RSS

Category Archives: Vatican

Một Giám Mục Viết Về Vấn Nạn Cải Đạo Của Ki-Tô Giáo

 

Mt Giám Mc Viết V
Vấn Nạn Cải Đạo Của Ki-Tô Giáo

Trần Chung Ngọc trích dịch

3/42011

Vài Lời Nói Đầu:

Gần đây vấn nạn cải đạo của Ki Tô Giáo trên thế giới, trong đó có Việt Nam, đã làm nổi lên một số dư luận tỏ vẻ bức xúc và lo lắng cho tiền đồ Phật Giáo.  Nhưng sự kiện lịch sử là: qua bao thế kỷ, dù Ki Tô Giáo đã gia tăng nỗ lực cải đạo ở  Á Châu nhưng đã hoàn toàn thất bại.  Rõ ràng là Á Châu đã từ chối không chấp nhận Ki Tô Giáo.  Lý do chính là bản sắc văn hóa Á Châu và đặc biệt văn hóa Phật Giáo cao hơn nền văn hóa của Ki Tô Giáo nhiều.  Mặt khác với sự tiến bộ trí thức của nhân loại, Ki Tô Giáo không thể che dấu mãi bản chất “tà đạo”, “đạo chích”, “đạo dối”, “đạo bịp” của mình. 

 

Giáo sư Samuel P. Huntington đã nhận định trong cuốn “The Clash of Civilization” là trước đây Tây phương thắng Á Châu về khoa học, kỹ thuật chứ không phải là thắng về tâm linh.  Và ngày nay, ngay cả về khoa học kỹ thuật, Á Châu cũng không còn thua kém Âu Mỹ bao nhiêu.  Lý do chính thứ hai là những phương cách truyền đạo, cải đạo của Ki Tô Giáo thường là rất vô đạo đức trong khi người Á Châu rất tôn trọng đạo đức. 

Kiếm thêm tín đồ bằng cách cưỡng ép nhét Chúa vào đầu một người đang trong cơn hiểm nghèo bệnh tật, hay dùng của cải vật chất để mua tín đồ, hay tệ hơn nữa là từ bỏ gốc gác tổ tiên và các truyền thống văn hóa của dân tộc, trước sau gì cũng thất bại và bị đào thải.  Để nhận thức đúng thực chất vấn nạn cải đạo của Ki Tô Giáo và bỏ đi những lo lắng, chúng ta hãy đọc lại những nhận định của một Giám Mục về vấn nạn truyền bá phúc âm của Ki Tô Giáo trên thế giới.

Trong cuốn “Một Ki-tô Giáo Mới Cho Một Thế Giới Mới” [A New Christianity For A New World], Chương 10, từ trang 171 đến trang 184, với đầu đề “Vượt Qua Chủ Nghĩa Truyền Bá Phúc Âm Và Nhiệm Vụ Truyền Đạo Trên Thế giới Để Đi Đến Chủ Nghĩa “Hậu-HữuThần” Trên Toàn Thế Giới” [Beyond Evangelism and World Mission To a Post-Theistic Universalism], Giám mục John Shelby Spong đã viết về chính sách và kết quả truyền đạo của Ki-tô Giáo trên thế giới. 

 

Giám mục Spong đã phục vụ 45 năm trong Giáo hội Tân Giáo (Episcopal = Giáo hội Ki-tô Anh ở Mỹ) và ngày nay vẫn là một giám mục trong giáo hội này.  Ông là người có tư tưởng rất tiến bộ.  Những sách ông viết về Ki-tô Giáo nói chung đều thuộc loại sách bán chạy nhất.  Một trong những cuốn sách này có tên “Tại Sao Ki Tô Giáo phải Thay Đổi Không Thì Chết?” (Why Christianity Must Change or Die?). Giám mục Spong đã được mời lên TV nhiều lần để bày tỏ tư tưởng của ông, và đã được mời đến thuyết trình ở nhiều đại học.

Trong phần mở đầu của cuốn A New Christianity For A New World (Một Ki-tô Giáo Mới Cho Một Thế Giới Mới), Giám mục Spong đã đưa ra một loạt khẳng định về những điều ông ta không tin về Chúa Cha (God) cũng như về Chúa Con (Giê-su).  Tất cả những điều này nằm trong Kinh Thánh và trong giáo lý của các giáo hội Ki-tô (xem Phụ Lục của SH). Sau đây là vài khẳng định điển hình trích trong cuốn sách trên, trang 3-7:

“Tôi không định nghĩa Gót (God) như là một đấng (a being = một sinh vật giống như con người) siêu nhiên.  Tôi không tin vào một vị thần có thể giúp cho một quốc gia thắng chiến tranh, can thiệp và chữa khỏi bệnh tật của con người, thay đổi thời tiết để làm lợi cho bất cứ ai.  Tôi không nghĩ rằng điều thích hợp với tôi là phải giả bộ (to pretend) tin rằng những điều trên có thể xảy ra khi mà tất cả những điều tôi biết về sự xếp đặt thiên nhiên của thế giới mà tôi sống trong đó chứng tỏ là những điều trên không có thật.

Vì tôi không coi Gót như là một đấng, tôi không thể diễn giải Giê-su như là hiện thân dưới thế của vị thần siêu nhiên này, và tôi cũng không thể cho rằng ông ta có những quyền lực giống như của Gót (God-like power) để làm những phép lạ như làm yên một cơn bão tố, đuổi quỷ, đi trên nước, hay biến năm ổ bánh để cho 5000 người, cộng với đàn bà và trẻ con, ăn đủ.

Tôi không tin rằng cái ông Giê-su này có thể, hay thực sự đã làm cho người chết sống lại, chữa khỏi bệnh liệt đã chẩn định bởi y khoa, hay làm cho mắt người mù bẩm sinh sáng lại. Tôi cũng không tin là ông ta có thể làm cho một người khi mới sinh ra đã vừa câm vừa điếc nghe được.

Tôi không tin rằng Giê-su đi vào thế giới này bằng phép lạ sinh ra từ một nữ trinh, hoặc phép lạ này đã xảy ra bất cứ ở đâu trừ trong những huyền thoại.

Tôi không tin điều mà những người Ki Tô ăn mừng vào dịp Phục Sinh là sự hồi lại của thân xác Giê-su sau khi đã chết đi ba ngày, và tôi cũng không tin là đã có một ai nói chuyện với Giê-su sau khi Giê-su sống lại, cho ông ta ăn, sờ vào da thịt ông ta cũng như đi bộ cùng với ông ta.  Tôi cũng không tin là sự sống lại của Giê-su có những dấu hiệu như là động đất, sự loan báo của thiên thần, hay là ngôi mồ trống.

Tôi không tin rằng Giê-su, sau thời gian tại thế, đã trở về với Gót bằng cách bay lên thiên đường ở một chỗ nào đó trên những tầng mây.  Sự hiểu biết của tôi về vũ trụ ngày nay đã khiến cho quan niệm trên trở thành hoàn toàn vô nghĩa.

Tôi không tin rằng Giê-su đã lập nên một giáo hội hoặc ông ta đã thiết lập một hệ thống giáo quyền bắt đầu với 12 tông đồ và truyền thừa cho đến ngày nayTôi không tin rằng ông ta đã lập ra những bí tích như là những phương tiện ân huệ đặc biệt của Gót và những phương tiện ân huệ này là, và có thể là, bằng cách nào đó nằm trong vòng kiểm soát của giáo hội, và chỉ có thể thực hiện bởi các giáo sĩ.  Tất cả những điều trên đối với tôi chỉ là những toan tính của con người để tạo quyền lực cho mình và cho định chế tôn giáo riêng của họ.

Tôi không tin là con người sinh ra trong tội lỗi và rằng, trừ phi đã được rửa tội hoặc cứu rỗi bằng cách nào đó, họ sẽ bị vĩnh viễn không được hưởng nhan thánh Chúa.  Tập trung việc sa ngã của của con người vào trạng thái tội lỗi và dạy rằng tội lỗi này chỉ có thể cất bỏ bởi thần quyền khôi phục đời sống con người về tình trạng tiền-sa-ngã chưa bao giờ xảy ra, đối với tôi là những quan niệm kỳ lạ, chính là để phục vụ và tạo dựng quyền lực cho một định chế tôn giáo.

Tôi không tin rằng cuốn Kinh Thánh là những “lời của Gót”.  Tôi không coi nó như là nguồn mạc khải chính yếu của thần linh.  Tôi không tin là Gót đã đọc cho con người viết cuốn Kinh Thánh và ngay cả gây cảm hứng cho con người viết nó.  Đối với tôi, cuốn Kinh Thánh là sự pha trộn của trí tuệ cổ xưa của những nhà thông thái trong nhiều thế kỷ với những giới hạn về nhận thức của con người ở một thời điểm đặc biệt của lịch sử nhân loại.  Sự pha trộn này đã ghi vào lòng tin tôn giáo của chúng ta như là một chứng nhân lẫn lộn, tổ hợp nô lệ và giải thoát, bạo hành dị giáo và khám phá thần học, tự do và áp bức. “  1

 

Có lẽ chúng ta không thể không đặt câu hỏi: “Tại sao một Giám mục Ki-tô lại có thể bác bỏ hầu hết những niềm tin trong Ki-tô Giáo về Gót, về Giê-su, về Kinh Thánh v..v..”.  Đối với những đầu óc của đa số tín đồ Ki-tô Việt Nam thì lời giải thích có thể là Giám mục Spong là tay sai của Satan hay là tay sai của CS Việt Nam nhằm đánh phá tôn giáo.  Nhưng đối với giới hiểu biết trên thế giới thì những khẳng định của Giám mục Spong như trên không có gì là lạ.  Sự hiểu biết về vũ trụ, về con người, về thiên nhiên ngày nay đã không cho phép bất cứ người nào có đôi chút đầu óc còn tin vào những chuyện nhảm nhí của thời bán khai.  Thuyết sáng tạo cũng như quan niệm về Thiên đường và hỏa ngục như được viết trong Kinh Thánh đã bị chính Giáo hoàng John Paul II bác bỏ cuối thập niên 1990s.  Khi Giáo hoàng chấp nhận là “Con người có thể không phải là sản phẩm sáng tạo nhất thời của Thượng đế mà là hình thành sau một quá trình tiến hóa lâu dài” thì Giáo hoàng đương nhiên đã bác bỏ những thuyết hoang đường trong Ki-tô Giáo như “Tội tổ tông”, vai trò “chuộc tội” và “cứu rỗi” của Giê-su, đúng như nhận định của Giám mục Spong ở trên.  Sự chấp nhận trên của Giáo hoàng cũng cho chúng ta thấy cái chết của Giê-su trên thập giá cũng không khác gì cái chết của bao nhiêu phạm nhân khác cùng thời, bị hành hình trên thập giá, một hình phạt độc ác của La Mã.  Nhưng Giáo hoàng cũng biết rõ đầu óc của đám con chiên nên Ngài không mấy quan tâm đến vấn đề con chiên biết rõ sự thật và bỏ đạo.  Ngài biết rõ hơn ai hết là đa số con chiên của Ngài thuộc những thành phần thấp kém, đã bị nhồi nặn từ nhỏ, nên vẫn mơ tưởng đến một thiên đường trong một đời sau, nơi đây họ có thể hưởng nhan thánh Chúa, không cần biết đến chuyện Chúa đã chết gần 2000 năm nay rồi.

Đã có rất nhiều tài liệu nói về sự bành trướng của Ki-tô Giáo trên thế giới, nhưng phần lớn là của các học giả, chuyên gia nghiên cứu tôn giáo.  Rất hiếm khi mà chúng ta thấy một bậc lãnh đạo trong Ki-tô Giáo nói về bản chất và thực chất sách lược truyền đạo của Ki-tô Giáo.  Do đó, sau đây là phần trích dịch những đoạn liên hệ tới công cuộc truyền giáo của Ki-tô Giáo trên thế giới mà Giám mục John Shelby Spong đã viết trong cuốn A New Christianity For A New World .

Khi mà vị Thần trong quá khứ của chủ thuyết hữu thần đã bị bác bỏ thì những lời tự nhận về quyền lực nhân danh Thần đó cũng phải dẹp bỏ.  [Giáo Hoàng tự nhận là đại diện của Chúa trên trần, và các linh mục tự nhận là các “Chúa thứ hai”.  TCN]  Mục đích chính trị chính của những lời tự nhận về quyền lực này là để cho một định chế đặc biệt khẳng định là chỉ có định chế đó nắm giữ trong tay chân lý, và cho rằng những người nào không ở trong cộng đồng những người có cùng một đức tin đặc biệt đó thì bị lạc trong vòng tối tăm của những sai lầm của chính họ.  Những lời tự nhận về quyền lực này tăng gia áp lực cải đạo người khác vào trong cái định chế đó bằng cách hứa hẹn những người sắp cải đạo một phần thưởng “cứu rỗi” mà người nào không phải là “tín đồ sùng tín” hay ở trong “giáo hội chân thật” thì không thể nào được hưởng.  Hệ thống này vạch rõ cho tất cả những ai còn buồn ngó vào hệ thống này, là ai “ở trong” và ai “ở ngoài.”  Nó tạo nên một tâm cảnh hội tụ vào thông điệp của hệ thống tín ngưỡng của định chế cho đến khi nó đạt tới một cường độ nóng bỏng (a white-hot intensity).  Nó gây nên truyền thống hệ phái và riêng biệt, cho phép tôn giáo của một người nào đó cai quản mặc cảm thiếu sót của người đó.  Những lời khẳng định duy nhất “để cho Gót của tôi và truyền thống của tôi” (for my God and my tradition) đã là dấu chỉ đặc biệt của hệ thống tôn giáo chủ trương bành trướng và truyền giáo trên khắp thế giới.  Tất cả những chủ trương này đều sẽ phải dẹp bỏ trong công cuộc cải cách mới.

Cái tâm cảnh bộ lạc này nằm trong nội dung Kinh điển của mỗi hệ thống tôn giáo.

Trong Do Thái Giáo, những khẳng định trên được ghi trong 10 Điều Răn trong Kinh Torah (5 Kinh đầu trong Cựu Ước của Ki-tô Giáo. TCN): “Ta là Chúa, vị Thần của các ngươi đã mang các ngươi ra khỏi đất Ai Cập, ra khỏi vòng nô lệ.  Các ngươi không được thờ Thần nào khác trước mặt Ta” (Exod. 20:2) (I am the Lord your God who brought you out of the land of Egypt, out of the house of bondage.  You shall have no other gods before me)  [Chúng ta thấy rõ, Gót của Ki-tô Giáo mà tín đồ Việt Nam thờ phụng ngày nay chỉ là Gót của dân Do Thái mà thôi, tuyệt đối không dính dáng gì tới dân tộc Việt Nam cả. Vậy mà các tín đồ Ki-tô Việt Nam đã bị sách lược truyền giáo của Ki-tô Giáo mê hoặc, đi thờ một vị Thần của dân Do Thái, chỉ hợp với lịch sử của người Do Thái, phủ nhận nguồn gốc, tổ tiên, và cả quốc gia đã sinh ra mình và nuôi dưỡng mình.  TCN].  Hình phạt trong luật dành cho kẻ thờ Thần khác Thần Gia-vê là cái chết (Deut. 8:19).

Trong Hồi Giáo, tính cách duy nhất của Hồi Giáo được khẳng định trong câu ca thiêng liêng của Hồi Giáo: “Chỉ có một Gót Allah mà thôi và Mohammed là tiên tri của ông ta” (There is but one God [Allah] and Mohammed is his prophet).  Kinh Koran củng cố sự khẳng định này, biện minh cho những hành động tiêu cực đối với những người không phải là tín đồ Hối giáo là phù hợp với lời của Thần Allah.  Jihad là tên của những hành động đó.

Những khẳng định về tính cách duy nhất của Ki-tô Giáo thường được viện từ một câu trong Phúc Âm của John, một câu mà người ta cho là của Giê-su nói: “Ta là con đường, là sự thật và sự sống, không ai đến được với Cha Ta mà không qua Ta” (John 14: 6) [I am the way, and the truth and the life, no one comes to the Father but by Me].  Cái chủ nghĩa đế quốc này và những sự đau khổ tuôn ra từ một câu trên thật quá lớn lao để có thể đo được.

Cái tâm cảnh này cũng còn có trong khẳng định của hệ phái Công giáo nhiều hơn là Tin Lành, rằng nhận một số bí tích của Ki-tô Giáo thì “cần thiết cho sự cứu rỗi” (necessary for salvation).  Không có những bí tích đó, con người đã tự đánh mất mình, một số phận hiển nhiên là áp dụng cho toàn thể thế giới của những người phi-Ki-tô.  Số phận của những người không rửa tội đã được bàn cãi trong truyền thống Ki-tô suốt trong chiều dài lịch sử của Ki-tô Giáo, nhưng không một người nào trong cuộc bàn cãi này ủng hộ việc bao gồm những người không rửa tội vào trong sự cứu rỗi, do đó những người này là những kẻ không được vào trong vương quốc của Gót. “Không có sự cứu rỗi ở ngoài giáo hội”, một câu thường nghe thấy trong vòng các giáo sĩ.  “Giáo hội” (Church) trong câu trên rõ ràng có nghĩa là Giáo Hội Ca-tô Rô-ma chứ không phải là giáo hội chung cho mọi người (“Church” in this phrase clearly means the Roman Catholic Church, not the church catholic.) Đó là một tự nhận về quyền lực.

Về phía Tin Lành của Ki-tô Giáo, rửa tội thường được hoãn để dùng như một hình thức nhập đạo, nhưng những lời tự nhận về tính cách duy nhất, tuy khác với Công Giáo, vẫn thường được dùng.  Sự cứu rỗi trong truyền thống này đòi hỏi tín đồ phải “chấp nhận Giê-su là đấng cứu chuộc của riêng mình,” (accepting Jesus as one’s personal savior).  Do đó thiên đường chỉ để cho những ai khẳng định đức tin đó.  Mọi người khác đều sẽ không được cứu rỗi.

Những người không rửa tội và những người không chấp nhận Giê-su là đấng cứu chuộc cho riêng mình sẽ phải đối diện với một sự trừng phạt chung cùng là vĩnh viễn không được hưởng nhan thánh Chúa hoặc vĩnh viễn bị đầy đọa xuống hỏa ngục…

[Có vài sự kiện mà những ai quan tâm đến Ki Tô Giáo không thể không biết.  Giáo hoàng John Paul II của Công Giáo đã công khai chấp nhận trước thế giới thuyết Big Bang về nguồn gốc vũ trụ, thuyết tiến hóa về nguồn gốc con người, rằng con người không phải là do Gót tạo ra tức thời mà chính là kết quả của một quá trình tiến hóa dần dần và lâu dài, thú nhận không làm gì có thiên đường (một cái bánh vẽ trên trời để dụ những người đầu óc mê mẩn, yếu kém), và hỏa ngục (một nơi để hù dọa những người không tin Chúa).  Những sự kiện trên cho thấy,  Giáo hoàng  đã chính thức bác bỏ thuyết “sáng tạo” của Ki Tô Giáo, phá tan huyền thoại về Adam và Eve là tổ tông loài người do Gót tạo dựng từ đất sét, và kéo theo không làm gì có chuyện Adam và Eve sa ngã tạo thành tội tổ tông.  Do đó, vai trò “chuộc tội” và “cứu rỗi” của Giê-su chỉ là những luận điệu thần học lừa dối của giới giáo sĩ Ki Tô Giáo khi xưa, được tiếp tục đưa ra không ngoài mục đích khai thác lòng mê tín của một số người, huyễn hoặc và khuyến dụ họ tin vào những điều không thực.  Thật vậy, sự kiện là, Giáo hoàng đã bác bỏ đức tin quan trọng nhất trong Ki-tô giáo:   Quyền năng “cứu chuộc”, “cứu rỗi” , “luận phạt” của Giê-su, do đó hi vọng của các tín đồ Ki-tô, nhất là các tín đồ Ki Tô Giáo  người Việt Nam, về một cuộc sống đời đời trên thiên đường cùng Giê-su chẳng qua chỉ là một ảo vọng, và sự luận phạt của Giê-su đối với những tín đồ đạo Giê-su không tin ông ta chẳng qua chỉ là một sự hù dọa đã không còn ý nghĩa.  Hơn nữa, Tân Ước lại viết rất rõ là Giê-su tự nhận chỉ có nhiệm vụ cứu những người Do Thái mà thôi.  Vậy những người không phải là Do Thái nên nghĩ lại đi thì vừa.  TCN]

Những người Ki-tô giáo thường coi giáo hội như là một đoàn quân đi chinh phục thế giới (an army out to conquer the world).  Thêm vào đó, có những đòi hỏi tín đồ phải làm cho toàn thể thế giới biết đến Giê-su, tin chắc rằng mình thuộc đám người được Chúa chọn hoặc được cứu  chuộc.  Tất cả những ý tưởng trên được bắt rễ từ chủ thuyết hữu thần đế quốc (an imperialistic theism) đã từng dựa vào các Phúc Âm, và khi mà chủ thuyết hữu thần chết, thì những ý tưởng trên cũng phải dẹp bỏ.

Đó là trạng thái tâm lý đã tạo thành dấu ấn của Ki-tô Giáo trong những thế kỷ qua.  Dấu ấn này vẫn còn tồn tại trong sự khoa trương hoa mỹ của các giáo hội bảo thủ, Công giáo cũng như Tin Lành.  Nhiệm vụ của các tín đồ Ki-tô mà đức tin được định nghĩa bởi trạng thái tâm lý trên là phải làm những chứng nhân của Chúa đối với những người ngoại đạo.  Họ có bổn phận long trọng là phải hỗ trợ các nhà truyền giáo, ngoại quốc cũng như bản địa, những người nhân danh giáo hội mang thông điệp cứu rỗi của đấng Ki-tô đến những người “ngoại giáo”, danh từ họ thường gọi những người phi-Ki-tô (non-Christians) trên thế giới.  Không làm như vậy là bằng chứng chứng tỏ tín đồ không yêu Chúa đủ, hoặc không yêu những người lạc Chúa đủ.

Trong những thời đại trước, có rất nhiều chuyện thêu dệt về hoạt động truyền giáo của Ki-tô Giáo.  Những nhà truyền giáo về nước nghỉ xả hơi đã gây sự thích thú trong đám tín đồ qua những câu chuyện mô tả sự thành công của họ và với những thống kê về số linh hồn đã kiếm được cho Chúa (regaled believers with tales of their successes and with statistics of souls won for Christ)… Đã có thời không ủng hộ những hoạt động bành trướng trên thì bị coi như là từ bỏ Ki-tô Giáo.  Nhưng, nhìn kỹ và đúng vào cái xí nghiệp truyền giáo của giáo hội (A closer look and less romantic look at the missionary enterprise of the church) chúng ta sẽ thấy một mặt đen tối hơn của những niềm tin tôn giáo đó mà giáo hội không thấy rõ.  Đối diện với cái mặt đen tối này là điều không thể tránh được, khi chúng ta muốn đi quá  chủ thuyết hữu thần để đi vào thời kỳ hậu-hữu-thần (post-theism).

Kenneth Scott Latourette, sử gia nổi tiếng về lịch sử bành trướng của Ki-tô Giáo, coi thế kỷ 19 là “thế kỷ truyền giáo vĩ đại” (great missionary century).  Nhưng điều này không làm chúng ta phủ nhận là thế kỷ này cũng là thế kỷ thực dân vĩ đại của Âu Châu đi chinh phục thế giới.  Tìm kiếm những tài nguyên thiên nhiên trên thế giới để tăng sự giầu có, những thế lực chính của Âu Châu đã thống trị các miền đất kém mở mang, biến chúng thành những phần của các đế quốc Âu Châu hoặc, ít nhất cũng là những phần trong “vòng ảnh hưởng” của các đế quốc.

Anh, Pháp, Hà Lan, và Tây Ban Nha là những nước thắng thế đầu tiên ở Bắc Mỹ trước khi ảnh hưởng của Anh chiếm ưu thế khắp nơi trừ Quebec và Mexico.  Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha chia nhau Trung Mỹ và Nam Mỹ.  Sau khi Đức ra khỏi Phi Châu, lục địa đó trở thành thuộc Pháp ở Bắc Phi và miền duyên hải phía Tây, thuộc Anh ở Trung Phi, và ngay cả Congo cũng thuộc Bỉ.  Ở Nam Phi, Hà Lan và Anh tranh dành quyền lực, sau cùng Anh chiếm ưu thế.  Bồ Đào Nha cắm dùi ở Angola và Mozambique.

Anh là thế lực chính ở Trung Đông, kiểm soát kênh Suez.  Á Châu bị phân chia giữa Pháp ở Đông Nam Á, Bồ Đào Nha ở Macao, Anh ở Mã Lai, Singapore, và Hồng Kông.  Anh cũng còn được Úc và New Zealand, trong khi Hà Lan được Indonesia (Nam Dương).  Khi Hoa Kỳ tham gia chủ nghĩa bành trướng trong thế kỷ 19 và 20, Hoa Kỳ đã mua lại của Pháp tỉnh Louisiana, một vùng đất đai lớn hơn tiểu bang Louisiana ngày nay, và người dân du mục trong vùng đất đai này đã bị tan ra từng mảnh và bị Ki-tô hóa.  Nửa thế kỷ sau, năm 1867, Hoa Kỳ mua lại Alaska của Nga, và sau đó, Puerto Rico và quần đảo Philippines là những chiến lợi phẩm trong cuộc chiến giữa Hoa Kỳ và Tây Ban Nha (1898).  Quần đảo Hawaii được sáp nhập, rồi vì ủng hộ nền độc lập của Panama, Panama đã rơi vào vòng ảnh hưởng của chúng ta (Mỹ) để chúng ta có thể đào kênh Panama của chúng ta.

Hầu hết những sự biện minh cho những hành động thực dân và chinh phục được giải thích bởi những lời khoa trương hoa mỹ tôn giáo của Ki-tô Giáo.  Những quốc gia Tây phương không phải là những nước thù nghịch đi chinh phục mà là mang lại “văn minh và Ki-tô Giáo” cho những dân tộc mọi rợ trong những vùng trên thế giới chưa được biết đến ánh sáng của Ki-tô Giáo.  Ngay cả những chuyện bắt cóc và rồi nô lệ hóa những người Phi Châu để lao động trong các đồng áng ở miền Nam nước Mỹ cũng được biện minh bởi cùng những động cơ cao quý trên.   Thế giới đã quan sát và thấy rõ sự bất thường của Ki-tô Giáo, một tôn giáo gửi những nhà truyền giáo đến Phi châu để cải đạo các thổ dân ngay cả khi chính những thổ dân này đã bị bắt cóc và bắt làm nô lệ bởi những quốc gia mà những người Ki-tô Giáo da trắng sống trong đó.

Tuy vậy, sự kiện là, tất cả những hoạt động truyền giáo, hỗ trợ bởi thế lực kinh tế, chính trị và quân sự của các quốc gia thực dân, tương đối không mấy thành côngBất cứ ở nơi nào mà có một truyền thống tôn giáo mạnh, thống nhất, thí dụ như ở Ấn độ, Trung Quốc, Nhật Bản v..v.., sự len lỏi của Ki-tô Giáo vào các quốc gia này chỉ ở mức tối thiểu.  Hồi Giáo, tuy sinh sau Ki-tô Giáo lâu, đã nhanh chóng tạo thành một lực lượng tôn giáo đáng kể, trở thành tôn giáo quan trọng nhất không chỉ ở Trung Đông mà còn lan ra xa tới Pakistan và Indonesia.  Hồi Giáo cũng còn đi vào Âu Châu – ở Tây Ban Nha và vùng đất nằm giữa Hi Lạp và nước Ý, thường được biết dưới nhiều tên khác nhau như Yugoslavia, Macedonia, Croatia, và Serbia.  Ấn độ giáo vẫn là tôn giáo quan trọng nhất của tiềm lục địa Á Châu, và cho đến ngày nay, Phật Giáo là tôn giáo quan trọng vượt trội nhất ở Trung Quốc và Đông Nam Á.  Ki-tô giáo không mấy thành công ở những nơi này tuy rằng đã có những nỗ lực truyền đạo to lớn.

Đó là nhưng dữ kiện cho chúng ta thấy rất rõ là mục đích cải đạo thế giới cho đấng Ki-tô (Christ) đã là một sự thất bại ở khắp nơi, những lời khoa trương hoa mỹ của giới truyền giáo thường sai sự thật.  Thật ra, ngày nay, Ki-tô Giáo có một tỷ lệ tín đồ nhỏ hơn là trong lịch sử lúc đầu của tôn giáo này.

Tôi cho rằng những nỗ lực bành trướng cải đạo đó đã sai lầm ngay từ ban đầu, vì những nỗ lực đó không gì hơn là một sự ngụy trang của mưu đồ đuổi theo quyền lực, vật chất, bắt nguồn từ quan niệm duy ngã (self-centered), mà chúng ta thừa hưởng từ quá trình tiến hóa.  Đó là những chiến thuật để phục vụ một vị thần bộ lạc và nhập nhằng với uy quyền của Phúc Âm.

Nếu những người Ki-tô có đủ can đảm để cho những hoạt đồng truyền giáo cải đạo mà gốc rễ của nó là từ thời tiền hiện đại (pre-modern) chết đi một cách tự nhiên không than khóc, không luyến tiếc, không kéo dài hơi thở bằng những bộ máy nhân tạo (artificial respiration), thì sau đó chúng ta có thể khám phá ra những điều mà tôi cho hấp dẫn hơn nhiều …

Tư tưởng của chủ nghĩa thờ thần, nguồn hỗ trợ những hoạt động truyền giáo cải đạo, ngày nay đã chết.  Người Ki-tô chúng ta biết rõ rằng chúng ta không nắm trong tay chân lý, chúng ta biết rằng chúng ta không nắm trong tay con đường duy nhất đi tới Gót, vì không có con đường nào là con đường duy nhất cả.

 


Phụ Lục của SH:

Những đoạn khẳng định của Giám mục Spong mà tác giả Trần Chung Ngọc trích dịch bên trên tương phản rất cân xứng với bài “Kinh Tin Kính” mà tín hữu Ki-Tô phải đọc thuộc lòng và tụng mỗi ngày. Bài hát “Kinh Tin Kính” có đăng trên web Công Giáo Nam Úc: http://conggiaonamuc.org.au:

“Tôi tin kính một Thiên Chúa là Cha toàn năng, Đấng tạo thành trời đất, muôn vật hữu hình và vô hình.

Tôi tin kính một Chúa Giêsu Kitô, Con Một Thiên Chúa, sinh bởi Đức Chúa Cha từ trước muôn đời.

Người là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, ánh sáng bởi ánh sáng, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật, được sinh ra mà không phải tạo thành, đồng bản tính với Đức Chúa Cha, nhờ Người mà muôn vật được tạo thành. Vì loài người chúng tôi và để cứu rỗi chúng tôi,

Người đã từ trời xuống thế. Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, Người đã nhập thể trong lòng trinh nữ Maria và đã làm người.

Người chịu đóng đinh vào thập giá vì chúng tôi, chịu khổ hình và mai táng thời Phongxiô Philatô.

Ngày thứ ba, Người sống lại như lời Thánh Kinh.

Người lên trời, ngự bên hữu Đức Chúa Cha và Người sẽ trở lại trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết. Nước Người sẽ không bao giờ cùng.

Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa, và là Đấng ban sự sống. Người bởi Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con mà ra. Người cùng được phụng thờ và tôn vinh với Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con. Người đã dùng các tiên tri mà phán dạy.

Tôi tin có Hội thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền. Tôi tuyên xưng có một phép Rửa để tha tội. Tôi trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau.

 Amen.”

 


1 I do not define God as a supernatural being.  I do not believe in a deity who can help a nation win the war, intervene to cure a love one’s sicknessor,  affect the weather for anyone’s benefit.  I do not think it is appropriate for me to pretend that those things are possible when everything I know about the natural order of the world I inhabit proclaims that they are not.

Since I do not see God as a being, I cannot interpret Jesus as the earthly incarnation of this supernatural deity, nor can I with credibility assume that he possessed sufficient Godlike power to do such miraculous things as stilling the storm, banishing demons, walking on water, or expanding five loaves to provide sufficient bread to feed five thousand men, plus women and children.

I do not believe that this Jesus could or did in any literal way raise the dead, overcome a medically diagnosed paralysis, or restore sight to a person born blind… Nor do I believe he enabled one who was mute and profoundly deaf since birth to hear.

I do not believe that Jesus entered this world by the miracle of a virgin birth or that virgin birth occur anywhere except in mythology…

I do not believe that the experience Christians celebrate at Easter was the physical resuscitation of the three-days-dead body of Jesus, nor do I believe that anyone literally talk with Jesus after the resurrection moment, gave him food, touched his resurrected flesh, or walked in any physical manner with his risen body…

I do not believe that Jesus’ resurrection was marked in a literal way by an earthquake, an angelic pronouncement, or an empty tomb.

I do not believe that Jesus, at the end of his earthly sojourn, returned to God by ascending in any literal sense into a heaven located somewhere above the sky.  My knowledge of the size of this universe reduces that concept to nonsense.

I do not believe that this Jesus founded a church or that he established an ecclesiastical hierarchy beginning with the twelve apostles and enduring to this day.  I do not believe that he created sacraments as special means of grace or that these means of grace are, or can be, somehow controlled by the church, and thus are to be presided only by the ordained.  All of these things represent to me attempts on the part of human beings to accrue power for themselves and their particular religious institution.

I do not believe that human beings are born in sin and that, unless baptized or somehow saved, they will forever banned from God’s presence…To concentrate on the fall of humanity into a state of sinfulness and to suggest that this sinfulness can be overcome only by a divine initiative that will restore human life to a pre-fallen status it never had are to me strange concepts indeed, serving primarily, once again, to build institutional power.

I do not believe that the Bible is the “word of God” in any literal sense.  I do not regard it as the primary source of divine revelation.  I do not believe that God dictated it or even inspired its production in its entirely.  I see the Bible as a human book mixing the profound wisdom of sages through the centuries with the limitations of human perceptions of reality at a particular time in human history.  This combination has marked our religious convictions as a mixed witness, combining both slavery and emancipation, inquisitions and theological breathrough, freedom and oppression.

http://sachhiem.net/TCN/TCNtg/TCN113.php

Advertisements
 
 

Phật Giáo và Thiên Chúa Giáo

Phật Giáo và Thiên Chúa Giáo

(*1) Erik Zürcher
(Chuyển ngữ  Ðỗ Thuận Khiêm)

                                   (theo bản chính Pháp ngữ của Collège de France)

 

Lời người dịch :

    Tác phẩm “The Buddhist Conquest of China”, xuất bản từ năm 1959, cũng đủ chứng tỏ tác giả, Erik Zürcher, là một trong vài sử gia sáng giá nhất hiện nay về Phật giáo, nhất là Phật giáo Trung Hoa. Dưới đây là một bài tham luận của ông tại hội nghị chuyên đề được tổ chức bởi Pháp quốc Học hội (Collège de France) (*2: chú thích của người dịch), ngày 23 và 25.2.1988 (*3).
    Bị chinh phục bởi kiến thức quảng bác và cách so sánh rất tinh tế của tác giả, giúp thấy được những khác biệt nền tảng trong quá trình phổ biến và phát triển của Phật giáo và của Thiên Chúa giáo tại Trung Hoa, nên dịch ra đây với hy vọng người đọc sẽ rút ra được những điều bổ ích.

_________

PHẬT GIÁO VÀ THIÊN CHÚA GIÁO TẠI TRUNG HOA

Mọi cố gắng so sánh Phật giáo Trung Hoa (PGTH), vào thời kỳ kiến tạo và phát triển (từ thế kỷ 4 đến thế kỷ 6 TL.), với Thiên Chúa giáo (TCG), được truyền bá tại TH bởi những giáo sứ dòng Tên (*4) vào thế kỷ 17, mới nhìn có vẻ như vô ích và thừa thãi. Từ nội dung, hai tôn giáo này đã ít có chỗ so sánh được với nhau, ngay cả khi người ta cố qui cả hai dưới cụm từ tổng quát “giáo thuyết giải thoát”. Trong mỗi hệ thống, khái niệm “giải thoát” chứa đựng những ý nghĩa hoàn toàn khác nhau, đến không thích ứng nhau, làm cho mọi nổ lực phân tích đối chứng thành huyễn hoặc.

Từ cái nhìn có thể gọi là lượng, sự tương phản còn hiển nhiên hơn nữa. Suốt thời gian từ thế kỷ thứ 4 đến thứ 6, TH đã thực sự bị chinh phục bởi Phật giáo, và tôn giáo ngoại quốc này đã bám rễ trong tất cả những vùng đất của thế giới TH và trong mọi giai tầng xã hội, ở Bắc, lúc đó bị người Hung Nô chiếm lĩnh, cũng như ở Nam, nơi những vương triều địa phương còn tiếp kế. Ðến khi đế quốc thống nhất dưới triều đại nhà Tùy năm 589 T.L., Phật giáo đã trở thành luồng tư tưởng quan trọng nhất và sáng tạo nhất của văn minh TH.

Việc tiếp thu và tiêu hóa trọn vốn giáo thuyết có nguồn gốc Ấn Ðộ này đã đưa đến việc hình thành nhiều trường phái địa phương : với hàng mấy ngàn tự viện và đền thờ Phật giáo, mấy trăm ngàn tăng ni và nhiều triệu tín đồ. So sánh với PG vẻ vang đó, TCG của thế kỷ 17 thể hiện như cái gì nhỏ nhoi phụ thuộc : với vài chục giáo sứ dòng Tên bao quanh bởi những tập họp trí thức nhỏ bị lôi cuốn bởi tôn giáo thần khải (*5) đến từ Âu châu, và công trình cải đạo, được khai mào từ vài năm trước 1600, đã bắt đầu hụt hơi vào thế kỷ 18. Vào thời kỳ cực điểm của nó, TCG đếm được hơn 300.000 người cải đạo trên tổng số khoảng 140 triệu dân, tức là chưa tới 1 người TH trên 400.

Người ta có thể tự hỏi tầm quan trọng của một sự kiện lịch sử luôn luôn được đánh giá bởi tầm vóc của nó chăng. Dù sao đó chỉ là cuộc chạm trán đầu tiên của TH với văn hóa Âu châu vào buổi đầu của thời kỳ hiện đại, hay, chính xác hơn, với phiên bản của chủ thuyết Catô giáo được thích ứng hóa cho TH và được phối hợp với vài yếu tố khoa học, kỹ thuật và nghệ thuật Âu châu (*6). Nhưng điều lý thú của một cuộc chạm trán như vậy nằm ở chỗ các nền văn hóa, cũng như những con người, biểu lộ và thể hiện những tiên kiến luân lý và tri thức của mình : những gì, khác đi [nếu không có sự chạm trán], thường được che đậy. Trước TCG, Phật giáo đã đóng vai người khám phá.

Trong những năm qua, nhiều câu hỏi được nêu ra trong những công trình nghiên cứu đã lôi cuốn sự chú ý. Một trong những nghiên cứu đó, trước hết, là công trình sáng giá của Jacques Gernet, Chine et Christianisme, action et réaction (TH và TCG, tác hành và phản hành), lần đầu tiên, cho thấy một cái nhìn toàn diện, chính yếu từ phía người TH, trên những hiện tượng của sự giao tiếp này.

Ai tìm tòi khảo sát song song lịch sử hội nhập của PG, từ thế kỷ thứ 4 đến thứ 6, và lịch sử công cuộc cải đạo của giáo sứ dòng Tên, vào thế kỷ 17, không thể không lúng túng bởi câu hỏi căn bản : tại sao PG đã thành công trở nên một yếu tố thường trực của văn hóa TH, trong khi TCG chỉ có vai trò tạm bợ và ngoài lề vào các thế kỷ 17 và 18 ?

Câu hỏi trở nên rối rắm hơn khi đánh giá khung cảnh của hai cuộc chạm trán của TH với 2 tôn giáo ngoại quốc này, và khi so sánh những người đến từ một thế giới khác : những tu sĩ PG đến từ Trung Á và Ấn độ, những giáo sĩ dòng Tên đến từ hầu hết những quốc gia Catô giáo Âu châu. Tất cả đều khác biệt : vị thế xã hội, trình độ giáo dục, sự tuyển chọn làm người sứ giả, mối liên hệ với những quốc gia gốc của họ.

TU SỈ PHẬT GIÁO

Những tu sĩ PG đến từ nhiều trung tâm khác nhau; số người là bao nhiêu, không được biết, vì những tài liệu chỉ nói đến những người sáng giá nhất mà thôi (1). Trong cuộc sống dời đổi, họ đã đến TH băng qua Trung Á theo những đoàn thương buôn; bằng đường biển, họ xuống tại vài hải cảng ở miền Nam TH; hay đôi khi họ bị bắt theo trong những cuộc càn quét quân sự. Hiếm khi chúng ta biết được hoạt động truyền giáo của họ, ngoài việc thỉnh thoảng thấy họ nghiên cứu một vài bản kinh trong tự viện này nọ. Chắc chắn họ không được tuyển chọn cho một sứ vụ PG nào cả, và rất có thể phần lớn không bao giờ tưởng tượng sẽ chấm dứt cuộc đời mình ở TH (2). Họ đến với những bản kinh trên vai hay đã ghi trong trí nhớ, không có khả năng tự dịch những bản kinh đó, vì không biết tiếng Hoa : việc chuyển dịch những bản kinh thư PG là việc làm khó nhọc, được thực hiện với những thông ngôn và những trợ lý người Hoa. Và, trừ vài ngoại lệ hiếm hoi, những tu sĩ này không còn liên lạc với quê hương gốc của họ. Không ai gửi đến cho họ những kinh thư và hình tượng, không ai từ xa cho họ những chỉ thị và những khích lệ. Ngược lại, cũng không một phúc trình gởi về từ TH để thông tin cho những giáo quyền và quần chúng về những tiến bộ cùng những rủi ro của “Luật Thiện” (*7) xảy ra tại Ðại Trung Hoa xa xôi.

Giáo sĩ dòng Tên

Nếu so sánh những tu sĩ lang thang đó với những giáo sĩ dòng Tên của chúng ta, sự khác biệt nổi bật trên mọi mặt. Những giáo sĩ này tạo thành đội ngũ trí thức ưu tú được tổ chức kỹ càng, như là “tập họp đầu não” (brain-trust) “Chống – Cải Tổ” (Contre-Réforme) (*4). Họ nhận được sự đào tạo dài dẳng và khắt khe trên thuật hùng biện, triết học, giáo tập, thần học, thường được phối hợp với những kiến thức khoa học vững vàng trên những lãnh vực như toán học, thiên văn học hay cả y học. Một sự tuyển lựa khó khăn đặc biệt được áp dụng cho những sứ bộ tại Viễn Ðông : một số dự tòng cho sứ bộ tại TH phải trải qua 2, 3 lần bị từ chối trước khi được thu nhận. Rồi tại Ma Cao, họ phải trải qua một chương trình nghiên cứu Hoa ngữ, cả việc học Hoa văn cổ điển. Kiến thức về loại văn chương này không thể thiếu được vì 3 lý do : trước nhất, vì chiến lược gọi là thích ứng, được thừa nhận bởi những giáo sĩ dòng Tên mở đường đầu tiên, ghi rõ rằng các pe (*8) phải hội nhập tối đa có thể được vào giới ưu tú thượng lưu TH; thứ 2, để có thể sử dụng những trích dẫn lấy ra từ những kinh thư Khổng giáo trong việc rao giảng và bảo vệ đức tin; cuối cùng, để tự mình kiểm soát việc chuyển dịch những kinh sách Âu châu và sản xuất những kinh văn chính bản bằng chữ Hoa : như ở Âu châu, các ấn bản đều có câu “nihil obstat, imprimatur” (không gì trở ngại, được in), được chuyển dịch sang chữ Hoa dĩ nhiên (3).

Một hệ thống liên lạc vững chắc nối liền văn phòng phó sứ (vice-province) ở TH với hành dinh tổng quản (généralat) của giáo đoàn tại Rôma, qua ngã Ma cao và Goa, và sự trao đổi thừ từ thường xuyên giữa họ [các pe] với nhau. Trung ương được thông tin toàn bộ về tất cả những gì xảy ra ở TH nhờ những “Litterae annuae” (Thư hàng năm). Trong đó, ngoài những tin tức về những nơi cư trú của những sứ giả truyền giáo, còn thấy được những nhận định nhiều khi rất sáng suốt trên tình hình chung của TH, kèm với tất cả những biến cố mới nhất cùng với những diễn tiến chính trị (4). Từ những tin tức đó, trung ương phản ứng và đôi khi thay đổi những định hướng đã được ban hành. Cả quần chúng [Âu châu] cũng lưu tâm nhiệt thành đến tình hình của sứ bộ (*9). Quyển “l’Expeditio Christiana apud Sinas” (Cuộc Viễn Chinh TCG tại TH), của Nicolas Trigault, phát hành năm 1615 tức thì thành sách bán chạy nhất được dịch sang nhiều thứ tiếng và được đọc trên khắp Âu châu. Mặt khác, sứ bộ được cung cấp dồi dào kinh, sách, khắc bản, dụng cụ khoa học … : cũng chính Trigault, nhân chuyến trở về Rôma để bảo vệ chính sách thích ứng cho sứ bộ tại TH, và để chuẩn bị chuyến du hành truyền giáo kiểu “voyage de promotion” bằng cách viếng thăm nhiều vương triều và hầu quốc TH, đã trở lại TH cùng với 7.000 quyển sách in sẵn. Vào thời điểm đó, đây là một thư viện rất lớn và nó đã kích thích sự ngượng mộ của nhiều sĩ phu TH (5).

Thế là sự khác biệt giữa số phận của PG và của TCG tại TH càng trở nên khó hiểu. Làm sao giải thích được việc những tu sĩ tối tăm, không được đào tạo trước, không là đối tượng của một tuyển lựa nào, lại thành công chiếm trọn cảm tình của mọi người về cho PG, trong khi cuộc viễn chinh TCG, được chuẩn bị kỹ càng từ trước và được thi hành bởi những người có phẩm chất cao, lại chỉ có được một thành quả hết sức khiêm tốn và, cuối cùng, kết thúc bằng một thất bại ?

Dĩ nhiên người ta đã thử trả lời câu hỏi này và đã hình thành nhiều khảo luận để giải thích.

TẠI SAO THIÊN CHÚA GIÁO THẤT BẠI?

Ðầu tiên là những công trình của chính những giáo sĩ dòng Tên, được thực hiện từ thế kỷ 17 đến nay. Họ nói rằng, sứ vụ luôn đối đầu với hành động của những thành phần bài ngoại và phản động, bị đàn áp bởi hàng ngũ quan lại cố chấp không muốn thấy sự thật, phải chịu đựng sự ganh tị của những tu sĩ PG, nhưng sứ giả truyền giáo được hoàng đế [TH] nghe và tin tưởng. Tức là, dù luôn luôn khó khăn, công trình vẫn đầy hứa hốn. Nhưng tất cả đã bị hỏng bởi sự tranh chấp về những lễ nghi TH, được xui dục bởi những dòng tu khác thù nghịch với giáo sĩ dòng Tên và với chính sách thích nghi của họ. Sau những tranh chấp bất tận, chính sách thích nghi bị cấm ngặt bởi giáo hoàng và lệnh cấm được công bố tại TH bởi những khâm mạng toà thánh.

Giải thích này vừa đơn giản vừa bề ngoài. Sự đàn áp TCG ở TH vào thế kỷ 17 và 18 không trầm trọng lắm. Rõ ràng đã có vài chiến dịch chống TCG, nhưng không chiến dịch nào quá khắc nghiệt và cũng không kéo dài. Dù với nhiều nổ lực, những người khảo sát sử cũng chưa tìm thấy được một nạn nhân nào là giáo sĩ dòng Tên trong lưu ký của sứ bộ trước đây tại TH. Sự tranh chấp về những lễ nghi rất mãnh liệt và độc hại, nhưng gần như tuyệt đối chỉ diễn ra ở Âu châu. Và người TH, ngay những người đã cải đạo, dĩ nhiên, không thể biết được những gì xảy ra ở phân khoa thần học – Sorbonne [Paris]. Chỉ vào cuối thế kỷ 17, vì phạm phải sự bất cẩn lớn, cuộc tranh chấp này đã nổ ra tại triều đình Bắc Kinh, nhưng vào thời đó sứ vụ đã xuống dốc mà cuộc tranh chấp lễ nghi chỉ có hậu quả đẩy nhanh tiến trình.

Giải thích thứ hai nhấn mạnh trên chính sách cô lập văn hóa của TH suốt 2 triều đại cuối và trên cái gọi là “chủ nghĩa dĩ Hoa vi trung” (sinocentrisme), nghĩa là tư tưởng truyền thống cho rằng TH là trung tâm văn minh của thiên hạ. Vì là một ngoại thuyết, TCG trên nguyên tắc không thể được chấp nhận và bị đánh giá là thấp kém. Ngược lại, PG vào thời đó là tôn giáo đã hoàn toàn hội nhập mà từ 15 thế kỷ đã mất hết mọi liên hệ với những nguồn gốc không TH của nó. Lối giải thích này đã bị phủ nhận một phần, khi người ta ghi nhận được rằng sự bất ổn chính trị phổ biến vào cuối thời nhà Minh [1368-1644] đã có tác dụng vừa làm yếu khả năng kiểm soát tư tưởng của chính quyền, vừa mở cửa tình thần của nhiều sĩ phu đến với những tư tưởng mới. Chỉ bắt đầu dưới triều nhà Thanh, chế độ đa nghi và độc tài của người chinh phục Mãn Thanh, thái độ đóng kín hơn đối với người ngoại quốc mới được áp dụng và những công cụ kiểm soát mới được thiết lập lại. Khi đó, chính quyền khuyến khích một Khổng giáo chính thống và cứng nhắc, tạo ra một khung cảnh bất lợi đối với mọi trào lưu được xem là dị loại, và đặc biệt đối với TCG.

Vậy, cách giải thích thứ hai này có giá trị nhưng cũng chỉ một phần. Chủ nghĩa dĩ Hoa vi trung chắc chắn đã đóng vai trò quan trọng trong những hành động và những lời khích bác chống TCG : thuyết Thiên Chúa bị vứt bỏ không chỉ vì nó phi lý và phá hoại, nhưng cũng vì đó là phịa phỉnh của “man di bên ngoài”. Chấp nhận nó, TH giao mình cho mọi rợ;. Ðúng thế, ít nhất là từ thế kỷ 18 thái độ của chính quyền đối với TCG đã cứng kết. Nhưng lý lẽ cho rằng PG đã hoàn toàn hội nhập là không đứng vững. Thật vậy, chỉ cần trở về thời kỳ khi PG bắt đầu xâm nhập TH, người ta thấy lại cũng những chứng tích của loại chủ nghĩa dĩ Hoa vi trung này :;PG là sản phẩm sơ khai của man di dị đoan, một loại thoái hoa suy đồi của Lão giáo, có thể tốt đối với người Ấn, nhưng không thể chấp nhận được đối với người Hoa, vậy phải vứt bỏ càng nhanh càng tốt; (6). Sự thù nghịch xuất phát từ chủ nghĩa dĩ tộc vi trung trên mặt văn hóa (ethnocentrisme culturel) từ lâu đã là một thường xuyên của lịch sử PGTH, và nó đã khơi động những ngược đãi còn trầm trọng hơn những gì mà TCG chưa bao giờ là đối tượng. Dầu vậy, PG vẫn không ngừng triển rộng. Vậy, chủ nghĩa di Hoa vi trung là một trong nhiều nguyên nhân của những khó khăn mà TCG đã gặp ở TH, nhưng TCG phải nhận lấy về mình sự thất bại của chính mình.

Khía cạnh thứ 3 của câu hỏi đã được đưa ra ánh sáng bởi J. Gernet trong sách mà tôi đã nêu trên : đó là sự đối nghịch gần như không thể vượt qua được hiện hữu giữa tư tưởng triết học và tôn giáo nền tảng nhất của TCG và những tư tưởng truyền thống TH. Theo quan điểm này, những khái niệm và những tư tưởng chính yếu của TCG không thể được chấp nhận một cách nguyên vốn, bởi vì nó không tự cho phép hội nhập vào cái nhìn về thế giới của người TH. Ðó là toàn thể chủ thuyết nền tảng của TCG : một Thiên Chúa duy nhất, kẻ sáng tạo, toàn năng và đố kỵ, không chấp nhận một chúa nào khác bên cạnh mình (và khó hơn nữa, tập thể tiền hiền thư lại kiểu TH); vũ trụ, không như quan niệm TH được hình thành theo một tiến trình chuyển hóa thường xuyên và không theo ý chí của một ai, nhưng là một sản phẩm của ý chí Thiên Chúa, một sáng tạo toàn diện và duy nhất; sự hiện hữu trong con người một linh hồn bất tử và phi vật chất, bị bắt chịu lao khổ vì “tội nguyên thủy”, và chỉ có thể được cứu rỗi bởi ân huệ của Chúa; con người, một sáng tác đặc biệt, được tượng thành như một sinh vật độc đáo và đối nghịch với mọi tạo sinh vật khác; một chương trình của Thiên Chúa nhằm cứu chuộc toàn thể nhân loại, có vẻ như hoàn toàn vô bổ và độc đoán đối với người TH; lễ mình thánh, theo đó con người nhận ân huệ của Chúa bằng cách tiêu dùng thân thể Chúa (*10), dạng thánh thể hóa không thể hiểu được với người TH.

Sự tranh chấp giữa những nền văn hóa này, sự đối đầu giữa 2 khái niệm về thế giới và con người này, mà J. Gernet đã nhấn mạnh, chắc chắn là một thành tố rất quan trọng, tạo thành một trong nhiều mặt chính yếu của vấn đề. Nhưng, trước nhất, cần lưu ý đến những ngoại lệ được xác chứng trong lịch sử TCG tại TH : có những trường hợp cho thấy sự chấp nhận toàn bộ chủ thuyết TCG, sự lĩnh hội chủ thuyết đôi khi làm ngạc nhiên (7), sự thành tín và cả sự nhiệt thành. Thứ đến, chỉ cần trở về với thời gian trước đó khoảng từ 10 đến 15 thế kỷ để thấy lại tình trạng tương tự, như TCG của thế kỷ 17 đã trải qua, vì thuyết PG cũng cách biệt trên những điểm hoàn toàn nền tảng đối với truyền thống TH. Trước khi PG đến, những khái niệm tương tư như niết bàn không được biết đến, được hiểu như sự phá bỏ toàn bộ những ràng buộc và như sự đoạn tuyệt cuối cùng của mọi hiện hữu cá biệt, vì trong những quan niệm TH, cả những tên tuổi bất tử lớn nhất vẫn giữ một thể xác riêng và nguồn gốc cá nhân. Khái niệm nghiệp báo, kiểu đáp đền cứng nhắc đối với mọi hành động có ý thức của mỗi người, ngược hẳn với quan niệm TH về trách nhiệm được chia xẻ. Và nhất là rất khó cho người TH chấp nhận định chế cốt lõi của PG : tăng già, qui chế tự viện, cộng thể của những tu sĩ cắt đứt mọi liên hệ với cuộc sống trần gian và tự dấn mình vào một cuộc sống hoàn toàn cách biệt với cuộc sống thế tục, kèm với những giới kỵ riêng. Khó tưởng tượng được sự đối chọi lớn hơn sự đối chọi giữa PG và truyền thống TH. Thế nhưng TH đã có thể hấp thụ PG. Vậy rõ ràng văn hóa có sự co giãn rất lớn, một khoảng tự do khá rộng, cho phép tiếp thu những tư tưởng đến từ bên ngoài, cả khi những văn hóa này đối nghịch hẳn với những định kiến nền tảng nhất.

Thế là, câu hỏi vẫn còn nguyên vốn. Những giải thích được đưa ra có giá trị riêng và tất cả đều là phần mớ. Ðiều này không thể tránh được : việc thu nhận toàn bộ một hệ thống tư tưởng, những phương pháp thực hành và những định chế có nguồn gốc từ ngoài đến, bởi một nền văn hóa nào đó, là một quá trình khá phức tạp và khá khó hiểu, mà có thể không bao giờ tìm được giải thích toàn diện. Vì thế tôi trình bày, thêm vào những gì đã được đưa ra, một giải thích phần mớ khác : lưu ý đến những điểm khác biệt trong những định chế và tổ chức, giúp phân biệt cách truyền bá của PG và của TCG tại TH. Sự tương phản có thể được tóm tắt trong vài chữ : “sự phát triển tự phát khác với sự truyền bá có lãnh đạo”, “sự hình thành những tự viện khác với sự cứu vớt những linh hồn”, hay, một cách dễ hiểu hơn, “gieo rãi một định chế khác với truyền bá một đức tin”. Tôi tin đây là sự đối nghịch chính yếu đã đưa đến những hậu quả quyết định trên số phận của PG và của TCG tại TH thời tiền hiện đại.

Sự khác biệt định chế giũa PG và TCG

Cách lan rộng của PG có thể được xem như một thí dụ cổ điển của loại “phát triển bằng tiếp cận” : cách phát triển phân nhánh của rễ cây (*11). Hệ thống tự viện PG ẩn tàng một cơ chế phát triển tự động bắt đầu từ lúc những cộng thể tu sĩ định cư đầu tiên được thành hình. Theo quan điểm kinh tế, những nhóm tu sĩ này thuần túy sống bám, họp thành bởi những khất sĩ sống nhờ nơi biếu phẩm của người khác, cả đến lương thực hàng ngày. Vòng vi khất thực của mỗi nhóm (sima) bị giới hạn bởi đoạn đường mà bước chân trần của người tu sĩ có thể đi và về mỗi ngày, tức là rất hạn hốp. Mặt khác, vì sống nhờ vào khả năng biếu xén của người khác, tức là trong mức sản xuất dư thừa của xã hội thường rất hạn hốp trong mọi nền kinh tế tiền hiện đại, nên những cộng thể tăng già đó chỉ phát triển rất chậm và cần thiết phải đi kèm với tiến trình di trú. Số tu sĩ trội quá phải ra đi, theo những đường thương buôn lớn, để thành lập những tịnh cốc (vihara) mới của mình ở những nơi địa thế tốt : tại những vùng nông nghiệp giàu thịnh hay gần một thành phố lớn, ở giao điểm của những đường cái quan, hay tại những địa điểm linh thiêng có nhiều khách hành hương lui tới. Nói gọn : nơi nào có những tấm lòng rộng rãi, những mạnh thường quân.

Tiến trình này được lặp đi lặp lại mãi, và qui chế tự viện cứ thế lan rộng dần, trước tiên ở Ấn độ, sau đó ra ngoài, vì những mạnh thường quân cũng có trong số những nhà thương buôn đi khắp lục địa và các biển. Tại những vùng xa xôi, tiến trình này cũng được lặp lại một cách tự động và không gây sự chú ý. Cơ chế này hiệu nghiệm, nhưng nó không được lãnh đạo. Ðó là quá trình tự phát, không định hình, không chịu một giáo quyền nào vì không có trung ương cũng không được điều phối. Nó tùy thuộc nhiều nơi sự may rủi tình cờ : khi nào tìm được một nơi thích hợp, có những ông chủ rộng lượng, họ dừng lại ở đó và một điểm phát triển mới sinh ra. Trong thời kỳ đầu, hệ thống này phát triển ở trình độ quần chúng với những cộng thể nhỏ. Nhưng trong thời gian dài, những cộng thể PG tiếp xúc với hàng ưu tú thượng lưu và với triều đình. Vị thế xã hội của những mạnh thường quân mới cũng cao hơn dần, và hình thành nhiều tự viện lớn, giàu, có uy thế, với hàng trăm tu sĩ thường trú, tạo thành giới tu sĩ thượng lưu và tự viện của họ thành những trung tâm văn hóa PG lớn.

Chính bằng cách này, mở rộng dần hệ thống những cộng thể và những tự viện, mà PG lan tràn khắp Á châu. Cũng bằng cách này, phát triển định chế một cách chậm chạp và gần như không cảm nhận được, mà PG đã thâm nhập TH hồi đầu kỷ nguyên TL. Qua đó thấy được sự phát triển của tăng già là yếu tố quyết định. Công cuộc xây dựng PG ở TH, từ khởi đầu, không bằng sự phổ biến giáo thuyết cho người ngoại đạo, nhưng bằng sự xây dựng một tự viện, tự viện Bạch Mã (núi Bạch Mã) gần Luoyang (Lạc Dương). Và chứng cớ cụ thể duy nhất còn lại từ cộng thể nguyên khai này là bản ghi bằng chữ Ấn viết trên bờ thành một cái giếng, viết rằng: “giếng này được cúng dường cho toàn thể tăng già của mười phương thế giới” (8). Suốt 3 thế kỷ đầu của TL, sự gieo rãi của PG ở TH được tiến hành trong dân chúng. Ðến thế kỷ thứ 4, PG bắt đầu tiếp xúc với giới thượng lưu và, vào khoảng năm 400, những tự viện lớn đầu tiên đã được thành lập. Những tự viện này trở thành giàu có, nhờ những khoản tặng sản to lớn, và tiếp tục phát triển bằng cách hiển dương những hoạt động xã hội kinh tế : quản lý địa sản riêng, tích lũy vốn liếng, tổ chức hội chợ ở những “núi kính thành” (nơi hành hương), nhà in và nhà trọ.

PGTH cũng trở thành một quyền năng tôn giáo mạnh. Sức mạnh của nó rút ra từ định chế tự viện đặc biệt này. Ðó cũng là lý lẽ của sức đề kháng và sức chịu đựng lâu dài của PGTH, vì tự viện/đền thờ [trộn lẫn nhau] là định chế PGTH duy nhất sống còn suốt gần 2.000 năm nay, dầu luôn có những ngược đãi hạn kỳ. Nhưng điều đáng ngạc nhiên là sức mạnh tôn giáo to lớn này được tạo thành, nhưng không có một dạng lãnh đạo trung ương hay điều phối nào. PGTH luôn luôn là một đại dương với nhiều trung tâm mà mức độ lớn nhỏ rất khác nhau, những trung tâm lớn nhất được lèo lái bởi triều đình với đầy những tu sĩ có học thức, những trung tâm nhỏ nhất mọc trong những làng mạc và được chăm sóc bởi vài tu sĩ thất học. Tóm lại, một sức mạnh định chế lớn kết hợp với sự yếu kém về mặt tổ chức.

Không thể tưởng tượng được một tương phản lớn hơn sự tương phản giữa hình ảnh vô tổ chức và đa tâm này với hình ảnh một hệ thống được lãnh đạo và tổ chức tuyệt vời của cuộc viễn chinh TCG của những giáo sĩ dòng Tên của chúng ta tại TH vào thế kỷ 17. Ít có công trình nào có mức độ to lớn như thế, được suy nghĩ và chuẩn bị kỹ càng như thế, được theo dõi với nhiều chú ý và được thi hành với sự khôn khéo và thận trọng như thế. Nhưng dưới khía cạnh định chế, nhiệm sở của sứ bộ, gồm một nhà thờ Chúa nhỏ và là trú quán của 1 hay 2 giáo sứ với những người Hoa phụ việc, tạo thành một căn cứ vô cùng yếu, không cùng mức độ với những tự viện PGTH và cấu trúc cơ sở địa phương của chúng. Tuy nhiên đó cũng là điều không thể tránh được, vì những giáo sĩ dòng Tên không phải là thành viên của một đoàn thể tu hành, và vai trò thế tục của họ được tăng cường bởi sự tự tiếp nhận cách sống của sĩ phu TH (9). Và vì họ chủ ý đối chiếu cách sống này với cách sống của những tăng sĩ PG muốn thiết lập những tự viện.

Vì thế, trung tâm địa phương rất yếu : chỉ là nơi hành lễ, thuyết giáo và thảo bàn. Ðặc tính của một đoàn thể ngoại quốc của nó càng hiện rõ bởi vì chiến lược của sứ bộ loại trừ việc đào tạo giáo sĩ người Hoa. Nền tảng kinh tế lại rất yếu và đầy nhược điểm : hội thánh (*12) chỉ tồn tại nhờ một phần nhỏ biếu phẩm của tín hữu người Hoa, phần còn lại phụ thuộc trước nhất vào những khoản tiền to lớn gởi đến từ Ma cao. Hội thánh không bao giờ có cơ sở đất đai, nền tảng của mọi ổn định kinh tế tại TH. – mặt định chế, sứ bộ dòng Tên thể hiện hình ảnh hoàn toàn khác với hình ảnh của PG. Quá trình cải đạo cũng hoàn toàn khác : không phải là sự phát triển bằng tiếp cận, nhưng là sự bành trướng tầm xa; không phải là sự phổ biến tiệm tiến, nhưng là sứ chích thích vào (injection); không trên nền tảng kinh tế nội tại, nhưng bằng sự tiếp tế bởi một cuốn rún nối liền hội thánh TH với thế giới bên ngoài.

Trong sự bành trướng vắng bặt mọi điều phối của PG còn đưa đến một hệ quả quan trọng khác. Nó cho phép một sự phát triển với nhiều hình thái rất khác biệt : tại mỗi vùng, mỗi nơi, chủ thuyết và lễ nghi đã chịu ảnh hưởng của những truyền thống địa phương mà không bị chỉnh sửa hoặc đồng nhất hóa bởi một uy quyền trung ương nào. Vô số tục lệ địa phương đã được hội nhập không khó khăn, và hệ thống được hoàn toàn tự do để phát triển các dạng thức pha trộn và những đức tin tổng hợp. Tính đa dạng không kiểm soát này, tự do thích ứng với môi trường, góp phần lớn cho sức sống và sức bật của PG : nó có thể bám rễ khắp nơi và không kích thích phản ứng tẩy chay, đồng thời hội nhập vào nhiều truyền thống địa phương.

Như mọi người đều biết, tiến trình thích ứng tự phát này đã có trong TCG Tây phương thời trung cổ. Chính nhờ biết hội nhập vào những thực hành và những đức tin ngoại giáo [Âu châu] mà TCG phổ cập trong dân gian. Nhưng sau Công Ðồng Trente [1545-1563], khởi điểm của “Chống-Cải tổ”, giáo hội đã đoạn tuyệt với di sản truyền thống trung cổ : tôn giáo thần khải được rao truyền ở TH, bởi những giáo sĩ dòng Tên vào thế kỷ 17, là TCG thuần hành và cứng nhắc, giáo điều, được áp đặt trên giáo sứ bởi giáo hội và trên người TH bởi những giáo sứ. Ðây là một trong những hệ quả của cuộc viễn chinh TCG với tư cách là một chiến dịch có lãnh đạo. Việc thích ứng bị giới hạn, và dưới lớp áo sĩ phu che dấu lớp áo dòng của một người chi phối. Những uy quyền Rôma cấm ngặt những thực nghiệm bị xem là quá bạo dạn : như khi những giáo sĩ dòng Tên xin được phép hành lễ bằng tiếng Hoa (10). Khi Giulio Aleni, bối rối bởi bổn phận của người sĩ phu cải đạo phải tỏ lòng tôn kính đối với những vị thần thành hoàng, tìm được giải đáp tài tình là đồng hóa những thần này với những thiên thần hộ trì TCG, việc làm này bị đập tan ngay bởi lệnh cấm của giáo hoàng (11). Ngay trong nội bộ của sứ bộ tại TH, khuynh hướng đồng nhất hóa cũng đã ngăn trở sự thành hình những tập tục sống động nhỏ. Không thiếu những thí dụ cho thấy những đức tin và những thực hành TCG đã có thể bám rễ dễ dàng bằng cách này, đúng hơn, là bằng cách xây nền trên truyền thống thờ phượng ma quỉ của địa phương. Nhưng mới vừa thành hình nó đã bị phản bác và bị đè bốp dưới sức nặng của tính chính thống cố chấp. Một thí dụ lạ lùng và xúc động : vào năm 1638 tại Nam Kinh, một con đồng đang lên đã nhận được thông điệp có nội dung TCG, và tự động viết trên một miếng gỗ nhỏ, theo cổ truyền, để khuyến khích dân chúng tín ngượng nơi Thiên Chúa trên trời. Không bao lâu sau, những buổi chiêu hồn kiểu này, cách thực hành rất phổ biến của tôn giáo dân gian, đã phát triển thành một tín ngượng xây dựng trên sự hiện xuống định kỳ của tôn đồ Philippe từ các tầng trời, để đem những tín hữu đến sự tin tưởng tuyệt đối. Nhưng lối tín ngượng hoàn toàn có tính cổ truyền này đã phải bị chấm dứt sớm : ngay khi được báo tin, be Sambiasi, một người lão luyện với 50 năm kinh nghiệm tại TH, vội vàng lao vào đám con chiên lạc hướng và ra lệnh cấm tại chỗ những phép thuật quỉ yêu này (12). Việc đồng nhất hóa được áp đặt, việc loại trừ mọi tiểu dị và mọi thích ứng với truyền thống địa phương, là hậu quả của cuộc bành trướng kiểu chỉ huy : phải nhận mệnh lệnh từ bên ngoài, và những người thừa hành trông chừng nhau tại chỗ để tránh mọi rẻ hướng.

Sự khác biệt định chế giũa PG và TCG còn có trong mối quan hệ với những tín hữu thế tục. Trong PG, trung tâm của cuộc sống tôn giáo nằm trong tự viện : cuộc sống ngoài thế gian, được giải quyết trong chi tiết bởi những giới luật và chỉ để cho người tu sĩ rất ít tự do. Nhưng bên ngoài tự viện, tình trạng hoàn toàn khác biệt. Tín hữu thế tục PG lo cấp dượng cho tăng già và mặt khác chịu vài qui định luân lý có tính phổ quát, mà phần lớn, như qui định cấm giết người chẳng hạn, đã có sẵn trong luân lý thông thường. Ngoài ra, tín hữu thế tục PG có tự do hoàn toàn trong cuộc sống gia đình, xã hội, cả về tôn giáo, không bị đặt dưới sự can thiệp giáo quyền nào. Mỗi tín hữu thế tục PG không phải gắn bó với một đền thờ và không thuộc một giáo khu nào. Mỗi người có thể mời 1 hay nhiều tu sĩ, theo sự lựa chọn riêng để họ mang đến vài dịch vụ tôn giáo nào đó, và đáp đền hậu hỉ là đàng khác, nhưng không bao giờ một tu sĩ PG dám đến khiển trách ở nhà họ hay can dự vào công việc nội gia của họ. Ðó là sự vi phạm quái lạ trong cuộc sống riêng tư. Mối quan hệ thô cạn và ngăn cách này giữa tín hữu thế tục và định chế giáo quyền hình như phản ánh vai trò giới hạn mà tôn giáo ở TH nói chung đã đóng trong cuộc sống cá nhân, nhất là với nam giới. Tiểu sử mỗi người thường không mang một ghi chú nào về đức tin cũng như những hoạt động tôn giáo của họ (13). Người sĩ phu thực hành một tôn giáo, như thực hành những động tác hít thở hay theo đuổi cách ăn kiêng đặc biệt nào đó trong mục đích vệ sinh, kiểu như để tô điểm thêm cuộc sống. Là Phật tử, không có nghĩa là bám dính vào một niềm tin cho rằng nó sẽ đem lại một định hướng đặc biệt cho cuộc sống, đúng hơn, là tin nơi hiệu năng của những chỉ dẫn nào đó của Phật giáo.

Một lần nữa, sứ bộ dòng Tên cho thấy một hình ảnh hoàn toàn khác biệt : bổn phận của tín hữu, cũng như quan hệ của họ với hội thánh và với hàng giáo sĩ cho thấy rõ quan niệm đặc thù Tây phương. TCG thể hiện ở TH như một tôn giáo cực kỳ trói buộc. Mỗi tín hữu TCG phải gắn liền với hội thánh, là thành viện của một giáo khu, rửa tội, ghi sổ. Trong cuộc sống riêng tư, người này phải thuần phục dưới uy quyền thường trực của giáo sĩ. Sự kiểm soát của giáo quyền xâm nhập đến tận trong nhà và cấm họ hoàn thành một số bổn phận lễ nghi [có tính truyền thống] nào đó (*13). Khác hẳn với cuộc sống của tăng già, trong một không gian đóng kín và qui hướng về việc tu sửa chính mình, hoạt động của những nơi thường trú của các giáo sứ đối nghịch với khung cảnh bình thường của đời sống tôn giáo của người TH. Những giáo sĩ dòng Tên đưa vào TH một loại tôn giáo thế tục, hoàn toàn là bình thường ở Âu châu, nhưng chưa hề được biết đến ở TH và khó được chấp nhận.

Cuối cùng, sự bành trướng có lãnh đạo còn có hệ quả khác nữa : buộc những giáo sứ phải đóng cùng lúc 2 vai trò không thích ứng nhau. Chính sách thích ứng đã được vạch sẵn, với những nét chính ngay từ cuối thế kỷ 16, vào thời kỳ sứ bộ mới được thành lập tại TH, khi người ta chỉ biết rất ít về đất địa này. Ðây là một chiến lược tinh vi, những mâu thuẩn từ trong nguyên tắc :;Hãy vào TH và hãy cấu kết với sĩ phu thượng lưu và những quyền chức. Hãy kích thích óc tò mò của họ bằng những bản đồ thế giới, những đồng hồ tay, những kính viễn vọng, những lăng kính của quí vị, hãy chiếm lấy sự chiêm ngượng của họ nhờ những quyển sách được in ấn và bằng kiến thức của quí vị về toán học và thiên văn học. Hãy cư xử như một nhà thông thái và như một “quân tử”, và hãy giải thích giáo thuyết của chúng ta ở đó bằng cách sử dụng những chú giải, những từ vựng và những hình ảnh có thể làm cho họ hiểu được. Nhưng đồng thời đừng bao giờ quên rằng quí vị là giáo sĩ. Chỗ đứng của quí vị không chỉ ở “Hàn Lâm viện Khổng giáo”, nhưng ở giáo hội, trung tâm của cuộc sống tôn giáo. Khi bàn tay của quí vị vung lên, với cọ viết cũng như với bánh thánh, quí vị phải cùng lúc vừa là nhà thông thái vừa là giáo sĩ. TH- Âu châu, một kết hợp vai trò như vậy là hoàn toàn bình thường, nơi những giáo sĩ dòng Tên là một khả năng sáng chói, đặc thái của dòng này. Nhưng ở TH, 2 vai trò này không thể thích ứng nhau được. Người sĩ phu Khổng giáo có thể đảm nhận dễ dàng các mặt khoa học như y học, dược học, địa dư, và cả cơ khí. Hoạt động của những giáo sĩ dòng Tên trong những lãnh vực này không ra ngoài cái khung truyền thống của họ. Ngược lại, qui chế của sĩ phu ở TH tuyệt đối không điều hợp được với qui chế giáo sĩ, nghĩa là với qui chế của người chuyên môn về nghi lễ tôn giáo, đạo sĩ chuyên nghiệp và là trung gian giữa con người và những sức mạnh vô hình.

Trong PGTH vấn đề này không bao giờ được đặt ra. Có những tu sĩ PG là những nhà thông thái lớn, nhưng họ không ra khỏi lãnh vực chuyên môn của họ bao giờ. Một tu sĩ PG quảng bác là một học giả của tập thể PG, và ngay khi họ viết những tác phẩm, thí dụ như biên khảo về địa chí, kinh thư hay ngữ học, cũng không mang tính chất truyền giáo đặc biệt, dù những tác phẩm đó không bao giờ rời xa phạm vi PG. Vai trò chính yếu (vai trò mẫu – role pattern) của người tu sĩ, từ nhà học giả quảng bác đến ông từ chùa ở làng quê, đều đồng loại nhau. Bất luận chuyên môn riêng của mỗi người, họ vãn luôn luôn là những “chuyên gia về tôn giáo” (thầy chùa), tách biệt rõ rệt với giới sĩ phu bởi cách sống, phẩm hạnh cũng như bởi vị thế xã hội khá khiêm tốn của họ.

Nói nhung giáo sĩ dòng Tên, 2 vai trò mẫu của họ dị biệt nhau, và sự mù mờ này phá vỡ chiến lược của sứ bộ. Ðặc tính không thể hoà hợp được của 2 vai trò nói trên đã, không đợi lâu, quay lại chống phá chính họ, bởi vì nó cho phép đối thủ của họ lên án họ là tráo trở 2 lòng. Chúng ta đã nhắc đến tính không thể thích hợp được, nhưng ở đây không phải ở những tư tưởng nền tảng, mà ở tính không thích hợp của những định chế và những vai trò truyền thống. Chúng ta đã thấy rằng những nền văn hóa có sự co giãn rất lớn khi nó tiếp nhận những tư tưởng mới và, trong lãnh vực trí thức và tôn giáo, nó có thể chấp nhận dễ dàng sự sống chung của những quan niệm đối nghịch nhau. Nhưng khi đụng đến vai trò xã hội, nó không chấp nhận một thỏa hiệp nào có thể có những hệ quả tức thì trên trật tự xã hội : tại Âu châu, một pháp quan không thể kết hợp chức năng mình với nghề diễn tuồng múa rối; ở TH, không một sĩ phu nào tự thể hiện cùng lúc như thành viên của giới thượng lưu và như một chuyên viên về những sự việc tôn giáo.

Trên đây chúng ta đã nêu ra một loạt những đối nghịch : hội nhập tự phát bằng tiếp cận đối ngịch với sự đưa vào được suy xét kỹ càng từ bên ngoài; những tu sĩ ngoại quốc không được sự đào tạo đặc biệt đối nghịch với những giáo sĩ được đào luyện kỹ càng; cộng thể tự viện đối nghịch với những nơi thường trú lẽ loi; tập thể tín đồ thế tục độc lập ngoài tập thể tăng già đối nghịch với giáo hữu TCG thuần phục dưới sự kiểm soát của những giáo sứ; đa tâm đối nghịch với sự đồng nhất được áp đặt; vai trò “thầy chùa” được xác định và thuần nhất đối nghịch với vai trò đôi “giáo sứ – sĩ phu”. Quá nhiều đối nghịch, nhưng tất cả đều liên quan đến việc làm lệch hướng chính đặc tính của sứ bộ dòng Tên, dưới danh nghĩa là một công trình có lãnh đạo. Ðiều nghịch lý là chế độ chỉ huy chính là nguyên nhân của sự yếu kém và nhược điểm của TCG ở TH, ngược lại, PG đã rút ra sức mạnh và năng lực của nó từ khuyết điểm về điều phối, từ đặc tính của sự phát triển tự phát và từ sự vắng bặt mọi lãnh đạo trung ương.

Tôi đã cố gắng trình bày một phân tích bằng đối chứng tương phản. Có thể đặt dấu hỏi trên tính chính đáng của cách diễn đạt này, thế nhưng tôi tin rằng nó hữu ích, như là một công cụ nghiên cứu, giúp nhận diện những nét đặc trưng của một hệ thống và để đưa ra những câu hỏi mới. Vì chính trong sự đối đầu nhau mà những hệ thống biểu lộ những đặc thái chính yếu của chúng. Trong những nền văn hóa cũng như nơi con người, chính từ sự giao tiếp và tranh chấp nhau của chúng mà sự thật sinh ra./. (7.96)

Chú thích của tác giả.

1. Trong những tài liệu tự thuật, nhất là toàn bộ Cao Tăng Truyện, sinh hoạt của những tăng sĩ ngoại quốc gần như chỉ nhầm chuyên dịch kinh thư. Ngược lại, trong tất cả những tài liệu văn chương TH cùng thời thì đầy rẫy những đoạn liên hệ đến những tăng sĩ man di hồ tăng, có ghi chú nhiều hoạt động của họ, gồm thuật sĩ hay những tiên tri giỏi pháp quyền siêu nhiên. Xem nhận xét của chúng tôi trong “Perspectives in the Study of Chinese Buddhism”, Journal of the Royal Asiatic Society, 1982.2, trg. 161-176.

2. Một ngoại lệ rất thú vị : một nhóm ni sư Tích lan đến Quảng đông năm 426 bằng đường biển đã đưa vào TH truyền thống chính truyền của tổ chức tỳ khưu ni (T.2.063, Tỳ Khưu Ni Truyện, chg.2, trg. 939c và 941a; chg.3, trg. 942b)

3. Những tác phẩm được phát hành bởi những người cải đạo TH thoát khỏi kiểu cầu chứng giáo quyền này. Việc này được Giulio Aleni viết lại với những lời lẽ tốt đốp trong quyển Géographie du monde extérieur – Zhifang waiji (Hàng Châu, 1628), chg.2, trg. 4b.

4. Joseph Dehergne S.J. “Les Lettres Annuelles des missions jésuites de Chine au temps des Ming” (1581-1644). Archivum Historicum Societatis Iesu 49(1980), trg; 379-392.

5. E. Lamelle S.J., “La propagande du P. Nicolas Trigault en faveur des missions de Chine (1616)”, A.H.S.I. 9 (1940), trg. 49-120; P. Brunner, l’Euchologie de la mission de Chine : edito princeps 1628 et développements jusqu’à nos jours, Münster, Westf., 1964; F. Bontinck, La lutte autour de la liturgie chinoise aux XVIIè et XVIIIè siècle, Louvain, 1962.

6. Ðại cương về những lời lẽ dĩ Hoa vi trung mà chúng tôi đã trình bày trong The Buddhist Conquest of China, Leiden, 1959, trg. 264-280.

7. Nhiều thí dụ lý thú thấy được trong báo Kouduo richao, chứa đựng những trích dẫn đối thoại và những ghi chú trên những sự việc và những động tác của vị giáo sứ Giulio Aleni (1582-1649) ở Phúc Kiến. Tác phẩm này là tài liệu duy nhất về việc thực hành trong cuộc sống tôn giáo giữa hàng sĩ phu TH vào thời đại đó, được sắp xếp thành nhiều đoạn nối tiếp nhau bởi Li Jiubiao từ 2.1631 đến 7.1640.

8. J.Brough, “A Karosthi inscription from China”, Bulletin of the School of Oriental and African Studies 24 (1961), trg. 517-530.

9. Chỉ những định chế duy nhất, được thừa nhận vì đã được “Thiên Chúa giáo hóa”, phát triển dưới nhiều dạng cảm hứng TCG khác nhau là những hiệp hội cứu tế từ thiện được thành lập bởi những sĩ phu và thường được khích cảm bởi những tư tưởng từ bi PG. Ðể có những thí dụ lý thú về sự chuyển hóa một công trình PG thành một hiệp hội TCG, xem N. Standaert, Yang Tingyun, Confucian and Chritian in Late Ming China, Leiden, 1988, trg. 62-69. [PG đã có truyền thống cứu tế xã hội từ rất lâu trong lịch sử, trong khi truyền thống này chỉ mới bắt đầu từ vài trăm năm nay trong TCG – N.D.]

10. J. Jennes C.I.C.M., “A propos de la liturgie chinoise. Le bref Romanae Sedis Antistes de Paul V (1615)”, Neue Zeitschrift für Missionswissenschaft 2 (1946), trg. 241-254.

11. Kouduo richao II.20 và VIII.2. Sự ngăn cấm được báo cáo bởi L. Pfister S.J., Notices biographiques et bibliographiques sur les Jésuites de l’ancienne mission de Chine, Thượng Hải, 1932/34, trg. 140, n.1. theo Pfister, Aleni không có vai trò nào cả trong việc này : đó là những “quan lại TCG” đã hội nhập những thần thành hoàng với những thiên thần hộ trì những thành phố để cho việc thờ phượng của họ thành dễ hiểu. “Một sắc lệnh của Rôma đã lên án ảo tưởng này”.

12. Thời kỳ được báo cáo bởi Daniello Bartoli, Dell’Historia della Compagnia di Giesù: La Cina, Terra Parte dell’Asia, Rome, 1663, trg. 1127-1128.

13. Ngay cả trường hợp của Yang Tingyun, giáo hữu nhiệt thành và là 1 trong 3 “cột trụ của hội thánh TH” vào cuối thời nhà Minh, nhưng tài liệu chính thức không thấy ghi chú nào về những đức tin tôn giáo của ông. Xem N. Standaert, nói trên, trg. 5-21.

Chú thích của người dịch.

*1. Thiên Chúa giáo ở đây là Christianisme, còn được chuyễn ngữ theo lối phiên âm là Kytô giáo, bởi có chữ Christo, để chỉ chung các tôn giáo có tín ngượng nơi đấng Christ – Thiên Chúa, trong đó Cathlique chỉ là một. Catholique được tín hữu Việt Nam của nó gọi là Công giáo (cách gọi “đạo Công giáo” là dạng “bất thường”, vì trong tiếng Việt chỉ có hoặc đạo Hồi hoặc Hồi giáo, chứ không ai gọi “đạo Hồi giáo” bao giờ), nhưng để viết cho toàn thể người Việt, tôi chọn cách chuyển ngữ theo lối phiên âm là Catô giáo.

*2. Pháp quốc Học hội – Collège de France được vua François I thành lập tại Paris từ năm 1529, với tên gọi là Collège du roi, qui tụ những đầu óc chuyên ngành sáng giá nhất trong cũng như ngoài giới đại học của trí tuệ nước Pháp, để tự vệ chống lại những tấn công từ phía Sorbonne (khi đó còn nằm trong tay giáo hội Catô giáo Rôma). Ðây là một cơ sở giáo dục nằm ngoài hệ thống đại học, nhưng ngoài nhiệm vụ giáo dục : đem kiến thức khoa học vào văn hóa Pháp, từ lúc thành lập đến nay Học hội còn đóng vai “người giám hộ” (guardian) bảo vệ đặc thái nền tảng của văn hóa Pháp. Những kết quả nghiên cứu của Học hội luôn được trí thức khắp nơi xem như là tài liệu tham khảo có giá trị cao và, theo chỗ tôi biết, chỉ loại “điếc không sợ súng” mới chỉ trích bừa bải. Tôi vẫn ước mơ một “Việt Nam Học hội”, tương tự.

*3. Với chức năng “người giám hộ, Pháp quốc Học hội không thể không lưu ý đến sự phát triển của Phật giáo ngày càng rõ tại Âu châu và Pháp nên, ngoài việc nghiên cứu riêng, đã mời các đầu óc sáng giá nhất của thế giới thuyết trình về đề tài Phật giáo. Chỉ một số ít những nghiên cứu và thuyết trình được phổ biến ra đại chúng, như trường hợp của bài này (n.x.b. Julliard, Paris, 1990). Tuy tác giả vẫn là người chịu trách nhiệm trực tiếp trên công trình nghiên cứu của mình, nhưng tất cả những gì được Học hội phổ biến cho đại chúng Pháp đều được Học hội xét lọc và có trách nhiệm gián tiếp.

*4. Tôi dịch “mission catholique” là “giáo sứ” (với chữ S). Vẫn biết rằng, hoặc vì không rành chữ Việt, hoặc cố ý lập lờ làm lẫn lộn đen trắng, người ta dịch ‘Mission catholique vietnamienne’ là ‘Giáo Xứ Việt Nam’ (đây không phải là 2 tổ chức khác nhau ở cùng 1 địa chỉ, vì trên bản tin Giáo Xứ có viết rõ bằng 2 thứ tiếng Việt và Pháp : Cơ quan thông tin và liên lạc của Giáo Xứ Việt Nam vùng Paris – Bulletin mensuel d’information et de liaison đe la Mission catholique vietnamienne région parisienne).

Và “giáo sứ dòng Tên” là “missionnaires jésuites”, thuộc Société de Jésus (S.J.) hay Compagnie de Jésus, dòng Tên, do Ignace de Loyola (người Basque, thuộc Tây Ban Nha hiện nay, 1491-1556) thành lập ở Rôma từ năm 1539, với lời nguyện “hiến mình cho ý Chúa” và đặc biệt trung thành với cấp trên, và trên nhất là với Giáo Hoàng, chống lại các triết gia và tư tưởng “Ánh Sáng”. Ðược giáo quyền Catô giáo Rôma chính thức thành lập năm 1541, một năm trước khi lập lại tòa hình giáo (tribunal de l’Inquisition), với I. de Loyola là Général (Tổng Quản) đầu tiên. Hành dinh Tổng Quản (Généralat) đặt tại Rôma. Những giáo sĩ này được tuyển lựa và đào tạo rất kỹ, và được gọi là “soldats du Pape – quân của Giáo Hoàng” vì đây là một bộ phận rất quan trọng của chương trình “Contre-Réforme”, hay “Cải tổ Catô giáo” để chống lại phong trào “Cải tổ Phản Thệ giáo”(Réforme Protestantiste” – tư tưởng nền tảng của phong trào được ghi gọn trong câu : “cujus regio, ejus religio – đất địa nào, thần giáo nấy”). Sau những càn quét đẩm máu (với hàng triệu người Phản Thệ giáo là nạn nhân), vào thời kỳ Âu châu đi chiếm thuộc địa (được lãnh đạo để giảm bớt sự căng thẳng trong nội bộ Âu châu), đội “quân – giáo sĩ” này cũng đóng vai trò rất quan trọng, mà Jean Lacouture, trong quyển Jésuites, còn gọi là “les légionnaires de l’ombre – lính lê dương trong bóng tối”. Vào năm 1914 đội ngũ này có khoảng 20.000, tăng lên khoảng 34.000 vào năm 1969, sau đó giảm xuống, như hầu hết các dòng khác của Catô giáo Rôma.

*5. Chữ “tôn giáo”, đúng ra, gần nghĩa với chữ culte hơn và đã có từ rất lâu trong văn hóa Việt. Nhưng vì do sai lầm vô tình hay cố ý nào đó đã được dùng để dịch chữ religion. Vì hiểu rõ thế nào là religion – gồm : 1/ đức tin nơi Thần (Dieu) tạo ra và ngự trị muôn loài, 2/ giáo thuyết nền tảng là những lời do Thần mặc khải và 3/ một giáo quyền lãnh đạo thống nhất -, nên người Âu Mỹ xác định rằng : Phật giáo không phải một religion. Xác định này đúng, nhưng vì không lưu ý cách chuyển dịch sai lầm trên nên không ít người Việt đã sai khi cho là : Phật giáo không phải là tôn giáo; cũng vậy, Ðạo Thờ Ông Bà cũng không phải là tôn giáo. Xác định kiểu này ngược với cách hiểu thông thường và phổ quát của đại đa số người dân Việt về hai chữ tôn giáo. Chính sự khác biệt trong cách hiểu ngôn từ tạo sự cách biệt (nay đã thành hố thẳm) giữa đại khối người dân Việt với những người Việt ngoại (Tây, Mỹ, Tàu…) học; làm cho các thành phần người Việt không còn cảm thông được với nhau (thảm trạng của Việt Nam). Muốn xây dựng lại cộng đồng Việt Nam, nhất thiết phải xây dựng lại sự cộng thông trong nghĩa ngữ, tức là trên bình diện tư tưởng khái niệm và giá trị. Bằng cách nào ? Theo thiển ý, cách tốt nhất và dễ làm nhất là người ngoại học hãy cố gắng tìm về với đại khối dân tộc, rồi cải thiện và bổ túc sau, hơn là áp đặt lên đại khối này những gì mình tiếp nhận được từ bên ngoài (thời gian, không gian, lịch sử, chẳng hạn, trong cách hiểu của người Việt đâu có giống cách hiểu của người Tây phương về các chữ temps, espace, histoire của họ). Vấn đề “chính danh” được đặt ra, cùng với tinh thần tôn trọng hệ thống khái niệm của văn hóa truyền thống Việt Nam, mà trước mắt là tôn trọng ngôn từ. Do đó, chúng tôi dùng “tôn giáo thần khải”, hay “thần giáo”, để dịch chữ religion, vì mọi religion đều có tính duy thần (théiste) và mặc khải (révelée) xác định một quyền uy tuyệt đối, khác với “tôn giáo giác ngộ” (do con người giác ngộ lập nên, như Phật giáo) và với “tôn giáo nhân luân” (xuất từ luân lý đời thường của con người, như Ðạo Thờ Ông Bà Việt Nam).

*6. Cũng như tác giả, hầu hết người Âu châu ngày nay đều phân biệt rõ những gì của văn minh Âu châu – khoa học, kỹ thuật và nghệ thuật…, chỉ được sống lại và phát triển từ thời Phục Hưng đến nay – với những gì của Catô giáo – một thần giáo đến từ phương Ðông và đã ngự trị Âu châu suốt thời Trung Cổ, còn gọi là thời kỳ “đen tối” (ténèbres), kéo dài hơn 10 thế kỷ.

*7. Ðối xứng với chữ “Tin Lành” (Bonne Nouvelle), “Tin mừng được Cứu Chuộc”, “Luật Thiện” (Bonne Loi) là “Luật Nhân Quả”. Trong quyển Théorie pur du Droit (bản dịch pháp ngữ của quyển Reine Rechtslehre, rất nổi tiếng được dịch ra gần 20 thứ tiếng từ Âu sang Á – Henri Thévenaz, Neuchatel, Thụy sĩ 1988) Hans Kelsen nhận định :

“L’idée de causalité est probablement étrangère à la mentalité du primitif et elle n’apparaît qu’à un stade de civilisation plus avancé. Elle ne serait donc pas une idée innée, comme on a pu le supposer – Tư tưởng nhân quả có lẽ xa lạ với đầu óc của người chưa khai hóa và nó chỉ xuất hiện ở một thời kỳ văn minh tiến bộ hơn. Vậy nó không phải là bẩm sinh [nơi con người], như người ta đã từng nghĩ tưởng” (trg.30).

“Quand l’homme primitif sent le besoin d’expliquer les phénomènes naturels, il les considère comme des récompenses ou des punitions, suivant qu’ils se produisent en sa faveur ou à son détriment. (…) Une telle interprétation de la nature n’est donc pas causale, mais normative, fondée qu’elle est sur la norme sociale de la “rétribution” – Khi con người chưa khai hóa cảm thấy cần giải thích những hiện tượng tự nhiên, họ cho đó là những ban thưởng hay những trừng phạt, tùy theo những hiện tượng đó có ích hay có hại cho họ. (…) Diễn giải như thế về tự nhiên không phải là nhân quả, nhưng có tính qui chế, dựa trên qui định xã hội về sự “tưởng thưởng, hay “ân sủng” (trg.31).

Nguyên tắc nền tảng của luật nhân quả là : Cái gì có thực đều có những nguyên nhân (cũng có thực) tạo ra nó. Hay như cách nói, cũng là tiêu chuẩn của lẽ phải, của người Việt : “Ơn (oán) có đầu, oan (nợ) có chủ”; “Có tội phải đền, có nợ phải trả”; “Ai làm nấy chịu, ai cột nấy gỡ”. Như mọi người đều biết, nếu không có cái nhìn theo tinh thần của quan hệ nhân quả thì cũng không có khoa học. Nhưng trong khoa học, nhất là khoa học tự nhiên, quan hệ nhân quả hầu như chỉ vận hành theo kiểu đường thẳng và một chiều, khác với quan hệ “nhân quả luân hồi”, kiểu “kỳ đà là cha cắc ké, cắc ké là mố kỳ nhông, kỳ nhông là ông kỳ đà”. Mới đây, khi phải đối diện với sự phức tạp (hay phức hợp) của sự sống nói chung, và của sự sống xã hội nói riêng, Edgar Morin (trong Introduction à la pensée complexe, tuyển tập “Communication-Complexité, Paris, 1990, trg. 158) đưa ra 3 chìa khóa để đọc sự phức tạp; chìa khóa thứ 2, récursion organisationnelle, một số quan hệ nhân quả có thể vận hành theo chiều ngược lại, tức là quả lại là nhân và nhân lại thành quả; một cách dễ hiểu, đây là kiểu quan hệ tương sinh giữa con gà và trứng gà (với chìa khóa thứ 1 : trong toàn thể có thành phần và trong thành phần có toàn thể, hay quan hệ tương dung; và thứ 3 là quan hệ tương tác : chủ thể và đối tượng của sự nhận biết tác động lẫn nhau – Xem thêm Théorie générale des systèmes của Von Bertalanffy). Mỗi bước khai hóa của trình độ tri thức con người là mỗi bước con người bước vào một “thế giới mới”, và hình như con người đang bước dần đến cái “thế giới nhân duyên sinh” mà Phật Thích Ca đã nói từ cách đây 2.540 năm. Thật ra Phật Thích Ca chỉ là người đã chứng nghiệm lại một cách rốt ráo nhất và đã nêu một cách hoàn chỉnh nhất lý lẽ của thuyết “nhân quả luân hồi” đã có ở Ấn Ðộ từ trước, đồng thời với việc vạch ra một “con đường” giúp siêu vượt “thế giới nhân duyên sinh” này. Có thể nói rằng giáo thuyết của Phật thúc đẩy tiến trình khai hóa của tri thức con người; vì vậy PG chú trọng đặc biệt đến việc khai tâm mở trí, và xem nhố việc quản lý thân xác và đất đai – hột giống Phật, chắc hẳn, không gieo trên đất TH, cũng không trên thân xác, mà gieo trong tâm trí người TH. Việc khai tâm mở trí, tự bản chất, khác với việc lôi kéo người khác theo “đức tin” của mình, và vì trình độ tri thức của con người không phải là bẩm sinh, không bất biến và cũng không đồng đều nhau, nên cũng không thể đốt giai đoạn và cứng ngắc giáo điều được, mà phải tùy cơ ứng hợp.

*8. Chữ père vẫn được người Catô giáo dịch là “cha”, hay “đức cha”, tôi phiên âm là “pe”, với lý do : để tránh mọi hiểu lầm có thể xảy ra khi bài dịch này nhắm đến tất cả người Việt, vì các chữ : cha, mố, ông, cố, nhà thờ họ, Mố Việt Nam…, đều đã có những ý nghĩa rõ ràng trong cách hiểu và cách xử lý phổ thông của người Việt – đó là những khái niệm có tính định chế nhân xã, biểu trưng những giá trị rất là nền tảng, có thể nói là thiêng liêng, của văn hóa truyền thống Việt Nam (qua Ðạo Thờ Ông Bà) mà tôi phải tôn trọng – không thể áp đặt cách hiểu của một bộ phận nhỏ lên trên toàn thể người Việt được, vì vậy các chữ “đi lễ”, “theo đạo”… sẽ phải được xác định, tùy theo từng trường hợp, như : “đi lễ chùa”, “theo đạo Chúa”… Cũng đã đến lúc phải “trả lại cho toàn thể những gì của toàn thể và cho bộ phận những gì của bộ phận”, hay “trả lại cho Việt Nam những gì của Việt Nam, và cho Thiên Chúa những gì của Thiên Chúa”, như chính đức Giê-su đã dạy.

*9. Tại sao cả Âu châu lưu tâm nhiệt thành đến tình hình của sứ bộ? Vì cả Âu châu có đóng góp cho chi phí của cuộc viễn chinh này, để được chia phần lợi phẩm (butin, cũng có nghĩa là partage) về sau. Kiểu hợp tác này đã có từ tờhi viễn chinh thập tự quân (la croissade) – sách sử ngày nay còn ghi rõ cách thức góp và chia phần trong cuộc viễn chinh thập tự quân lần thứ tư, bắt đầu vào năm 1199 do Giáo Hoàng Innocent III lãnh đạo và Boniface de Montferrat điều khiển trực tiếp.

*10. Ðược tượng trưng bằng bánh thánh (thịt của Chúa) và rượu thánh (máu của Chúa) mà tín hữu Catô giáo được ăn và uống mỗi lần dự lễ Chúa. Có người nghĩ rằng có sự liên hệ giữa truyền thống này với việc làm ra các loại bánh cốm với hình dạng thú vật, có khi có cả đầu người hoặc con người, cho trẻ em ăn, như hiện thấy ngày nay (trong khi người ta vẫn cố dạy trẻ em tinh thần bảo vệ sự sống thú vật và con người !?!).

*11. Cũng được gọi là sự phát triển từ cơ sở hạ tầng, thể theo quan niệm : “nhân dân và xã hội có trước, uy quyền và nhà nước có sau”. ngược với quan niệm của cách phát triển “phong tước kiến địa”, gọi tắt là “phong kiến”. Theo cách thứ hai, phải có một uy quyền trung ương có sẵn, uy quyền này lãnh đạo, chọn một số người, phong tước và cấp phương tiện cho họ để đi kiến lập uy quyền trên những vùng đất khác.

*12. Nghĩa nguyên thủy của chữ église là “nơi tờh phượng”. Ðến khoảng thế kỷ thứ 5 nó được có thêm nghĩa khác là “cộng đồng những người theo Catô giáo”, hay giáo hội. Nhưng vì trong Catô giáo chỉ có một Giáo Hội duy nhất, do giáo quyền tại Rôma lãnh đạo, nên đối với những cộng đồng Catô giáo tại địa phương, ở đây là tại TH, chúng tôi dùng chữ “hội thánh”.

*13. Ðặc điểm này xuất phát từ vai trò “linh mục”, hay “chủ chăn” (berger) của giáo sĩ, đối diện với những “con chiên” (brebis), khác với khi họ đối diện với những con người. A.G. Haudricourt, trong Domestication des animaux, culture des plantes et traitement d’autrui (éd. l’Homme, Paris, tome 2, No. 1 Janvier-Avril 1962) và trong Les pieds sur terre (éd. Mataillé, Paris 1987), đã đối chiếu “cái nhìn thảo mộc” (la vision arborescente) cuả xã hội nông nghiệp Ðông phương với “cái nhìn đoàn lũ” (la vision grégaire) cuả xã hội chăn nuôi Tây phương và Cận Ðông : Sự phát triển cuả xã hội nô lệ, với nô lệ như là phương tiện sản xuất chứ không phải là sự tiêu pha sang trọng, chỉ có thể xuất hiện trong xã hội chăn nuôi… mà người ta phải điều động một cách có kỹ thuật. Với nông dân Trung Hoa, cây cối mọc tự nhiên, không cần phải đánh đập hay la ó đàng sau; các việc bón phân và làm cỏ đều không cần đụng chạm đến cây – người ta chỉ đụng đến cây khi gặt hái. Ðiều này giải thích tính khắc nghiệt trong quan hệ giữa người với người tại Tây phương ảnh hưởng siêu hình cuả nó là : vai trò cuả chăn nuôi trong việc tạo thành cá tính người Âu thể hiện trong Thánh kinh. Jahwe, vị Thiên Chuá đầy ganh tị…, bỏ nhiều thì giờ trong việc rèn luyện người Do Thái cuả ông bằng “đại hồng thủy”, thanh trừng người ngoại giáo; ông nêu ra các luật lệ, ông trừng trị người có lỗi, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc tự nhiên cuả kỹ thuật chăn rèn súc vật. Không nơi nào khác mà thần thánh lại mang hình dáng cuả người chủ chăn. Không thể có hình ảnh người chủ chăn trong huyền thoại Trung Hoa… Tương tự như vậy, người Do Thái cổ (Hébreux) trên bình diện tôn giáo, người Hy Lạp trên bình diện triết lý, người Rôma trên bình diện pháp lý phản ánh cùng một cách sống. Trong khi, từ muôn thuở, để giáo dượng con người, hay trẻ em, người Việt luôn dùng hình ảnh trồng cây để làm khuôn mẫu : “Trồng người như thể trồng cây” (trích dẫn và chú thích bởi Phan Tấn Lộc, trong Ðặc tính nền tảng của văn hóa truyền thống Việt Nam, Triết số 1, 1995)

http://cusi.free.fr/pgtd/chr0051.htm

 

Phật Giáo &Cơ Đốc Giáo

Đừng bỏ gốc rễ, đừng bắt người khác phải bỏ gốc rễ 

Bị chú: Các bạn trẻ đang đau khổ vì tình yêu dị giáo, các bậc cha mẹ đang có khó khăn khi con khi đang yêu một người khác đạo, xin hãy đọc bài này.

Sáng ngày 30/04/2007 lúc 9 giờ, thiền sư Nhất Hạnh cùng phái đoàn tăng thân quốc tế Làng Mai đã đến viếng thăm nhà thờ Phát Diệm.  Thiền sư và tăng thân đã được các linh mục, các nữ tu  và các giáo dân tiếp đón rất trọng thể.  Trong số các linh mục có mặt, có linh mục Phạm Ngọc Khuê, đại diện cho tòa giám mục Phát Diệm. Các nữ tu đã hát những bài hát chào mừng chúc tụng và một ban hợp ca gồm có khoảng 30 thanh niên và thiếu nữ cũng đã hiến tặng nhiều bài thánh ca rất linh động. Trong lời chào mừng  linh mục Phạm Ngọc Khuê đã nói rằng đây là một cuộc viếng thăm lịch sử của một phái đoàn Phật giáo quốc tế như thế tại nhà thờ Phát Diệm và thỉnh mời thiền sư Nhất Hạnh phát biểu đôi lời về vấn đề giao lưu giữa Phật giáo và Cơ Đốc giáo.  Đây là những phát biểu của thiền sư Nhất Hạnh và đáp từ của Linh Mục Phạm Ngọc Khuê.

Sư Ông Làng Mai:

Kính thưa các bạn, tôi đã từng có dịp đọc Phúc Âm với con mắt của một thiền sư. Chúng tôi đã từng có giao lưu với các linh mục và các vị mục sư. Chúng tôi đã từng sinh hoạt chung, những sinh hoạt này không phải chỉ là trao đổi ý kiến và kinh nghiệm mà còn là sống chung và tu tập chung. Chúng tôi xin phát biểu trên cơ bản đó. Chúng tôi cũng đã tham dự nhiều buổi họp, nhiều hội nghị đối thoại giữa đạo Phật, đạo Ki Tô và những đạo khác. Tôi nhớ ngày xưa có một thiền sư Việt Nam đã đọc kinh Dịch và đã trình bày kinh Dịch theo cái nhìn của một thiền sư. Ngày xưa tôi đã hứa với một số các bạn trẻ là sẽ trình bày Phúc Âm qua cái nhìn của thiền quán và may mắn là tôi đã làm được việc đó. Trong thời gian 40 năm ở nước ngoài chúng tôi đã từng ngồi thiền với các vị linh mục và các vị mục sư. Chúng tôi đã cùng hoạt động cho hòa bình, và trong khi hoạt động cho hòa bình chúng tôi có cơ hội chia sẻ với nhau những tuệ giác của chúng tôi về truyền thống mình. Trong quá trình giao lưu, tôi có viết được những tác phẩm có tính cách đối thoại giữa những người theo Phật giáo và những người theo Ki Tô giáo. Cuốn sách đầu tiên mà chúng tôi xuất bản về đề tài này là “Living Buddha, Living Christ”. Bản Hoa Ngữ mang tên là “Sinh Sinh Ki Tô, Thế Thế Phật” dịch ra tiếng Việt là: “Bụt Ngàn Đời, Chúa Ngàn Đời”, nghĩa là “Bụt Bất Tử, Chúa Bất Tử.” Cuốn sách đó là kết quả của một khóa tu mà chúng tôi tổ chức tại Đức, trong đó có 50% là Phật tử và 50% là tín hữu Ki Tô giáo. Chúng tôi đã gom lại những bài thuyết giảng và làm thành cuốn sách  Living Buddha, Living Christ. Cuốn sách này đã đi rất xa, đã đi vào các tu viện kín và chúng tôi cũng đã nhận được rất nhiều thư  các Cha và các Xơ từ các tu viện kín. Cuốn sách đó giúp cho người Phật Tử hiểu thêm đạo Ki Tô và giúp người Ki Tô hiểu thêm về đạo Phật. Công đức của sách này rất lớn. Ban đầu người ta đọc chỉ vì tò mò thôi, nhưng nhờ sự tò mò đó mà có cơ hội hiểu được một nền đạo đức mà lâu nay mình chỉ có một ý niệm  mơ hồ. Sau cuốn Living Buddha, Living Christ thì chúng tôi có cuốn Going Home, Buddha and Jesus as Brother. (Chúng ta hãy về nhà đi thôi, Bụt và Chúa là hai anh em). Sách này cũng được đón nhận một cách rất nồng nhiệt ở trong giới độc giả Tây Phương, Phật Tử cũng như Cơ Đốc giáo. Ở Mai Thôn Đạo Tràng tại Pháp, mỗi năm đến ngày giáng sinh, chúng tôi luôn luôn tổ chức lễ Giáng Sinh rất long trọng, tại vì đa số các thiền sinh  đều có nguồn gốc Ki Tô giáo. Ngày giáng sinh rất nhiều thiền sinh Tây phương về Đạo Tràng Mai Thôn như con cháu về nhà tổ phụ. Vì vậy vào đêm Giáng Sinh tôi luôn luôn  giảng một bài về Phật và về Chúa. Tôi nhớ có một linh mục tên là Thomas Kwan người Hồng Kông đã nghe được nghe một bài như vậy và vị linh mục này thấy rất tiếc, vì hôm đó chỉ có 600 người được nghe. Linh mục nói: “Tất cả các tín hữu Cơ Đốc giáo trên thế giới phải được nghe bài này. Để có thể thấy rõ Chúa và con đường của mình hơn”. Tôi đã sưu tập được 10 bài giảng Giáng Sinh như thế, làm được cuốn sách thứ hai gọi là Chúng ta hãy về nhà đi thôi, Bụt và Chúa là hai anh em. Rất tiếc là hai cuốn nói trên chưa được dịch ra tiếng Việt . Những người đến với chúng tôi trong các khóa tu tại Mỹ Châu và Âu Châu, đại đa số là những người tín đồ Công giáo, Tin Lành và Do Thái giáo. Chúng tôi khuyên họ không nên bỏ đạo gốc của mình. Chúng tôi biết do kinh nghiệm khi một con người mất gốc thì người đó không bao giờ có hạnh phúc thật sự được. Vì vậy khi họ tới thực tập theo pháp môn của đạo Phật chúng tôi  yêu cầu họ đừng bỏ gốc rễ của họ và khuyên họ sau khi tu tập thành công rồi, khi đã chuyển hóa được những bức xúc, khó khăn và giận hờn rồi thì hãy về với truyền thống của mình và hãy giúp truyền thống mình làm mới lại. Thanh niên bây giờ thấy được là giáo đường, nhà thờ chưa cung cấp được những giáo lý và những thực tập có thể đáp ứng được những khổ đau, những bức xúc của họ. Vì vậy không chỉ đạo Phật phải làm mới mà đạo Ki Tô cũng phải làm mới  thì mới đáp ứng được những nhu yếu của người trẻ hôm nay. Giới trẻ hôm nay bỏ nhà thờ mà đi rất đông. Điều tôi nói cũng rất trung thực với giáo lý của Phật tại vì Phật giáo luôn luôn có thái độ rất cởi mở, phá chấp. Mình không nên bám víu một giáo điều cho đó là chân lý tuyệt đối và để rồi xem  các giáo lý khác là tà đạo. Vì vậy thái độ của người Phật Tử là giang tay ra ôm lấy tất cả mọi người. Tình yêu trong đạo Phật là “Từ Bi Hỷ Xả.” Xả có nghĩa là inclusiveness, không loại trừ bất cứ người nào ra khỏi tình thương của mình, dù người đó không phải là đồng bào của mình, không phải theo tôn giáo của mình.  Tiếng pháp dịch là équanimité. Tôi quyết hành động theo tinh thần này tại vì hồi xưa các giáo sĩ tới Việt Nam truyền đạo đã bắt người Việt mình phải bỏ đi tôn giáo gốc của mình và điều đó đã gây đau khổ kkhông ít. Những người có gốc gác Cơ đốc giáo tới tu tập với chúng tôi rất hạnh phúc vì họ có cảm tưởng là họ được công nhận 100%, họ không cần phải từ bỏ niềm tin của họ, gốc gác văn hóa của họ. Sau một thời gian thực tập, họ có thể thấy, khám phá ra được những châu báu trong truyền thống của họ mà trước đây họ chưa thấy. Nhờ tiếp xúc với đạo Phật mà họ trở về và khám phá ra những châu báu trong các gia sản tâm linh ở Cơ Đốc giáo và Do Thái giáo. Điều đó làm chúng tôi rất vui mừng. Chúng tôi thường hay nói với các bạn Cơ Đốc giáo là cõi Tịnh Độ hay cõi Niết Bàn có mặt ngay trong giây phút hiện tại. Nếu chúng ta có trái tim tinh khiết, trái tim có năng lượng của niệm, định và tuệ, nếu chúng ta có mặt đích thực trong giây phút hiện tại thì chúng ta có thể tiếp xúc được với những mầu nhiệm của thế giới Cực Lạc, của Tịnh Độ  có mặt ngay trong giây phút hiện tại. Chúng ta không cần phải chết đi mới sinh về Tịnh Độ, mà có thể đi vào trong Tịnh Độ bằng mỗi bước chân, ngay bây giờ và ở đây. Giáo lý ấy được thực tập tại Mai Thôn Đạo Tràng, và chúng tôi cũng đã chia sẻ cho các bạn Cơ Đốc giáo và Do Thái giáo. Chúng tôi nói rằng các bạn không cần phải chết đi mới đi về nước Chúa. Nếu các bạn có tình thương, có ý thức sáng tỏ, có tâm rộng mở thì mỗi hơi thở và mỗi bước chân có thể đưa các bạn vào nước Chúa trong giây phút hiện tại. Thiên Quốc có mặt trong giây phút hiện tại. Trong đạo Phật các vị tổ có nói rằng Tịnh độ và Phật nằm trong trái tim của mình. Phúc Âm cũng nói như thế, Thiên Quốc nằm trong trái tim của mình và vì vậy mình đi tìm thiên quốc hay tịnh độ nơi khác và thời khác thì có thể sai.

Khoa học lượng tử bây giờ bắt đầu dùng danh từ phi cục bộ, tiếng Anh là “non-local”. Cái thực tại lượng tử là phi cục bộ, chúng ta không thể nào xác định vị trí của một lượng tử trong thời gian hoặc không gian. Bản chất của lượng tử là phi cục bộ. Chúng tôi nghĩ rằng ngôn ngữ ấy chúng ta có thể áp dụng cho Phật độ và cho Thiên Quốc. Thượng Đế, hay Thiên quốc là những thực tại phi cục bộ, chúng ta không thể xác định vị trí của nó trong không gian và thời gian, tại vì nó nằm trong trái tim của mình. Khi trái tim của mình đã sẵn sàng rồi thì là mình đang ở trong Thiên quốc, đang ở với Thượng Đế, không cần phải trông chờ điều đó trong tương lai. Chúng ta tu như thế nào, thực tập như thế nào để Thiên quốc có mặt trong giây phút hiện tại. Chúng ta tu như thế nào, thực tập thế nào để tịnh độ có mặt trong giây phút hiện tại. Và hạnh phúc không cần chờ đến tương lai. Hiện pháp lạc trú là một giáo lý Phật giáo. Nhà văn André Gide có nói một câu làm tôi rất thích. Ông nói Thượng Đế tức là hạnh phúc ( Dieu est bonheur ). Và ông nói thêm một câu nữa: “Thượng Đế có mặt cho chúng ta 24 giờ một ngày …”.  Những câu nói đó rất phù hợp với giáo lý đạo Phật. Nếu chúng ta đi sâu vào Phúc Âm, chúng ta cũng thấy chân lý đó, nghĩa là nếu chúng ta đem tâm trở về với thân mà nhận diện được tất cả những cái mầu nhiệm đang có mặt trong ta và xung quanh ta thì lúc đó ta đang ở trong Thiên quốc và ta đang tiếp xúc sâu sắc với Thượng đế. Nếu nhà thờ và nhà chùa có thể cung cấp được những giáo lý đó và đưa ra những phương pháp thực tập để con người có thể sống an lạc và hạnh phúc trong giây phút hiện tại thì người ta sẽ không cần đi tìm hạnh phúc ở sắc dục, tiền tài và danh vọng. Trong Phúc âm có câu chuyện một bác nông phu khám phá ra được một kho tàng chôn giấu ở trong một đám ruộng và sau đó đi về và bán đi những khu ruộng khác để chỉ mua một đám ruộng đó. Khi chúng ta đã tu và tiếp xúc được với nước Chúa và Chúa rồi thì chúng ta đâu cần những cái khác nữa, chúng ta đâu cần danh, không cần lợi, không cần sắc dục, không cần quyền lực, vì chúng ta đã hạnh phúc chán. Vì vậy cái giáo lý nào và sự thực tập nào giúp cho ta tiếp xúc được với Thiên chúa trong giây phút hiện tại thì đó là kho tàng châu báu của chúng ta. Hạnh phúc ấy chúng ta có thể đạt được trong giây phút hiện tại, không cần phải chết đi mới có. Nói chuyện với các bạn Do Thái giáo và Ki Tô giáo chúng tôi cũng chia sẻ cách thực tập, mỗi hơi thở mỗi bước chân của mình có thể đưa mình vào Thiên quốc mà đừng trông chờ Thiên quốc ở tương lai.
Tôi nhớ có một lần thăm viếng Đại Hàn tôi được tham dự vào một buổi giao lưu giữa người Kitô giáo và người Phật tử: đó là lần đầu tiên mà người Phật tử và người Cơ Đốc giáo tới với nhau. Tôi có đưa ra vấn đề có những thanh niên thiếu nữ khác tôn giáo yêu nhau. Bên này bắt bên kia phải bỏ đạo, phải chọn lựa. Đó là một  vấn đề còn tồn tại ở nhiều nước và ngay trong nước Việt Nam chúng ta. Và biết bao nhiêu cặp thanh niên thiếu nữ đã đau khổ tại vì thế. Tôi nghĩ rằng một người có thể rất hạnh phúc khi có hai gốc rễ, một gốc rễ Cơ đốc giáo và một gốc rễ Phật Giáo. Hai cái đó không nhất thiết phải loại trừ nhau. Tại vì mình hẹp hòi cho nên mình mới thấy hai cái khác nhau chống đối nhau. Nhưng nếu mình vượt lên, thấy được hai truyền thống có thể bổ túc cho nhau thì mình sẻ có một thái độ cởi mở hơn. Trong số các đệ tử của tôi có rất nhiều các thầy các sư cô có gốc Cơ đốc giáo và Do Thái Giáo, nhưng họ hạnh phúc vô cùng khi được tu tập và ôm ấp luôn cả hai truyền thống. Ngay trong phái đoàn của chúng tôi  có mặt hôm nay có một vị đại đức ngày xưa đã từng làm linh mục. Vị linh mục đó tới với đạo Phật và khám phá ra những phương pháp thực tập rất thiết thực có thể thực hiện được lý tưởng của Cơ đốc giáo. Chúng ta thấy có hai gốc rễ đôi khi lại hay hơn có một gốc rễ và vì vậy ngay trong đại hội đó tôi đã đề nghị khi hai thanh niên yêu nhau, một người thuộc về Cơ đốc giáo, một người thuộc về Phật Giáo thì cả hai gia đình nên cho họ cưới nhau với điều kiện hai bên công nhận truyền thống của người bên kia và nếu người con trai là Cơ Đốc Giáo và người con gái là Phật Giáo thì người con gái phải học thêm Cơ Đốc Giáo và người con trai phải học thêm Phật Giáo. Và đến ngày chủ nhật thì hai người cùng đi nhà thờ, đến ngày mồng một và ngày rằm thì hai người cùng đi Chùa. Và điều đó là điều chúng tôi đã thực hiện được ở Tây Phương. Tại sao chúng ta phải để cho các bạn trẻ tiếp tục đau khổ năm này qua năm khác ?. Và đó là tinh thần cởi mở mà chúng tôi đã thấy được rõ ràng khi đọc kinh Phật và kinh Thánh. Hôm nay tôi xin nói ra vài cái thấy của tôi cũng như một món quà hiến tặng qúy vị có mặt ở đây.

Sư cô Chân Không hỏi:

Như Sư ông đề nghị tức là khi một người Công giáo và một người Phật giáo thương yêu nhau thì người Phật tử nên học hỏi những gì tinh ba nơi Công giáo và gia đình phải đi nhà thờ vào những ngày Chủ nhật và đi chùa vào mồng một và ngày rằm. Con xin hỏi là quý vị linh mục có chấp nhận được như vậy không? hay là người Phật tử chỉ phải theo đạo của  người chồng, phải làm lễ rửa tội và phải từ bỏ đạo Phật? Con xin hướng câu hỏi này về cho các vị Tôn đức bên phía Công Giáo.

Cha Phạm Ngọc Khuê trả lời:

 Đây là một câu hỏi có thể nói là thật sự rất tế nhị và rất thời sự. Trước hết tôi xin được nêu lên nguyên tắc về giáo luật và kinh thánh. Thiên chúa không bao giờ ngăn cản con người tự nguyện nhất là trong việc hôn nhân gia đình thì không có bao giờ ngăn cản hai người thương yêu nhau. Giáo hội không bao giờ chặn ngăn hai người nam nữ yêu thương và tiến tới hôn nhân với nhau, điều đó là chắc chắn thuộc về giáo luật, không ai có quyền ngăn cản tình yêu của họ, vì đó là tuyệt đối. Nhưng tại sao lại xảy ra cái vấn đề giữa nam nữ tín đồ các tôn giáo khác nhau lại có những vấn đề mà người ta chưa đi đến chỗ kết hôn với nhau thì do đâu? Trong thực hành việc phục vụ hôn phối, đối với anh em trong Công giáo chúng tôi, đối với danh Chúa, đối với người tín đồ Công giáo cũng như giáo hội thì chúng tôi không bao giờ đặt vấn đề là phải trở thành người Công Giáo thì mới có thể cưới (nhau )về phía công giáo của mình (trở thành vợ chồng). Không bao giờ có vấn đề đó, chúng tôi luôn luôn tôn trọng tình yêu của họ. Và tôi nói với người nam hoặc người nữ là tình yêu của các anh chị là tình yêu tuyệt đối và chúng tôi tôn trọng. Tuy nhiên khi hai người quyết định yêu thương nhau thì đức tin của người tín đồ Ki Tô Giáo cũng như Phật giáo phải được tôn trọng bởi sự tự do của họ. Cũng như Thầy Thích Nhất Hạnh đã nói là họ phải sống cội rễ của họ họ mới thấy hạnh phúc. Và cái việc họ được chịu phép rửa tội là hoàn toàn tự do. Cho nên giáo hội chỉ nói một điều này. Khi tiến tới hôn nhân thì hai người phải hứa là tôn trọng  quyền lợi của nhau và niềm tin của mỗi người, và không được vi phạm. Vì vậy về phía tín đồ tôn giáo khác phải cam đoan, có thể nói là tuyên thệ  tôn trọng niềm tin vì đó là lãnh vực thiêng liêng và tự do tôn giáo, không ai được can thiệp. Tôn trọng niềm tin của tín đồ thiên chúa giáo, không được ngăn cản. Nếu họ giữ được như thế thì cuộc hôn phối đó được tốt đẹp và thành sự trước mặt Chúa và trước luật pháp . Luật thì như vậy, nhưng trong thực tế thì không luôn luôn được xảy ra như vậy. Hoàn cảnh của Việt Nam thì khác nữa, nghĩa là trong hoàn cảnh rơi rớt của chế độ phong kiến vẫn còn nhiều cho nên quý vị biết rõ là ở Việt Nam người nam có quyền hơn người phụ nữ. Mặc dù họ hứa như vậy, nhưng khi về nhà mà hai vợ chồng không có hòa thuận với nhau cơm không lành, canh không ngọt. Khi họ sống chung với nhau và nếu như có chiến tranh trong gia đình thì họ đổ lổi trên đầu người tín đồ của mình hoặc Ki Tô Giáo hoặc người Phật Giáo tôi không nói là về phía này hay phía kia. Nếu người chồng có quyền thì sẽ buộc người vợ không theo tín đồ của mình, theo tôn giáo của mình nữa. Và có thể có khó khăn trong gia đình. Chính vì vậy Giáo hội đặt ra điều kiện này, nếu một người tín đồ tôn giáo khác, lấy người Công giáo, rồi sau đó Phật tử, hay là người thờ ông bà không giữ lời tuyên thệ trung thành thì người tín hữu Công giáo có thể trình lên thẩm quyền nguồn Thánh có thể tháo cái hôn phối mà người ta đã cam kết chỉ vì nếu mà đe dọa đến cái niềm tin tự do của mình giáo hội phải bảo vệ con cái của mình. Quý vị phải hiểu là đây không phải là bắt buộc phải làm. Các gia đình đó là truyền thống của gia đình, hoàn cảnh của gia đình muốn con cái của mình giòng sớ, cũng như quý cô, quý ông bà cũng như quý vị muốn cho gia đình mình cùng một chiều cho dễ để việc đó cho dễ hơn. Về phía giáo hội thì không có đứng ngăn cản sự việc hôn nhân của họ. Xin quý vị hiểu rõ thì về luật giáo thì không ép buộc mà buộc một trong hai người phải tôn trọng tôn giáo của nhau. Phải dành ưu tiên nhất cho người bạn đời theo tôn giáo đó để thực hành niềm tin tôn giáo và không có ngăn cản  giữ đức tin riêng của họ.

Một cha hỏi :

Người thương gia trong kinh thánh tìm thấy viên ngọc quý và về bán tất cả gia tài để mua lấy viên ngọc quý đó, đây là một trang tin mừng rất hay của kinh thánh Tân ước, vậy xin hỏi giáo sư viên ngọc vùi trong thửa ruộng này dưới mắt Phật giáo là gì và đối với Công giáo diễn tả điều gì? Xin giáo sư vui lòng cho biết.

Sư Ông Làng Mai:

Trước hết tôi xin đề nghị thêm cho hai bên giáo hội Công giáo và Phật giáo phải có những văn bản rõ rệt về vấn đề hôn nhân dị giáo này. Nếu tôi là pháp chủ Phật giáo Việt Nam thì tôi sẽ cho phép những người con trai hay con gái Phật giáo lấy những người con trai hay con gái Công giáo và hai người  được học truyền thống của nhau, hai người cùng đi nhà thờ một lần, hai người cùng đi chùa một lần, hai người cùng được rửa tội một lần và hai người đều được quy y. Cha Thomas Kwan  một linh mục người Hồng Kông đã quy y ở Làng Mai nói sau khi quy y và thọ năm giới thì cha hiểu giá trị truyền thống của Cha nhiều hơn. Cha đã đem năm giới đó về dạy cho giáo dân của cha. Và đã giúp được rất nhiều người và thấy rõ là hai bên bổ túc cho nhau, không chống đối nhau.  Vì vậy khi một cặp thanh niên khác đạo muốn cưới nhau thì nên nói cho họ biết là cả hai người nên cùng được rửa tội và cùng được quy y. Hai cái đó không chống đối nhau. Nếu chúng ta cần 100 năm để các giáo hội đi tới sự thỏa thuận về văn bản đó thì cũng đáng tại vì các cặp thanh niên nam nữ đã khổ hơn 400 năm nay rồi, nếu cần 100 năm nữa để tới văn kiện đó cũng đáng để chúng ta chờ đợi. Nhưng trong cái thời đại toàn cầu hóa này, biết đâu, có thể vài ba tháng các giáo hội đã có thể ra một văn kiện như thế để làm các thanh niên bớt khổ. 

Cái kho tàng chôn giấu trong đám ruộng đó, tức là Thiên chúa, tức là Thiên quốc, mà trong Phật giáo gọi là Niết bàn, là Cực lạc, là Phật độ. Mỗi người có thể gọi cái kho tàng đó bằng một cái tên khác, nhưng mà nó cùng là một thực tại. Trong đạo Phật có giáo lý về Niết bàn như thực tại không sinh, không diệt, không tới, không đi, không còn, không mất, đó là nền tảng của tất cả các hiện tượng của vũ trụ.  Nếu không có cái đó thì tất cả các hiện tượng không có chỗ nào để trở về. Cái đó mình có thể gọi tương đương với Thiên chúa của Cơ đốc giáo. Tại vì Thiên chúa phải là bất sinh bất diệt, phi hữu phi vô, vô khứ vô lai. Ngôn ngữ của loài người của chúng ta không thể nào diễn tả được Thiên chúa. Nếu anh nói anh có thể diễn tả được Thiên chúa là gì, tức là anh còn nông cạn. Niết bàn là một thực thể cần phải chứng nghiệm. Nếu anh dùng những ý niệm, những ngôn từ để diển tả Niết Bàn thì anh sẽ không bao giờ có thể diễn tả được. Dùng những phương tiện hữu hạn mà diễn tả cái vô hạn, đó là việc không thể nào làm được. Niết Bàn hay Thượng đế cũng thế. Niết bàn, bản thể, chân như là thực tại không sinh không diệt; cái đó chính là Thiên chúa của Cơ đốc giáo. Cũng như cái mà người Việt chúng ta gọi là chuối thì người Pháp gọi là banane. Chuối và banane là hai danh từ để chỉ cho một loại trái cây. Chúng ta có thể gọi cái tuyệt đối bằng nhiều tên, nhưng thực tại không sinh không diệt là nền tảng của tất cả các hiện hữu. Ta có thể gọi đó là chân như, là pháp thân là niết bàn hay là Thượng đế. Chúng ta đừng mất thì giờ  vì những tên từ, chúng ta nên tiếp xúc trực tiếp với thực tại.

 

Quan niệm giải thoát trong Phật giáo & Gia-tô giáo

Trần Chung Ngọc


Trong cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng (Crossing The Threshold of Hope), Giáo hoàng John Paul II (JP II) đã có nhiều nhận xét sai lầm về Phật Giáo. Riêng về giáo lý giải thoát, JP II đã đưa ra một nhận định như sau:

“Tuy nhiên, cần phải nói ngay rằng giáo lý giải thoát của Phật Giáo và Ki-Tô giáo đối ngược nhau.”

(Nevertheless, it needs to be said right away that the doctrines of salvation in Buddhism and Christianity are opposed. p.85)

Nhận định trên của JP II có lẽ chỉ đúng trên mặt văn tự, và theo một nghĩa rất hẹp, vì tôi không tin rằng JP II đã nắm vững được giáo lý giải thoát của Phật Giáo. Thật vậy, giáo sư Phật học Ken Tanaka, linh mục gia tô Thomas Hand, và Thiền sư Alan Senauke, đều có chung một nhận xét: JP II không đủ kiến thức về Phật Giáo nên đã đưa ra những nhận định sai lầm nghiêm trọng về Phật Giáo. Và, dựa trên những lời phê phán sai lầm về Phật Giáo của JP II như: “bi quan, xa lánh cuộc đời, tiêu cực,” và vô nghĩa hơn nữa, “một thuyết cứu rỗi qua Giê-Su Ki-Tô tiêu cực” (negative soteriology), thì chúng ta thấy rằng sự đối ngược trong giáo lý giải thoát của Phật Giáo và Ki Tô giáo mà JP II nêu trên đã được dẫn xuất từ một quan điểm đặc thù Gia-Tô và từ những nhận xét sai lầm về Phật Giáo, chứ không phải là sự đối ngược về căn bản triết lý, suy lý, và thực nghiệm. Cho nên, để cho vấn đề được sáng tỏ, tôi xin viết một bài khảo luận nho nhỏ về quan niệm giải thoát trong Phật Giáo và Gia-Tô Giáo. Bài phân tích này dựa phần lớn vào những tài liệu hiện hữu, vào kinh điển Phật Giáo và Thánh Kinh Gia Tô, và nhất là dựa vào sự suy lý trong ánh sáng của luận lý học (logic), của khoa học và những hiểu biết thông thường (common sense). Tuy nhiên, tôi cần phải nói rõ một điều: Bài khảo luận này không phải là một bài thuộc môn học so sánh các tôn giáo, lại càng không phải là một bài so sánh giáo lý Phật Giáo và Gia Tô Giáo để phân định đúng sai, hay dở. Chúng ta không thể nào so sánh, hay nói khác đi, lấy một giáo lý làm chuẩn để phê phán một giáo lý khác, điều mà John Paul II đã làm khi viết cuốn Crossing The Threshold of Hope, vì từ tinh thần, triết lý cho tới các phương pháp hành trì, các tôn giáo đều khác nhau. Bài này chỉ có mục đích duy nhất là trình bày khách quan những sự khác biệt căn bản trong giáo lý giải thoát của Phật Giáo và Gia Tô Giáo, những mâu thuẫn tự tại trong các giáo lý này, nếu có, để cho bạn đọc có thể có một ý niệm rõ ràng hơn về vấn đề giải thoát trong hai tôn giáo.

GIÁO LÝ CỨU RỔI CỦA ĐẠO GIA TÔ

Chúng ta đã biết rằng Gia Tô Giáo là một đạo cứu rỗi (Salvation Religion), và Phật Giáo là đạo Giác Ngộ (Religion of Enlightenment). Sự khác biệt này hết sức quan trọng nếu chúng ta muốn đi sâu vào vấn đề giải thoát trong mỗi tôn giáo.

Nói một cách ngắn gọn, thì sự giải thoát trong Gia Tô Giáo là sự “giải thoát khỏi tội qua một Đấng Cứu Rỗi” (Salvation from sin through a Savior). Giáo lý giải thoát này được đặt căn bản trên một số tín điều mà các tín đồ Gia Tô phải tin, và đức tin này là tuyệt đối, không có bàn cãi, suy luận, hoặc hiểu. Thí dụ, trong cuốn Crossing The Threshold of Hope, John Paul II đã đưa ra một số tín điều như: “Thánh Phao Lồ ý thức thâm sâu rằng Chúa Ki-Tô là căn nguyên, là tuyệt đối.”, “Chúa Ki-Tô là bí tích của Thiên Chúa vô hình”, “Giáo Hoàng là một bí nhiệm” và khẳng định: “Điều mặc khải này dứt khoát, con người chỉ còn có thể hoặc chấp nhận, hoặc chối bỏ.” Cho nên các tín đồ Gia Tô chỉ còn có việc tin và tuân phục Giáo Hoàng. Lý trí hay khả năng suy luận của con người trở nên thừa thãi, vì không cần dùng đến trong một đức tin thuộc loại trên. Muốn được giải thoát, một tín đồ Gia Tô phải tin vào nhiều tín điều lắm. nhưng đại cương thì đức tin Gia Tô gồm có những tín điều chính trong Kinh Tin Kính của các Tông đồ (Apostle’s Creed):

1. Tin rằng có một vị Thần, được coi là Đấng Toàn Năng, Toàn Trí, Toàn Thiện, đã tạo dựng ra thế giới chúng ta đang sống, được coi là thế giới duy nhất, và loài người. Từ tín điều này, con người phải tin rằng Adam và Eve là Nguyên Tổ của loài người, có thể vì không muốn suốt đời bị ngu đần, không biết thế nào là phải là trái, nên cưỡng lời Thần ăn trái cây trên Cây Hiểu Biết để cho sáng mắt ra, biết thế nào là phải trái, nên bị coi là sa ngã gây thành tội Tổ Tông mà các thế hệ loài người cho tới ngày tận thế đều vướng phải cái tội tổ tông này và bị luận phạt.

2. Tin rằng Giê-Su (Jesus Christ) , một nhân vật lịch sử sống trong thời thống đốc Pontius Pilate, là người con duy nhất của Thần Gia Tô. , được phái xuống trần làm đấng cứu thế, để những người tin vào Người sẽ không bị luận phạt, được sống đời đời, lẽ dĩ nhiên sau khi chết.

3. Tin ở thuyết Chúa Ba Ngôi: Cha , Con và Thánh Ma (Holy Ghost) đều là một.

4. Tin rằng Giê-Su được sinh ra từ một trinh nữ (Virgin Birth) do phép Chúa Thánh Thần làm cho mang thai

5. Tin rằng Giê-Su đã chịu đóng đinh trên Thập giá để chuộc tội cho những ai tin người, chết xuống ngục tổ tông nhưng sống lại sau ba ngày, và sau đó bay lên trời ngồi bên phải Chúa Cha.

6. Tin rằng Giê-Su sẽ trở lại thế gian để phán xét và luận tội mọi người. Người nào tin Giê-Su thì được lên Thiên Đường, người nào không tin sẽ bị vĩnh viễn đầy hỏa ngục.

  1. Tin rằng giáo hội Gia Tô là hội Thánh
  2. Tin ở phép tha tội và tin xác chết loài người ngày sau sống lại

Trong khuôn khổ một bài báo hiển nhiên tôi không thể luận về những tín lý trên. Điều này đã có rất nhiều nhà Thần Học và các học giả chuyên về tôn giáo làm rồi. Tôi sẽ luận về từng điểm một trong Kinh Tin Kính ở một nơi khác. Ở đây tôi chỉ bình luận về vài điểm dựa theo những hiểu biết mới nhất hiện nay về tín ngưỡng Gia Tô Giáo.

Thực ra thì bây giờ không còn mấy người thực sự còn tin ở thuyết sáng tạo: thế giới hiện hữu là do một vị Thần tạo ra trong 6 ngày rồi nghỉ ngày thứ bảy. Tất cả những khám phá mới nhất của khoa học: từ căn nguyên của vũ trụ, cấu hình của vũ trụ cho tới tuổi của vũ trụ và loài người, thứ tự xuất hiện các sinh vật và thực vật v…v.. trên thế giới, đều hoàn toàn không phù hợp với những điều mô tả trong chương Sáng Thế của Thánh Kinh, chưa kể là những người viết Thánh Kinh, được coi là viết theo lời mặc khải của Thần, hoàn toàn mù tịt về vật lý, thiên văn, sinh học, địa chất học v…v…, và nhất là rất kém về phương diện đạo đức.

Robert Ingersoll, một tư tưởng gia lỗi lạc của Mỹ đã viết từ ngay cuối thế kỷ thứ 19 là:

“Có một người thông minh nào trên thế giới còn tin ở chuyện Vườn Eden (nơi Adam và Eve sa ngã. TCN)? Nếu anh thấy ai còn tin như vậy, hãy gõ lên trán họ, anh sẽ nghe thấy một tiếng vang” (có nghĩa là đầu óc những người này rỗng tuếch.TCN)

(Is there an intelligent man or woman now in the world who believes in the Garden of Eden story? If you find any man who believes it, strike his forehead and you will hear an echo.)

Thực ra, tòa Thánh Vatican và các giới chức lãnh đạo Gia Tô gần đây đã gián tiếp công nhận thuyết Big Bang nhưng lẽ dĩ nhiên đa số tín đồ kém hiểu biết đâu có biết tới điều này. Hơn nữa, đối với đám giáo dân đông đảo này Tòa Thánh vẫn chính thức rao truyền cho giáo dân phải tin vào thuyết sáng tạo. Tại sao vậy? Trước khi trả lời câu hỏi này chúng ta cần phải biết rõ một sự kiện:

Trong cuốn A Brief History of Time, Stephen Hawking, một vật-lý gia sáng danh nhất hiện nay về những thuyết vũ trụ của ông ta, đã kể như sau:

“Năm 1981, khi dự một cuộc hội thảo về vũ trụ học do các Cha dòng Tên tổ chức ở Vatican, tôi lại quan tâm tới vấn đề nguồn gốc và số phận của vũ trụ. Giáo hội Gia Tô đã phạm phải một sai lầm lớn đối với Galileo khi đặt luật lệ tôn giáo trên một vấn đề khoa học, tuyên bố là mặt trời quay xung quanh trái đất. Nay, nhiều thế kỷ sau, giáo hội quyết định mời một số chuyên gia để cố vấn cho họ về vũ trụ học. Cuối cuộc hội thảo, các tham dự viên được hội kiến với Giáo Hoàng. Ông ấy bảo chúng tôi rằng có thể nghiên cứu về sự tiến hóa của vũ trụ sau sự nổ bùng lớn (big bang), nhưng không nên tìm hiểu về chính sự bùng nổ lớn vì đó là lúc Sáng Tạo, do đó là tác phẩm của Thần. Tôi rất mừng vì ông ta không biết đề tài mà tôi mới trình bày trong cuộc hội thảo – có thể là miền không-thời-gian hữu định nhưng không có biên giới, nghĩa là không có lúc đầu, không có lúc Sáng Tạo.”

(In 1981 my interest in questions about the origin and fate of the universe was reawakened when I attended a conference on cosmology organized by the Jesuits in the Vatican. The Catholic Church had made a bad mistake with Galileo when it tried to lay down the law on a question of science, declaring that the sun went around the earth. Now, centuries later, it had decided to invite a number of experts to advise it on cosmology. At the end of the conference the participants were granted an audience with the Pope. He told us that it was all right to study the evolution of the universe after the big bang, but we should not inquire into the big bang itself because that was the moment of Creation and therefore the work of God. I was glad then that he did not know the subject of the talk I had just given at the conference – the possibility that space-time was finite but had no boundary, which means that it had no beginning, no moment of Creation.)

Chúng ta nên để ý rằng, khi mà Giáo Hoàng “cho phép” các khoa học gia tìm hiểu về sự tiến hóa của vũ trụ sau sự nổ bùng lớn thì ngài đã thừa nhận là vũ trụ sinh ra từ một “big bang”. Và như vậy là phủ nhận sự hiện hữu của Thần Gia Tô, vì “big bang” chẳng qua chỉ là sự nổ bùng của một dị điểm vô cùng nóng, vô cùng đặc. (Big bang is nothing else but the explosion of an infinite hot, infinite dense singularity). Sự bùng nổ này đột nhiên xảy ra và xảy ra trong một phần của một giây đồng hồ, cho nên khi Giáo Hoàng bảo “không nên” tìm hiểu về chính hiện tượng big bang, vì đó là lúc Thần sáng tạo, thì ngài cũng chỉ nói cho vui và để cho Ngài nghe thôi, vì ai cũng hiểu rằng hiện tượng big bang không thể nào phù hợp với thuyết sáng tạo trong Thánh Kinh theo đó Thần tạo ra vũ trụ trong 6 ngày. Nhưng tại sao Tòa Thánh lại vẫn duy trì thuyết sáng tạo trong Thánh Kinh và ngay trong cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng Giáo Hoàng vẫn khẳng định thuyết sáng tạo? Chúng ta hãy nghe G.W. Foote giải thích trong cuốn Những Chuyện Hư Cấu Trong Thánh Kinh (Bible Romances):

“Trong mọi nước theo Ki-tô giáo, quần chúng được dạy từ thưở nhỏ rằng Thần tạo ra vũ trụ trong 6 ngày và rồi nghỉ ngày thứ bảy. Nhưng mọi học sinh đều biết rằng thuyết này hoàn toàn sai, mọi khoa học gia coi thuyết này như là vô nghĩa, và giới giáo sĩ có học cũng đã bắt đầu giải thích khác đi. Nhưng họ phải giữ thuyết Sáng Tạo theo một nghĩa nào đó vì hai lý do chủ yếu. Thứ nhất, thuyết này đứng ngay trên ngưỡng cửa của Thánh Kinh, và nếu thuyết này chỉ là giả tưởng thì những gì tiếp theo nó không tránh khỏi mất giá trị. Thứ nhì, nó liên kết chặt chẽ với thuyết sa ngã của con người. Cả hai thuyết này hoặc cùng sống hoặc cùng chết với nhau. Nếu thuyết sa ngã của con người chỉ là một huyền thoại, thì Ki-Tô giáo sẽ trở thành thế nào? Mô thức giải thoát của Ki Tô giáo thật là vô nghĩa nếu không dựa trên thuyết sa ngã của con người. Không có thuyết sa ngã này, và lời nguyền rủa của Thần tiếp theo đó, sự cứu rỗi là một tín lý không có căn cứ, và Chúa Giáng Sinh, bị đóng đinh, và Phục Sinh là những sai lầm to lớn.

Thuyết Sáng Tạo, như chúng tôi sẽ chứng tỏ sau đây, là một thuyết không tự hợp, tự mâu thuẫn, và vô nghĩa. Thuyết này cũng trái nghịch với những sự thực hiển nhiên nhất trong khoa học.”

(In every Christian country the masses of the people are taught in childhood that God created the universe in six days and rested on the seventh. Yet every student knows this is utterly false, every man of science regards it as absurd, and the more educated clergy, are beginning to explain it away. But they must retain the Creation Story in some sense or other, for two very strong reasons. First, it stands at the very threshold of the Bible, and if it is a mere fiction it inevitably throws discredit on all that follows. Secondly, it is inseparably connected with the Story of the Fall. Both live or perish together. And if the Fall is to be regarded as a myth, what becomes of Christianity? The Christian scheme of salvation is unintelligible without the antecedent doctrine of the Fall of Man. Without the Fall, and the ensuing curse, the Atonement is a baseless dogma, and the Incarnation, the Crucifixion, and the Resurrection are gigantic mistakes.

The Creation Story, as we shall attempt to show, is incoherent, self-contradictory, and absurd. It is also discordant with the plainest truth of Science.)

Tuy vậy, một số đông đảo tín đồ Gia Tô vẫn tín ở thuyết sáng tạo bất kể những sự thực hiển nhiên của khoa học. Họ phải tin như vậy vì cái mà họ mong ước: được sống đời đời nơi Thiên Đường bên cạnh Chúa, sẽ trở thành một ảo vọng nếu họ thừa nhận thuyết sáng tạo chỉ là một huyền thoại. Nhưng sự thực thì họ có được Chúa cứu rỗi như họ đã được hứa hẹn hay không? Và Thiên đường ở đâu khi mà chính Giáo hoàng John Paul II đã khẳng định là Thiên đường không phải là một nơi chốn trên các tầng mây mà ở ngay trong tâm con người (cóp nhặt tư tưởng “Vạn Pháp duy tâm tạo” của Phật Giáo). Đối với dân tộc Do Thái thì tôi không biết chứ đối với những tín đồ Gia-Tô Việt Nam thì tôi cho đó chỉ là một ảo vọng. Tại sao tôi lại có thể khẳng định như vậy? Bởi vì tôi đã đọc kỹ cuốn Thánh Kinh, Cựu Ước cũng như Tân Ước. Tôi là người ngoại đạo, và người ngoại đạo có cái lợi là được tự do đọc cuốn Thánh Kinh với một đầu óc tỉnh táo và phân tích dựa theo luận lý, chứ không bắt buộc phải tin theo những lời giải thích Thánh Kinh một cách vô nghĩa, phản khoa học v..v.. của một số chức sắc Gia Tô da trắng và của giới giáo sĩ, mà mục đích chỉ là để củng cố quyền lực giả tạo trên thế gian trước đám tín đồ ít học.

Trong cuốn Thánh Kinh có tới bốn (4) Giê-Su khác nhau, vậy tôi không hiểu các tín đồ Gia Tô tin ở Giê-Su nào? Thứ đến, nếu các tín đồ Gia Tô tin rằng Giê-Su sinh ra từ Đức Mẹ Đồng Trinh (Virgin Birth) thì người không thể là Đấng Cứu Thế. Ngược lại, nếu họ tin Giê-Su là Đấng Cứu Thế thì không làm gì có chuyện Đồng Trinh. Tôi xin phân tích điều trên như sau:

Chúng ta biết rằng Cựu Ước liên hệ rất nhiều đến lịch sử dân tộc Do Thái, và Tân Ước là sự tiếp nối của Cựu Ước, hai Kinh này không thể tách rời nhau vì nếu tách rời thì vai trò cứu thế của Giê-Su trở nên vô nghĩa. Tất cả những chuyện trong Thánh Kinh đều xoay quanh vùng đất Do Thái và liên hệ đến lịch sử, truyền thống Do Thái. Theo truyền thống Do Thái thì đấng Cứu Thế (Messiah) phải thuộc giòng dõi của Vua David. Cũng vì vậy mà trong Tân Ước, Matthew và Luke đều kê ra gia phả của Giê-su là thuộc giòng dõi của Vua David, để chứng tỏ rằng Giê-Su đích thực là đấng Cứu Thế. Để cho vấn đề thật rõ ràng, tôi xin kê sau đây gia phả của Giê-Su, trích ra từ Tân Ước:

Theo Matthew 1:1-17 thì các thế hệ tiếp nối từ Vua David tới Giê-Su như sau: David, Solomon, Rehoboam, Abijah, Asa, Jehoshaphat, Jehoram, Uzziah, Jotham, Ahaz, Hezekiah, Manasseh, Amon, Josiah, Jeconiah, Shealtiel, Zerubbabel, Abiud, Eliakim, Azor, Zadok, Akim, Eliud, Eleazar, Matthan, Jacob, Joseph, Jesus. Tất cả là 27 thế hệ.

Nhưng theo Luke 3:23-38 thì các thế hệ tiếp nối từ Vua David tới Giê-Su như sau: David, Nathan, Matthata, Menna, Melea, Eliakim, Jonam, Joseph, Judah, Simeon, Levi, Matthat, Jorim, Eliezer, Joshua,, Er, Elmadam, Cosam, Addi, Melki, Neri, Shealtiel, Zerubbabel, Rhesa, Joanan, Joda, Josech, Semein, Matthathias, Maath, Naggai, Esli, Nahium, Amos, Matthathias, Joses, Jannai, Melki, Leci, Matthat, Eli, Joseph, Jesus. Tất cả là 42 thế hệ.

Tuy hai gia hệ trên hoàn toàn khác nhau nhưng cả hai cùng muốn chứng tỏ rằng Giê-Su là con của Joseph và là giòng dõi của Vua David, và vì vậy đích thực là đấng Cứu Thế, theo truyền thống Do Thái. Điều này được chứng minh bởi chính lời của Giê-Su trong Thánh Kinh: “Ta xuống trần để cứu rỗi dân Do Thái mà thôi”, như sẽ được trình bày trong một đoạn sau.

Tuy nhiên, vì muốn Thần cách hóa Giê-Su nên cả Matthew và Luke đều đưa ra một nguồn gốc khác của Giê-Su mà không nghĩ ra rằng cái nguồn gốc Thần Thánh này hoàn toàn bất phù hợp với tư cách “cứu thế” như đã nêu ở trên về giòng dõi Vua David. Theo Matthew 1:18-21 thì sự ra đời của Giê-Su được loan báo cho Joseph sau khi mẹ của Giê-Su có mang như sau: “Mẹ của Giê-Su là Mary, vị hôn thê của Joseph. Trước khi hai người ăn nằm với nhau thì Mary có mang. Joseph là người tốt bụng, không muốn làm to câu chuyện. Rồi có một thiên thần do Thần sai xuống báo mộng cho Joseph và an ủi Joseph là “đừng có sợ, cứ việc chấp nhận Mary làm vợ vì tác giả cái bầu của Mary là Thánh Ma (Holy Ghost) . Và Mary sẽ sinh ra một người con trai, đặt tên là Giê-Su, vì Giê-Su sẽ cứu dân tộc của hắn (nghĩa là dân tộc Do Thái) khỏi tội lỗi ” (for He will save His people from their sins) Nhưng theo Luke 1: 26-31 thì sự ra đời của Giê-Su được thiên thần Gabriel loan báo cho chính Mary trước khi Mary có mang: “Do ân sủng của Thần, Thánh Ma sẽ làm cho người có mang, và ngươi sẽ sinh một đứa con đặt tên là Giê-Su v…v..”

Như vậy chúng ta lại có thêm 2 tài liệu khác nhau về việc Giê-Su sinh ra cõi đời, tổng cộng là bốn, hay ít nhất cũng là ba Giê-Su khác nhau, nếu ta dễ dãi chấp nhận chuyện báo cho Mary trước khi có mang và báo mộng cho Joseph sau khi Mary có mang làm một. Vậy Giê-Su nào là đấng Cứu Thế. Chẳng có lẽ mỗi khi chúng ta muốn được cứu rỗi lại phải rút thăm xem đấng cứu rỗi là Giê-Su nào? Giê-su trong Matthew? Giê-su trong Luke? Và Giê-su nào trong Matthew hay Luke? Là con Joseph, giòng dõi của David, hay là con của Thánh Ma? Nhưng đây chỉ là chuyện nhỏ thôi, vì đức tin Gia Tô nó là như vậy, như JP II đã dạy: “Điều mặc khải này dứt khoát, con người chỉ còn có thể hoặc chấp nhận, hoặc chối bỏ.” Chấp nhận thì được lên Thiên Đường, chối bỏ thì xuống Hỏa Ngục.

Trong Phật Giáo, Bồ Tát không ngại vén ống quần, sắn tay áo, nhảy vào địa ngục để cứu vớt chúng sinh. Tuy không phải là một Bồ Tát nhưng tôi cũng theo gương các Người chọn con đường đi xuống Hỏa Ngục, vì theo tín ngưỡng Gia-Tô thì ở đưới đó có khoảng 4/5 dân số trên thế giới lận, trong đó có cả ông bà tổ tiên của những người mới theo GiaTô Giáo sau này, và gồm có những người đã chối bỏ những chuyện huyền hoặc, hoang đường, mâu thuẫn và coi những chuyện này là cả một sự mạ lỵ đối với những đầu óc có khả năng suy luận trí thức.

Nhưng then chốt của vấn đề là trong bốn nguồn gốc khác nhau của Giê-Su, nếu là sự thực, thì chỉ có thể có một là đúng, không thể nào đúng cả bốn, trừ khi cái con ngoáo ộp “Hỏa Ngục” nó làm cho chúng ta sợ đến nỗi mất cả lý trí. Như vậy, nếu chúng ta tin rằng Giê-Su là đấng Cứu Thế, nghĩa là Giê-Su là con của Joseph và là giòng dõi của Vua David, thì Giê-Su không thể là con của Thánh Ma, và chuyện Mary đồng trinh chỉ là một huyền thoại để Thần cách hóa Giê-Su. Ngược lại, nếu chúng ta tin Giê-Su là con của Thánh Ma, do sự xâm nhập bất hợp pháp của Thánh Ma vào Mary, thì Giê-Su không dính dáng gì tới Joseph hay giòng dõi của David, do đó chuyện Giê-Su là đấng Cứu Thế cũng chỉ là một huyền thoại để tôn vinh cái tư cách cứu thế của Giê-Su. Nói tóm lại, tôi đã chứng minh rằng: hai tín lý, Mary đồng trinh và vai trò cứu thế của Giê-Su có tính cách loại trừ hỗ tương. Có tín lý này thì không thể có tín lý kia. Nhưng những người Gia-Tô vẫn tin cả hai tín lý và không hề thắc mắc. Điều này cũng dễ hiểu vì họ đã được dạy như vậy từ thuở mới lọt lòng mẹ ra đời, những tín lý này đã có trong sữa mẹ, và lẽ dĩ nhiên họ không bao giờ đọc Thánh Kinh, đừng nói đến chuyện đọc nó với một đầu óc tỉnh táo suy luận và phân tích.

Như đã viết rõ trong Thánh Kinh, Giê-Su sẽ là đấng cứu thế của dân Do Thái (for He will save His people from their sins) và chỉ của dân Do Thái mà thôi. Cho nên tôi thật thương hại những người không phải là dân Do Thái mà cứ sống trong ảo vọng, mơ tưởng rằng sẽ được Giê-Su cứu rỗi và cho mình sống đời đời trên Thiên Đường bên cạnh Thần Gia Tô. Câu chuyện sau đây trong Thánh Kinh sẽ chứng tỏ rằng sự ước mơ trên đích thực là một ảo vọng. Chúng ta hãy đọc và đọc kỹ đoạn sau đây trong Tân Ước, Matthew 15: 21-28:

“Thế rồi Giê-Su đi tới vùng Tyre và Sidon. Và có một người đàn bà người Canaan đến từ vùng đó và kêu với Giê-Su “Hãy thương tôi, Chúa ơi, Con của David. Con gái tôi đang bị quỷ ám nặng.” Nhưng Người không thèm trả lời bà ta một tiếng. Và các đệ tử của Giê-Su tới và yêu cầu Giê-Su: “Hãy đưổi bà ta đi, vì bà ta cứ kêu cứu cùng chúng ta.” Nhưng Giê-Su trả lời: “Ta được phái xuống đây chỉ để cứu dân Do Thái mà thôi.” Rồi người đàn bà kia tới và thờ phượng Giê-Su và nói: “Chúa ơi, hãy giúp tôi.” Nhưng Người trả lời: “Lấy bánh của con dân Do Thái mà ném cho mấy con chó nhỏ ăn thì thật là chẳng tốt tí nào.” Và người đàn bà kia nói: “Đúng vậy, Chúa ơi, nhưng dù là những con chó nhỏ thì chúng cũng được ăn những mảnh bánh vụn rơi vãi từ trên bàn của chủ chúng xuống chứ.” Rồi Giê-Su trả lời: “Ô, Bà Già! Lòng tin của bà thật là lớn lao! Thôi tôi cũng chiều theo ý bà.” Và con gái bà ta hết bị quỷ ám ngay từ gìờ phút đó.”

(21. When Jesus went out from there and departed to the region of Tyre and Sidon. 22. And behold, a woman of Canaan came from that region and cried out to Him, saying, “Have mercy on me, O Lord, Son of David! My daughter is severely demon-possessed.” 23. But He answered not a word. And His disciples came and urged Him, saying, “Send her away, for she cries out after us.” 24. But He answered and said, “I was not sent except to the lost sheep of the House of Israel.” 25. Then she came and worshipped Him saying, “Lord, Help me!” 26. But He answered and said, ” It is not good to take the children’s bread and throw it to the little dogs.” 26. And she said, “True, Lord, yet even the little dogs eat the crumbs which fall from their masters’ table.” 28. Then Jesus answered and said to her, “O woman, great is your faith! Let it be to you as you desire.” And her daughter was healed from that very hour.)

Tôi xin để cho các độc giả tùy nghi nhận định về tư cách, đạo đức và lòng vị tha của Giê-Su trong câu chuyện trên. Tôi không hiểu các đồng bào Gia-Tô của tôi nghĩ thế nào khi đọc đoạn trên trong Thánh Kinh, không biết họ có lòng tin mãnh liệt như bà già trong câu chuyện kể trên và chấp nhận từ bỏ thân phận làm người của mình để được Giê-Su cứu rỗi hay không, dù bây giờ Giê-Su không còn trên thế gian nữa, và suốt 2000 năm nay, không có bằng chứng nào có thể chứng tỏ sự cứu rỗi của Giê-su là có thật. Nhưng Tiến Sĩ Madalyn O’Hair thì bình luận như sau:

“Trừ khi anh là người Do Thái, chẳng ai muốn anh trong tôn giáo này. Đối với người nào thực sự “thực tâm cảm thấy Giê-Su là đấng cứu thế của họ” tôi xin giới thiệu một nhà trị liệu các bệnh tâm thần”

(Unless you are a Jew, you are not wanted in this religion. For someone who really “truly feels in his heart that Jesus is his Savior” I would recommend a psychiatrist.)

Và, Frederick Heese Eaton bình luận như sau trong cuốn Scandalous Saints:

“Giê-Su thường nhắc nhở đệ tử là phải thương yêu nhau, và thương yêu ngay cả kẻ thù (John 13:35; Matthew 5:44) Nhưng khi một người đàn bà không phải là người Do Thái tới nhờ Giê-Su chữa lành bệnh cho con gái, thì Giê-Su lại bảo bà ta rằng, “Không thể lấy bánh của con dân Do Thái vứt cho chó ăn.” (Matthew 15:26) Nói một cách khác, ông nói, “Người phi Do Thái là đồ chó. Tại sao ta lại phải làm bất cứ gì cho ngươi?” Anh cảm thấy thế nào khi Jesus gọi anh là chó? Gọi người phi Do-Thái là đồ chó không phải là sự biểu thị của lòng thương yêu. Giê-Su thật là hỗn hào, kiêu căng và tự phụ khi gọi người đàn bà kia là chó. Vậy trong vấn đề thực hành, Thánh Giê-Su chẳng có chút gì là Thánh cả. Những sự kiện cho thấy Giê-Su thực sự ghét những người phi Do-Thái.

Thánh Paul viết rằng, theo lời mặc khải của Thần Gia Tô, “Giê-Su luôn luôn như vậy, ngày hôm qua, ngày hôm nay và cho tới mãi mãi, không bao giờ thay đổi.” (Hebrew 13:8) Vậy nếu anh dự định lên Thiên Đường ở cùng Giê-su đầy tình thương, và anh không phải là người Do Thái, anh nên nghĩ lại đi thì vừa.”

(Jesus repeatedly admonished his disciples to love one another, and even to love their enemies. (John 13:35; Matthew 5:44) Yet when a non-Jewish woman begged him to heal her daughter, Jesus told her, “It is not fit to take the children (of Israel’s) bread and to cast it to dogs.” (Matthew 15:26) In other words he said, “You non-Jews are dogs. Why should I do anything for you?” How would you like to have Jesus call you a dog? Calling people dog who were not Jews is hardly an expression of love. Jesus was insolent, arrogant and conceited in calling this woman a dog. So in actual practice, Jesus the Saint was not so saintly after all. The facts show that Jesus actually hated those who were not Jews.

Saint Paul writes, allegedly under inspiration of God, “Jesus Christ the same yesterday, and today, and for ever.” (Hebrew 13:8) So if you were planning to go to heaven to be with the loving Jesus, and you are not a Jew, you had better think it over again.)

Đó là đại cương về giáo lý giải thoát trong Gia-Tô Giáo với tất cả thực chất và những mâu thuẫn, hoang đường trong đó. Tôi cũng hi vọng những đồng bào Gia Tô của tôi hãy nghĩ lại và nghĩ kỹ về giáo lý này xem nó có hợp với người Việt Nam hay không, xem những lời hứa hẹn được Giê-Su cứu rỗi có khả thi hay không. Lẽ dĩ nhiên, họ phải ý thức được rằng, người Việt Nam không phải là người Do Thái, và dù có lấy một cái tên Do Thái thì họ cũng không thể biến thành người Do Thái để được Giê-Su cứu rỗi, nếu Giê-Su thực sự có thể cứu rỗi con người..

-oOo-

            GIÁO LÝ GIẢI THOÁT TRONG PHẬT GIÁO

Sau đây tôi xin sang phần trình bày về giáo lý giải thoát trong Phật Giáo. Phật Giáo luôn luôn quan niệm rằng: chúng sinh thì vô lượng, mà căn trí thì bất đồng, và mỗi người có một nghiệp riêng, cho nên không thể có một pháp môn giải thoát chung cho tất cả mọi chúng sinh. Người đời thường coi Đức Phật như là một vị lương y vẹn tài. Và một vị lương y thì không thể chữa bách bệnh bằng cùng một thứ thuốc, trừ phi là muốn lừa bịp những người ngu dốt, không đủ khả năng suy luận, nhắm mắt nhắm mũi mù lòa tin bướng tin càn (theo Thích Mật Thể). Tuy Đức Phật có khẳng định: “Cũng như nước biển chỉ có một vị mặn, giáo lý của ta cũng chỉ có một vi, vị giải thoát” nhưng con đường đi tới giải thoát không phải chỉ có một, và cái vị giải thoát cũng có thể không hẳn hoàn toàn giống nhau đối với tất cả mọi người. Phật Giáo nói tới con số 84,000 Pháp môn đi tới giải thoát và chúng ta nên hiểu đây là một con số tượng trưng, tuy có nhiều ý nghĩa, nhưng không phải là một con số toán học chính xác. Chúng ta thấy trong Kinh Lăng Nghiêm có 25 Pháp môn viên thông dẫn tới giải thoát. Và trong Kinh Hoa Nghiêm, Thiện Tài Đồng Tử đi cầu đạo đã gặp 53 vị Thiện-Tri-Thức, gồm đủ mọi thành phần trong xã hội, và được dạy cho 53 Pháp môn tiến tới giải thoát khác nhau. Chúng ta hãy đọc đoạn sau đây trong Phẩm “Nhập Pháp Giới” để có thể hiểu thêm về ý nghĩa giải thoát trong Phật Giáo. Muốn tiến tới giải thoát, con người trước hết cần phát tâm vô thượng Bồ Đề. Nhưng thế nào là phát Bồ Đề Tâm? Trong Kinh Hoa Nghiêm, Hải Vân Tỳ Kheo giảng như sau:

“Phát Bồ Đề Tâm là phát tâm đại bi, vì cứu khắp tất cả chúng sanh. Là phát tâm đại từ, vì giúp khắp tất cả thế gian. Là phát tâm an lạc, vì làm cho tất cả chúng sanh diệt tất cả khổ. Là phát tâm lợi ích, vì làm cho tất cả chúng sanh lìa ác pháp. Phát tâm ai mẫn, vì có ai kinh sợ thời đều giữ gìn. Phát tâm vô ngại, vì rời bỏ tất cả chướng ngại. Phát tâm quảng đại, vì tất cả các pháp giới đều đầy khắp. Phát tâm vô biên, vì khắp cõi hư không đều qua đến. Phát tâm rộng rãi, vì đều thấy tất cả Như Lai. Phát tâm thanh tịnh, vì trí không trái với pháp tam thế. Phát tâm trí tuệ, vì vào khắp biển nhứt-thiết-trí-huệ.”

Trên đây chỉ là một đoạn ngắn nói về Bồ Đề Tâm của Hải Vân Tỳ Kheo. Muốn biết rõ hơn về Bồ Đề Tâm, xin quý độc giả đọc 40 trang tuyên thuyết về Bồ Đề Tâm của Bồ Tát Di-Lặc trong Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm “Nhập Pháp Giới.”

Nhưng nếu đã phát tâm bồ đề rồi thì con người có thể làm những gì? Chúng ta hãy nghe Bồ Tát Phổ Hiền tuyên thuyết trong Kinh Hoa nghiêm, Phẩm “Nhập Bất-Tư-Nghị Giải-Thoát Cảnh Giới Phổ-Hiền Hạnh Nguyện”:

Thiện Nam Tử! Trong các thứ cúng dường, Pháp cúng dường là hơn hết. Pháp cúng dường là: Tu hành đúng theo lời Phật dạy để cúng dường; chịu khổ thế cho chúng sanh để cúng dường; nhiếp thọ chúng sanh để cúng dường; siêng năng tu tập căn lành để cúng dường; không bỏ hạnh Bồ Tát để cúng dường; chẳng rời tâm bồ đề để cúng dường.

Các Đức Như Lai như số cực vi trong tất cả cõi Phật khắp hư không pháp giới mười phương ba đời toan muốn thị hiện nhập Niết-Bàn, cùng các Bồ Tát, Thinh Văn, Duyên Giác, hữu học, vô học, cho đến tất cả các bậc thiện-tri-thức, tôi đều khuyên mời xin đừng nhập Niết-Bàn, xin ở lại đời trải qua số kiếp như vi trần trong tất cả cõi Phật, vì muốn cho chúng sanh được lợi lạc…

Bao nhiêu chúng sanh sai khác trong tất cả cõi ở mười phương Pháp-giới, hư không giới…trong các loài ấy, nếu là kẻ có bịnh thì tôi vì họ mà làm lương y, nếu ai bị lạc đường thì tôi vì họ mà chỉ cho con đường chánh, nơi đêm tối tôi vì họ mà làm ngọn đuốc sáng, người nghèo thiếu tôi làm cho được của báu. Bồ Tát bình đẳng lợi ích cho chúng sinh như vậy.

Vì sao thế? Vì Bồ Tát nếu có thể tùy thuận chúng sanh, thì chính là tùy thuận cúng dường các Đức Phật. Còn tôn trọng và thừa sự chúng sanh thì chính là tôn trọng và thừa sự các đức Như Lai. Nếu làm cho chúng sanh vui mừng thì chính là làm cho tất cả Như Lai vui mừng. Vì sao thế? Vì các đức Như Lai dùng tâm đại bi mà làm thể. Nhơn nơi chúng sanh mà sanh lòng đại bi, nhơn lòng đại bi mà phát tâm bồ đề, nhơn nơi tâm bồ đề mà thành bậc vô thượng chánh đẳng chánh giác (nghĩa là hoàn toàn giác ngộ, hoàn toàn giải thoát. TCN).

Ví như giữa chốn sa mạc có cây thọ vương to lớn, nơi gốc cây ấy được nước rưới nhuần, thì cành lá hoa quả thảy đều sum sê tươi tốt.

Cây thọ-vương bồ đề ở chốn sa mạc sanh tử rộng lớn cũng như vậy: tất cả chúng sanh là gốc rễ, Bồ Tát là hoa, Phật là quả. Dùng nước đại bi đượm nhuần gốc rễ chúng sanh thì có thể trổ bông Bồ Tát trí huệ và kết thành quả Phật toàn giác.

Vì sao thế? Bởi các Bồ Tát dùng nước đại bi làm lợi ích cho chúng sanh, thì có thể thành tựu quả vô thượng chánh đẳng chánh giác. Cho nên quả Bồ Đề thuộc về chúng sanh, vì nếu không chúng sanh, tất cả Bồ Tát trọn không thể thành đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác…

Từ sự lễ kính ban đầu nhẫn đến tùy thuận có bao nhiêu công đức, thảy đều đem hồi hướng cho tất cả chúng sanh khắp trong hư không Pháp giới. Nguyện cho tất cả chúng sanh thường được an lạc, không các bịnh khổ, muốn thực hành pháp ác thảy đều không thành, còn tu nghiệp lành thì đều mau thành tựu. Đóng chặt cửa của tất cả ác thú, mở bày đường chánh Nhơn-Thiên Niết-Bàn. Nếu các chúng sanh nhơn vì trước kia chứa nhóm các nghiệp ác, nên chiêu cảm tất cả quả rất khổ, tôi đều chịu thế cho, khiến chúng sanh đều được giải thoát, rốt ráo thành tựu quả vô thượng Bồ Đề…”

Đọc đoạn Kinh trên về hạnh nguyện của những người tu tập theo Phật Pháp chúng ta có thấy cái gì có thể gọi là tiêu cực, bi quan, xa lánh cuộc đời hay không? Hay trái lại, đó là những hạnh nguyện hết sức tích cực, vị tha, vị chúng sinh, rất cao cả của người Phật tử? Nhưng giải thoát trong Phật Giáo là giải thoát như thế nào? và giải thoát khỏi cái gì? Phật giáo quan niệm nguồn gốc của sinh tử là vô minh, và nguồn gốc của mọi khổ đau trên đời là vì ba độc: tham, sân, si. Cho nên, một cách đại cương, chúng ta có thể nói trong Phật Giáo, giải thoát là giải thoát khỏi bức màn vô minh để ra ngoài vòng sinh tử, và giải thoát khỏi tham, sân, si để sống an lạc trên cõi đời. Như trên đã nói, có nhiều con đường đi tới giải thoát, nhưng tựu trung không ngoài việc tu tập để có thể nhận thức được rằng:

“sáu trần là hư huyễn, chẳng thực, hay biến đổi. Kinh Kim Cương hình dung nó như mộng, như bọt, như bóng. Triệt để giác ngộ được tính chất hư huyễn chẳng thực của thế giới sáu trần thì sẽ được giải thoát tự tại. Nếu thân tâm ở cõi thế gian sáu trần mà không bị sáu trần quấy nhiều, dụ dỗ, mê hoặc thì sẽ chẳng sinh ra phiền não và được gọi là người giải thoát.” (“Phật Học Quần Nghi” , Thích Thánh Nghiêm)

Để có một ý niệm rõ ràng hơn về giải thoát quan trong Phật Giáo, sau đây tôi xin trích vài đoạn cốt yếu nói về giải thoát quan trong Phật Giáo trong cuốn Đại Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận của Tiến Sĩ Kimura Taiken, do Thích Quảng Độ dịch sang tiếng Việt:

“Lập trường chủ yếu của giải thoát quan Phật-giáo là vượt ra ngoài cõi Dục (Dục giới). Phật Giáo không thừa nhận thế-giới-quan Thần quyền, lại không thừa nhận cái “Ngã” cá nhân bất biến, mà chủ trương hết thảy đều do nhân duyên hòa hợp mà hiển hiện, và sở cứ của nhân duyên là ý chí của chúng ta. Do đó, nếu muốn được giải thoát, con người phải cắt đứt mọi nhân duyên, nghĩa là diệt hết dục vọng của ý chí. Theo các học phái khác, giải thoát tức là đưa cái tiểu ngã của cá nhân trở về với Đại ngã của một đấng sáng tạo ra vũ trụ. Nhưng Phật Giáo vì không thừa nhận Thần quyền, nên gọi giải thoát là Niết Bàn. Mà Niết-Bàn theo nghĩa đen là “dập tắt”, nghĩa là dập tắt hết dục vọng tồn tại và lấy đó làm lý tưởng cứu kính. Các Kinh điển Đại Thừa, nhất là Kinh Bát Nhã, đặc biệt thuyết minh về điểm này và mệnh danh là “Không”, “Không Không” rốt ráo là “Không”, đó là chân tướng của vũ trụ, và khi ta đã đạt được chân tướng ấy tức là đạt đến giải thoát, đến Niết Bàn…

Các học phái khác lấy siêu nhiên (supernatural) làm chủ nên không quá coi trọng đạo đức thế gian, nhưng Phật thì lấy từ bi làm chủ, chuyên đứng về phương diện đạo đức để giáo hóa loài người, đó là tiếng nói giải thoát. Tại Ấn Độ có nhiều tôn giáo nhưng chỉ có Phật-Giáo là lấy toàn thể nhân loại làm đối tượng để truyền giáo, và cũng chỉ có Phật Giáo mới có những giáo lý làm thỏa mãn nhu cầu tinh thần của mọi hạng người…

Tiến thêm một bước nữa mà khảo sát thì Phật, theo một ý nghĩa nào đó, có thể được coi là một nhà đề xướng hiện thực chủ nghĩa. Cái gọi là “giải thoát”, là “Niết Bàn”, nếu không có ích lợi gì đối với cuộc sống thực tế, thì tự nó cũng không có một ý nghĩa nào cả. Giải thoát hay Niết Bàn, theo Phật, không phải chỉ có thể đạt được sau khi chết, mà trái lại, nó có thể được chứng nghiệm ngay ở hiện tại, ngay trong giây phút, nghĩa là bất cứ trong giờ phút nào ta cắt đứt được mọi mối ràng buộc của tham lam, của dục vọng, khiến cho tâm hồn thanh thản, lâng lâng, tự tại, tự do, thì ngay giờ phút đó ta đã đạt đến cảnh giải thoát chân thực rồi…

Do đó, trong Phật Giáo, nếu nói đến giải thoát mà phủ nhận giá trị của thế giới hiện thực thì không những trái với đạo lý mà còn làm hại cho chính Pháp rất nhiều. Nhưng đây cũng lại là điểm vô cùng khó khăn, bởi lẽ vẫn sống trong thế giới hiện thực mà làm cách nào để đừng bị mê hoặc, lôi cuốn theo, để tìm cầu giải thoát khỏi hiện thực là một việc mà có lẽ không ai dám tự phụ làm một cách dễ dàng…

Coi đó ta thấy chủ nghĩa giải thoát của Phật Giáo, nếu chỉ nhìn bề ngoài, có vẻ như một chủ nghĩa “không tịch”, nhưng nếu căn cứ vào nhân cách hoạt động của đức Phật, do nhân cách đó mà tìm hiểu ý nghĩa chân thực của giáo lý Ngài, ta thấy Phật Giáo quyết không phải lấy hư vô làm lý tưởng, đó là điều không một nhà học Phật chân chính nào phủ nhận…

Như thế chung cục nhận Phật là vị Nhân-Cách-Thần, nhận Như Lai là chân ngã, rồi từ lập trường hiện tượng tức thật tại mà xướng lên thuyết “tức thân thành Phật”, cứ như thế giáo lý Phật-giáo bắt đầu triển khai. Mà cái đặc trưng nhất quán của chủ nghĩa giải thoát của Phật Giáo là ở chỗ tự mình tuyệt đối mãn túc, rồi vì hạnh phúc của thế giới, vì sự tiến bộ của nhân loại, đem hết sức mình ra làm việc với một tâm hồn thái nhiên tự nhược, nghĩa là không đam mê, không cố chấp, luôn luôn thanh thản tự do trước mọi hoàn cảnh.”

Đó là tóm tắt đại cương về giải thoát quan trong Phật Giáo. Chúng ta thấy rằng sự trình bày về giải thoát quan của Tiến Sĩ Kimurai Taiken rất sát với nội dung Kinh điển Phật Giáo.

Tôi hi vọng, tới đây, quý độc giả đã nắm vững phần nào căn bản khác biệt giữa giải thoát quan trong Phật Giáo và trong Gia Tô Giáo. Cái căn bản khác biệt này là trong Phật Giáo, Phật tử phải tự mình tu tập để tiến tới giải thoát và sự tu tập này đặt đối tượng trên phúc lợi của toàn thể chúng sanh. Trong Gia Tô Giáo, vì là một tôn giáo cứu rỗi, nên vấn đề đạo đức không quan trọng, và con người chỉ cần đặt tất cả vào một niềm tin ở một đấng siêu nhiên để mong cầu được giải thoát cho riêng mình: “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian đến nỗi ban con duy nhất (sic) của Ngài, để những ai tin vào Người sẽ không bị luận phạt, nhưng được sống đời đời.” (Crossing The Threshold of Hope, trang 76) , không cần phải thắc mắc hay bận tâm đến chuyện có thể chính ông bà tổ tiên của mình trước khi mình theo Đạo, và bà con họ hàng bạn bè hay mọi chúng sanh khác, vì không có cùng niềm tin như mình nên bị Chúa của mình đày vĩnh viễn xuống hỏa ngục.

Vị kỷ đối với vị tha, đó là một đối ngược.

Một đối ngược khác thường được minh họa bởi hình ảnh sau đây: giáo lý giải thoát của Phật Giáo là để cho những người tự tin, tự mình bước đi những bước chân an lạc vững vàng trên trường đời, và giáo lý giải thoát Gia-Tô là để cho những người thiếu tự tin, không thể tự mình bước đi những bước chân vững vàng trên mặt đất, không thể tự mình suy nghĩ, không dùng đến lý trí hay khả năng suy luận của con người, hay nói cách khác, theo nhận định của Robert G. Ingersoll:

“những người cần có một cặp nạng để lê lết trên cuộc đời, vì luôn luôn sợ sệt, nếu buông cặp nạng ra thì sẽ chới với, cho nên phải nương tựa và trông ngóng vào những quyền lực siêu nhiên cũng như những quyền lực giả tạo trên thế gian. ” (Xin đọc cuốn “Ingersoll, The Magnificient” ),

hoặc theo nhận định của Thống đốc tiểu bang Minnesota, Jessie Ventura, về Ki Tô Giáo:

“là một sự giả dối trống rỗng và là một cặp nạng cho những người có đầu óc yếu kém cần đến sức mạnh trong số nhiều” (Newsweek, Oct.11, 1999).

Sự phát triển ngày nay của Phật Giáo vào trong các xã hội Tây phương và trên khắp thế giới thực sự đã giúp cho hàng triệu người cất bỏ được cái cặp nạng làm mất phẩm giá con người này, và họ đã bắt đầu tự mình bước đi những bước vững vàng, an lạc trên mặt đất.

Viết bài này, một Phật tử bình thường như tôi cũng chỉ có một tâm nguyện: khuyến khích mọi người hãy tự mình bước đi những bước chân vững vàng, an lạc trên mặt đất. Nhưng tôi cũng ý thức được rằng, tâm nguyện là một chuyện mà duyên có hội đủ hay không lại là một chuyện khác. Lợi ích chỉ tới với những người có duyên.

http://www.buddhismtoday.com/viet/doi/007-quaniemgiaithoat.htm

 

 

Sách Lược Mới: Ve Vãn Phật Giáo

                                                                                                Lý Thái

03 tháng 01, 2010

 

Nhân đọc lá thư của Nguyễn Ý dưới tựa đề “Sách Lược Mới Sau Vụ Thái Hà“, tôi nhớ đến phong trào “Liên Tôn” trước đây, và bài viết nhan đề “Một bụi gai: Đạo Nào làm Minh Chủ?”. Người lương hay người theo Phật mắc phải cái quan niệm “đạo nào cũng dạy ăn hiền ở lành” vì chỉ nhìn những sinh hoạt thường ngày của nhà thờ, nhưng không biết về giáo lý độc tôn của họ, không rành về lịch sử Bá Quyền vá Bá Đạo dài hàng mấy nghìn năm của Vatican. Ngày nay, giàn hỏa không thể tồn tại, tòa án xử Dị Giáo rất dã man không thể tiếp tục hoạt động trong thế giới ngày nay, Vatican vẫn là đầu não của những chiến lược chiến thuật “nhung”, không thể nhìn bằng mắt thường.

 

2.- Giáo sĩ của nhà thờ Vatican đào mả những người đã chết lấy xác rồi đốt thành tro để trả thù. Chuyện này được ông Trần Quý kể lại trong cuốn Lòng Tin Âu Mỹ Đấy! như sau:

 “Vào thế kỷ 13, dân ở vùng Toulouse, miền Nam nước Pháp ngày nay nhận thấy Giê-hô-va độc ác, đúng là quỉ Satan mạo nhận là Thiên Chúa, chớ không phải là Thiên Chúa thật. Họ thấy vị thần ấy gớm ghiếc quá, bỏ không thờ nữa tuy họ vẫn kính thờ Jesus. Họ lập thành Giáo Hội Ca-tha-ri. Giáo Hội Công La (Giáo Hội La Mã) kết tội họ là tà đạo. Năm 1209, Giáo Hoàng Innocent III (1198-1216) ra lệnh thánh chiến để diệt họ. Vua chúa ở miền Bắc đất Pháp, ở đất Đức tuân lời, phái binh lính đến làm thành Thập Tự Quân để đánh bọn tà đạo. Rất đông tín đồ Jesus phe giáo hoàng tới trợ lực Thập Tự Quân. Đám quân này dưới quyền chỉ huy của giáo sĩ Amaud Amauri, đại diện giáo hoàng, bao vây thành Béziers. Thành bị hạ vào ngày 22 tháng 7 năm 1209. Toàn dân ở trong thành bị giết hết kể cả đàn bà và trẻ con. Tòa án đạo Jesus theo đuổi trừng phạt cả những người bị kết tội là tà đạo dù họ đã chết rồi. Chẳng hạn, năm 1329, tòa án đạo Jesus ở Carcassonne cho đào mả bẩy người phạm tội tà đạo, móc xác lên đốt đi; của cải của họ bị tịch thu, dòng dõi họ bị trừng phạt. Trần Quý, Lòng Tin Âu Mỹ Đấy! (Westminster, California: Đồng Thanh & Văn Nghệ, 1996), tr.132-133.  

3.- Tàn sát những người thuộc các tôn giáo một cách cực kỳ dã man gọi là trả thù cho Chúa. Chuyện được sách The Decline And Fall of The Roman Church ghi lại như sau:

Vị tướng chỉ huy chiến dịch tiêu diệt dân tà giáo Albigences tuyên bố: “Bất kể nam hay nữ, già hay trẻ, chức vụ lớn hay nhỏ, trước lưỡi gươm, họ đều như nhau.” Hiệp sĩ ngoan đạo Ca-tô tên là Roland, khi chỉ huy đạo quân tiêu diệt người Moors (Hồi Giáo) đã hô lớn khẩu hiệu “Tà giáo là những người xấu xa. Tín đồ Ca-tô là những người công chính ngay thẳng.” Khi tiến tới bao vây kinh thành Jerusalem, những người lính thập ác trong cuộc chiến Thập Ác Thứ Nhất hăng say với niềm tin rằng thiên thần đại diện cho Chúa đang chiến đấu bên cạnh họ. Thành tích của họ là 17 ngàn dân Hồi Giáo bị tàn sát dưới lưỡi gươm của họ ở ngay nơi đền thờ Solomon và tất những người Do Thái ở trong các giáo đường đều bị thiêu sống.”  Nguyên văn: “Neither sex nor age nor rank have we spared,” was the statement of the general who conducted the war against medieval heretics called Albigenses, “We have put all alike to the sword.” The new cry on the lips of Roland, the perfect Christian and the model knight, as he fought at Roncevaux against the hated Moors. “Paien unt tort e Christiens unt droit! (Pagans are wrong. Christians are right)”. And when the first crusaders came over a hill in Palestine and caught sight of the walls of Jerusalem, …. convinced that the angels of the Lord were fighting by their side. They put to death by sword 17,000 Muslims on the site of Solomon’s Temple and burned all Jews inside their synagogues.”Malachi Martin, Ibid, tr.111.[i]  

4.- Tàn sát dã man những người cùng thờ ông Jesus như họ, nhưng không chịu thuần phục Nhà Thờ Vatican. Chuyên này được sử gia Jack T. Chick ghi lại như sau:

“Ngày 22-8-1572 (Nhiều sách khác ghi là ngày 24/8/1572) bắt đầu xẩy ra một cuộc tàn sát đẫm máu ở nhà thờ St. Bartholomew. Đây là một trong những vụ tàn sát ghê gớm để tiêu diệt phong trào Tin Lành ở Pháp. Pháp Hoàng đã khôn khéo sắp đặt cuộc hôn nhân giữa người em gái của nhà vua với Đô Đốc Coligny, một nhân vật lãnh đạo của Tin Lành. Một bữa tiệc lớn được tổ chức ăn mừng lễ cưới. Sau bốn ngày, quân lính của tân lang Coligny được cho ăn uống no say, một hiệu lệnh được ban hành. 12 giờ đêm hôm đó, tất cả nhà cửa của những người Tin Lành ở trong thành phố đều bị bắt buộc phải mở cửa. Đô Đốc Coligny bị giết. Thi hài của ông bị liệng qua cửa sổ ra ngoài đường. Thủ cấp của ông bị cắt đem gửi cho giáo hoàng. Hai cánh tay và bộ phận sinh dục của ông cũng bị cắt. Rồi chúng lôi kéo phần còn lại của xác chết đi khắp các đường phố cả ba ngày trời. Sau đó, chúng treo ngược cái xác chết không đầu, không tay, không bộ phận sinh dục ở một nơi ngoại ô thành phố. Đồng thời, chúng còn tàn sát nhiều người Tin Lành khác nữa. Trong 3 ngày, hơn mười ngàn dân Tin Lành (ở Paris) bị giết hại. Những xác chết này bị liệng xuống sông và máu nạn nhân lênh láng chẩy thành dòng ra tới tận cửa sông giống như một dòng máu. Trong cơn hung hãn này, chúng có thể giết cả những người đồng đạo của chúng nếu nạn nhân bị nghi ngờ là không mạnh tin vào Giáo Hoàng. Từ Paris, bịnh dịch tàn sát vì lòng cuồng tín như vậy lan tràn ra khắp nơi trong nước Pháp. Tính ra có tới hơn tám ngàn nạn nhân nữa bị sát hại. Rất ít người Tin Lành thoát khỏi tai họa trong cơn hung hãn của chúng.”

 

Nguyên văn: “On August 22, 1572, the bloody St. Bartholomew massacre began. This was to be one fatal blow to destroy the Prostestant movement in France. The King of France had cleverly arranged a marriage between his sister and Admiral Coligny, the chief Protestant leader. There was a great feast with much celebrating. After four days of feasting the soldiers were given a signal. At twelve o’clock midnight, all the houses of the Protestants in the city were forced open at once. The admiral was killed, his body thrown out of a window into the street where his head was cut off and sent to the pope. They also cut off his arms and privates and dragged him through the streets for three days until they finally hung his body by the heels outside the city. They also slaughtered many other well kown Protestants. In the first three days, over ten thousands were killed. The bodies were thrown into the river and blood ran through the streets into the river until it appeared like a stream of blood. So furious was their hellish rage that they even slew their own followers if they suspected that they were not very strong in their belief in the pope. From Paris, the destruction spread to all parts of the country. Over eight thousand more people were killed. Very few Pretestants escaped the fury of their persecutors.”) Jack T.Chick, Smokescreens (Chino, CA: Jack T. Chick, 1983), tr. 14-17.

 

5.- Chuyện “Trả thù của Chúa ở Ái Nhĩ Lan vào năm 1641”. Chuyện này cũng được sách Smokescreens ghi lại với nguyên văn như sau:

Một vụ tàn sát người tập thể tương tự như vậy cũng xẩy ra ở Ái Nhĩ Lan vào năm 1641. Bọn tín đồ Da-tô chủ mưu chọn ngày 23 tháng 10 là ngày lễ kỷ niệm Ignatius Loyola, người sáng lập ra Dòng Tên: Chúng dự trù một cuộc tổng nổi dậy trong toàn quốc. Tất cả những người theo đạo Tin Lành đều phải bị giết ngay tức thì. Để làm cho những người Tin Lành không chú ý đến việc làm của chúng, chúng tỏ ra rất là tử tế với họ. Sáng sớm ngày vùng dậy, bọn chủ mưu đều có võ trang đi lùng bắt những người Tin lành. Gặp người nào là chúng giết người đó, không một chút thương xót. Những người Tin Lành này chưng hửng trong kinh hoàng. Họ đã sống trong yên bình từ nhiều năm. Giờ đây, gặp cảnh ngộ như vậy, họ không biết phải chạy trốn đi đâu. Những kẻ tàn sát họ lại là những người láng giềng, bạn bè và bà con của họ. Phụ nữ bị trói vào cọc (cột) lột trần đến thắt lưng, vú bị cắt đứt ra để máu chẩy cho đến chết. Những đàn bà mang thai thì bị trói và treo vào cành cây. Chúng mổ bụng nạn nhân lấy thai nhi ra để cho chó ăn. Trong khi đó thì những ông chồng của nạn nhân bị cưỡng bách phải đứng nhìn những cảnh dã man như vậy.” Nguyên văn: “A similar massacre occurred in Ireland in 1641. The conspirators picked October 23, the feast of Ignatius Loyola, the founder of the Jesuit Order. They planned a general uprising for the whole country. All Protestants would be killed at once. To throw them off guard while the plan was being made, extra acts of kindness were shown to the Protestants. Early in the morning the conspirators were armed and every Protestant they could find was immediately murdered. They showed no mercy. From children to the aged, they were killed. Even invalids were not spared. They were caught by complete surprise. They had lived in peace and safety for years and now find no place to run. They were massacred by neighbors, friends, and even relatives. Death often was the least they had to fear. Women were tied to posts, stripped to the waist, their breast cut off with shears and left to bleed to death. Others who were pregnant were tied to tree branches, their unborn babies cut out and fed to the dogs while the husbands were forced to watch.”)[ii] Jack T.Chick, Sđd., tr. 17

 

Qua chuyện tàn sát dân Tin Lành ở Ái Nhĩ Lan, chúng ta mới hiểu được tại sao anh em ông Ngô Đình Diệm và bọn Cần Lao Công Giáo lại chọn ngày 23/10/1955 để làm ngày truất phế Quốc Trưởng Bảo Đại.  

6.- Đào mả lấy xương cốt của kẻ cựu thù chính trị để trả thù một các cực kỳ dã man. Vụ này xẩy ra ở nước Anh. Vào năm 1661, họ đào mả của ông Oliver Cromwell (lãnh đạo chính quyền Anh từ ngày 16/12/1653 đến ngày 3/9/1658) chôn ở Wesminster Abbey lấy xác đem xiềng và treo vào một cây trụ tại Tyburn. Sau một thời gian (không biết là bao lâu), họ chặt lấy đầu đem cắm vào một cái sào, rồi đem bêu ở ngoài Tòa Thị Sảnh Wesminster (Westminster Hall). Còn cái xác thối rữa của ông thì họ đem quẳng xuống một cái hố. Cái đầu của ông vẫn bị bêu tại chỗ này cho đến năm 1685, rồi được thay đổi nhiều lần, trong đó có một lần được đem bán vào năm 1814 trước khi được đem chôn ở trong khuôn viên trường Đại Học Sidney Susex ở Cambridge vào năm 1960. “Finally, his disinterred body was thrown into a pit, while his severed head was displayed on a pole outside Westminster Hall until 1685. Afterwards the head changed hands several times, including the sale in 1814 to a man named Josiah Henry Wilkinson, before eventually being buried in the grounds of Sidney Sussex  College, Cambridge, in 1960.” Wikipedia, the free encyclopedia, – Oliver Cromwell (Death and posthumous execution.)

7.- Đào mả cụ Phan Đình Phùng….

 

8.- Chuyện “trả thù cho Chúa” vô cùng rùng rợn này mới xẩy ra trong thời Đệ Nhị Thế Chiến và cũng do sách Smokescreens ghi lại như sau:

 

 “Nạn nhân của bọn mật vụ Ustachi (đạo phiệt Gia-tô Croatia trong thời bạo chúa Ante Pevalich) không những bị tra tấn tàn nhẫn về thể xác, mà còn bị hành hạ đau đớn về tinh thần và lương tâm nữa. Một trường hợp vô cùng dã man và tàn ác chưa từng thấy như trường hợp dưới đây đã được ghi lại và phối kiểm qua nhiều nhân chứng có tuyên thệ: “Tại Nevesinje, bọn mật vụ Ustachi càn bắt hết tất cả cha mẹ (vợ chồng) và bốn người con của một gia đình người Serb (theo đạo Chính Thống). Người cha bị giam riêng ở một chỗ khác, người mẹ và 4 người con bị giam ở một chỗ khác. Suốt trong 7 ngày giam giữ, chúng không cho nạn nhân ăn uống gì hết. Rồi thì chúng mang đến cho người mẹ và 4 đứa con mỗi người một miếng thịt nướng khá lớn và nước uống thừa thãi. Sau nhiều ngày không được ăn uống, những người bất hạnh này ăn hết sạch miếng thịt nướng đó. Sau khi ăn xong, bọn mật vụ Ustachi mới nói với gia đình nạn nhân rằng đó là thịt người cha của họ.” Nguyên văn: “The atrocities of the Ustachi far surpassed mere physical torture. Their victims were tormented emotionally as well. An example of the unprecedented brutality is recorded by the sworn testimony of several witnesses regarding the following incident. At Nevesinje, the Ustachi arrested one whole Serbian family consisting of father, mother and four children. The mother and children were separated from the father. For seven days they were tortured by starvation and thirst. Then they brought the mother and children a good-sized roast, and plenty of water to drink. These unfortunates were so hungry that they ate the entire roast. After they finished, the Ustachi told them that they had eaten the flesh of their father.”)[iii] Jack T.Chick, Sđd., tr 32.

9.- Trong thời Kháng Chiến 1945-1954, lính đạo Phát Diệm dưới quyền chỉ huy của Linh-mục Hoàng Quỳnh bắt được ba người ngoại đạo ở các làng bên. Chúng cho rằng nạn nhân là Việt Minh và tra tấn họ cực kỳ dã man. Sáng hôm sau, các nạn nhân bị điệu ra cột cờ ở trước sân chợ và bị đánh đập hết sức man rợ với chủ tâm để khủng bố tinh thần những người trong chợ. Sau đó, chúng đâm chết một trong ba nạn nhân này, phanh ngực, móc mật đem hòa với rượu và moi lấy gan đem nướng, rồi ngồi nhậu hả hê với nhau. Sau đó, hai nạn nhân còn lại bị bắn chết, và cả ba nạn nhân đều bị chúng chặt lấy đầu đem xâu vào một cái sào, rồi đem cắm ở bên vệ đường ở đầu làng….

 


[i] Malachi Martin, The Decline And Fall Of The Roman Church (New York: G.P. Putnam’s Sons, 1981), tr. 110-111

[ii] Ibid., tr. 17.

[iii] Ibid., tr. 32.

 

Đạo Thiên Chúa & chủ nghĩa thực dân tại Triều Tiên vào thế kỷ 18 -19

Đạo Thiên Chúa & chủ nghĩa thực dân
tại Triều Tiên vào thế kỷ 18 -19

Lê Văn Phước

29 tháng 8, 2010

Thiên Chúa giáo được truyền bá vào Triều Tiên (Joseon) thông qua Trung Quốc. Các Sứ thần Triều Tiên (Joseon) khi đến Trung Quốc đã mang về những tài liệu có liên quan đến Thiên Chúa giáo mà họ được nhận từ các nhà truyền giáo phương Tây và phổ biến rộng rãi ở Triều Tiên (Joseon).

Tầng lớp Yangban (là một phần của giai cấp thống trị truyền thống hoặc các quý tộc của triều đại Triều Tiên) lúc đầu tiếp nhận Thiên Chúa giáo như một phần của nền học thuật phương Tây. Sau đó, dưới thời vua Chính Tổ (Jeongjo), một số học giả bắt đầu nhìn nhận và tin tưởng Thiên Chúa như là một tín ngưỡng. Lý Thừa Huân (I Seung-hun) sau khi được vị Linh Mục người phương Tây triều đại nhà Thanh, Trung Quốc làm lễ rửa tội đã quay trở về và lập nên giáo hội Thiên Chúa giáo (1784) ở Triều Tiên (Joseon).

Vào thời kỳ đầu, chủ yếu ở tầng lớp Yangban, tầng lớp không được tham gia vào nắm chính quyền và tầng lớp trung nhân tin tưởng vào Thiên Chúa giáo nhưng sao đó, dần dần cả những người ở tầng lớp thường dân và phụ nữ cũng tin vào tôn giáo này. Ngay khi hoạt động tín ngưỡng của Thiên Chúa giáo trở nên phát triển và số lượng các tín đồ ngày càng tăng thì chính quyền Triều Tiên (Joseon) đã ra lệnh cấm hoạt động đối với Thiên Chúa giáo. Sự cấm đoán này là do chính quyền Triều Tiên (Joseon) cho rằng Thiên Chúa giáo đã không coi trọng ý thức thờ cúng cha mẹ Tổ tiên của Nho giáo và Phật giáo đồng thời lại theo tư tưởng bình đẳng và cho rằng thế giới tương lai mới quan trọng sẽ làm đảo lộn về cơ bản trật tự xã hội của Triều Tiên (Joseon).

Ngược dòng lịch sử dân tộc Triều Tiên cũng như Việt Nam có những giai đoạn Phật giáo Quốc Đạo thì dân tộc được thấm nhuần hiếu đạo qua những thơ ca phổ vào nhân gian :

Phụ mẫu tại đường như Phật tại thế

hay :

Tâm Hiếu là Tâm Phật – Hạnh Hiếu là Hạnh Phật”. . .

Dưới thời vua Chính Tổ (Jeongjo)Thiên Chúa giáo không bị cấm nghiêm ngặt lắm nhưng ngay khi vua Thuần Tổ (Sunjo trị vì 1800-1834

 

 Thiên Chúa giáo đã bị đàn áp trên phạm vi rộng lớn. Mặc dù vậy, họ vẫn được truyền bá và mở rộng mạnh trong tầng lớp thường dân và phụ nữ Triều Tiên (Joseon).

Trong tình hình xã hội trở nên rối ren, lòng dân bất an thì tôn giáo đương thời lại không phát huy đúng vai trò của nó. Phật giáo thì bị nghịch cảnh nên phải tạm lánh xa vào rừng núi, xa cách với xã hội, Nho giáo cũng xa dần với nông dân. Tôn giáo mới được truyền bá là Thiên Chúa giáo phát triển trong tầng lớp thường dân và phụ nữ, nhưng đây là Tôn giáo được du nhập từ phương Tây, thêm vào đó là không khí bài ngoại của dân Triều Tiên (Joseon) trước sự uy hiếp xâm lược của phương Tây ngày càng lên cao, nên phần lớn trí thức vẫn còn cảnh giác với Tôn giáo này. Cũng chính lúc đó, Thôi Tế Ngu (Choe Je-u), một Yangban sa sút ở vùng Khánh Châu (Gyeongju), đã dung hợp tam giáo Nho, Phật, Lão với tín ngưỡng dân gian truyền thống để tạo ra một Tôn giáo mới gọi là Đông học (donghak).

Đông học (Donghak) đối lập với Thiên Chúa giáo và thế lực phương Tây nhằm gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc của Triều Tiên (Joseon) và luôn hướng tới những người dân cùng khổ. Vì vậy mà nó không chỉ đơn thuần là một phong trào Tôn giáo mà có thể coi là một phong trào xã hội nhằm chấn chỉnh lại nền chính trị hổn loạn và xã hội đen tối, giúp cho cuộc sống của người dân bần cùng khốn khổ.

Đông học (Donghak) mang trong mình ý thức bài ngoại, mong muốn cứu đất nước khỏi sự xâm lược của thế lực phương Tây mà tiêu biểu là Thiên Chúa giáo và đem lại cuộc sống yên bình cho người dân. Ngay bản thân cái tên Đông học (Donghak) được đặt ra cũng mang ý nghĩa là đối lập với Tây học (Seohok) của Thiên Chúa giáo.

Điều được nhấn mạnh nhất trong giáo lý Đông học (Donghak) là “Nhân nãi Thiên” có nghĩa là “Con người chính là Trời”. Theo đó, “Nhân tâm cũng chính là Thiên tâm và phụng sự con người cũng chính là phụng sự Trời”. Điều đó có nghĩa là phải vượt qua các vấn đề phân biệt về thân phận, giai cấp và con người phải được tự do bình đẳng. Đây chính là nguyên nhân Đông học (Donghak) đã được những người nông dân đang bị áp bức đón nhận một cách trân trọng.

Trên cơ sở giáo lý như vậy, Đông học (Donghak) đã được mở rộng nhanh chóng ở các vùng nông thôn. Lúc này, chính quyền xem Đông học (Donghak) là Tôn giáo làm đảo lộn thế giới là lừa phỉnh nhân dân nên đã xử tử hình giáo chủ Thôi Tế Ngu (Choe Je-u) và đàn áp phong trào Đông học (Donghak).

Thời kỳ những năm trước và sau 1860, chính quyền Triều Tiên (Joseon) phải đối mặt với nhiều khó khăn từ bên trong và bên ngoài. Trong nước, quyền lực của Sedojeongchi (Chính trị Thế đạo) tồn tại trong suốt 60 năm nay đã suy yếu, chính trị mất đàn kỷ cương, lại thêm vấn nạn Tam Thanh (Samjeong) khiến nông dân khắp nơi liên tục nổi dậy khởi nghĩa. Cùng lúc đó, phong trào Đông học (Donghak) hình thành và phát triển nhanh chóng với sự hưởng ứng nhiệt tình của tầng lớp nông dân vốn đã rất bất mãn với cuộc sống thực tại và mong muốn có một cuộc cải cách xã hội.

Đạo Thiên Chúa mặc dù bị đàn áp và bị nhà nước cấm đoán những vẫn ngày càng được truyền bá rộng rãi. Mặc khác, tàu thuyền của một số nước phương Tây đã xuất hiện ở gần biển Triều Tiên (Josen) để đe dọa và yêu cầu thông thương. Lúc này, Trung Quốc bị phương Tây xâm lược và Bắc Kinh đã thất thủ, trong khi Nga đang chiếm giữ Yeonhae-ju nên biên giới của Triều Tiên (Joseon) được tiếp giáp với biên giới của Nga qua sông Duman.

Điều này khiến nhân dân Triều Tiên (Joseon) vô cùng lo lắng về họa xâm lăng của phương Tây và vì vậy, họ muốn ổn định chính trị để đất nước có được an toàn hơn trước họa ngoại xâm.

Vào thời Hưng Tuyên Đại Viện Quân (Heungseon Daewongung) tên là Lý Thị Ứng (Yi Ha-eung) cầm quyền, đã có rất nhiều tín đồ Thiên Chúa giáo ở Triều Tiên (Joseon) và các giáo sĩ người Pháp vẫn lén lút truyền đạo ở khắp các tỉnh. Ban đầu, Hưng Tuyên Đại Viện Quân (Heungseon Daewongung) đối xử ôn hòa với đạo Thiên Chúa nhưng năm 1860, sự kiện phương Tây chiếm đóng Bắc Kinh của nhà Thanh và việc quân Nga ngấm nghé biên thùy đã khiến Triều Tiên (Joseon) phải cảnh giác hơn với Nga và các thế lực phương Tây. Hưng Tuyên Đại Viện Quân (Heungseon Daewongung) cũng nhận thấy những hiểm họa từ nước Nga. Vì vậy, ông định mượn sức mạnh của Pháp thông qua các nhà truyền đạo người Pháp chủ trương không tham gia chính trị, vì vậy Triều Tiên (Joseon) đã không thiết lập được quan hệ ngoại giao với Pháp.

Cuối cùng, khi làn sóng phản đối đạo Thiên Chúa trong nước dâng lên mạnh mẽ, để bảo vệ địa vị chính trị của mình cũng như gìn giữ bản sắc văn hóa của dân tộc, Hưng Tuyên Đại Viện Quân (Heungseon Daewongung) bắt đầu đàn áp Thiên Chúa giáo. Kết quả là 9 nhà truyền giáo người Pháp và rất nhiều con chiên đã bị bắt và bị xử tử hình.

(Sau đó Đô đốc Roze (1812-1883) vị tướng Hải quân người Pháp mới gửi một bức thư, yêu cầu phóng thích hai nhà truyền giáo người Pháp còn lại mà ông ta tin rằng có thể bị bỏ tù. Không thấy hồi âm phúc đáp, nhưng nó trở nên rõ ràng từ các hoạt động được thấy trên đất liền qua eo biển hẹp rằng quân đội Hàn Quốc đã huy động hàng ngày. Ngày 09 tháng 11 Pháp lại kiểm tra một lần nữa khi họ đã cố gắng chiếm một ngôi Cổ Tự kiên cố ở bờ biển phía nam của Giang Hoa đó là Truyền Đăng Tự (Jeongdeung-sa). Ở đây một lần nữa Hàn Quốc quyết kháng chiến, cùng với sự ưu thế bởi chư Tăng cùng Phật tử chuẩn bị sẳn sàng và đã biến ngôi Cổ Tự Truyền Đăng làm thành trì kiên cố cho quốc phòng để bảo vệ đất nước Triều Tiên, Pháp buộc phải rút lui với hàng chục thương vong nhưng không có ca tử vong. Ngay sau đó, với gần mùa đông và các lực lượng Hàn Quốc đang phát triển mạnh mẽ hơn, Đô đốc Roze thực hiện các quyết định chiến lược để sơ tán. Trước khi làm như vậy, bọn họ đã cho bắn phá các tòa nhà chính phủ trên đảo Giang Hoa (Ganghwa-do) và để thực hiện ý đồ của mình. Bọn chúng cũng kinh nghiệm được khoảng thời gian này, hai người truyền giáo sợ bị bắt tại Hàn Quốc đã thực sự trốn thoát sang Trung Quốc).

 

Đô đốc Roze (1812-1883)
vị tướng Hải quân người Pháp

 

Vì thế bọn thực dân Pháp lập tức viện cớ những cái chết của các nhà truyền giáo, đòi Triều Tiên (Joseon) mở cửa thông thương, và tiến vào đảo Giang Hoa (Ganghwa-do) chiếm sơn thành Giang Hoa năm 1866. Quân Pháp cướp phá các thư tịch và văn hóa phẩm, trong đó có bộ Trực Chỉ Thiền tông Phật giáo được khắc in bằng kim loại đầu tiên trên thế giới ở đảo Giang Hoa (Gangwha-do). Sau khi Hưng Tuyên Đại Viện Quân (Heungseon Daewongung) cầm quyền, chính quyền Triều Tiên (Joseon) đã chấn chỉnh lại lực lượng quân sự từng có hoạt động phòng chống ngoại xâm ở các địa phương, chiêu mộ các tay cầm súng giỏi để tăng cường bảo vệ các vùng ven bờ sông Hàn và cuối cùng đã đánh lui quân Pháp.

Sau sự kiện này người phương Tây đứng đầu là Opbert E.J. định đào mồ cuốc mã cha của Hưng Tuyên Đại Viện Quân (Heungseon Daewongung) lên, nhưng thất bại và phải bỏ trốn. Sự việc này càng thêm sự căm hờn người phương Tây của nhân dân Triều Tiên (Joseon) và tăng cường đại hùng lực để quyết chiến giành độc lập tự chủ.

Lê Văn Phước

(Biên tập theo lịch sử Hàn quốc)

12/05/2010

 
 

Giáo hội Công giáo mở rộng công tác chống lạm dụng tình dục

 Thứ Bảy, 18 tháng 6 2011

Giáo hội Công giáo mở rộng công tác chống lạm dụng tình dục

 

Hình: photos.com

Tòa thánh Vatican

Vatican tuyên bố áp dụng các biện pháp mới để chống lại nạn lạm dụng tình dục của hàng tu sĩ, trong đó có chuyện lập một cơ sở dữ liệu trực tuyến và mở hội nghị quốc tế để hướng dẫn tu sĩ cũng như nạn nhân bị lạm dụng.

Tại cuộc họp báo hôm thứ Bảy, các giới chức của Vatican nói sẽ có trang mạng bằng nhiều thứ tiếng để giáo dục giáo dân khắp thế giới biết cách thực thi các hướng dẫn của giáo hội trong vấn đề bảo vệ trẻ em. Trang mạng này cũng có thông tin dành cho các nạn nhân bị tu sĩ lạm dùng tình dục.

Ngoài ra, giáo hội sẽ tổ chức hội nghị quốc tế có sự tham gia của nhiều chuyên viên thế giới để bàn về tệ nạn này vào tháng 2 sang năm. Hội nghị sẽ diễn ra tại trường đại học Giáo Hoàng ở Rome.

Hội nghị có chủ đề “Tiến Đến Hướng Hàn Gắn và Đổi Mới.” nhằm giúp giáo hội soạn ra những hướng dẫn để đối phó với những người lạm dụng và ngăn ngừa nạn này trong tương lai.

Đức ông Charles Scicluna, một trong những giới chức của Vatican phụ trách vấn đề này nói các biện pháp nêu trên là cách đáp ứng quan trọng đối với những chuyện lạm dụng, từng nổi lên tại Hoa Kỳ vào năm 2002 và sau đó dường như nước châu Âu nào cũng có phát hiện.  

Tại Hoa Kỳ, hội nạn nhân của những người bị tu sĩ lợi dụng tỏ vẻ không tin tưởng nơi các biện pháp vừa nêu, cho rằng nó thiếu cơ chế để trừng trị những ai vi phạm

http://www.voanews.com/vietnamese/news/vatican-sex-abuse-6-18-11-124135949.html

 
 

Thư Phan Đình Diệm – Charlie Nguyễn

Vài nhận xét về “Thư Góp Ý Pháp Lệnh Tôn Giáo”
của ông Phan Đình Diệm, chủ quản Học hội Giêsu giáo

Ngày 5-8-2003 vừa qua, ông Phan Đình Diệm với tư cách là chủ quản Học hội Giêsu giáo ở Houston, đã gửi một bản góp ý vào dự thảo “Pháp lệnh Tôn giáo” của Quốc hội Việt Nam.

Trong phần mở đầu, ông Diệm đã nêu lên nhiều nhận xét rất đúng về giáo hội Công giáo Rôma. Ông viết: “Giáo hội Công giáo Rôma là một thành phần nằm trong quần thể các giáo hội Thiên Chúa giáo của các sắc dân du mục ở Trung Cận Đông. Thần tổ của các sắc dân này 5000 năm trước ở Babylon là thần bò ER… thánh tổ ngành tư tế thờ cúng bò vàng là Aaron, người anh em của Maisen, người sáng lập Maisen giáo (Do Thái giáo). Hai đạo thối thân của Do Thái giáo là Công giáo Rôma và Hồi giáo Mecca. Tất cả cùng chung một tổ phụ Abraham (và cùng là những biến dạng của đạo thờ bò)” ; “Giáo hội Công giáo Rôma là một tổ chức tôn giáo đế quốc, có chính quyền trung ương tập quyền và độc tài giáo phiệt. Giáo hội Công giáo Rôma tại Việt Nam chỉ là một chư hầu, một giáo phái ngoại nhập đặt dưới quyền chỉ huy trói buộc nghiêm nhặt của giáo hoàng tại Rôma.”

Ngoài những ưu điểm nói trên, trong phần sau của bản góp ý vào Pháp Lệnh Tôn Giáo, ông Diệm đã nêu lên nhiều nhận định sai lầm nghiêm trọng khiến chúng tôi buộc lòng phải lên tiếng để thảo luận với ông. Chúng tôi sẽ lần lượt nêu lên 4 vấn đề chúng tôi không đồng ý với ông như sau:

Thứ nhất. Ông viết: “Đức Giêsu là vị giáo chủ của đạo lý nhân bản thế tục, của chủ nghĩa nhân văn thế tục. Đạo lý chính dòng Giêsu tựu trung là đạo nhân nghĩa chia cơm xẻ áo rất chi là “xã hội nhân bản chủ nghĩa”!”

Ông đã viết những dòng chữ trên để ca ngợi Giêsu. Trong khi đó, con người ích kỷ hợm hĩnh và ác độc của Giêsu lại được ghi chép đầy đủ trong Tân Ước. Ông hãy đọc kỹ những lời nói của Giêsu để biết con người thật của ông ta “nhân bản” như thế nào?

– “Nếu ngươi không tin Ta là Con của Thiên Chúa, ngươi sẽ chết trong tội lỗi của ngươi” (I said therefore unto you, that ye shall die in your sin for if you believe not that I am He – Son of God – ye shall die in your sin, John 8:24)

– “Hãy lôi những kẻ thù của Ta ra đây, đó là những kẻ không muốn Ta ngự trị trên họ, hãy giết chúng trước mặt Ta” (But those mine enemies which would not that I should reign over them, bring hither and slay them before me, Luke 19:27).

Giêsu chỉ ước mong được mọi người tôn thờ y. Những ai không tôn thờ y đều bị y coi là kẻ thù và y sẵn sàng giết những người đó không hề thương tiếc. Vậy rõ ràng Giêsu là một kẻ hoàn toàn phi nhân (inhuman). Có lẽ nào ông có thể ca ngợi Giêsu là vị giáo chủ của đạo lý nhân bản được?

Thứ hai . Ông dùng danh xưng “Giêsu giáo” để gọi Công giáo là điều không thích hợp vì nhiều lý do:

– Trong ngôn ngữ thế giới không hề có danh từ Giêsu giáo (Jesusism!). Chúng ta đều biết rằng Kitô giáo phát xuất từ Tây phương, vậy chúng ta phải gọi tên của tôn giáo này theo quan niệm của họ. Họ phân biệt Giêsu và Kitô. Giêsu là người thật còn Kitô là tước hiệu của đấng Cứu thế (a messianic title). Đấng Cứu thế là Con của Thiên Chúa (Son of God) cũng là Thiên Chúa. Sở dĩ Giêsu được tôn thờ vì “Giêsu được Kitô hóa” (Jesus was Christed). Do đó, người Tây phương không gọi đạo thờ Giêsu là “Giêsu giáo” (Jesusism) mà gọi là Kitô giáo (Christinanity).

Người Hoa phiên âm danh từ Hy lạp Christos thành Cơ đốc và phiên âm tên Giêsu thành Gia-tô. người Hoa gọi đạo thờ Giêsu là Cơ đốc giáo chứ không phải là Gia tô giáo!

Gọi đạo thờ Giêsu là “Giêsu giáo” là hoàn toàn đi ngược lại truyền thống từ xưa đến nay trong ngôn ngữ thế giới. Vả lại, nếu hiểu “Giêsu giáo” là đạo thờ Giêsu thì Anh giáo, Chính thống giáo và Tin lành cũng là Giêsu giáo, đâu có riêng gì Công giáo Rôma mới là “Giêsu giáo” ? Vậy việc xử sụng danh từ “Giêsu giáo” để gọi giáo hội Công giáo Rôma là hoàn toàn không thích hợp.

Thứ ba. Sau khi ông Diệm (PĐ) tự động đổi tên Giáo hội Công giáo Rôma Việt Nam thành “Giêsu giáo của Hội đồng Giám mục VN”, ông đề nghị Quốc hội VN “nâng Giêsu giáo của Hội đồng Giám mục VN lên cấp bậc “Tôn giáo Dân tộc” ngang cấp bậc với Khổng giáo, Phật giáo và Lão giáo thành “Tứ giáo Đồng lưu” trên đất nước Việt Nam.”

Ba đạo Phật-Khổng-Lão đã trở thành “Tam giáo Đồng lưu” trong lòng dân tộc Việt Nam hoàn toàn do tự nhiên mà thành. Cả ba đạo đều xuất phát từ con người và đều có mục tiêu chính yếu là phục vụ con người chứ không phục vụ một thần linh (hay Thiên Chúa) nào cả. Đó là tính chất nhân bản của Tam giáo, vì thế Tam giáo đã có thể hòa đồng với nhau trong tâm hồn của người Việt Nam.

Trái lại, Công giáo Rôma cũng như quần thể các tôn giáo độc thần (Do thái , Kitô, Hồi giáo) đều tôn thờ một Thiên Chúa tối cao trên hết mọi sự. Tiêu biểu cho tinh thần cực đoan của các đạo Chúa là chuyện Abraham giết đứa con trai duy nhất của mình để tế Chúa. Đó là đặc tính phi nhân của các đạo Chúa. Với bản chất phi nhân, Công giáo Rôma vẫn giữ nguyên trạng là một tôn giáo thuộc đức tin Abraham (Abraham faith), vẫn là một tôn giáo thấp kém mọi rợ ăn thịt uống máu người. Một tôn giáo phi nhân hạ đẳng như vậy làm sao có thể hòa đồng với triết lý nhân bản cao cả của Tam giáo được? Hơn nữa, Công giáo Rôma hoàn toàn được xây dựng trên nền tảng của niềm tin mù quáng. “Phúc cho ai không thấy mà tin!” Trong khi đó Tam giáo được xây dựng trên nền tảng của ánh sáng trí tuệ. Do đó, Công giáo Rôma không có khả năng hòa nhập vào Tam giáo vì nó đã bị ánh sáng Tam giáo tiêu diệt trước khi có thể hòa nhập.

Chính vì thế, trong hai ngàn năm qua, trong lòng dân tộc Việt Nam chỉ tồn tại “Tam giáo Đồng lưu” mà thôi. Do bản chất khác biệt và do giá trị quá thấp kém, Công giáo Rôma sẽ không bao giờ có khả năng hòa nhập vào tam giáo để trở thành “Tứ giáo đồng nguyên”. Đây là một điều quái đản, nhất định sẽ không bao giờ xảy ra trên đất nước Việt Nam!

Thứ tư. Ông Diệm đã xử dụng những ngôn từ lố lăng, đao to búa lớn, để tâng bốc Hội đồng Giám mục Việt Nam. Ông viết: “Đỉnh cao của cuộc cách mạng văn hóa tái sinh trong Hội đồng Giám mục Việt Nam là thư chung 1980 – Hịch Yêu Nước Yêu Nhà Việt Nam – hoàn tất tiến trình dẫn đưa 7 triệu đồng bào Việt Nam từ trong chuồng chiên vĩ đại của Giáo hội Công giáo Rôma quay ngược về Nhà Việt Nam.”

Ông Diệm liệt kê một số thành tích của HĐGMVN:

a) Thông cáo ngày 14/6/1965 cho phép giáo dân có quyền tự do tôn kính ông bà tổ tiên và được bày bàn thờ gia tiên trong nhà. Điều này thật ra chẳng có gì là “cách mạng” ghê gớm vì đó chính là điều Công đồng Vatican 1962-1965 cho phép trước rồi. HĐGMVN chỉ dám làm cái việc nhắc lại cái điều đã được Vatican cho phép chứ có dám làm điều gì ngược lại với Vatican?

b) Nghị quyết ngày 14/11/1974 cho phép giáo dân tham dự đề nghị tôn kính vị thành hoàng tại đình làng. Đây là một việc bình thường như tham dự hội hè, không có gì quan trọng.

c) Trong thư chung năm 1980, HĐGMVN kêu gọi : “Chúng ta phải là Hội Thánh của Đức Giêsu Kitô trong lòng dân tộc Việt Nam”, nghĩa là phải sống gắn bó với quê hương, hòa mình vào cuộc sống của đất nước và diễn tả đức tin phù hợp với truyền thống dân tộc. Thực sự đây chỉ là một thủ đoạn giả vờ “trở về với Dân tộc”. HĐGMVN do Vatican thành lập do sắc chỉ ngày 24/11/1960 của GH Gioan XXIII. Các giám mục đều do Vatican tuyển lựa kỹ càng, căn cứ vào lòng trung thành tuyệt đối đối với Tòa Thánh. Vatican xử dụng HĐGMVN như một ban tham mưu tối cao bản địa cho đạo quân thứ năm của họ tại Việt Nam. Các thành phần trong HĐGMVN đều là những kẻ “bán linh hồn cho quỉ” vì họ luôn tâm niệm “thà mất nước chứ không thà mất Vatican!”.

Muốn thực sự đưa 7 triệu đồng bào Công giáo trở về với dân tộc chỉ có một con đường duy nhất là: giải tán HĐGMVN do Vatican lập nên và sau đó là thiết lập một giáo hội Công giáo VN tự trị (hoàn toàn tách biệt khỏi sự kiềm tỏa của Vatican).

Trong tình trạng hiện nay, mối liên hệ giữa Công giáo VN và Vatican đúng như ông PĐ Diệm đã trình bày ở phần đầu: “Giáo hội Công giáo Rôma là một tổ chức tôn giáo đế quốc và toàn cầu hóa, có một chính quyền trung ương tập quyền và độc tài quân phiệt theo mô hình của các hoàng đế Casear mà Giáo hội Công giáo Rôma tại Việt Nam chỉ là một chư hầu, một giáo phái ngoại nhập, đặt dưới quyền chỉ huy trói buộc nghiêm nhặt của giáo hoàng tại Rome.

Vậy, HĐGMVN hiện nay chỉ là một công cụ của Vatican – một tên đế quốc xảo quyệt nhất thế giới – để nô lệ hóa một thành phần dân tộc VN gồm 7 triệu tín đồ Công giáo. Thực chất HĐGMVN là một tập hợp Việt gian phản quốc núp dưới danh nghĩa tôn giáo để công khai nằm vùng trong lòng dân tộc. Tôi không biết ông Diệm đã căn cứ vào đâu mà ca ngợi HĐGMVN lên tận mây xanh: “ngàn năm không phai nhòa hình ảnh hào hùng bất khuất của những Giám mục Kẻ Sĩ Việt Nam cuối thiên niên kỷ II”?

Theo tôi, với tư cách là một công cụ của đế quốc Vatican, các thành phần trong HĐGMVN không xứng đáng được gọi là kẻ sĩ Việt Nam được.

 Charlie Nguyễn

tháng Mười 2003,

 
 

Nhãn: , ,

Thư gởi Nguyễn Thanh Giản – Charlie Nguyễn

THƯ GỬI BẠN NGUYỄN THANH GIẢN

Ngày 8.3.2001

Bạn Giảng thân mến,

Ngày 6.3.01 vừa qua, Chấn đã gửi đến bạn những tài liệu bạn yêu cầu. Từ bưu điện đến sở làm, Chấn nghĩ hôm nay mình phải đọc hết tập truyện ngắn “Kỹ Niệm Trên Đồi” của bạn. Lợi dụng lúc rãnh ở sở làm, Chấn đã đọc hết tập truyện này. Chấn rất vui vì đã bắt gặp chính mình qua những trang sách của bạn. Những trăn trở suy tư về vận nước cũng như kiếp người của bạn cũng chính là những điều trăn trở của tôi. Tôi có cảm tưởng như chúng ta tuy có thân xác khác nhau nhưng có cùng một linh hồn: Linh hồn khao khát chân lý, yêu mến sự thật, thiết tha yêu thương con người nhưng thù ghét mọi thứ tội ác ngụy trang dưới mọi hình thức, nhất là tội ác ngụy trang dưới lốt đạo đức giả của tôn giáo.

Tôi với bạn xuất phát từ hai hướng ngược chiều nhưng gặp nhau tại một điểm là: Thiện Tâm. Suốt từ nhỏ đến lớn, tôi chẳng biết gì về đạo Phật. Tôi chỉ bắt đầu đọc sơ qua cuốn “Vũ Trụ và Nhân Sinh” của ông Vương Quốc Đạt lúc bắt đầu học Luật năm 59. Sau khi ra trại tù cải tạo năm 1984, bạn tôi cho mượn mấy cuốn như Kinh Kim Cang… tôi đọc chẳng hiểu gì. Nhưng tôi yêu những sách của Krishnamurti, Đạt Lai Lạt Ma, Thông Thiên Học.. và tôi hiểu đại khái về Phật Giáo qua các sách bán chính thức về đạo Phật. Trái lại, về Công Giáo thì tôi đã đọc cả tủ sách đạo của cha tôi từ lúc thiếu thời. Cha tôi là thầy tu 20 năm trong nhà dòng nên có rất nhiều sách đạo.

Năm 1950, tôi đi tu tại Tiểu Chủng Viện Ninh Cường, khóa học mang tên “Thánh Gia” với trên 200 tu sinh khác. Ngày nay, các bạn tôi ở rải rác khắp nơi trên thế giới, có người trở thành khoa học gia tại Thụy Sĩ, nhà văn ở Cộng Đồng VN tại na Uy. 14 linh mục ở Việt Nam và ở Mỹ. Các bạn khác xuất tu, một số hiện ở Việt Nam, một số khác ở khắp các tiểu bang Hoa Kỳ, Âu Châu, Úc, Canada… chúng tôi hiện đã liên lạc với nhau gần 100 người. Tình bạn của chúng tôi sau 50 năm vẫn thân thiết như xưa. Chúng tôi coi nhau như anh em. Dù có người làm linh mục nhưng chúng tôi vẫn gọi nhau bằng mày tao như tôi với thằng Nguyễn Quốc Súy vậy. Chúng tôi liên lạc với nhau qua “Bản Tin Thánh Gia” phát hành tại Sài Gòn và Houston, có trang nhà trên Internet và thường xuyên liên lạc riêng qua thư từ, điện thoại, e-mail…

Nhưng có điều, từ trước đến gần đây không một ai biết tôi là Charlie Nguyễn! Trong dòng tộc, trong gia đình cũng như trong tất cả bà con ruột thịt và bạn bè của tôi (90% là Công Giáo), chỉ có một mình tôi thoát ra khỏi luồng. Tôi bị vây chặt bởi tất cả mọi người thân và bạn bè. Vì thế tôi có cảm tưởng mình như một Judas Escariot. Do vậy tôi định viết cuốn “Phúc âm theo thánh Judas”(Gospel according to Judas) để chứng minh rằng Judas là một vị thánh. Còn Jesus là Chúa Cứu Thế giả mạo vì ông ta thiếu đức khoan dung tha thứ.

Jesus “chuộc tội cứu thế” bất đắt dĩ vì bất đồng chính kiến với Judas. Judas thuộc phe kháng chiến quân Do Thái Zealot quyết tâm xử dụng chiến thuật du kích tiêu diệt đế quốc La Mã. Jesus theo con đường của ông cậu họ là Jean Baptist, chỉ thích hù dọa mọi người là ngày tận thế sắp đến, phải ăn năn chuộc tội gấp để khỏi bị Chúa Jehovah phán xét đày xuống hỏa ngục. (The Doomsday is at hand). Qua 2000 năm đâu có xảy ra tận thế như Jesus đã láo khoét tiên tri! Tiên tri gia kiêm Chúa Cứu Thế giả mạo Jesus đã nguyền rủa Judas sau khi bị bắt: “Ước chi nó đừng sinh ra”. Jesus cũng nguyền rủa dân Do Thái “Con Cháu của người về sau sẽ phải khốn mà chớ!”. Như vậy Jesus đâu có yêu thương gì đồng bào mình! Jesus là cái Boomerang của dân tộc Do Thái. Chính ông ta là nguyên nhân gây nên nạn diệt chủng Do Thái trong 2000 năm qua.

Cái chết của bao nhiêu triệu người vẫn chưa đủ đền mạng cho một người Do Thái được thần thánh hóa bằng huyền thoại Kitô. Jesus không phải là Kitô, mà thực sự chỉ được bọn đế quốc “Kitô hóa” mà thôi (Jesus was Christed)! Huyền thoại Kitô xuất phát từ Babylon nhiều năm trước Công Nguyên, không riêng gì khoa khảo cổ sau này xác nhận điều đó mà ngay cả Cựu Ước cũng xác nhận điều này (xin đọc Babylon Mystery Religion của Hội Nghiên cứu Thánh Kinh Woodrow – California).

Tôi bắt đầu viết bài chống Kitô Giáo từ đầu năm 1996 với “mật danh” Charlie Nguyễn. Vợ con tôi không hay biết những việc làm thầm lén của tôi vì tôi chỉ viết những tài liệu này lúc mọi người đi vắng hết. Mỗi khi nghe tiếng garage mở là tôi cấp tốc dấu hết mọi tài liệu, chẳng khác gì một cán bộ VC nằm vùng hoạt động trong vùng quốc gia!

Có một lần vào tháng 9.96 tôi vội quá nên để lòi một xấp giấy dưới sofa ở phòng khách nên bị vợ tôi phát giác tôi là Charlie Nguyễn. Thế là mọi thứ tôi đã gom góp mấy năm trước đều biến mất tuyệt tăm. Nhưng tất cả mọi trở ngại đều không làm tôi chùn bước. Tháng 3.98, tôi quyết định bỏ nhà đi sang tận miền Đông Hoa Kỳ sống ẩn dật để… “tự thăng hoa phần tâm thức và khả năng nội tại” KNTĐ p.87) với tinh thần vô úy và tình thương Ba La Mật tương tự như Lương Sinh (KNTĐ p.88). Nguyên nhân sự “nổi loạn” của tôi là vào năm 1949, tôi đã chứng kiến thảm cảnh của những người “bên lương” bị Cha tôi và các cha xứ cùng quê Ninh Cường hợp tác với Tây tiêu diệt họ. Có người bị cháy như con chó thui ở tiệm “Cầy Tơ” nhe răng ghê rợn. Có người bị trói thúc ké để chờ bị giao lên đồn Tây. Có ngừơi bị đốt nhà và bị bắn thả trôi sông. Một vài bạn học của tôi lúc còn bé tí là con của những người đó, trong số bạn tôi hồi nhỏ, có những đứa chế nhạo tôi: “Đi đạo ăn gạo té re, ăn chè té rỏng, ăn xôi thủng ruột”. Cũng có đứa quì xuống trước mặt tôi, chắp tay và đọc kinh:

Lạy ơn Chúa Giê xu

Nằm trong hang đá thò cu ra ngoài

Con chó nó tưởng củ khoai

Nó đớp một cái đứt…. Giê xu”.

Lúc đó tôi ghét chúng vô cùng. Tôi đã đánh nhau với chúng nó vì chúng nó dám xúc phạm đến Chúa của tôi. Chúng nó đã phạm những tội mà tôi có thể giết chúng như giết quỉ. Tôi sẵn sàng tử chiến với chúng để “bảo vệ đức tin”! Nhưng rồi, thời gian trôi qua, tôi dần dần nhận ra những “người bên lương” đó mới là những đồng bào yêu nước. Cha tôi và bọn cha cố mà tôi trước đây hết lòng kính mến thực ra là Việt gian. Đó là nguyên nhân đã làm tôi chuyển hướng tâm linh từ cực này sang cực khác lúc nào không hay. Cái mà tôi sẵn sàng chết cho nó trước đây là “Đức Tin Công Giáo” thì nay lại là cái mà tôi chỉ muốn “ôm bom” để hủy diệt đức tin đó. Khẩu hiệu của tôi từ năm 1996 đến nay là: “Christian by birth, anti-Christ by choice”.

Tôi tự nguyện dùng mạng sống của mình để làm cái giá chuộc tội sát nhân vì cuồng tín của cha tôi. Những nạn nhân của cha tôi và của các cha cố Việt gian hầu hết đều là những dân lành vô tội. Họ là những người yêu nước với tinh thần Phật Giáo thanh cao, tôi vô cùng ngưỡng mộ. Tôi coi mọi bài viết chống Kitô Giáo của tôi là những nén hương lòng của tôi dâng lên hương linh của họ. Linh hồn của họ cũng đẹp như linh hồn của bạn, của Kim Hoa, của Hương, của Tuấn trong truyện của bạn. Tôi yêu thương vô cùng “những con mèo ốm phải đòn, mèo con phải vạ”. Và trên hết, tôi yêu nền Văn Hóa truyền thống VN mà tôi gọi là “Củ Khoai Mẹ Lùi Bếp Tro”.

Bạn Giảng thân mến, tôi yêu mến những người giàu lòng nhân ái như bạn còn hơn anh chị em ruột thịt. Bởi vì chúng ta cùng chung một linh hồn. Phải chăng đó là Phật Tình có sẵn trong lòng chúng ta? Có một bạn Phật giáo rất thân của tôi bảo tôi rằng: “Có lẽ kiếp trước mày là một tu sĩ Phật Giáo đầu thai vào một gia đình Công Giáo. Mày là tín đồ CG nhưng tâm mày là Tâm Phật”. Tôi chẳng biết có luân hồi hay không, nhưng thấy nó nói vậy tôi cũng cảm thấy vui vui. Nếu quả đúng như lời nó nói thì tôi xin tạ ơn Trời Phật đã thương tôi và đã cứu tôi giác ngộ. Tôi cũng như bạn, chúng ta đều khao khát làm được “một cái gì đó” cho đất nước và đồng bào chúng ta.

Ngay lúc này, tôi có ý định sẽ viết về “Một Chuyến Về Nguồn”. Tôi sẽ kể lại những chuyện thật 100% những gì đã xảy ra cho tôi: quê cũ, trường xưa, những người bạn từ 50 năm trước. Mới tháng 6.2000, tôi đã cho các bạn ở trong nước cũng như tại hải ngoại biết tôi là Charlie Nguyễn bằng cách gửi “Tâm Thư của Charlie Nguyễn” + “Tấm Vải Liệm Xác Chúa” + “Cái Khố của Jesus Trên Thập Giá”. Riêng bài 7 trang đánh máy “Củ khoai lùi bếp tro” với bút hiệu Bùi Châu.

Các bạn Công Giáo của tôi định tổ chức “Chuyến đi về nguồn” tức là liên lạc với mọi anh em ở khắp nơi trong nước và hải ngoại tập trung tại Tân Bình Sài Gòn ngày đầu năm 2001 để cùng nhau về thăm Ninh Cường quê cũ trường xưa. Tôi đã viết thư nói với các bạn “Thánh Gia” của tôi là : “Về Nguồn thật sự phải bằng tâm linh của mình” chứ tôi không muốn “Về Nguồn chỉ đơn thuần là về thăm quê cũ trường xưa”. Tôi muốn nói với các bạn tôi thật nhiều về những biến chuyển tâm linh của tôi, nhưng tôi thấy phải viết thành sách mới diễn tả đủ được.

Sau khi tôi cho các bạn tôi biết tôi là Charlie Nguyễn, tôi đã nhận được thư trả lời từ VN và từ hải ngoại. Tất cả đều cực lực phản đối tôi. Tuy các bạn tôi vẫn coi tôi là anh em, nhưng tôi biết ở trong lòng họ coi tôi như Judas*.

Bạn Giảng thân mến,

Tôi ước mong anh em mình hãy cộng tác với nhau và dốc toàn lực làm nên đại nghĩa như lòng chúng ta đã ao ước từ lâu. Tôi không quen biết ai trong nhóm Giao Điểm. Tôi rất ngưỡng mộ những người như Trần Chung Ngọc, Nguyễn Kha, Nguyễn Mạnh Quang, Lý Khôi Việt, Trần Quý. Bạn có biết họ không? Nếu bạn biết, xin bạn hãy nói tất cả những gì bạn biết về tôi với họ…

Một cây làm chẳng nên non

Ba, bốn, năm, sáu cây chụm lại nên hòn núi cao.

Cái núi cao mà tôi ước mong được đạt tới là một “Điện Biên Phủ thần thánh trên mặt trận Văn hóa Tư tưởng”. Bạn có muốn cùng tôi và các bạn cùng chí hướng hãy cùng nắm tay nhau để chúng ta bắt đầu hành động trên mặt trận Văn hóa Tư tưởng? Lòng yêu mến Sự Thật thiết tha và Tâm Thiện sẽ là sợi dây gắn bó tin cậy giữa chúng ta với nhau. Xin bạn hãy sáng suốt chọn những người cộng tác với mình.

Tôi gửi bạn kèm theo thư cùng bản thảo “Công Giáo trên bờ vực thẳm” tôi viết năm ngoái tại Virginia. Thân chúc bạn và các cháu luôn luôn được Quan Thế Âm Bồ Tát phù hộ. 

Thân ái,

Chấn

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Một 4, 2010 in Công Giáo, Vatican

 

Nhãn: ,

Củ khoai lùi bếp tro

CỦ KHOAI LÙI BẾP TRO

                                                      Charlie Nguyễn

 

 

Lời Giới Thiệu :

 

Bài viết này có thể coi là bài viết đầu tiên trong loạt bài tôi viết về đề tài “Tôn Giáo và Dân Tộc”. Viết xong từ cuối năm 1999 khi sống lang thang ở Virginia và Maryland, nhưng tới nay bài này vẫn chưa bao giờ được đăng trên báo hay tập san nào. Sau khi tôi đã xuất bản được bốn cuốn sách với gần 80 đề mục, bản thảo “Củ Khoai Lùi Bếp Tro” vẫn nằm im trong ngăn kéo. Nay, vì mới thực hiện được webpage “Tôn Giáo và Dân Tộc” của riêng tôi: 

– Địa chỉ 1:         http://charlienguyen.com/

– Địa chỉ 2:          http://home.comcast.net/~charlieng/

– Địa chỉ 3 :        http://home.earthlink.net/~charlienguyen/

tôi muốn đưa bài này lên để chia xẻ với các bạn .

Trước khi vào đọc “Củ Khoai Lùi Bếp Tro”, xin mời các bạn đọc bức thư của tôi gửi hai người bạn thân để giới thiệu bài viết này:

–              Trước hết là bạn Lư Tấn Hồng, cựu thẩm phán Quân Pháp, bút hiệu Vĩnh Như và Nguyễn Viết Hồng.

–              Sau đó là bạn Nguyễn Anh Tuấn, bút hiệu Thường Nhược Thủy.

Cả hai bạn là đồng tác giả của nhiều cuốn sách gíá trị chuyên nghiên cứu về “tinh hoa tư tưởng Việt” “Đạo Sống Việt” và nhất là về văn chương bình dân (ca dao tục ngữ) và về văn hóa cổ truyền của dân tộc.

Nhờ đọc các sách của các bạn đó, nên tôi đã có được một số kiến thức cần thiết về văn hóa cổ truyền của dân tộc, và từ đó nảy sinh lòng yêu mến con người và tâm hồn thuần túy Việt Nam.

 

Sau đây là bức thư gửi hai người bạn tôi :

 

Virginia, ngày 28/2/2000

Hai bạn Lư Tấn Hồng và Nguyễn Anh Tuấn thân mến, 

Như các bạn đã biết, tôi sinh ra và lớn lên trong môi trường đậm đặc của Công Giáo LaMã, vốn mang nặng tính chất du mục Babylon và hoàn toàn xa rời văn hóa dân tộc. Có lẽ các bạn cũng nhận thấy rất nhiều người Công giáo trí thức, họ hiểu biết nhiều nhưng tại sao họ vẫn không thoát ra khỏi cái ngục tù tư tưởng của họ? Đó là vì họ đã mắc tròng, tức bị mắc kẹt trong cái thòng lọng của đạo Công Giáo (The Catholic Loop). Cái tròng nặng nhất là cái tròng tình cảm gia đình. Không ai muốn ra mặt công khai chống lại cái tôn giáo lâu đời của gia tộc và gia đình mình, nhất là cái tôn giáo đó lại là thứ tôn giáo cuồng tín như Công giáo La Mã.  Nhiều cha mẹ sẵn sàng từ con hoặc vợ bỏ chồng, chứ không bao giờ chấp nhận bỏ đạo, vì vậy mọi người Công giáo tỉnh ngộ vẫn cứ phải im lặng làm hòa cho yên cửa yên nhà.  Nhiều người lại cho rằng chống lại đạo của cha mẹ ông bà mình là bất hiếu nên họ đã không dám thoát ra khỏi cái tròng của đạo. Bài viết “Củ Khoai Lùi Bếp Tro” tôi đính kèm theo đây nói lên cái hoàn cảnh ấy.  Chính cái tinh thần dân tộc còn sót lại trong tôi đã giúp tôi thoát khỏi cái tròng Công giáo của văn hóa du mục Babylon để trở về với văn hóa dân tộc Việt Nam

Tôi ví cái văn minh Tây phương (trong đó có đạo Công giáo) cũng như món “french fries” hay “smashed potato”, bề ngoài trông có vẻ “văn minh” nhưng không thích hợp với tôi bằng ”củ khoai nướng lùi tro”.  Đối với tôi, củ khoai nướng mộc mạc đơn sơ nhưng bên trong củ khoai là tất cả vị ngon nguyên chất ngọt ngào và mùi thơm của nó đượm cả tình người. 

Tôi yêu văn hóa dân tộc cũng như yêu củ khoai mà mẹ tôi nướng vùi tro thảy cho tôi ăn hồi còn nhỏ. Tôi bỏ văn hóa ngoại lai để trở về với văn hóa dân tộc đâu có phải là bất hiếu với cha mẹ ông bà đâu. Tôi không chấp nhận tôn giáo không có nghĩa là tôi trở thành kẻ vô thần và vô đạo đức. Tôi chỉ từ bỏ cái quan niệm sai lầm về Chúa (hay Thượng Đế), chứ tôi không chống lại các đấng thiêng liêng. Tôi từ bỏ tôn giáo vì tôn giáo không cần thiết cho con người, chứ không phải vì tôi muốn sống buông thả, vô đạo đức. 

Đó là nội dung tư tưởng tôi muốn diễn đạt trong bài viết này với ước mong được các bạn giúp thêm ý kiến.

 

Thân ái,

Chấn

CỦ KHOAI LÙI BẾP TRO

 

Chúng ta đang sống trong thời đại của những cơ hội và những thách thức  không thể tiên đoán. Nền khoa học xuất phát từ văn minh Tây phương không ngừng mở rộng  những chân trời kiến thức khiến con người có thể sáng tạo nên những kỳ quan kỹ thuật không kém gì những phép lạ của Thượng đế. Con người đã thành công sáng tạo ra những con cừu hay những con chuột giống hệt như nhau từ những tế bào sinh vật. Con người  cũng đã thành công trong việc làm những cơn mưa nhân tạo, hoặc trong việc nghiên cứu các “genes” để tạo ra những giống lúa, rau, quả theo ý muốn. Các nhà hóa học đang tìm cách phục chế các loại rác do loài người phế thải mỗi ngày để giảm bớt tối đa sự phung phí nguyên liệu. Giới y khoa đã thành công chế tạo vài loại thuốc chủng ngừa bằng DNA để giúp con người chỉ cần chủng ngừa một lần cũng đủ tránh được một vài thứ bệnh nào đó trong cả cuộc đời.  

Thế giới khoa học Tây phương vẫn liên tục đóng góp mỗi ngày vào kho dự trữ kiến thức của nhân loại. Chỉ trong phạm vi Anh ngữ không thôi, người ta tính ra có tới 7000 tài liệu được viết ra mỗi ngày về các đề tài khoa học. Không một ai có đủ thỉ giờ và sức lực để đọc, chứ không nói tới chuyện có hiểu hay không. 

Chúng ta tự hào đang được sống trong thời đại Tin Học (Information Age) nhưng thực sự ra chúng ta đang bị tràn ngập bởi những dữ kiện (data) mà phần lớn đã làm cho chúng ta điên đầu lo lắng và căng thẳng thần kinh. Mọi người Tây phương hầu như đang được sống trong cuộc sống vật chất đầy đủ nhất từ xưa đến nay, nhưng con số những người bị căng thẳng tinh thần, thậm chí là mắc bệnh tâm thần lại có phần gia tăng hơn trước. Rõ ràng cuộc sống vật chất sung mãn không phải là điều kiện cần và đủ cho một cuộc sống hạnh phúc của con người. 

Nói như vậy không phải chúng ta có ý làm giảm giá trị của khoa học trong nền văn minh Tây phương. Trái lại, chúng ta đánh giá cao những thành tựu của nền khoa học đó và nhân loại phải biết ơn những nhà khoa học Tây phương đã góp công vĩ đại nâng cao mức sống và tầm hiểu biết của toàn thể loài người chúng ta về mọi lãnh vực. Vấn đề cốt lõi là chúng ta không thể quên cái trọng tâm của thế giới này là chính CON NGƯỜI. Chúng ta không thể sống hạnh phúc với thân xác và với thế giới giầu có về vật chất mà không cần một cái gì khác, nhất là không cần để ý tới ai. Để có được một cuộc sống có ý nghĩa và hạnh phúc trọn vẹn thì ngoài cuộc sống vật chất đầy đủ ra chúng ta cần có một tâm hồn ổn định hài hòa với tình thương bao la ràn trải tới mọi đồng loại. 

Phải chăng lịch sử loài người đã có hoặc sẽ có một “thời đại hoàng kim”, trong đó tập thể con người được sống  trong hòa bình và yêu thương nhau ?  Nói một cách khác, muốn sống có hạnh phúc, chúng ta cần có trước hết là “tình người”. Phải chăng đó là tuyệt đỉnh của văn minh nhân loại ? Phải chăng ngọn đuốc của sự hiểu biết về cái “cùng kỳ lý” đã không được truyền tay từ đời xưa đến đời nay một cách liên tục  và nó đã bị thất lạc trong một chặng nào đó trong chiều dài của những thiên-niên-kỷ ? 

Nêu lên những câu hỏi này là chúng ta đang rất quan tâm đến những giá trị tinh thần đã bị thất lạc. Có thể những giá trị tinh thần qúi báu đó đã không được các sử gia, các nhà khoa học và các chính trị gia Tây phương để ý tới. Chúng ta có thể qủa quyết một điều là nền văn minh của nhân loại đã không bùng nổ đột biến như hiện tượng “Big Bang”. Nền văn minh đó đã hình thành bằng những bước đi dò dẫm chậm chạp trên đường tiến hóa dài tới cả triệu năm. Khoa học khảo cổ đã đạt những thành tựu lớn lao trong việc khám phá quá khứ của nền văn minh nhân loại, nhưng ánh sáng của ngành khoa học này mới chỉ soi rọi tới cái giới hạn của nó là thời kỳ đồ đá (Stone Age) tức khoảng thời gian từ 25000 đến 4000 năm trước công nguyên (TCN). Người Tây phương đã tìm ra những cái nôi của nền văn minh như Summer, Babylon, Dilmun, Elam, Ai Cập,…. Những cái nôi của nền văn minh ấy đều đã xuất hiện vào cuối thời kỳ đồ đá (8000-4000 TCN) nhưng người ta vẫn chưa hiểu rõ tại sao tất cả những nền văn minh ấy đều đã bị tiêu diệt. Phải chăng sự qúa mê tín vào kiếp sau và lo cho kiếp sau (người Ai Cập lo xây kim tự tháp làm suy sụp kinh tế quốc gia) và chiến tranh tôn giáo đã là những nguyên nhân chính yếu dẫn đến sự hủy diệt những nền văn minh ấy ? 

Người Tây phương cũng không tránh khỏi những nhận định chủ quan trong sự đánh giá những nền văn minh đó. Từ khi Napoléon kéo quân đến chiếm Ai Cập vào đầu thế kỷ 18, ông ta đã ngỡ ngàng đứng ngắm nhìn những kim tự tháp. Tiếp theo đó là những khám phá thành công của ngành khảo cổ tại vùng Cận Đông với các di vật đã hùng hồn nói lên cái quá khứ đầy huy hoàng tráng lệ của Babylon và đất thánh Jerusalem. 

Thế giới phương Tây dường như có ấn tượng cho rằng vùng Cận Đông là cái nôi duy nhất của văn minh nhân loại. Những phát minh đầu tiên là những phát minh chưa từng có bao giờ trước đó (The firsts of first time ever) đều được gán cho là của giống dân Sumerians, những người đầu tiên định cư tại Babylon mà người Hy Lạp gọi là Mesopotamia. Mesos là “ở giữa” (Middle); Potamia là “những con sông” (Rivers). Đó là miền châu thổ được tạo nên bởi hai con sông Euphrate và Tigris, người Hoa dịch ra là Lưỡng-Hà-Châu. Hiện nay cả vùng này chỉ là một sa mạc mênh mông cách thủ đô Baghdad của Iraq khoảng 80 dặm về phía Nam.  

Ngày nay, người ta đã nhận thấy những nhận định trên đây là thiên lệch và chủ quan quá đáng. Bởi lẽ nhiều nền văn minh cổ khác đã được khám phá tại Trung Quốc, Ấn Độ và Mexico (văn minh Maya).

Sự thật là thế giới cổ đã xuất hiện  nhiều nền văn minh độc lập  tại nhiều vùng khác nhau, trong số đó tại sao lại không thể có một nền văn minh thuần túy Việt Nam ?

Vì một lý do nào đó chưa rõ, tất cả các nền văn minh cổ đều đã tàn lụi, nhưng điều may mắn là các nền văn minh ấy đều để lại những dấu vết trong kho tàng kinh nghiệm của loài người. Không có một nền văn minh nào là kẻ sống sót duy nhất trên hành tinh này ! 

Trong tác phẩm “Truy Tìm Cái Nôi của nền Văn Minh” (In Search of the Craddle of Civilization) của ba tác giả George Feverstein, Subhash Kak và Davis Frawley – Quest Book 1995, nhiều nhà khoa học thuộc ngành khảo cổ đã đưa ra một nhận định mới cho rằng ngoài Babylon ra còn có nhiều cái nôi văn minh khác đã phát sinh một cách riêng biệt tại nhiều vùng khác nhau trong thế giới cổ. Điều nhận xét đặc biệt của họ là những cái nôi của văn minh nhân loại đều nằm trong cái vòng đai chạy quanh trái đất song song với đường xích đạo. Hầu hết đều ở gần Hạ Chí Tuyến (Tropic of Cancer) song song và nằm về hướng Bắc của đường Xích Đạo. Vòng đai này chạy qua Ai Cập, Babylon, Jerusalem, Bắc Ấn và miền Bắc Việt Nam (sách dẫn chiếu, p. XIX). 

Để góp phần vào việc khôi phục và phát huy nền văn hóa Việt Nam, chúng ta cần phải đi vào trọng tâm của vấn đề là moi tìm những sự hiểu biết khôn ngoan của tổ tiên chúng ta về cái “cùng kỳ lý” của vũ trụ và cuộc sống. Đó là quan niệm của tổ tiên chúng ta về lẽ âm dương trong vạn vật và thái độ ứng xử khôn ngoan của tổ tiên chúng ta là chấp nhận những mặt đối lập để cùng tồn tại và phát triển theo cái lẽ “tương khắc, tương sinh”. Áp dụng sự khôn ngoan của tổ tiên vào thái độ sống của chúng ta hiện nay là: hãy mở rộng con tim và khối óc để đón nhận những dị biệt của các nền văn hóa ngoại lai du nhập với một tinh thần bao dung hài hòa. Tổ tiên chúng ta không dành độc quyền chân lý:

“Khôn chẳng qua lẽ, khỏe chẳng qua lời”

“Rằng trong lẽ phải có người có ta

Biết ta có cái hay của ta, người có cái hay của người. Điều quan trọng là biết học hỏi cái hay của người để bổ túc cho cái thiếu xót của ta và biết dùng cái Đức của ta để cảm hóa cái xấu, cái dở của người. 

“Có đi có lại mới toại lòng nhau”

Nhưng cuối cùng, tổ tiên chúng ta không tranh thắng với ai bằng cái lý, vì thắng bằng cái lý không thôi sẽ làm cho kẻ thua mất mặt và làm mất đi cái tình cảm thương yêu lẫn nhau. Tổ tiên chúng ta rất đau xót nếu có ai làm mất đi cái tình cảm đó.

“Một bồ cái lý không bằng một tí cái tình”

Chúng ta không kỳ vọng quá cao vào riêng cái kho tàng văn hóa của dân tộc để cho rằng sự hiểu biết khôn ngoan của tổ tiên đủ để giải quyết mọi vấn đề của cuộc sống hôm nay. Thật sự chúng ta cần phải học hỏi Tây phương rất nhiều về phương pháp tổ chức, óc phân tích khoa học, tinh thần trọng sự chính xác và nhất là ý chí phấn đấu liên tục trong học hỏi, tìm hiểu và phát minh để không ngừng tiến bộ mọi mặt. 

Tuy nhiên, chúng ta phải nhìn nhận rằng cái kho tàng hiểu biết khôn ngoan của tổ tiên chúng ta đã được chắt lọc qua biết bao gian lao thử thách trong cuộc sống của toàn dân, nó là sợi chỉ xuyên suốt của bản sắc dân tộc qua nhiều ngàn năm lịch sử dấu tranh để đất nước ta còn tồn tại đến ngày hôm nay. 

Hiển nhiên là cái kho tàng hiểu biết khôn ngoan của tổ tiên, tức là cái gốc của nền văn minh Việt Nam, đã được chứng nghiệm qua quá khứ 4000 năm lịch sử. Vậy nó phải có một giá trị nhất định. Ít nhất cái vốn văn hóa dân tộc cũng giúp chúng ta xác định được một thái độ sống dung hòa, lấy tình người làm trọng tâm. Thái độ sống đó hướng dẫn chúng ta cần phải tránh mọi chủ nghĩa  và mọi tôn giáo cực đoan, vì những thứ cực đoan này đã tàn phá thế giới và hủy diệt tình người.

Dưới ánh sáng của văn hóa dân tộc, chúng ta hãy bình tâm đánh giá lại mọi chủ nghĩamọi tôn giáo mà chúng ta đang theo : 

Mọi tôn giáo hay mọi chủ nghĩa chỉ có thể là chính đáng nếu nó thực sự phục vụ con người. Bất cứ một thứ chủ nghĩa nào, dù nhân danh quốc gia hay xã hội, mà chà đạp hủy hoại con người đều là những tà thuyết đáng lên án. Mọi thứ tôn giáo dù nhân danh Thượng đế hay hứa hẹn một thiên đàng vĩnh cửu nhưng đã ngăn cách con người với nhau và hủy diệt lẫn nhau vì những tranh chấp thế tục thấp hèn thì đó không phải là những tôn giáo “thật”. Những tôn giáo đó thực chất chỉ là buôn thần bán thánh của những người khoác áo thầy tu để lừa bịp con người và đi ngược lại ý Thượng đế. 

Phật đã dạy mọi chúng sinh đều có Phật tính. Như vậy Phật đã có sẵn ở trong lòng mỗi người. Muốn tìm Phật thì cứ việc tìm Ngài ở trong lòng mình, không cần phải tới chùa – Phật tại tâm chứ không tại chùa. Hãy tin vào chính mình và nhớ lời ông cha ta dạy rằng: bộ áo khó làm nên thầy tu. Tổ tiên chúng ta dạy chúng ta cái tinh thần đề cao cảnh giác “miệng tụng Nam Mô, bụng bồ dao găm”

Chúa Jesus còn dạy kỹ hơn: “Kẻ giàu vào nước thiêng đàng còn khó hơn con lạc đà chui qua lỗ kim”. Ai cũng biết giáo hội Vatican là giáo hội giàu nhất thế giới với tài sản hàng ngàn tỷ Mỹ kim. Vậy cả cái giáo hội Vatican chắc chắn là khó mà chui lọt lỗ kim đó ! Ai muốn lên thiên đàng thì hãy nghe lời Chúa, chứ đừng nghe các vị thừa sai của giáo hội mà phải sa hỏa ngục đời đời. Bao nhiêu công sức bỏ ra để đọc kinh rã họng cả mấy chục năm cũng đều đổ xuống sông xuống biển. Trong Thánh Kinh, Chúa cũng dạy con người hãy tránh xa các nhà thờ, vì Chúa không ở trong đó: “Thánh Linh của Thiên Chúa không ngự trong các đền thờ do bàn tay con người tạo nên” (The Holy Spirit no longer dwelth in temples made by men’s hands – Acts 17:24). Thánh Kinh xác định: “Anh em là đền thờ của Thiên Chúa. Thánh Linh của Thiên Chúa ngự trong anh em” (Ye are the temple of God. The Spirit of God dwelth in you – ICor. 3:16). 

Rõ ràng một điều là Phật cũng như Chúa đều dạy mọi người hãy quay về với chính nội tâm của mình. Nội tâm của mổi người mới là Chùa thật và đền thờ thật. Mọi thứ nhà thờ, thánh thất hay chùa chiền miếu mạo ta thấy bên ngoài đều là đồ giả. Đó chính là những trung tâm dẫn dắt con người xa rời các lời dạy chân chính của Phật và Chúa. Mái chùa hay mái nhà thờ càng rộng lớn bao nhiêu càng che khuất ánh sáng mặt trời chân lý bấy nhiêu. Bức tường của nhà thờ hay chùa do người ta xây dựng càng cao bao nhiêu thì càng ngăn cách con người với nhau bấy nhiêu. Các tu sĩ giảng giải dông dài chính là những người đầu tiên phản bội lại các giáo chủ của mình, trước khi phản bội đồng đạo nhẹ dạ của họ.

Trước khi các đạo du nhập vào đất nước ta, tổ tiên chúng ta đã sống hàng ngàn năm bình yên, hạnh phúc mà không cần tới một đạo nào cả. Tổ tiên chúng ta đã nhận thức rằng: chúng ta đã có sẵn một đạo cao hơn tất cả các tôn giáo, đó là “Đạo Làm Người”. 

Tổ tiên chúng ta là con Hồng cháu Lạc, chứ không phải là con cháu của Adong-Evà, nên không hề mắc cái “tội tổ tông”. Do đó chúng ta chẳng cần  một thứ chúa Cứu Thế nào cứu chuộc. Vào năm 40 sau Công-nguyên, hai Bà Trưng Trắc và Trưng Nhị đã cứu nước ta thoát ách đô hộ ngoại bang và dành lại độc lập cho tổ quốc. Hai Bà, sấp sỉ bằng tuổi Jesus,  và hai Bà Trưng đã thực sự là Chúa Cứu Thế của dân tộc ta. Jesus lúc đó còn bận giảng đạo ở Jerusalem, chẳng biết cái xứ Giao Chỉ nằm ở nơi nào trên địa cầu làm sao tới cứu? Jesus bị quân La Mã đánh đập tơi bời rồi bị đóng đinh trần truồng trên thập giá về cái tội dám chống lại đế quốc. Jesus là nạn nhân của bọn đế quốc La Mã. Đối đầu với cả một đế quốc hung bạo, Jesus đã không thể tự cứu mình, nên đã phải chết dưới tay chúng.

Một người đã không thể cứu nổi chính mình thì làm sao có khả năng làm Chúa Cứu Thế cả thế gian, trong đó có cả những người chủ mưu giết mình ? Học giả Do Thái Leonard Yassen đã viết rất chí lý trong tác phẩm “The Jesus Connection to Triumph over Anti-Semistism” (Crossroad 1995) : “Jesus không hề biết gì về Ki Tô Giáo (Christianity), cũng không chết với danh nghĩa là người dã sáng lập ra đạo này, mà chết vì danh nghĩa một công dân Do Thái”. Ông gọi Ki Tô Giáo là một cái boomerang vĩ đại do đế quốc La Mã tạo ra để khiến cho nó quay lại tiêu diệt tổ quốc của công dân Jesus. Do Thái quả là một một dân tộc được chọn (a chosen people), nhưng người chọn không phải là Thiên Chúa mà là đế quốc La Mã. và họ đã chọn dân tộc Do Thái với mục tiêu rõ rệt là để tiêu diệt dân tộc này.

Kẻ viết bài này đã viết trong tinh thần thanh thản, không một chút ác cảm riêng tư nào đối với Công Giáo, vì đạo này là đạo của tổ tiên, gia tộc nội ngoại từ thế kỷ 16. Mọi người thân thiết của đời tôi, tất cả đều là những tín đồ Công Giáo nhiệt thành đến độ sẵn sàng “tử vì đạo” bất cứ lúc nào. Tôi đã sinh ra và lớn lên trong môi trường đậm đặc ấy của Công Giáo miền quê Nam-Định. Nhưng cũng tại nơi miền quê đó, cái bản sắc đặc biệt của dân tộc tính Việt Nam vẫn không phai nhòa trong đáy sâu cùng tận linh hồn của những người nông dân chất phác hiền hòa. Cái ánh sáng của văn hóa dân tộc còn sót lại nơi tôi đã cởi trói cho tôi và giải thoát tôi khỏi “cái tròng Công Giáo” (The Catholic Loop – theo cách nói của bà Joanne H. Meehl, tác giả cuốn Người Công Giáo Tỉnh Ngộ – The Recovering Catholic – Prometheus Books, NY 1995).

Đã sống nhiều năm ở hải ngoại, tôi đã ăn nhiều “french fries, baked potatos, smashed potatos”, nhưng tôi vẫn nhớ như in cái hương vị ngọt ngào độc đáo của củ khoai mẹ tôi lùi trong bếp tro rơm rạ. Đã hơn nửa thế kỷ qua rồi mà sao cái hương vị ngọt ngào ấy  vẫn như còn tồn đọng trong đáy sâu tâm hồn tôi. Đặc tính văn hóa dân tộc Việt Nam có lẽ không khác mấy với hình ảnh củ khoai đơn sơ mộc mạc lùi tro trong căn bếp mái tranh vách đất năm xưa. Bề ngoài củ khoai nướng trông đen thui xấu xí, nhưng tất cả hương vị ngọt ngào nguyên chất của nó đã không mất đi đâu chút nào mà đều qui tụ vào trong. Văn hóa dân tộc ta không có cái vẻ kiêu sa lộng lẫy như văn hóa Tây Phương vì nó chìm sâu trong lòng người với tất cả những gì nguyên chất của giá trị CON NGƯỜI. Xét về thực chất giá trị, chưa hẳn nền văn hóa Tây phương đã cao hơn văn hóa Việt Nam. Cũng như hương vị thơm ngon của french fries hay smashed potatos chưa chắc đã bì kịp với hương vị ngọt ngào độc đáo của củ khoai lùi bếp tro. 

Cái hương vị ngọt lịm nóng hổi của củ khoai nướng thô sơ mộc mạc cũng như lòng thương con chân thật của bà mẹ quê đã thấm sâu vào từng giọt máu, từng đốt xương và từng hơi thở của linh hồn. Tôi vẫn ghi lòng tạc dạ những lời mẹ dặn: “Con hãy sống theo lời Chúa. Thánh Kinh là kho tàng của sự khôn ngoan để cho con học hỏi suốt đời”. Quả thật, chúng ta có thể học hỏi được nhiều điều khôn ngoan tốt lành nơi Thánh Kinh, nhưng không phải mọi điều trong đó đều khôn ngoan và tốt lành cả. Trong Thánh Kinh Cựu Ước cũng như Tân Ước không thiếu gì những điều nhảm nhí, ác độc và vô luân. Vấn đề quan trọng là khi đọc Thánh Kinh, cũng như khi đọc mọi cuốn sách khác, ta cần phải biết phân biệt đâu là điều đúng, đâu là điều sai. Thánh Kinh chẳng phải là cuốn sách thiêng liêng ghi chép những lời của Chúa, vì Chúa là đấng thiêng liêng chẳng nói bao giờ. Tất cả chỉ là những lời của người phàm tục được gán cho Chúa qua cái mà người Công giáo thường gọi là sự “mặc khải”. Cả ba tôn giáo độc thần (Do Thái, Ki Tô, Hồi) đều vin vào sự mặc khải này để buộc tín đồ phải tin Thánh Kinh của mình là chân lý tuyệt đối. Đó là nguyên nhân chính yếu dẫn đến thái độ tự tôn mù quáng và độc quyền chân lý. Cả ba tôn giáo thờ cùng một ông chúa đều muốn dành độc quyền chân lý, nên đã gây thánh chiến với nhau tạo nên cảnh núi xương sông máu trong hơn chục thế kỷ qua. Họ đã biến Thánh Kinh của Tình Yêu (Gospel of Love) thành Thánh Kinh của lòng hận thù (Gospel of Hatred). Vậy Thánh Kinh đã rõ ràng không phải là lời của Chúa. Qủy sứ cũng có thể viện dẫn Thánh Kinh để giải thích cho những việc làm ác độc của chúng. Thánh Kinh chỉ là tấm màn che mỹ miều để những phần tử lợi dụng tôn giáo núp đằng sau tha hồ tác yêu tác quái mà vẫn được các nạn nhân của họ kính trọng như thường! 

Mỗi khi suy nghĩ về đạo Công giáo là đạo lâu đời của ông bà tổ tiên, tôi thường áy náy trong lòng và tự hỏi mình liệu có phạm tội bất hiếu hay không. Trong những hoàn cảnh ấy tôi thường nghĩ đến mẹ tôi và tâm sự với người trong tư tưởng : 

Mẹ ơi !  Con cám ơn mẹ đã cho con một trí óc để suy xét, một trái tim để yêu thương và một lương tâm để đón nhận những lời nói chân thật. Con không tin những lời người ta nói trong sách, dù đó là sách Kinh Thánh, nhưng chỉ tin vào những lời nói của lương tâm trong tâm hồn chân thật của con mà thôi.

Con kính trọng mẹ là một người phụ nữ Công giáo chân thật, hết lòng mến Chúa, yêu người. Đồng thời mẹ cũng là một người nông dân Việt Nam chân thật, vì mẹ đã sống thật với lòng mình, vốn rất đơn sơ, mộc mạc, hiền hòa. Mẹ không ưa lý luận cao xa, mà chỉ biết yêu thương vô điều kiện. Mẹ đã tìm thấy thiên đàng của Chúa trong tâm hồn bình an của mẹ ngay lúc còn sống trên cõi đời này. Mỗi lần giỗ mẹ, con không cầu xin Chúa cho mẹ được rỗi linh hồn, vì mẹ đã rỗi linh hồn từ khi còn sống. Con không theo một tôn giáo nào, nhưng con tôn kính con người thật của Jesus, cũng như tôn kính con người thật của Thích Ca Mâu Ni. Con tôn kính các Ngài, nhưng chẳng bao giờ muốn mình trở thành công dân Do Thái hay Ấn Độ, và càng không muốn trở thành công dân của Vatican. Tổ Quốc muôn đời của con vẫn là Việt Nam. Cả Jesus lẫn Thích Ca đều là những chân sư của con, vì các Ngài đều là những “ngón tay chỉ trăng” hướng dẫn con trên đường giác ngộ. Các Ngài đều là những trí tuệ bậc cao để cho con từ thấp ngó lên ngưỡng mộ, chứ không phải để tôn thờ. Các Ngài đều đã được sinh ra bởi người, chẳng phải đã sinh ra từ đất bùn cũng chẳng phải đã được sinh ra bởi người mẹ “đồng trinh”. Các Ngài đều đã không thoát được cái qui luật ”sinh, lão, bệnh, tử” và cả Chúa lẫn Phật đều đã trở về với cát bụi vô tri vô giác từ lâu. Như vậy các Ngài chẳng có chút quyền năng nào để ban ơn hay trừng phạt con người. Do đó, việc cầu xin Chúa hay cầu khấn Phật để xin ơn này ơn kia đều là những hành động mê tín nhảm nhí, hoàn toàn vô ích.

Cả Chúa trong nhà thờ lẫn Phật trên chùa đều là những hình tượng do người ta dựng lên. Chẳng có Chúa, Phật nào thưong con thật tình bằng mẹ thương con.

Dù cho thời gian phôi pha và dù sống ở bất cứ nơi nào trên thế giới, hương vị của những củ khoai nướng lùi bếp tro vẫn cứ mãi vấn vương trong lòng con, vì đó chính là biều hiệu tình yêu thương bất diệt của mẹ trong linh hồn con.

Mẹ ơi, linh hồn Việt Nam chân thật của mẹ vẫn sống mãi trong con !

          Charlie Nguyễn(Dominique Bùi Văn Chấn-TV Thánh Gia)

                                                                                     Đông 1999

77. Charlie Nguyễn trả lời các bạn Thánh Gia

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Mười Hai 27, 2009 in Công Giáo, Vatican

 

Nhãn: ,