từng thực tập và gặt hái kết quả là tặng phẩm rất quý của ta. Vì vậy nếu em có làm công tác xã hội thì đừng làm công tác xã hội suông, nghĩa là chỉ đóng vai trò của một tác viên xã hội. Vai trò của em là nhà tu. Vậy trong khi làm việc cứu tế em hãy tìm cách trao truyền cho người kia những phương pháp thực tập giúp họ vượt thoát khổ đau của họ. Em đừng nghĩ họ chỉ khổ đau vì thiếu cơm, thiếu áo, thiếu nhà ở, thiếu thuốc men. Họ đau khổ nhiều trong liên hệ giữa họ và những người quanh họ, họ đau khổ vì giận hờn, thất vọng, mặc cảm, ganh ghét, xung đột, v,v… Em đừng sợ bị mang tiếng là lợi dụng công tác xã hội để truyền đạo. Em có thể dùng ngôn ngữ không tôn giáo để giúp cho họ tháo gỡ những cái kẹt của họ. Phép thở, phép buông thư, phép lắng nghe, phép ái ngữ… ngoài đời người ta cũng dạy, cũng học, trong các tôn giáo khác cũng vậy. Pháp thí là bảo vật rất quý của người tu, đem hiến tặng hoài mà không bao giờ hao hụt. Vô úy thí là tặng phẩm thứ ba, đó là sự vững chãi, sự thảnh thơi và tuệ giác của em. Nếu em tu tập thành công thì càng ngày em càng vững chãi, càng ngày em càng có tự do nhiều hơn. Tự do đây không phải là tự do chính trị mà là tự do tâm linh. Em không bị sai sử và ràng buộc bởi bất cứ một tâm hành bất thiện nào: sự lo lắng, sự sợ hãi, sự hận thù, sự thèm khát, sự ganh ghét… Quán chiếu về vô sinh, em không còn sợ hãi, dù là cái chết. Ngồi bên giường người hấp hối, sự vững chãi và thảnh thơi của em giúp cho người đang hấp hối an tâm trở lại và thực tập chánh niệm cho đến giờ phút qua đời. Sự có mặt của em gây niềm tự tin và sự không sợ hãi. Đó là tại vì em đã có chất liệu vô úy, vững chãi và thảnh thơi nơi em. Tôi có những người học trò rất giỏi về việc thực tập nâng đỡ người hấp hối. Ví dụ như giáo thọ Chân Tiếp. Chị Chân Tiếp (Joan Halifax) là một nhà nhân chủng học nổi tiếng của Hoa Kỳ, nghiên cứu về văn minh người da đỏ. Chị là thành viên chúng chủ trì dòng tu Tiếp Hiện. Chị đã huấn luyện cho nhiều người trong việc hướng dẫn những người hấp hối. Các vị đều là những người có khả năng hiến tặng vô úy. Ta phải có khả năng hiến tặng vô úy cho người đời, trong những khúc quanh khó khăn nhất của đời họ, và khi họ hấp hối. Tôi có làm một bài hát lấy ý từ Tương Ưng Bộ với nhan đề là Ru Người Hấp Hối, một bài có thể đọc, tụng hay hát cho người hấp hối nghe, dù người đó đang tỉnh hay đã mê.

Thảnh thơi, tự do, đó là bảo vật quý giá nhất của người xuất gia, em đừng bao giờ đánh mất nó. Phải thực tập chánh niệm và nghiêm trì giới luật em mới bảo vệ được tự do mình. Những cám dỗ như danh vọng, quyền hành, sắc dục và tiền bạc chỉ là những con mồi bằng nhựa trong đó có móc một chiếc lưỡi câu sắc bén. Con cá tưởng con mồi nhựa là con mồi thật nên đớp lấy và bị lưỡi câu móc vào cổ họng.

Hạnh phúc của em không phải do những tài, sắc, danh, lợi ấy đem tới. Vướng vào chúng, em sẽ mất tự do. Hạnh phúc của em là chất liệu vững chãi, thảnh thơi, vô úy và tình thương. Mỗi ngày em phải bồi đắp và phát triển những yếu tố đó trong em.

Tay trong tay

Này người xuất gia trẻ, tôi đã có thể nhận ra em từ lúc em còn chưa xuất gia. Nhìn em tôi biết trong em có hạt giống tốt của người xuất gia. Và tôi thường tâm tâm niệm niệm để em có đủ nhân duyên đi xuất gia sớm. Em đã xuất gia rồi, tôi mừng biết mấy. Tôi làm đủ những gì có thể làm để tạo điều kiện cho em được học, được tu, được nuôi dưỡng chí hướng của em. Tôi xót xa khi thấy em buồn khổ. Tôi vui mừng hạnh phúc khi thấy em hạnh phúc. Tôi hãnh diện khi thấy em độ được gia đình, giúp thầy em xây dựng nên tăng thân, và bắt đầu có thể tạo dựng hạnh phúc cho người. Tôi lo lắng cho em, mong ước nuôi dưỡng được em như những chiếc lá đầu của cây chuối nuôi dưỡng những cuộn lá kế tiếp nằm trong lòng cây chuối. Em là niềm tin cậy của tôi. Em là con Bụt. Em là em tôi, là học trò tôi, là con tôi, là cháu tôi. Cho dù em chưa sinh ra, tôi cũng đã nhìn thấy em rồi. Mới thọ giới Sa di, Sa di ni hay đã thọ Giới Lớn, em là người xuất gia trẻ mang theo em chí hướng của Bụt. Em là sự nối tiếp của Bụt, là bảo bối của Pháp, là tinh hoa của Tăng. Là gái hay là trai, em cũng có thể mang lý tưởng Bồ Tát đi vào đời. Nói chuyện tâm sự được với em hôm nay, tôi thấy lòng nhẹ nhõm. Tôi không bi quan, không lo lắng, bởi vì tôi có đức tin nơi em. Tôi sẽ có mặt bên em mãi. Tay em trong tay tôi, tay tôi trong tay Bụt, chúng ta hãy vững chãi đi về tương lai.

                                                                                       Thiền Sư  Thích Nhất Hạnh

                                                                                             Làng Mai – Pháp(1996)

Một số bài giảng AUDIO của TT Thích Chân Quang

13. Người với Người
Download

14. Dẫu xây chín đốt phu đồ
Download

15. Hoa Sen Mọc lên từ lửa
Download

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Mười Hai 4, 2009 in Bài Giảng, Phật Giáo

 

Nhãn: ,

Chánh đạo – TT Thích Chân Quang

CHÁNH ĐẠO

Bài giảng tại chùa Bửu Thắng, Krong Buk, Daklak
Hôm nay chúng ta sẽ nói với nhau về đề tài Chánh Đạo. Vì sao ta nói chuyện về Chánh Đạo? Bởi vì trên đời này có hai loại đạo: một là Chánh đạo, hai là Tà đạo.
Chánh đạo là đạo đúng đắn mà nếu ta tu theo được Chánh đạo đó thì ta sẽ làm những điều đúng, cuộc đời ta được hạnh phúc, Thần Thánh ở trên cao sẽ phù hộ cho ta để cuộc đời ta có nhiều may mắn, được phát triển, được giàu sang, được mọi điều tốt đẹp,… và thậm chí khi ta chết đi rồi ta sẽ được về nơi rất hạnh phúc, an lành.
Còn Tà đạo là gì? Tà đạo là những đạo sai lầm, dạy cho ta sai lầm, làm cho ta đối xử với mọi người xấu, ác thế là sau này ta mắc Quả báo làm cuộc đời ta không may mắn, Thần Thánh không phù hộ cho ta, đời ta gặp nhiều đau khổ và thậm chí khi ta chết đi rồi ta sẽ về một nơi rất đau khổ.
Cho nên sống trên đời này ai cũng cần có một đạo để đi theo và quan trọng là phải tìm cho ra một Chánh đạo để đi theo, đừng bao giờ để lầm mà đi theo Tà đạo.
Thường ta sẽ nghe nhiều người giới thiệu về đạo, khi đạo này khi đạo kia, và quan trọng là khi người đi giảng đạo họ cũng thường tự xưng họ là Chánh đạo. Mình nghe họ xưng họ là đạo đúng, là Chánh đạo cho nên đôi khi mình cũng không phân biệt được ai là Chánh đạo, Tà đạo; mình tưởng rằng ai cũng là Chánh đạo nhưng sự thật không phải vậy. Người nào cũng tự xưng mình là Chánh đạo, miệng nói Chánh đạo nhưng bên trong họ là Tà đạo. Đây là điều mà người Phật tử ta phải cẩn thận, phải tinh tế để nhận ra cái gì là Chánh đạo, cái gì là Tà đạo.
Ví dụ mình ở trong buôn làng, có một người đi tới để truyền đạo, họ cũng nói đạo của họ là cao siêu nhất, là chân chính nhất và nếu mình không có bản lĩnh, không có trí tuệ, gặp ai mình cũng tin thì có lẽ một lúc nào đó mình sẽ theo lầm một Tà đạo. Và nếu theo lầm Tà đạo rồi thì cuộc đời mình sẽ rơi xuống vực thẳm, coi như chìm trong hố sâu, xem như vứt vào giỏ rác luôn. Nhưng mình không biết, mình cứ tưởng mình đi con đường đúng, đi con đường hay. Nên vì vậy, người Phật tử phải có con mắt sáng, phải có trái tim sáng, phải có đôi tai rất thính để khi nghe người ta nói, nhìn người ta làm thì tâm mình hiểu ra ai là Chánh đạo, ai là Tà đạo. Chánh đạo là những cái đúng, cái hay, cái sâu xa mang lại lợi ích, hạnh phúc cho đời này và những đời sau. Còn Tà đạo, mới nói nghe có vẻ hay nhưng khi ta theo Tà đạo đó rồi, ta sẽ dần trở nên hung hăng, dữ tợn, chia rẽ rồi ta làm những điều xấu xa để khi ta chết đi rồi ta sống đều vào những nơi đau khổ. Nên quan trọng của cuộc đời con người chính là tìm ra một Chánh đạo để đi theo.
Vậy đạo Phật có phải là Chánh đạo không ạ? Đạo Phật là Chánh đạo nhưng đừng tưởng ai theo đạo Phật cũng đều là chân chính. Tại sao vậy? Bởi vì giữa danh nghĩa bên ngoài và thực chất bên trong của một con người là khác nhau. Nên có khi danh nghĩa bên ngoài là tốt nhưng cá nhân con người là xấu.
Ví dụ mình nói Nhà Nước ta tốt hay xấu? Nhà Nước ta tốt! Nhưng có phải ai cũng tốt không? Có những cán bộ vì động cơ cá nhân nên đã làm những chuyện sai quấy, thậm chí nhiều khi ăn hiếp dân. Vì vậy ta phải hiểu cái lớn là như thế, cái nhỏ là như thế mà không buồn. Ví dụ ta biết Nhà Nước ta là tốt, là Chánh đạo nhưng có một, hai cán bộ có những sai lầm như họ đến la mắng mình, ăn hiếp mình thì mình biết cá nhân con người này tuy là người của Nhà Nước nhưng cá nhân họ không phải là Chánh đạo, coi chừng người này là Tà đạo.
Đừng tưởng bên ngoài đúng thì cái gì cũng đúng hết. Ví dụ đạo Phật ta là Chánh đạo nhưng có phải ông thầy tu nào cũng chân chính không? Không! Có những ông thầy tu cũng phạm những sai lầm! Vì vậy ta đi theo con đường Chánh đạo nhưng không phải cá nhân nào ta cũng tin vì còn có người sai, người đúng lẫn lộn ở trong đó rất nhiều. Thấy họ xưng họ là Chánh đạo nhưng việc làm của họ nhiều khi lại là Tà đạo cho nên ta phải sáng mắt nhìn cho rõ! Ví dụ như có người vào buôn làng cho ta gạo, cho ta tiền, họ nói ngọt với ta, họ nói họ thương ta. Như vậy họ có phải là Chánh đạo không? Hành động thì rất giống Chánh đạo, vì khi ta đang thiếu thốn họ lại cho ta mấy chục ký gạo, cho tiền, nói tôi thương bạn lắm,… nhưng ta phải cẩn thận. Trên đời, giữa Chánh đạo và Tà đạo rất khó phân biệt! Họ cho mình tiền, họ nói thương mình nhưng sau đó lại xúi mình làm chuyện bậy thì đó chính là Tà đạo. Còn những người nào ban đầu họ cho mình gạo, cho mình tiền,… nhưng sau đó lại hướng dẫn mình làm những chuyện đúng với luật pháp quốc gia, đúng với đạo lý mà ông bà ta từ ngàn xưa để lại, họ hướng dẫn ta sống có đạo đức để sống với xã hội này yên vui thì ta biết đó là Chánh đạo. Tức hành động của họ là chân chính, tâm họ sáng nên hướng dẫn mình làm những điều đúng, còn những người ban đầu có vẻ như Chánh nhưng hành động về lâu về dài lại là Tà. Vì vậy ta phải rất cẩn thận!
Và nhiều khi những điều nào dễ hiểu coi chừng cũng không phải là Chánh đạo! Ví dụ như ngày xưa khi Đức Phật tu hành sau 6 năm khổ hạnh, rồi Ngài ngồi kiết già dưới cội bồ đề, 2 chân bắt chéo, 2 tay để lên lòng như vậy, bất động, lưng thẳng, mắt nhắm, Ngài nhập định, không ăn, không ngủ, không đi tới, đi lui suốt 49 ngày. Lúc đó ma ở trên trời hiện xuống phá Ngài, đầu tiên nó hiện thành những cô gái đẹp để dụ Ngài nhưng Ngài không động tâm, không nhúc nhích; sau nó hiện ra những tên cướp lấy cung tên đâm Ngài nhưng Ngài không nhúc nhích, cung tên không xâm phạm, không đụng vào cơ thể Ngài được. 49 ngày Ngài ngồi không nhúc nhích, Ngài đắc được thần thông cao siêu, hào quang chiếu sáng cả trời đất, khi Ngài đắc đạo rồi Ngài mới thấy hết trời đất vũ trụ này là như thế nào, lòng thương yêu của Ngài phủ trùm khắp chúng sinh trong cõi đời này nhưng Ngài cứ ngồi yên như vậy.
Lúc đó ông trời mới thấy Ngài đắc đạo rồi, hào quang chiếu sáng từ cõi đất lên đến cõi trời thì ông mới đến, chắp tay quỳ xuống thỉnh Ngài: “Kính bạch Đức Thế Tôn! Thế Tôn đã đắc đạo rồi mà chúng sinh còn u mê tăm tối, không hiểu thế nào là Chánh đạo, chúng sinh nhiều người còn bị Tà đạo làm mê muội cho nên con kính thỉnh Đức Thế Tôn thuyết pháp đem lại Chánh đạo cho chúng sinh để chúng sinh được sáng mắt, được mở lòng mà đi theo con đường Chánh đạo, nhờ đi theo con đường Chánh đạo này mà chúng sinh không bị rơi vào hầm lửa, không rơi vào hầm chông, không rơi vào nước sôi, không rơi vào đau khổ”.
Đức Phật mới nói thế này: “Này Phạm Thiên, Chánh đạo mà Như Lai đắc được rất là khó hiểu đối với chúng sinh”. Đúng là như vậy, đạo lý cao siêu khó mà hiểu được! Lúc đó ông trời mới quỳ xuống và chắp tay với Đức Phật: “Bạch Đức Thế Tôn! Đúng là Chánh đạo rất khó hiểu nhưng mà kính bạch Đức Thế Tôn, có những chúng sinh căn cơ cao cũng giống như hoa sen còn chìm trong mặt nước, sắp sửa vươn lên khỏi mặt nước, nếu Thế Tôn thuyết giảng Chánh đạo này thì chúng sinh đó cũng giống như hoa sen vượt khỏi mặt nước mà nở ra thành một đóa hoa đẹp ngời tỏa hương thơm ngát. Có những chúng sinh căn cơ thấp cũng như mụt sen còn nằm dưới sình nhưng mà nhờ Chánh đạo của Thế Tôn thuyết giảng sẽ từ từ ló lên khỏi bùn sâu, vươn lên từ từ trong ao nước, một ngày nào đó, một vài trăm năm sau, một vài ngàn năm sau cũng có thể vươn lên khỏi mặt nước trở thành một đóa hoa sen thơm ngát. Kính xin Đức Thế Tôn hãy vì chúng sinh mà cất lên lời thuyết pháp”. Phạm Thiên nói hay quá, Thế Tôn mỉm cười chấp nhận, giây phút Thế Tôn mỉm cười chấp nhận thuyết pháp thì đất trời rung động, Phạm Thiên mừng quá nên đảnh lễ Đức Thế Tôn 3 lạy, đi vòng quanh Thế Tôn 3 vòng để bày tỏ lòng tôn kính rồi biến mất trở về cõi trời để quan sát, theo dõi Đức Phật suốt 45 năm sẽ đi thuyết pháp như thế nào. Và đúng như vậy, 45 năm sau Đức Phật thuyết pháp tạo thành Chánh đạo mà ngày hôm nay ta gọi là đạo Phật và đạo Phật lan truyền suốt mấy nghìn năm nay.
Thế tại sao giáo Pháp là khó hiểu, không phải chúng sinh nào cũng có thể hiểu được? Bởi vì sự thật rất khó hiểu!
Ví dụ như khi ta còn bé ta thấy mưa trên trời rơi xuống ta mới hỏi ba mẹ ta “mưa từ đâu rớt xuống?”, người cha người mẹ không biết trả lời mới nói là ông trời khóc. Ta trả lời vậy cho nhanh, cho gọn.
Hỏi nước sông, nước suối ở trên nguồn từ đâu mà chảy mãi? Trả lời “ông trời nhổ nước miếng đó con|”.
Ví dụ như có một đứa bé đi ngoài đường bị tai nạn giao thông chết, hỏi sao bị xe tông chết vậy thì trả lời rằng ông trời sai xe cán nó chết… Cứ đổ thừa cho ông trời hoài! Vậy tại sao chuyện gì ta cũng đổ thừa tại ông trời? Bởi vì điều đó dễ trả lời! Nhưng cái gì dễ trả lời là cái đó sai, không đúng!
Bây giờ ta có thể trả lời mưa từ đâu rơi xuống. Ngày hôm nay ta biết rằng mưa là từ mây, mây gặp không khí lạnh đọng lại thành nước rơi xuống. Thế tại sao có nước sông chảy? Vì mưa rơi xuống, thấm vào rừng, rừng ứa vào mạch, mạch tập trung chảy vào một nguồn, một dòng tuôn xuống buôn làng ta để cho ta có nước tưới cá phê, tưới rẫy. Rồi bây giờ tại sao đứa bé bị xe tông cán chết? Tại ông tài xế lái xe ẩu mà cứ đổ thừa cho ông trời! Cho nên cái gì dễ trả lời là không đúng sự thật. Bởi vậy, Đức Phật chúng ta nói mọi chuyện trên đời do Nhân Quả, Nhân là hột, Quả là trái. Đức Phật dạy ta Nhân Quả này nghe khó hiểu hơn rất nhiều nhưng nó là Chánh đạo, là sự thật!
Nhân nào Quả nấy là như thế nào? Ví dụ khi ta trồng ớt thì ta phải có được trái ớt, ta trồng được hạt dưa thì ta có được trái dưa, ta trồng cà phê thì ta hái hạt cà phê. Cũng vậy, ta gieo xuống cuộc đời này hạt thương yêu thì cuộc đời ta gặp toàn thương yêu, đi đến đâu cũng được người ta thương yêu. Khi ta gieo hạt giúp đỡ thì mình sẽ hái được trái giúp đỡ, nghĩa là mình thấy ai khổ mình đến giúp, mình thấy ai bệnh mình phụ chữa bệnh người ta thì khi mình đi đến đâu cũng sẽ được người ta giúp đỡ, người ta không bỏ mình.
Ví dụ mình có việc gì đó mà lại bị lỡ đường, xe bị bể bánh, hết xăng, đứng chơ vơ giữa đồng ruộng, bụng thì đói, hoàn cảnh như vậy nhưng do phước mình đã gieo khi giúp đỡ hàng xóm trong buôn làng nên giờ trổ ra Quả báo khiến cho tự nhiên có người chạy qua hỏi mình “Anh làm sao mà đứng đó, trời thì bắt đầu tối, anh có vẻ xanh xao,…” Họ biết hoàn cảnh mình và giúp đỡ đưa mình về tới nhà. Như vậy, do mình gieo hạt giúp đỡ mọi người nên ngày nay mình được người khác giúp lại!
Quý Phật tử có mua vé số chưa? Có trúng số lần nào chưa? Nếu mình lỡ trúng số thì có phải ông trời cho mình trúng không? Không phải! Đó là tại Nhân gì đó mình đã gieo, hạt giống nào đó mình đã trồng dưới đất ngày xưa, khi mình thấy ai khổ quá mình đã đem cho người ta tiền hoặc trong làng mình có cái ổ gà, người ta đi ngang qua lại cứ bị té hoài, bữa đó mình không đi làm rẫy nữa mà lấy đất lấp cái hố đó lại cho con đường nó bằng phẳng để người ta đi qua đi lại bình an không té. Nhờ có một lần mình đã làm điều tốt nên mua vé số được trúng.
Nhân Quả đó là của chính mình, Phật cũng không cho mình, trời cũng không cho mình mà đó là luật Nhân Quả công bằng.
Ta gieo hạt gì ta sẽ hưởng trái đó, đó lá Chánh đạo.
Nhưng Chánh đạo này rất là khó hiểu. Ví dụ có một lần mình thấy hai người gây lộn với nhau rất ghê, có thể đánh nhau, mình đến can ngăn nhưng cuối cùng lại bị người ta đánh cho 2 cái. Mình nghĩ can người ta là tốt nhưng tại sao lại bị người ta đánh? Đây là do Nhân Quả mình đã gieo, đời xưa nào đó hoặc là kiếp trước cũng có một lần mình đánh ai đó 2 cái cho nên kiếp này mình can người ta đừng đánh lộn nhưng bị người ta đánh lại. Cho nên cái gì cũng có Nhân có Quả, mà Nhân Quả kéo từ nhiều kiếp, từ kiếp này qua kiếp kia.
Kiếp này qua kiếp kia là sao? Nghĩa là khi cha mẹ sanh ta ra bồng trên tay, chúng ta lớn lên từ từ rồi già chết là một kiếp. Nhưng một kiếp không phải là hết mà trước kiếp này ta cũng đã từng có một kiếp, ta cũng được sinh ra, lớn lên rồi già chết. Cứ hết kiếp này đến kiếp khác, ta được sinh ra, lớn lên già rồi chết. Điều đó đạo Phật gọi là luân hồi tái sinh. Ta cứ tái sinh từ kiếp này qua kiếp kia mãi như thế và đó là luân hồi vô tận rất là buồn chán. Mà trong luân hồi đó ta gieo Nhân nào lại gặt Quả đó… Nhưng kiếp này tái sinh qua kiếp kia rất là khó hiểu vì Chánh đạo là khó hiểu! Còn những ai giảng đạo cho ta nói những cái gì đơn giản, dễ hiểu coi chừng cái đó không phải Chánh đạo mà rất dễ rơi vào Tà đạo. Cho nên ai nói gì dễ hiểu quá ta đừng tin, mà phải hiểu Chánh đạo có gì đó khó khó đằng sau!
Ví dụ khi có ai đem tiền, đem gạo đến cho ta. Ta hãy suy nghĩ sao lại dễ như vậy, ở đâu có người đem gạo, đem tiền đến cho mình, nói thương mình? Cuộc đời không dễ như vậy! Chánh đạo không dễ như vậy! Ta phải cẩn thận vì đằng sau đồng tiền, bao gạo đó còn có cái gì nữa hay không? Cái phía sau đó mới là cái đáng sợ, mới là cái quan trọng mà ta phải hết sức cẩn thận! Cũng vậy, nếu ta trồng hạt giống thù ghét sẽ mọc lên cây thù ghét và ra trái thù ghét, nghĩa là nếu trong đời của ta, ta ghét người này, ghét người kia thì sau này khi đi đâu cũng bị người khác ghét bỏ mình bởi vì mình đã nuôi thù ghét ở trong lòng.
Nếu có người nào đó đến xúi ta, nói rằng: mình là người dân tộc, mình phải ghét người Kinh. Nếu ta tin theo họ, ta đã gieo hạt giống thù ghét xuống đất, hạt sẽ mọc lên cây thù ghét, mai mốt ta sẽ ăn trái thù ghét, nghĩa là đời ta đi đâu cũng bị người ta xua đuổi, thù ghét mình. Nếu ta gieo hạt giống đánh giết thì nó mọc lên cây đánh giết, nó sẽ mọc lên cây đánh giết, mai mốt ta sẽ phải ăn trái đánh giết đó, nghĩa là nếu ta hung hăng dữ tợn, gặp ai cũng đánh hoặc là tay ta cầm dao ta chém người nào, tay ta cầm súng bắn người nào, ta cầm trái nổ để quăng vào chỗ nào đó để ta giết người thì như vậy ta đã gieo hạt giống đánh giết xuống, sau này ta phải ăn trái đánh giết đó nghĩa là chính ta, gia đình ta sẽ bị khiến có người khác chém ta, bắn ta bù lại để trả lại Quả báo đó. Vì vậy, người đệ tử Phật không bao giờ được gieo Nhân đánh giết, không bao giờ mình cầm dao, cầm súng để bắn giết ai hết.
Lúc nào ta cũng nói chuyện bằng pháp luật, nói chuyện với nhau bằng tình thương yêu, có chuyện gì khúc mắc không bằng lòng với nhau thì gặp nhau mà bàn. Ví dụ như “bữa hôm trước con bò của tui qua nhà anh sao mà không biết giờ nó bệnh chết, giờ anh phải đền cho tui”, mình chỉ nói chuyện với nhau vậy thôi chứ không được cầm dao qua nhà người ta bắt đền con bò chết hôm trước rồi chém, giết người ta.
Không được gieo Nhân đánh giết một cách thô bạo mà phải bằng lời nói “không biết con bò nhà tui qua nhà anh rồi bị sao, giờ anh đền con bò cho tui”. Ban đầu người kia sẽ cãi “tui đâu biết, con bò nhà anh bịnh chết, sao anh qua đây bắt đền tui?”, nếu hai bên nói chuyện với nhau không được thì mình nên nhờ một già làng, một người lớn tuổi đứng ra phân xử dùm để xử làm sao cho công bằng chứ tuyệt đối không được cầm dao, cầm cây qua đánh người ta, vì như vậy là mình đã gieo Nhân đánh giết, sau này đi đâu mình cũng sẽ bị người ta đánh, người ta đập, người ta giết và đó là điều hoàn toàn không tốt tí nào. Đó là đau khổ! Vì vậy, mình không bao giờ được cầm vũ khí để đánh người, để giết người.
Tệ nhất là nếu người nào đó đưa cho mình khẩu súng, họ chỉ cho mình cách bắn, họ nói mình “Tập bắn đi! Ban đầu bắn thú rừng, sau này tìm người nào đó mà bắn!” thì đó là người cực ác, người đó là người rất ác độc, những người như vậy mình không được giao tiếp với họ, nếu cần mình phải báo chính quyền. Và ở giữa cuộc đời này có một người gieo Nhân đánh giết, xúi người ta giết nhau, đó là một người ác. Ta không được như vậy! Ta là đệ tử Phật, ta không được đánh giết ai! Ta là công dân của nước Việt Nam, ta chỉ muốn sống trong hòa bình, trong thương yêu, ta không bao giờ dại khờ mà gieo Nhân đánh giết lẫn nhau làm cho đời đau khổ và làm cho chính ta sau này sẽ bị Quả báo đau khổ.
Cũng như nếu ta gieo hạt giống đoàn kết, nó sẽ lên cây đoàn kết, mọc trái đoàn kết và ta sẽ hưởng trái đoàn kết đó cả đời. Nghĩa là nếu ta thấy ai chia rẽ, người này ghét người kia, người kia ghét người nọ, ta hãy đến và nói thế này “Sống trên đời, đừng ghét nhau, con người phải biết thương nhau, ở trong cùng làng cùng xóm là phải biết thương nhau, mà người khác làng cũng phải biết thương nhau, cả đất nước này phải thương nhau, phải đoàn kết với nhau, đừng ghét nhau, đừng chia rẽ với nhau”.
Nếu ta kêu gọi mọi người thương yêu nhau, đoàn kết với nhau như vậy, sau này ta hưởng trái phúc, ta hưởng trái đoàn kết là bạn bè ta đông vui, đi đâu ta cũng gặp người đông vui với mình chứ không bao giờ phải sống heo hút, cô độc. Ví dụ, có ông kia, miệng rất xấu, đi đâu cũng chia rẽ người ta, qua nhà người này nói xấu người kia, qua nhà người kia nói xấu người nọ, ông làm cho cả làng ghét nhau, không ai chơi với ai hết, tức là ông gieo Nhân chia rẽ, cô độc làm mọi người ghét nhau, không ai muốn nhìn mặt nhau hết. Lần đó, Quả báo đến với ông, ông nghe người ta rủ lên thuyền, ra biển chơi rất là thú vị, ông mua vé mất mấy triệu đồng; không ngờ Quả báo đến lúc trổ ra, bão tới đánh vỡ tàu, mỗi người trôi không sao, bão lắc làm tàu nghiêng, những người khác người ta bám vào tàu cứu được, ông đứng trên boong tàu, bão tới thổi ông bay xuống biển và còn bay thêm cái phao, ông ôm cái phao, trời gió bão làm tàu bay đi mất, ông ngồi bập bềnh trên phao trôi dạt vào một hoang đảo ở một mình trên đó. Trên hoang đảo đó, không một bóng người, ông phải đi tìm mạch nước, hứng nước mưa uống, bắt ốc ăn tầm bậy tầm bạ sống qua ngày. Mãi cho đến bốn năm sau, ông gầy yếu gần chết, mới có tàu đi ngang, ông kêu cứu, người ta thả phao vào cứu ông, ông phải trả Quả báo đó 4 năm như vậy là vì trong thời gian sống ở buôn làng ông đã làm người ta chia rẽ nhau.
Chúng ta cũng vậy nếu như mình gây chia rẽ làm người này ghét người kia, người kia ghét người nọ thì sau này ta cũng phải trả Quả báo là phải sống cô độc nơi rừng sâu, nơi hoang đảo. Còn nếu ta kêu gọi mọi người yêu thương nhau thì sau này bên cạnh ta lúc nào cũng có bạn bè yêu thương, cuộc sống ta tràn đầy niềm vui.
Nếu ta là cha, là mẹ, có con cái thì cũng phải dạy con mình Chánh đạo, mình nói rằng “Con bị chuyện gì xui thì đừng đổ thừa cho ông trời, ông trời không làm gì hết, mà con phải biết rằng xui hay hên là do Nhân Quả mà con đã gieo. Vì vậy con phải gieo hạt giống tốt để đời con được Quả báo tốt, con phải xúi mọi người thương yêu nhau, con phải giúp đỡ mọi người trong làng, trong xóm mình”.
Khi mình dạy con mình như vậy thì cuộc đời con mình sau này hạnh phúc, sung sướng. Chứ nếu thương con mình mà nghĩ rằng “mình để cho con mình nhiều mẫu rẫy, để cho con mình nhiều tiền” nhưng thật sự khi không để cho con mình trồng cây lành thì nó sẽ không được hưởng trái lành, dù để bao nhiêu đất nó cũng sẽ bán hết, dù mình có để tiền bao nhiêu nó cũng đánh bài hết. Vì vậy, thương con là biết dạy con Chánh đạo, đó là gieo Nhân gì sẽ hưởng Quả đó, phải gieo hạt thương yêu để được thương yêu, phải gieo hạt giúp đỡ để đi đâu nó cũng được giúp đỡ, phải gieo hạt đoàn kết để được đoàn kết, thương yêu chứ không bị sống cuộc đời lẻ loi, cô độc.
Bây giờ, sau một ngày ta lao động vất vả, ta ngoài đồng cuốc đất, trồng cây, nhặt củi, … làm việc rất vất vả. Đêm xuống ta trằn trọc không ngủ được, qua hôm sau ta sẽ rất mệt vì ngủ ngon mới có sức khỏe để nuôi gia đình, ông bà, vợ chồng, con cái ta. Mà tại sao lại không ngủ được? Có phải vì ta trồng cà phê không? Bởi vì Nhân nào Quả đó, trồng cây ‘làm người ta mất ngủ’ nên giờ mình không ngủ được! Nhưng có một điều làm ta mất ngủ dễ sợ, đó chính là tâm thù ghét!
Ta ghét người, ta sẽ không ngủ được, còn khi ta thương người đêm ta sẽ ngủ ngon. Mỗi tối khi đi ngủ, mình nên nhớ trong đầu lúc nào cũng “mình thương yêu hết tất cả mọi người”, như vậy mình sẽ chìm vào giấc ngủ ngon lành. Ông bà mình cũng có dạy:
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng”
Nhiễu là tấm vải, điều là màu nâu, nhiễu điều ở đây có nghĩa là một tấm vải màu nâu. “Nhiễu điều phủ lấy giá gương”, thường bàn thờ ông bà ta có để một tấm gương, trên bàn thờ có treo một tấm vải màu nâu lên trên đó tức là khi ta nhìn lên bàn thờ tổ tiên ta có che một tấm vải màu nâu có nghĩa là tượng trưng cho ông bà tổ tiên ta, đất nước ta, Tổ quốc ta, mọi điều thiêng liêng trong đời của ta ở đó nên ta phải nhớ một điều “Người trong một nước phải thương nhau cùng” cho nên dù là người Kinh hay người dân tộc, ta đều là người Việt Nam, ta cùng ở chung trong đất nước này, đó là đạo lý từ ngàn xưa để lại, đó là đạo lý từ lương tâm của ta thôi thúc ta, ra lệnh cho ta. Cho nên trong cuộc sống này, có khi người đồng bào dân tộc ta có những điều khó khăn, có những điều chưa biết thì người Kinh phải có trách nhiệm hướng dẫn, giúp đỡ cho đồng bào dân tộc ta làm ăn, mua bán chứ đừng bao giờ mà ép mua rẻ, bán mắc.
Lúc nãy, ta nói người chết rồi chưa phải là hết mà phải chờ bao nhiêu năm để đầu thai qua kiếp khác, sanh ra làm em bé rồi già chết, ta cứ tái sinh luân hồi vậy hoài, như vậy ông bà ta khi chết rồi là chưa hết mà cứ lẩn quẩn đâu đó, vô nhà hay ra ngoài sân, cha mẹ ta chết rồi có khi đầu thai qua làng bên cạnh mà mình không biết được, con mắt mình không thấy được mà chỉ có những người đắc đạo, các bậc Thánh mới thấy được. Nhưng trong khi ông bà ta chưa đi đầu thai thì ông bà cha mẹ ta còn ở gần bên ta, vì vậy ta cần phải thờ cúng ông bà cha mẹ ta, trong nhà ta phải có bàn thờ tổ tiên. Ngoài thờ Phật, phải có bàn thờ tổ tiên, trong mỗi bữa ăn phải có một chén cơm nhỏ nhỏ, gắp một ít thức ăn và khấn “mời ông bà, cha mẹ về ăn cơm với con”, đó là để bày tỏ lòng hiếu thảo của ta mà cũng là thực tế khi ông bà ta chưa đi đầu thai chắc chắn đang ở đâu đó. Đó là Chánh đạo!
Cho nên nếu ta dẹp bàn thờ tổ tiên, dẹp bàn thờ Tổ quốc thì ta là Tà đạo! Nếu trong nhà ta chưa có bàn thờ tổ tiên ông bà, phải lập bàn thờ tổ tiên để cho ông bà cha mẹ ta dẫu mất rồi vẫn thấy vui lòng, vẫn thấy ấm lòng vì biết con cháu mình vẫn thương, vẫn nhớ, vẫn kính mình. Chứ đừng có kiểu cha mẹ mình mất rồi, mình không thèm thờ cúng. Đó là con bất hiếu. Sau này, mình mất rồi, sẽ bị Quả báo lặp lại, con cháu mình bỏ bê mình, không thờ cúng mình, không cho mình ăn, mình phải làm con ma đói. Mình cũng chỉ cần cúng ngày một lần vào bữa ăn chính là buổi trưa, không cần cúng buổi sáng và tối, đó là tục lệ thờ cúng mà cũng là Chánh đạo!
Bây giờ, trong gia đình ta nên có bao nhiêu người con? Sau này, Nhà Nước mình thấy rằng gia đình nào đông con thì gia đình đó nghèo khó, vì nuôi một đứa con rất cực khổ, phải cho nó ăn, phải nuôi dạy nó thành người. Mình đông con quá thì sẽ nuôi dạy không xuể, bỏ nó lăn lóc nên nó ốm nhom nhách, nuôi không đành hoàng, dạy không đàng hoàng nên nó không biết đến Chánh đạo. Cuộc sống con mình sai lầm, không có hạnh phúc thì mình cũng đau khổ, cũng buồn theo. Nên chỉ cần ít đứa nhưng nuôi dạy cho đàng hoàng, phải dạy cho nó Chánh đạo để nó sống cho đàng hoàng, và nhờ vậy, sau này nó hạnh phúc, giàu sang thì mình cũng được vui lây.
Khi Nhà Nước thấy đông con làm gia đình nghèo nên Nhà Nước mới nói “Thôi, nhà mình sanh 2 đứa thôi để dễ nuôi, dễ dạy”. Mình dạy con mình thế này: “Con phải biết trồng cây phước đức để sau này con được hưởng trái phước đức, con phải thờ ông bà vì có hiếu với ông bà thì ông bà mới phù hộ, con phải thờ Phật để Phật dạy cho mình Chánh đạo. Hàng xóm cất nhà, con phải qua con phụ với người ta, sống trên đời phải có tình làng nghĩa xóm, con đường ở làng mà có hư thì con không cần phải đợi ai rủ, ai nhắc nhở, con phải ra sửa lại cho bà con mình được đi an toàn chứ không thôi, buổi đêm tối trời, người ta không thấy đường chạy xe, sẽ bị té ngã tội nghiệp”.
Người mà thấy đường bị hư, bị ổ gà vội ra lấp lại thì sau này sẽ không bao giờ bị tai nạn, cuộc sống sẽ luôn luôn được nhiều may mắn, hạnh phúc.
Thấy cái cầu đi qua suối mà bị hư thì phải bắc cầu qua suối cho người ta đi, phải bắc cầu cho chắc, cho an toàn chứ không được để dang dở giữa chừng vì khi mình làm dở dang thì sau này khi đi máy bay sẽ bị rớt giữa chừng. Cho nên mình phải bắc cầu đến nơi đến chốn và cho mọi người được đi an toàn, làm điều lợi ích như vậy thì những người đó sẽ được Quả báo sau này đi đâu hay được đi bằng máy bay, và đi cũng an toàn chứ không bị rớt máy bay giữa chừng. Nếu mình xây cầu lớn một chút thì sau này sẽ được Quả báo có máy bay riêng luôn.
Khi mình phụ cất nhà cho hàng xóm sau này mình sẽ được nhà cao cửa rộng! Còn những người phụ cất chùa cũng rất có phước vì chùa là nơi thờ Phật, là nơi quý thầy quý cô ở, là nơi Phật tử đến đây tu hành, sau này họ sẽ xây được nhà lầu. Cho nên ai ở đây mà có nhà lầu thì phải biết rằng trong kiếp xưa mình đã từng phụ giúp cất chùa. Đây là điều chắc chắn đúng, vì đó là Nhân Quả! Cho nên mình cần phải dạy cho con mình làm những điều phúc thiện và dạy con mình yêu nước.
Con mình từ nào đến giờ không biết đến đất nước Việt Nam của mình lớn như thế nào, lịch sử của 4.000 năm cha ông mình đã dựng lên như thế nào, đã bảo vệ đất nước này hào hùng như thế nào cho nên là cha mẹ ta phải dạy “Nè con! Đất nước Việt Nam ta rộng lớn chứ không chỉ có cái làng của ta đây, không chỉ có cái Đắc Lắc, cái Buôn Mê Thuộc này mà thôi, không phải chỉ có Đắc Nông, Gia Lai này mà thôi, mà nó từ miền Bắc xa xôi đến miền Nam thăm thẳm. Khi nào lớn lên, con có tiền, con hãy đi một chuyến thăm đất nước của mình, con hãy đến miền Bắc thăm thủ đô Hà Nội, về đến miền Nam thăm thành phố Hồ Chí Minh, về đến mũi Cà Mau xem mảnh đất cuối cùng của Tổ quốc, con sẽ thấy đất nước mình lớn lao, tươi đẹp như vậy và chúng ta là con của đất nước này. Một đất nước yêu thương mà cha ông ta đã phải khó khăn giữ gìn, xây dựng thì ngày nay ta cũng phải thương yêu, giữ gìn, xây dựng đất mước này cho con cháu ta được sống trong hòa bình, trong thịnh vượng”.
Phải dạy con mình tấm lòng yêu nước như vậy! Vì sao? Vì có những kẻ ác độc, Tà đạo đến xúi giục ta đừng yêu nước. Và trước khi những kẻ này đến xúi giục con ta, ta đã kịp dạy con ta lòng yêu nước, yêu đồng bào “người Kinh ở kia cũng là đồng bào với ta, người dân tộc ở đây cũng là đồng bào với ta người Việt Nam ở xa xôi miền Bắc cho dù ta chưa bao giờ gặp cũng là đồng bào của ta, người ở miền Nam xa xôi ta chưa bao giờ đặt chân tới cũng là đồng bào của ta, đất nước ta như thế, dân tộc ta như thế, đồng bào ta như thế, anh em ta như thế, con phải biết thương yêu đồng bào mình, đất nước mình”. Như vậy, khi có bất cứ ai xúi giục con ta làm điều ác, con ta sẽ không làm những việc Tà đạo, sai lầm được.
Phật dạy ta thế này: “Có những điều mắt ta thấy được, nhưng tâm ta bên trong không thấy được”. Thấy cái tâm mới khó, chứ mắt ta thấy bên ngoài rất dễ. Ví dụ như có con đường bị hư, mắt ta nhìn thấy ngay, thế là ta sửa lại cho bằng phẳng, mọi người dễ đi. Hay nóc nhà ta dột ta nhìn thấy được nên ta lấy tranh ta che lại cho đừng bị dột nữa, cái cây ngã xuống chận đường đi ta cùng rủ mọi người kéo cây qua một bên để thông con đường cho mọi người dễ đi, cái áo ta rách ta vá lại… Cái sai ở bên ngoài thì mắt ta thấy được, ta sửa được nhưng tâm ta thì ta không thấy, mà cái tâm ở đây mới khó. Hễ tâm ta ác, tâm ta xấu thì ta sẽ là con người xấu, con người ác, ta làm điều bậy bạ để sau này ta bị mắc Quả báo đau khổ, cho nên Phật dạy ta phải biết nhìn trong tâm mình để sửa cái tâm mình, cái mà ta không thấy nhưng ta biết ta sai chỗ nào, đúng chỗ nào để ta sửa cho chính xác. Đó là cái rất là khó!
Ở đây, ban đầu ta làm phước bên ngoài, cái gì sai ta thấy ta sửa nhưng Phật dạy ta phải tu ở trong tâm. Cho nên khi ông trời xuống quỳ trước Phật và thỉnh Đức Phật thuyết pháp thì Phật mới nói là “Giáo pháp này, Chánh đạo này rất khó hiểu! Bởi vì nói chuyện ở trong tâm, trong trái tim mình, trong lòng mình mà những cái đó mắt không thấy, chúng sinh không thấy thì không sửa được”.
Ông trời mới nói thế này: “Kính thưa Thế Tôn! Tuy tâm này không thấy được, rất là khó thấy để sửa được nhưng có nhiều chúng sinh có trí tuệ có thể thấy được, có thể sửa được. Cho nên xin Phật hãy giảng dạy giáo pháp để chúng sinh nhìn thấy tâm mình và sửa”.
Hôm nay khi ta ngồi nói với nhau về Chánh đạo và Tà đạo thì ta cũng phải nhắc lại lời Phật dạy để biết sửa ở trong tâm mình. Ví dụ tâm mình có cái nóng nảy là mình hay nổi xung lên chửi mắng, còn tâm mình có cái hiền lành là ai nói nặng nhẹ gì mình cũng không giận, mình cười trả lời nhỏ nhẹ. Nhìn vào tâm mình, mình phải biết là nóng nảy hay hiền lành, mỗi khi nóng lên có biết đó là nóng nảy, là sai không? Có dễ thấy tâm mình không ạ? Rất khó thấy, đúng như vậy!
Người nào mỗi khi giận lên biết tâm mình đang nóng, tâm mình đang giận, tâm đó sai, bỏ liền thì đó là người con ngoan của Phật, người đệ tử giỏi của Phật. Vì sao vậy? Vì người con ngoan của Phật, người đệ tử giỏi của Phật là người thấy được tâm mình, tâm mình như thế nào thấy đúng như vậy để kịp thời sửa liền. Cho nên, trí tuệ của một người đệ tử Phật xuất sắc là thấy được tâm mình! Ngay lúc nó vừa sai là thấy, sửa được liền, ví dụ người ta nói mình, mình nóng lên định chửi người ta, mình biết “à, tâm tui đang nóng đây, tui đang muốn chửi người ta đây, tâm này sai rồi, bỏ xuống, bỏ xuống, bỏ xuống”, nghĩa là mình bỏ cái nóng giận lại, chỉ cười trả lời nhẹ nhàng.
Ví như có người nào đó đập cửa nhà mình nói là sáng nay họ đi vắng, nhà họ bị mất gạo rồi nghe người này người nọ nói là mình lấy nên giờ họ qua đập cửa nhà mình mà đòi, trong khi mình đâu có ăn cắp đâu, mình là đệ tử Phật mình đâu có ăn cắp, mình biết ngay là người này đang nói bậy, ngay lúc đó mình nổi nóng lên định chửi lại rồi nhưng mình biết nóng lên chửi lại là cái sai, Phật dạy “phải nhìn thấy tâm mình”, mình thấy tâm mình nóng lên nên mình dằn xuống, buông xuống, bỏ xuống, mình mới trả lời rằng: “Anh bớt giận, tui không có ăn cắp của anh” trong khi ông kia cứ chửi tiếp: “Mày ăn cắp của tao, có người nói cho tao biết”, mình mới nói: “Đừng! Anh đừng giận! Tui là đệ tử Phật, tui không có ăn cắp của ai. Nếu nhà anh kẹt quá không có gạo tui sẽ chia bớt phần gạo cho anh nấu bữa nay, chứ tui thề với Đức Phật, tui không hề ăn cắp của ai, đây là bàn thờ của ông bà tui, tui thề với ông bà tui là tui không hề ăn cắp của ai”. Nói nhỏ nhẹ lại và người kia dịu xuống và cái phước của mình sẽ lớn lên, mình được trời Phật thương mình, phù hộ cho mình.
Còn khi mình nóng lên mà mình không biết mình nóng, mình chửi lại người ta, mình đánh lại người ta thì ông trời, Phật bỏ mình luôn, không thương mình nữa. Nên vì vậy phải nhìn thấy cái tâm của mình, phải sửa tâm nóng giận của mình thành tâm hiền lành.
Ví dụ tâm tham lam cũng vậy, mình thấy người ta mua được một chiếc xe đẹp, mình cũng muốn có chiếc xe nhưng thay vì làm ăn, dành dụm để có tiền mua xe, còn ở đây mình muốn cướp chiếc xe của người ta, ở đây khi mình khởi tâm đó lên thì mình là muốn giành chiếc xe của người ta thì đó là tâm tham lam, tâm ác, cái tâm đó vừa khởi lên ở trong bụng mình là mình bỏ liền, thấy liền, bỏ xuống, mình nói “không được tham lam tài sản của người khác, nếu muốn tự mình làm mà có, đừng tham, bỏ cái tâm tham lam đó xuống liền” thì ngay khi cái bụng mình vừa tham bỏ liền thì ở trên ông trời, Đức Phật thấy liền và thương mình. Cho nên ta phải thấy được tâm mình, người nào thấy được tâm mình thì người đó có trí tuệ!
Ví dụ trong làng trong xóm có người kia bệnh, có người nọ nghèo, con đường nọ hư, mình không để ý. Hỏi sao mình không để ý? Nói tui mắc đi làm ăn, tui mắc làm rẫy, tui mắc làm kiếm tiền nuôi gia đình tui nên tui không để ý, ai bệnh kệ, ai nghèo kệ, đường hư kệ thì mình biết nagy người này bị tâm ích kỷ. Tâm ích kỷ là tâm chỉ biết cho mình, chỉ lo cho mình mà không quan tâm đến những người xung quanh mình, đó là tâm xấu nên ta phải nhìn thấy liền.
Nếu ta sống qua một thời gian mà chỉ thấy mình chỉ lo cho mình, không lo cho ai hết, nhà kia hàng xóm bệnh mà sao mình không qua thăm, nhà kia làm hoài mà không thấy có ăn, quần áo rách rưới mà sao mình không qua thăm, mình biết như vậy tâm mình còn ích kỷ, bụng mình còn hẹp hòi, như vậy mình mới sửa mình , bỏ đi tâm xấu, mình đến chùa lạy Phật “bụng con nào giờ ích kỷ, chỉ biết lo cho bản thân, cho gia đình mà không quan tâm đến người bà con, làng xóm cho nên hôm nay con xin sám hối là từ giờ cái bụng con sẽ không hẹp hòi nữa mà từ đây bụng con sẽ mở lớn ra cho hết làng hết xóm này, con sẽ để ý đến những người chung quanh con sống như thế nào, ai nghèo thì con sẽ tới hỏi thăm, nếu giúp được gì thì con sẽ giúp, người bệnh thì con sẽ tới hỏi thăm xem con có thể đi hái thuốc hoặc mua thuốc được về cho người ta hay không hoặc nếu nhà người ta không có ai thì con sẽ đến nhà người ta nấu dùm người ta miếng cơm, miếng cháo” khi mình lạy Phật và nói như vậy thì mình dần không còn ích kỷ nữa, mà sẽ tốt lên từ từ. Đó là thấy được cái tâm mình để mà sửa!
Hoặc trong làng mình có một người đi học, lâu lâu về thăm nhà, người ta ghé qua thăm mình mà trong lòng mình ghét người đó vì người ta thì được đi học trong khi mình phải làm rẫy vất vả, mình nghĩ xấu cho người ta. Nhưng vì mình là đệ tử Phật nên khi tâm ghét của mình vừa khởi lên, mình thấy liền và biết cái ghét này là cái sai, Phật dạy mình không được ghét ai, ai mình cũng phải thương, con cháu mình đi học ở xa mình phải cầu cho nó học giỏi, học thành tài để nó được thành bác sĩ, kỹ sư. Mình phải dặn lòng “phải thương, phải thương, không được ghét”. Cho nên người nào thấy được tâm mình, thấy được tâm mình thì người đó có trí tuệ! Những người này khi chết sẽ được lên cõi trời!
Miệng của ta là nơi để ta đưa vào, đưa ra. Ta đưa vào thức ăn, nước uống nhưng đưa ra điều gì? Bây giờ nếu ta nói xấu người khác, nếu ta chửi bậy, nếu ta phản lại đạo của mình, nếu ta phản lại đất nước của mình ta sẽ đưa ra tội. Nếu ta bảo mọi người thương yêu nhau, chúng ta kêu gọi mọi người tin Nhân Quả, gieo Nhân gì gặt Quả đó, nếu ta kêu gọi mọi người hãy thờ kính Phật, thờ ông bà thì ta đưa ra phước. Có người chỉ đưa ra cái tội, còn ta là đệ tử Phật, dứt khoát ta chỉ đưa ra những phước, không đưa ra tội, chỉ nói những điều tốt tốt đẹp, kêu gọi mọi người thương yêu nhau, giúp đỡ nhau, tin vào Nhân Quả.
Tay ta cũng đưa vào và đưa ra. Ví dụ như tay ta đưa tiền vô, đưa ra có khi tội có khi phước. Nếu tay ta cầm súng, cầm dao giết người thì tay này đưa ra tội mà hễ khi tay này đưa ra tội thì kiếp sau ta bị chặt tay, không có tay nữa vì tay này phí lắm, vì tay này đã cầm đồ bậy bạ, còn những người nào mà tay chỉ làm điều phước, không bao giờ cầm vũ khí, tay này chỉ để bắc cầu cho người ta đi, chỉ để đắp đường, chỉ để chắp tay lại để mà lạy Phật thì người này mang phước ra cho cuộc đời, người này sẽ đời đời được giàu sang sung sướng, chết được lên cõi trời. Đó là Chánh đạo!
Ta nhớ thế này, người mà cùng là người Việt Nam ta gọi là đồng bào, người cùng đạo Phật ta gọi là đồng đạo. Như vậy, chúng ta ngồi đây có thể tay ta không có đồng tiền, tay ta không có đồng hồ nhưng chắc chắn chúng ta có 2 cái đồng, đó là tình đồng bào, đồng đạo ngồi chung quanh ta, và đó chính là niềm thương yêu, là hạnh phúc của ta trong suốt cuộc sống này và đó là Chánh đạo mà ta muốn nói với nhau. Nếu người nào yêu thương được hết đồng bào của mình, yêu thương được hết đồng đạo cảu mình thì người đó là người đi theo con đường Chánh đạo, khi chết rồi sẽ được đầu thai vào làm con torng 1 gia đình giàu có sung sướng hoặc sinh lên cõi trời. Còn người nào không có đồng đạo, không có đồng bào, ghét người này, ghét người kia thì người đó chết rồi đi về nơi đau khổ, khi đầu thai cũng sẽ vào nơi đau khổ hoặc còn sống trên đời cũng là đau khổ.
Hôm nay, ta nói với nhau bài Chánh đạo, Tà đạo là để hiểu rằng cái Chánh đạo hay Tà đạo là do tâm mình, trong tâm mình không có thù ghét, trong tâm mình không có giận hờn, không có ích kỷ, đó chính là Chánh đạo. Ai trong tâm cũng giống như vậy thì đó là Chánh đạo! Ngay cả khi người nào đó nói thương ta nhưng ta thấy trong tâm họ còn thù ghét thì ta biết người đó là Tà đạo, trong đời của ta, ta chỉ đi theo Chánh đạo mà thôi, dứt khoát không đi theo con đường Tà đạo vì đi theo Tà đạo là đi về nơi đau khổ.
Hôm nay trong mùa đông đã về chúng ta có nhân duyên về chùa Bửu Thắng này, gặp nhau để nói với nhau về vài đạo lý yêu thương của Chánh đạo. Xin chúc cho quý Phật tử được nhiều sức khỏe, may mắn và hạnh phúc trong cuộc sống, luôn luôn vững bước đi trên con đường Chánh đạo, không đi lầm vào Tà đạo! Xin chúc cho sư cô trụ trì chùa Bửu thắng làm được nhiều Phật sự từ thiện có ý nghĩa để cho Phật tử được về đây nương tựa! Xin chúc cho tất cả chúng sinh yêu thương nhau và cùng đi theo Chánh đạo!
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

                                                                  THÍCH CHÂN QUANG (Phật Quang)

20. Thanh Gươm Pháp Hộ
Download

20(+1). Bát nhã tâm kinh
Download

21.Gia Đình
Download

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Mười Một 28, 2009 in Bài Giảng, Thích Chân Quang

 

Nhãn: ,