RSS

Category Archives: Tin Lành

Phattuvietnam.net và khúc quanh báo động cải đạo trên truyền thông Phật giáo

Phattuvietnam.net và khúc quanh báo động cải đạo trên truyền thông Phật giáo    

 

Minh Thạnh

Trong một bào viết trước chúng tôi đã nói đến việc nhiều trang web Phật giáo cũng như không Phật giáo liên tục đăng lại những bài về cải đạo trên Phattuvietnam.net. Đó là một cách hưởng ứng, nhưng còn là hưởng ứng thụ động.

Bài viết này giới hạn ở một số biểu hiện ghi nhận vào 2 tháng đầu năm 2011.

Đó là những ghi nhận về một niềm tin mới của người Việt Nam theo đạo Phật thể hiện trên một số trang web Phật giáo.

Niềm tin nói trên của Phật tử Việt Nam chúng ta là một niềm tin có cơ sở, dựa vào kết quả đã đạt được trong năm qua.

Cơ sở xuất phát chính của niềm tin về bước chuyển mới của Phật giáo Việt Nam, theo chúng tôi, là tình trạng nhận thức mới của Phật giáo Việt Nam, được tạo ra sau hoạt động truyền thông báo động về vấn đề sự kiện “lửa cháy Mỹ Đình”, mà chúng tôi tạm so sánh với liều thuốc giải tình trạng “Narcotism” của Phật giáo Việt Nam.

Narcotism là một thuật ngữ dùng trong y khoa, tạm gọi là tình trạng gây mê để người thầy thuốc có thể làm mọi việc có thể gây đau đớn mà bệnh nhân không hay biết.

Lâu dần, narcotism trở thành một tiếng lóng trong giới chính trị xã hội phương Tây, dùng để chỉ mưu kế, biện pháp gây mê đối phương để dễ bề hành động (chẳng hạn, các sử gia Hoa Kỳ hiện đại đã dùng từ Narcotism để chỉ biện pháp và kết quả mục tiêu mà quân phiệt Nhật Bản đã gây ra cho Hoa Kỳ trước sự kiện Trân Châu Cảng, Chiến tranh Thế giới thứ II).

Chính vì bị rơi vào “narcotism” mà các báo cáo tình báo về việc khả năng tấn công của Nhật Bản vào Trân Châu Cảng đã bị chính giới Mỹ bỏ qua, thậm chí là các viên tướng Mỹ còn quở trách thuộc cấp vì báo cáo thấy có nhiều máy bay được cho là của Nhật trên màn hình ra đa. Để rồi sau đó là trận oanh tạc tàn sát!

Phá Chùa &Tượng Phật tại Hàn Quốc

Nếu tình trạng Narcotism chưa được giải quyết thì những bài viết cảnh báo về hiểm họa cải đạo tín đồ Phật giáo Việt Nam chỉ được coi là những lời lo âu vu vơ, ngoài lề, chỉ là nhiễu (tín hiệu không có ích).

May thay, loạt bài cải đạo của nhiều tác giả đăng trên Phattuvietnam.net đã không bị vô hiệu bởi tình trạng Narcotism mà Phật giáo Việt Nam đang gặp phải, mà nó lại trở thành liều thuốc giải tình trạng narcotism trong Phật giáo Việt Nam, có hiệu nghiệm bước đầu, và có thể nói, một bộ phận tăng tín đồ Phật giáo Việt Nam đã ra khỏi tình trạng narcotism về mặt nhận thức (trừ một vài trường hợp đặc biệt).

Cái nhân của liều thuốc giải là sự kiện nổi lửa Mỹ Đình, cùng với các liều thuốc trước đó và tiếp theo đã gây một phản ứng dây chuyền, và phản ứng đó còn đang tiếp tục.

Trong một bào viết trước chúng tôi đã nói đến việc nhiều trang web Phật giáo cũng như không Phật giáo liên tục đăng lại những bài về cải đạo trên Phattuvietnam.net. Đó là một cách hưởng ứng, nhưng còn là hưởng ứng thụ động.

Chúng tôi có mục tiêu xã hội, là Phattuvietnam.net chỉ làm một cú hích. Sau đó cần có tiếng nói riêng từ các cơ quan truyền thông Phật giáo.

Và thật đáng mừng đã có nhiều bài viết, cá biệt có bài còn “mạnh” hơn cả những bài trên Phattuvietnam.net. Chúng tôi nghĩ rằng đã chuyển sang sự hưởng ứng tích cực.

Có thể kể đến các bài như: “Cải đạo biến tướng của sự cuồng tín tôn giáo” của tác giả Thích Thanh Thắng đăng trên trang Chùa Bửu Minh, trang Giác Ngộ, Điểm Nhìn, bài “Lửa đốt dân tộc ta” của Hồng Ngọc đăng trên trang Giao Điểm…

Tiếp theo lại có một bài thể hiện dưới dạng thư ngỏ Chấn hưng Phật giáo, ký tên tập thể cư sĩ Tâm Diệu, Trần Trúc Lâm, Trí Tánh, Quán Như Phạm Văn Minh, Hồng Quang, Nguyên Tánh Trần Tiễn Khanh…, đăng ở nhiều trang web.

Mới đây lại có bài “Niềm ưu tư lớn cho năm Tân Mão – 2011” tác giả Thích Giác Tâm, đăng trên trang chùa Bửu Minh.

Bài “Cải đạo, một biểu tượng của sự cuồng tín tôn giáo” tác giả Thích Thanh Thắng đã cứng rắn hơn rất nhiều so với những bài viết của tôi trên Phattuvietnam.net, đã chỉ ra được một trong những nguyên nhân sâu xa dẫn đến việc cải đạo rầm rộ hiện nay, đó là tình trạng ở một tôn giáo khác, có thể coi là thuộc về bản chất, là tình trạng cuồng tín.

Đây là một sự lý giải mang tính chiến lược, vĩ mô, giải thích cơ chế, vượt trên những bài viết của chúng tôi, chỉ ở tầm ghi nhận sự kiện, phân tích, bày tỏ thái độ ở cấp đơn vị “cơ sở”.

Bài “Lửa đốt dân tộc ta”, tác giả Hồng Ngọc là sự đào sâu những bài viết đăng trên Phattuvietnam.net, đặc biệt, bổ sung nhiều thông tin quan trọng.

Bài này cho biết đã có nhiều hình thức phản đối Tuyên ngôn này, kể cả việc Phật tử Việt kiều “liên lạc với Tòa Đại sứ Việt Nam tại Washinhton về bài Tuyên ngôn Thuộc linh này. Tổ chức Tin Lành này đã vi phạm Hiến chương Liên Hiệp Quốc, điều 29. Hiến chương Liên Hiệp Quốc viết như sau:

“Trong khi hành xử những quyền tự do của mình, ai cũng phải chịu những giới hạn do luật pháp đặt ra ngõ hầu những quyền tự do của người khác cũng được thừa nhận và tôn trọng”.”

Bài viết này còn phân tích những sự kiện đã được thông tin từ khía cạnh luật pháp Mỹ: “… Không những nhóm Tin Lành nầy “tuyên truyền hủy hoại nền văn hóa truyền thống…, mà họ còn công khai: “…hình ảnh con rồng, tức con rắn xưa ma quỷ…”. Đã là ma quỷ thì phải tiêu diệt. Mặc dù chưa công khai nói rõ như thế, nhưng chủ ý là như thế. Hành động này Mỹ gọi là suspected killer hoặc intentional wrong doing. Họ sẽ bị cơ quan FBI điều tra và cần thì tống cổ vào nhà lao”.

Chỉ mấy ngày sau, một bài hưởng ứng khác lại được nhiều trang web Phật giáo đăng tải.

Nhưng lần này, không chỉ còn là nói, mà đã là làm.

Thư ngỏ vận động Tủ sách Chấn hưng Phật giáo đã dẫn lại một số sự kiện quan trọng về việc cải đạo mà giới Phật giáo quan tâm để làm cơ sở xúc tiến thành lập tủ sách Chấn hưng Phật giáo.

Liên tiếp hai năm, 2010 và 2011, lễ Noel tại sân vận động Mỹ Đình Hà Nội, giáo phái Tin Lành trong cái gọi là “Tuyên ngôn Thuộc linh” công khai thách thức cho rằng dân tộc Việt Nam là rắn, mà rắn thì cần phải…”

Hay, ở một đoạn trước:

Tấm gương mờ trì trệ, thiếu viễn kiến của một Phật giáo Hàn Quốc co cụm, tiêu cực trong thế chiến thứ II, là nguyên nhân để Phật giáo nơi này trở thành một tôn giáo thiểu số, và gần đây một số chùa đã bị con chiên cuồng tín Tin Lành đốt phá và chặt cổ tượng Phật vì họ cho đó là ma quỷ! Nam Thái Lan trở thành vùng bất ổn trong nhiều năm qua vì sự suy yếu của Phật giáo Thái. Đông Timor đã biến thành một nước Thiên Chúa giáo tách rời khỏi Indonesia”…

Đặc biệt, sự kiện một vị “Chân tu” cải đạo và “thánh lễ” trong “chùa”, mà Phattuvietnam.net đã lên tiếng đầu tiên với sự bóc trần sự thật qua những bằng chứng hết sức cụ thể của tác giả Thích Thanh Thắng chính là bước ngoặt cho sự “tỉnh mộng” của đông đảo cộng đồng Phật giáo.

Như vậy, tiến trình bảo vệ chính pháp, ngăn chận việc cải đạo tín đồ Phật giáo mà Phật giáo Việt Nam trong và ngoài nước đã đi là:

BÁO ĐỘNG SỰ VIỆC -> GHI NHẬN VÀ THÔNG TIN VỀ CÁC HIỆN TƯỢNG -> PHÂN TÍCH HIỆN TƯỢNG ĐƠN LẺ -> PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN SÂU XA ->KÊU GỌI CÙNG NHAU BẢO VỆ ĐẠO PHÁP -> PHỐI HỢP LÊN TIẾNG ĐỀU KHẮP -> LIÊN TỤC ĐÀO SÂU PHÂN TÍCH VÀ CUNG CẤP THÔNG TIN BỔ SUNG VỀ SỰ VIỆC -> BƯỚC ĐẦU XÚC TIẾN HÀNH ĐỘNG CỤ THỂ.

Trong tiến trình trên, trang web Phattuvietnam.net đã góp phần nhấn định trong giai đoạn khởi động tiến trình. Giai đoạn khởi động trước đó đã bắt đầu với việc thông tin về điều được gọi là một kế hoạch về ngày tàn của Phật giáo.

Sau đó, mới đây bước chuyển biến hộ pháp trong năm qua tiếp nối ngay vào năm nay đã hết sức rõ ràng và chuyển biến ngày càng nhanh hơn, chất lượng hơn, thu hút số đông tăng dần.

Vì vậy, trong những năm đầu năm mới 2011 – Tân Mão, toàn thể tín đồ Phật giáo chúng ta lạc quan nhìn về phía trước, hứa hẹn những bước tiến mới.

Điều cơ bản là Phật giáo Việt Nam chúng ta bước đầu đã thoát khỏi tình trạng Narcotism. Đó là sự kiện có tính chất bước ngoặc, và từ đó sự chuyển biến theo hướng tốt lên là hoàn toàn chắc chắn.

MT

http://www.phattuvietnam.net/3/22/13809.html

Advertisements
 

Tiền và việc cải đạo tín đồ Phật giáo

Tiền và việc cải đạo tín đồ Phật giáo

http://phattuvietnam.net/3/chanhung/7948.html

Minh Thạnh

2/1/2010

Liệu sự hưng thịnh của đạo Phật với chùa to, Phật lớn có bền vững, nếu hàng ngày vẫn còn những tín đồ đạo Phật cải đạo vì hoàn cảnh thắt ngặt khó khăn, những câu chuyện cải đạo với 3 triệu, 5 triệu đồng vẫn được kể trên những trang web Phật giáo?

Qua bài viết “Thêm vài ví dụ về Tin Lành, nghĩ về Phật giáo Việt Nam”, vấn đề dùng tiền để cải đạo tín đồ Phật giáo được nhiều bạn đọc quan tâm, tham gia ý kiến.

Phật Giáo Hàn Quốc biểu tình chống đàn áp Phật Giáo

Có bạn đọc cho biết số tiền người cải đạo được lãnh là 3 triệu đồng. Theo những thông tin của chúng tôi, đó đúng là con số trung bình. Thực tế, tùy theo hoàn cảnh, con số đó có khi ít hơn, có khi nhiều hơn. Cũng có khi trọn gói tiền mặt, cũng có khi dưới nhiều hình thức, như đóng tiền đi xuất khẩu lao động, đóng tiền học phí, tiền sửa nhà trả dần…Có khi được vay số lớn hơn.

Tuy nhiên, cần lưu ý một số điểm:

Không phải chỉ mỗi một đạo Tin Lành là dùng tiền để cải đạo tín đồ đạo Phật, mà có tôn giáo khác cũng thường xuyên áp dụng phương sách này (xin xem chi tiết các ý kiến trên diễn đàn).

Thực ra, không phải dùng tiền là dễ dàng cải đạo được ngay. Lòng tự trọng và tình cảm tâm linh không thể dễ dàng đổi bằng tiền. Chúng tôi cũng được nghe kể về những trường hợp, thậm chí, xảy ra xô xát trước việc đụng đến bàn thờ gia tiên. Khi thì đối với người dùng tiền đánh đổi một cách trơ tráo. Khi thì ở những người trong nhà với nhau bất đồng ý kiến…Nhưng nhìn chung, thì nếu dùng tiền mà mua đạo dễ dàng, thì người dân Việt dưới 80 năm thực dân Pháp đặt ách xâm lược đã cải đạo hết. Cái cách mua tín đồ thật cũng đáng lo, nhưng kiểu dùng đồng tiền quá thô tháo, kệch cỡm thì chắc cũng khó mà đạt mục đích.

Tuy nhiên cần cẩn trọng với kiểu đồng tiền bọc ngoài bằng lớp vỏ mang màu sắc bác ái, nhân đạo, từ thiện, đồng tiền được tính toán việc hiệu quả cải đạo một cách tinh vi.

Khi người nông dân vừa sau vụ thu hoạch, thì mang đến cả chục triệu đến đặt trước mặt họ mà bảo dẹp bỏ bàn thờ Phật, bàn thờ ông bà đi, thì khó mà câu chuyện kéo dài được lâu, và chúng ta có thể lo lắng cho sự an toàn của người cầm tiền đi mua chuyện dẹp bàn thờ đó.

Vì vậy, càng về sau, việc cầm tiền đi đánh đổi càng được tính toán kỹ lưỡng. Như có bạn đọc thông tin trong phần phản hồi, người truyền đạo thường hay tìm đến các bệnh viện. Lúc bệnh tật là lúc con người ta khốn khổ vì đồng tiền nhất. Chính lúc đó, những đồng tiền mặc áo khoác từ thiện, bác ái, nhưng có mục tiêu, kèm điều kiện xuất hiện. Những chiếc phao cứu sinh, dù sao, cũng dễ động lòng người.

Khi đó, đồng tiền dù không nhiều, nhưng tác dụng của nó đối với việc cải đạo hết sức mạnh mẽ, kể cả người đang nằm trên giường bệnh, lẫn gia đình của người bệnh. Đồng tiền trở nên nặng hơn, mạnh hơn, có vẻ tình cảm hơn, nhưng cũng nhẫn tâm hơn.

Việc cải đạo hướng về những người bệnh nan y cận kề thời khắc qua đời (xin xem ý kiến trên diễn đàn) không phải chỉ nhằm vào người bệnh, mà nhằm vào thân nhân người bệnh, những người chứng kiến việc đó, chịu ảnh hưởng trực tiếp của  sự việc đó.

Có thông tin kể lại trong giai đoạn chiến tranh ở Campuchia, những tổ chức truyền giáo nước ngoài giúp đỡ mai táng những binh lính chống chính phủ tử trận, nhìn nhận họ như những tín đồ (dù đó có thể là lính Khmer đỏ!), cắm thánh giá lên mộ họ, để từ đó tác động đến số người Campuchia theo đạo Phật sống trong các trại tị nạn trên biên giới. Những lúc như vậy thêm tiền bạc vào, thì hiệu quả của nó tăng lên nhiêu lần.

Có khi “trợ giúp” tiền bạc đi kèm với “cấm vận”.

Tôi đã đọc câu chuyện về gia đình dọn về xóm đạo, mở tiệm tạp hóa, nhưng không ai trong xóm mua hàng. Sau khi cải đạo thì lời kêu gọi giúp đỡ được loan báo tại thánh đường, tiệm tạp hóa trở nên đắt hàng.

Du học sinh Việt Nam ở Mỹ, Hàn Quốc, thậm chí cả Nhật Bản…cũng gặp phải tình trạng “cấm vận” việc làm thêm và “lệnh cấm vận” sẽ đựơc tháo bỏ khi sinh viên đó cải đạo. Chẳng những có việc làm thêm mà tiền công còn cao hơn.

Theo ý riêng của chúng tôi, sự giúp đỡ có điều kiện rõ ràng, có mục tiêu rõ ràng, không phải là xấu. Người nhận giúp đỡ dù sao cũng đã có sự “lựa chọn”. Đương nhiên, việc lựa chọn “giúp đỡ”, “tương trợ” trước hết cho những người cùng tôn giáo là chuyện bình thường, dễ hiểu.

Chúng tôi cũng nghe kể rằng, trong nạn đói khủng khiếp năm 1945, ở nhiều vùng tại miền Bắc, trong nhiều làng đạo toàn tòng hầu như không có người chết, vì họ giúp đỡ lẫn nhau (tất nhiên là trong điều kiện người cùng đạo, dù theo đạo đã lâu hay mới cải đạo). Còn những làng “lương” ngay bên cạnh, số người chết đói có thể rất lớn.

Điểm lại những kỹ thuật dùng tiền và những hình thức khác của đồng tiền để cải đạo như trên, chúng tôi không nhằm mục tiêu nói những điều xấu. Nhưng chúng tôi muốn hướng đến những người theo đạo Phật còn đang chịu những bi kịch của sự lựa chọn như thế.

Tiếp nhận đồng tiền có kèm theo sự đánh đổi, đương nhiên, trong tất cả mọi trường hợp, không phải là chuyện dễ dàng, nhất là khi nó động đến vấn đề thiêng liêng, với những người thân đã quá cố, với sự thờ phượng truyền thống…

Nên chăng, chúng ta có thể bớt đi chút ít trong hàng tỷ tỷ đồng đúc chuông, tô tượng…cho một hình thức hoạt động nào đó để giúp những người cùng theo đạo Phật với chúng ta không phải chịu cái bi kịch cải đạo đau đớn.

Làm sao cho nhà chùa trở thành nơi mà những cảnh đời khốn khó, hoạn nạn tìm đến để nương tựa, cậy nhờ, trước khi bàn tay của một tôn giáo nào đó xòe ra với những đồng tiền có điều kiện.

Liệu sự hưng thịnh của đạo Phật với chùa to, Phật lớn có bền vững, nếu hàng ngày vẫn còn những tín đồ đạo Phật cải đạo vì hoàn cảnh thắt ngặt khó khăn, những câu chuyện cải đạo với 3 triệu, 5 triệu đồng vẫn được kể trên những trang web Phật giáo?

 

VÀI NÉT VỀ : PHẬT GIÁO & KHOA HỌC – Trần Chung Ngọc

VÀI NÉT VỀ : PHẬT GIÁO & KHOA HỌC

Trần Chung Ngọc

ngày 14 tháng 9, 2008

Trước hết tôi cần phải nói rõ rằng: “Phật Giáo là một chủ đề vĩ đại, vô cùng vĩ đại với một rừng Kinh Sách, Giáo lý và Triết lý. Hiếm có người có thể tự nhận là mình đã thông suốt toàn bộ Giáo lý của Đức Phật. Thứ đến, Khoa Học cũng là một chủ đề rộng lớn, quá rộng lớn, và tôi tin rằng không một người nào dám nói là mình đã biết hết về Khoa Học. Cho nên, tôi chỉ xin cố gắng trình bày vài nét về đề tài “Phật Giáo & Khoa Học” theo sự hiểu biết của tôi, nhưng tôi tin chắc chắn cũng còn nhiều thiếu sót.

Nói về Phật Giáo & Khoa Học thì trước hết chúng ta cần biết rõ một sự kiện: Hiện nay, không ai có thể phủ nhận là Phật Giáo đang phát triển mạnh trên toàn thế giới, nhất là trong những xã hội Âu Mỹ, những xã hội được coi là tiến bộ nhất về khoa học, kỹ thuật. Điều này phản ánh một sự kiện: trong những xã hội này, con người đã quen với tính chất chính xác và hợp lý của khoa học, và họ ngả theo Phật Giáo vì tinh thần Phật Giáo rất phù hợp với tinh thần khoa học. Hơn nữa, trong lịch sử Phật Giáo, họ không tìm thấy một dấu vết tỳ ố nào về vấn đề chống khoa học hay đàn áp khoa học gia bằng bạo lực, chưa kể là Phật Giáo đã giúp họ giải quyết được một số vấn đề trong thời đại khoa học tân tiến ngày nay. Và hay hơn cả là, trong suốt giòng lịch sử truyền đạo hơn 2500 năm, Phật Giáo chưa hề làm đổ một giọt máu của người vô tội và cũng chưa hề cưỡng bức ai phải theo Phật Giáo. Chủ trương hòa bình của Phật Giáo là điều mà thế giới tranh chấp hỗn loạn ngày nay cần hơn gì hết.

Sự Mê Tín Cuối Cùng

Thật vậy, Joseph L. Daleiden, một học giả Công Giáo, trong cuốn Sự Mê Tín Cuối Cùng (The Final Superstition), xuất bản năm 1994, sau khi phân tích và đánh giá cái di sản Do Thái – Ki Tô (A Critical and Evaluation of the Judeo-Christian Legacy), đã đề nghị những Tín Ngưỡng Khác Thay Cho Thần Giáo (Alternatives to Theism). Về Phật Giáo tác giả viết, trang 424:

Lời giới thiệu hay nhất về Phật Giáo là, giống như Khổng giáo, hệ thống tín ngưỡng này đã hiện hữu trong 25 thế kỷ mà không hề có một cuộc Thánh Chiến, một Tòa Án Xử Dị Giáo, hay một toan tính đế quốc nào nhằm xâm chiếm và phá hủy nền văn hóa của một dân tộc khác. ác.

(The best recommendation for Buddhism is that, like Confucianism, this belief system has existed for twenty-five centuries without a single Crusade, Inquisition, or imperialist attempt to invade and destroy the culture of another people.)

Chúng ta đã biết, Thánh Chiến, Tòa Án Xử và Thiêu Sống Dị Giáo, Săn Lùng Tra Tấn Và Thiêu Sống Phù Thủy, Toan tính Đế Quốc nhằm xâm chiếm và phá hủy nền văn hóa của một dân tộc khác v…v… đều là những núi tội ác của Công giáo mà Giáo hoàng John Paul II đã xưng thú cùng thế giới ngày 12 tháng 3, năm 2000.

Sự phát triển của Phật Giáo vào các xã hội tân tiến Âu Mỹ đã làm cho một số người vô minh trong những xã hội này lo sợ, lo sợ vì ánh sáng trí tuệ và đạo đức của Phật Giáo đã làm cho bóng tối của những mê tín phi lý, phi đạo đức phải lùi dần, và những người xây dựng quyền lực trên bóng tối của vô minh cảm thấy bị đe dọa vì quyền lực thế gian cũng như những đặc quyền vật chất của mình cứ mất dần. Cho nên, đã có bậc chủ chăn của một tôn giáo lớn ở Tây phương đã phải dùng đến hạ sách là viết sách xuyên tạc Phật Giáo để mong vớt vát phần nào niềm tin đã lung lay còn sót lại trong số tín đồ phần lớn ở trong các quốc gia nghèo khổ và kém mở mang. Ngoài ra, cũng có một số người trong Phật Giáo, đưa ra những tương đồng giữa Phật Giáo và Khoa Học với mục đích đề cao Phật Giáo trong thời đại tiến bộ của khoa học. Do đó, đã có một số người lên tiếng chê bai và cho rằng, làm như vậy là “Thấy sang bắt quàng làm họ, dùng những giả thiết trong khoa học để biện hộ cho niềm tin Phật Giáo.”

Theo thiển ý, những người dùng khoa học để đề cao Phật Giáo cũng như những người phê phán là “Phật Giáo thấy sang bắt quàng làm họ v..v..” có lẽ chưa hiểu rõ, dù chỉ là đại cương, hoặc về Phật Giáo, hoặc về Khoa Học, hoặc về cả hai, cho nên mới bị cái hào quang của Khoa Học làm cho mờ mắt và đánh giá sai lầm thực chất của Khoa Học. Họ không thấy được những giới hạn của khoa học vì bản chất tương đối của khoa học và cũng không hiểu được cái niềm tin Phật Giáo là niềm tin về sự thực chứng, kết quả của sự tu tập, mang phúc lợi tới mọi chúng sinh, chứ không phải là một niềm tin mù quáng vào vài giáo thuyết hoang đường. Thật vậy, thực tế là một số Khoa học gia trong vài thập niên gần đây đã phải dùng những tư tưởng trong Phật Giáo để giải quyết những bế tắc trong việc diễn giải những hiện tượng khoa học mà họ khám phá ra, thí dụ như quan niệm “vạn pháp qui nhất”, quan niệm “tương duyên, tương tức”, quan niệm “dung thông” v..v.. của Phật Giáo. Và cũng thực tế là, trong nhiều bộ môn khoa học, tư tưởng Phật Giáo đã đi trước khoa học khá xa. Cho nên, phê bình là “Thấy sang bắt quàng làm họ” thì có thể đúng với tôn giáo khác, nhưng đối với Phật Giáo thì là một sự phê phán ngược chiều.

Vấn đề tinh thần Phật Giáo không xa lạ với tinh thần Khoa Học đã rõ ràng. Để vấn đề được rõ ràng hơn, chúng ta hãy duyệt qua nhận định của một vài khoa học gia nổi tiếng nhất trong Thế Kỷ 20:

QUAN ĐIỂM CỦA Albert Einstein

Albert Einstein, cha đẻ của thuyết tương đối, đã phát biểu như sau:

“Tôn giáo tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt trên mọi ý nghĩa về Thượng đế và tránh nói đến những giáo lý và thần học. Tôn giáo ấy sẽ bao quát tất cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên cơ sở đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể mà không rời nhất thể. Phật giáo đáp ứng được những yêu cầu ấy. Nếu có một tôn giáo nào có thể đương đầu được với những nhu cầu hiện đại của khoa học thì đó là Phật Giáo”

[The religion of the future will be a cosmic religion. It should transcend personal God and avoid dogma and theology. Covering both the natural and the spiritual, it should be based on a religious sense arising from the experience of all things natural and spiritual as a meaningful unity. Buddhism answers this description. If there is any religion that could cope with modern scientific needs it would be Buddhism.]

Ngoài ra, Einstein cũng cò đưa ra những nhận xét sau đây:

” PHẬT GIÁO KHÔNG CẦN XÉT LẠI QUAN ĐIỂM CỦA MÌNH ĐỂ CẬP NHẬT HÓA VỚI NHỮNG KHÁM PHÁ MỚI CỦA KHOA HỌC. PHẬT GIÁO KHÔNG CẦN TỪ BỎ NHỮNG QUAN ĐIỂM CỦA MÌNH ĐỂ CHẤP NHẬN KHOA HỌC, BỞI VÌ PHẬT GIÁO BAO GỒM KHOA HỌC, ĐỒNG THỜI CŨNG VƯỢT QUA KHOA HỌC. Phật Giáo là một chiếc cầu nối liền tôn giáo và những tư tưởng khoa học. Chiếc cầu Phật Giáo đã kích thích con người khám phá ra những tiềm năng lớn lao nằm sâu kín trong chính con người và trong môi trường sống chung quanh. PHẬT GIÁO SIÊU VIỆT THỜI GIAN VÀ MÃI MÃI CÓ GIÁ TRỊ.”

Trong nhận định của Albert Einstein, có một điểm quan trọng nói lên những sắc thái đặc thù của PG:

PG KHÔNG CẦN XÉT LẠI QUAN ĐIỂM CỦA MÌNH ĐỂ CẬP NHẬT HÓA VỚI NHỮNG KHÁM PHÁ MỚI CỦA KHOA HỌC. PHẬT GIÁO KHÔNG CẦN TỪ BỎ NHỮNG QUAN ĐIỂM CỦA MÌNH ĐỂ CHẤP NHẬN KHOA HỌC, BỞI VÌ PG BAO GỒM KHOA HỌC, ĐỒNG THỜI CŨNG VƯỢT QUA KHOA HỌC.

Tại sao Einstein lại nói như vậy? Chúng ta nên biết rằng Einstein đã được sinh ra và nuôi dưỡng trong cái nôi của tôn giáo Tây phương. Và một bộ óc như của Einstein thì không thể không biết đến cái lịch sử của tôn giáo Tây phương và các luận cứ mà các nhà Thần học bảo vệ tín lý của tôn giáo này đã phải đưa ra để giải thích lại hay từ bỏ những lời mà trước đây họ khẳng định đó là lời của Thượng Đế, không thể sai lầm, để đưa ra một lý thuyết phù hợp với những tiến bộ của khoa học, nhưng thật ra chỉ nhằm mê hoặc số tín đồ với những đầu óc “bảo sao tin vậy”.

Quan niệm về trái đất và vủ trụ

Sau đây là vài thí dụ:

a) Quan niệm trái đất là trung tâm của vũ trụ, trái đất là thế giới duy nhất, mặt trời quay xung quanh trái đất. Đây là những lời của Thượng Đế trong Thánh Kinh nên không thể sai lầm. Cũng vì vậy mà trong thế kỷ 17 Giordano Bruno bị thiêu sống chỉ vì đưa ra một nhận định khoa học rất chính xác là ngoài thế giới chúng ta đang sống còn có nhiều thế giới khác nữa, và Galileo Galilei, tuy là bạn của Giáo Hoàng Urban VIII, cũng bị biệt giam cho đến chết vì dám khẳng định một sự kiện khoa học là trái đất quay xung quanh mặt trời chứ không phải là mặt trời quay xung quanh trái đất như lời Thượng Đế không thể sai lầm được như trong Thánh Kinh. Sau đó khi mà giáo hội không còn quyền lực để đốt người hay giam người nữa thì các nhà Thần học liền tuyên bố: “Kinh Thánh không có ý định dạy về thiên văn, chỉ dạy về sự sáng tạo của Thượng Đế.”

b) Theo Thánh kinh thì vũ trụ được tạo dựng ra trong 6 ngày, cách đây khoảng từ 6000 tới 10000 năm, tùy theo Thánh Kinh. Ngày nay, những khám phá của khoa học cho biết tuổi của trái đất là vào khoảng 4.5 năm, và tuổi của vũ trụ là vào khoảng 13.7 tỷ năm. Các nhà Thần học bảo vệ tín lý bèn diễn giải rằng một ngày trong sự tạo dựng có thể là nhiều ngàn năm chứ không phải là ngày 24 tiếng đồng hồ như chúng ta thường biết. Đây chỉ là luận điệu ngụy biện để nuôi dưỡng các tín đồ trong vòng ngu dốt chứ đối với những người hiểu biết thì lời ngụy biện trên chỉ chứng tỏ sự xảo quyệt của các người chăn chiên. Vì Thánh Kinh viết rõ là mỗi ngày đều có sáng và tối. Và sáng và tối trên trái đất là do chuyển động quay xung quanh trục Nam Bắc của trái đất đối với mặt trời. Mặt khác, dựa trên chương Sáng Thế Ký trong Thánh Kinh, các khoa học gia bèn hỏi lại: Cây cối được tạo ra trong ngày thứ ba và mặt trời ngày thứ tư. Làm sao cây cối có thể sống được nhiều ngàn năm mà không có ánh sáng mặt trời? Các nhà Thần học bèn giải thích: Thượng đế là bậc toàn trí toàn năng, quyền phép vô cùng làm gì chẳng được. Các khoa học gia chơi khăm bèn hỏi lại: “Nếu Thượng Đế là bậc toàn năng thì tại sao lại phải nghỉ xả hơi vào ngày thứ Bảy sau khi hoàn thành sự tạo dựng trong 6 ngày? Và bắt con người cũng phải nghỉ ngày thứ bảy như Thượng đế? Nhưng con người ngày nay, một số người Việt chúng ta làm 2,3 “job” nghĩa là “làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm, làm thêm ngày chủ nhật”.” Câu hỏi này chưa có ai trả lời. Một mặt khác, trước khi tạo dựng ra vũ trụ ngày nay thì trong dòng thời gian vô tận trước lúc tạo dựng Thượng Đế làm gì và dùng cái gì, để tạo dựng ra vũ trụ? Các nhà Thần học bèn nổi sùng và bảo, trước khi tạo dựng cả thiên thu thì Thượng đế còn bận sáng tạo ra hỏa ngục cho những kẻ nào dám hỏi những câu hỏi xúc phạm đến quyền năng của Thượng đế như vậy. Tuy rằng hầu hết các khoa học gia và những người có đầu óc suy luận chỉ cón có cách cười trước những lời giải thích quanh co cuồng tín trên, nhưng đa số tín đồ vẫn tin và rất lấy làm an tâm và hài lòng về những lời giải thích mà họ bắt buộc phải tin là hợp lý.

Trong khi đó các khám phá mới của khoa học không có ảnh hưởng trái ngược hay mâu thuẫn đối với tư tưởng Phật Giáo, chưa kể là trong nhiều bộ môn các tư tưởng PG còn đi trước khoa học khá xa.

Học Giả Egerton C. Baptist (1915-1983)

Học Giả Egerton C. Baptist (1915-1983), viết trong cuốn “Siêu Khoa Học của Đức Phật” (Supreme Science of the Buddha) như sau:

Phật Giáo bắt đầu ở chỗ khoa học chấm dứt. Khoa học không cho chúng ta sự bảo đảm gì ở nơi đây. Nhưng Phật Giáo có thể đáp ứng sự thách thức của thuyết nguyên tử, vì kiến thức ở trên mức bình thường của Phật Giáo bắt đầu ở nơi mà khoa học chấm dứt. Và điều này khá rõ ràng cho bất cứ ai đã nghiên cứu về Phật Giáo. Bởi vì, qua thiền định, những cấu tử cỡ nguyên tử tạo thành vật chất đã được thấy và cảm nhận, và những sự khổ, với sự sinh và diệt của chúng, đã tự tạo ra trong cái mà chúng ta gọi là linh hồn hay ngã – ảo tưởng của chấp ngã, như giáo lý của Đức Phật dạy.

[Buddhism begins where science ends

“Science can give no assurance herein. But Buddhism can meet the Atomic Challenge, because the supramundane knowledge of Buddhism begins where science leaves off. And this is clear enough to anyone who has made a study of Buddhism. For, through Buddhist Meditation, the atomic constituents making up matter have been seen and felt, and the sorrow, or unsatisfactoriness (or Dukkha), of their ‘arising and passing away’ has made itself with what we call a ‘soul’ or ‘atma’ – the illusion of Sakkayaditthi, as it is called in the Buddha’s teaching.” ]

J Robert Oppenheimer ( 1904-1967)

J Robert Oppenheimer ( 1904-1967), Vật Lý Gia Mỹ, nói rằng:

“Thí dụ, nếu chúng ta hỏi, phải chăng vị trí (electron) không thay đổi? chúng ta phải trả lời “không”; phải chăng vị trí của điện tử thay đổi với thời gian? chúng ta phải trả lời “không”; phải chăng điện tử đứng yên? chúng ta phải trả lời “không”; phải chăng điện tử đang di chuyển? chúng ta phải trả lời “không”. Đức Phật đã trả lời như vậy khi được hỏi về tình trạng của cái ngã của con người sau khi chết; nhưng những câu trả lời này không quen thuộc trong truyền thống của khoa học trong thế kỷ 17 và 18.”

[If we ask, for instance, whether the position of the electron remains the same, we must say ‘no’; if we ask whether the electron’s position changes with time, we must say ‘no’; if we ask whether the electron is at rest, we must say ‘no’; if we ask whether it is in motion, we must say ‘no’. The Buddha has given such answers when interrogated as to the conditions of a man’s self after his death; but they are not familiar answers for the tradition of seventeenth and eighteenth century science.]

Sir Edwin Arnold

Sir Edwin Arnold, người nổi tiếng về cuốn thơ Ánh Sáng Á Châu (The Light of Asia), khẳng định rằng:

“Tôi thường nói, và tôi sẽ còn nói hoài, là giữa Phật-Giáo và Khoa- học tân tiến có một mối quan hệ trí thức gần gũi.”

(I have often said, and I shall say again and again, that between Buđhism and modern Science there exists a close intellectual bond.)

Bertrand Russell

Bertrand Russell, nhà triết-học và toán-học nổi tiếng hoàn cầu, trong cuốn Lịch sử triết học Tây Phương (History of Western Philosophy) đã viết:

“..Phật-Giáo là một tổ hợp của triết lý suy cứu và triết lý khoa học. Phật Giáo ủng hộ phương pháp khoa học và theo phương pháp này để tới một cứu cánh có thể gọi là thuần lý. Phật Giáo còn đi xa hơn khoa học vì khoa học bị giới hạn bởi những dụng cụ vật lý.”

(..Buddhism is a combination of both speculative and scientific philosophy. It advocates the Scientific method and pursues that to a finality that may be called rationalistic…It takes up where science cannnot lead because of the limitations of the latter’s physical instruments.)

Tiến sĩ Radhakrishnan:

“Nếu Phật Giáo hấp dẫn đối với trí óc tân tiến đó là vì Phật Giáo có tinh thần khoa học, thực nghiệm, chứ không phải là dựa trên bất cứ giáo điều nào”

(If Buddhism appealed to the modern mind it was because it was scientific, empirical and not based on any dogma.)

Tiến sĩ Graham Howe

Tiến sĩ Graham Howe, nhà Phân Tâm Học nổi tiếng của Anh Quốc. đã nói như sau:

“Đọc một chút về Phật Giáo ta cũng có thể nhận thức được rằng, từ 2500 năm trước, Phật Giáo đã biết về những vấn đề mới về tâm lý nhiều hơn là chúng ta thường biết tới. Họ nghiên cứu những vấn đề này từ lâu và cũng đã tìm ra phương thức giải quyết chúng. Ngày nay chúng ta chỉ khám phá lại trí tuệ thông thái cổ xưa của Đông phương.” (To read a little Buddhism is to realize that the Buddhists knew, 2,500 years ago, far more about modern problems of psychology than they have been given credit for. They studied these problems long ago and found the answers also. We are now rediscovering the ancient wisdom of the East.)

Paul Carus

Paul Carus, tác giả cuốn sách nổi tiếng “The Gospel of Buddha” , một cuốn sách đã được dịch ra nhiều thứ tiếng như Nhật, Trung Hoa, Đức, Pháp, Tây Ba Nha v…v…và là người đã bảo trợ cho Daisetz Suzuki sang Mỹ để truyền bá đạo Phật mà ông gọi là “Tôn Giáo của Khoa Học” tuy ông không phải là một Phật tử. Paul Carus cho rằng: “Nếu các tôn giáo cổ Tây Phương được tinh khiết hóa bằng cách bỏ đi những sai lầm, nghĩa là những mê tín và điều vô lý trong đó, thì có thể hòa hợp được với Khoa học”. Paul Carus đã tán tụng Đức Phật như là: “Người đầu tiên thực chứng; người đầu tiên phát triển chủ nghĩa nhân đạo; người đầu tiên có tư tưởng tự do cấp tiến; người đầu tiên đả phá Thần tượng; và là nhà tiên tri đầu tiên về tôn giáo của khoa học.”

Chúng ta hãy tìm hiểu tại sao những nhân vật nổi danh trên, và nhiều nhân vật khác nữa mà tôi không thể kể hết ra đây, lại đưa ra những nhận định như vậy.

Nói về Phật Giáo [PG] và Khoa Học [KH] thì trước hết chúng ta cần biết những định nghĩa của PG và của KH. Ở đây, chúng ta bị kẹt vì KH thì có thể định nghĩa được chứ PG thì khó mà có thể có một định nghĩa xác đáng. Vậy thì, trước hết chúng ta hãy xét đến định nghĩa của KH và rồi xem xem trong cái định nghĩa này nó có những tương quan gì với Phật Giáo.

ĐỊNH NGHĨA CỦA KHOA HỌC.

Mở cuốn tự điển Merriam Webster ra chúng ta thấy có 5 định nghĩa về KH:

1. Kiến thức thâu thập được bằng khảo sát và thực hành (Knowledge obtained by study and practice)

2. Bộ kiến thức được hệ thống hóa (Department of systematized knowledge)

3. Nghệ thuật hay sự khéo léo (Art and Skill)

4. Một ngành học liên hệ đến sự quan sát và hệ thống hóa các sự kiện, nhất là liên hệ với sự thiết lập những định luật tổng quát có thể kiểm chứng được, chủ yếu bằng quy nạp và giả thiết (A branch of study concerned with observation and classification of facts, especially with the establishment of verifiable general laws, chiefly by induction and hypotheses)

5. Kiến thức chuyên biệt tích tụ được hệ thống hóa và công thức hóa dựa vào sự khám phá ra những chân lý tổng quát hay sự vận hành của các định luật tổng quát (Specifically, accumulated knowledge systematized and formulated with reference to the discovery of general truths or the operation of general laws)

Những kiến thức liên hệ tới thế giới vật chất : Khoa học thiên nhiên (Natural Science)

TINH THẦN KHOA HỌC:

– Dùng đầu óc, luận lý và thực nghiệm để ra khỏi sự ngu tối. (Phật Giáo dùng trí tuệ và thực chứng để phá bỏ vô minh: Người ta thường bảo rằng Phật giáo có một lưỡi gươm duy nhất để diệt một kẻ thù duy nhất: lưỡi gươm này là lưỡi gươm trí tuệ, và kẻ thù này là vô minh.)

– Tinh thần rộng rãi. Gửi học trò đi học các Thầy giỏi. (Khi xưa, các bậc cao Tăng trong Phật Giáo thường gửi đệ tử của mình đi học thêm từ các bậc cao Tăng khác ở Tông phái khác)

– Tinh thần khách quan, tôn trọng sự thật, không để cho thiên kiến chi phối. (Như thực tri kiến)

– Thảo luận hòa hoãn để đi tới chân lý, không khích bác nhau (Khẩu Hoà vô tranh)

– Dung hòa ý kiến, tham khảo để cùng đưa ra một kết luận (Ý hòa đồng duyệt)

– Chia sẻ những kiến thức để đi tới chân lý (Kiến hòa đồng giải)

Nhưng lẽ dĩ nhiên trong giới khoa học gia không có những chủ trương như sau của Phật Giáo:

– Thân Hòa Đồng Trú

– Giới Hòa Đồng Tu

– Lợi Hòa Đồng Quân

VÀI THÍ DỤ VỀ TƯ TƯỞNG PG ĐÃ ĐI TRƯỚC KHOA HỌC:

Ở trên tôi đã trích dẫn nhận định của Tiến sĩ Graham Howe, nhà Phân Tâm Học nổi tiếng của Anh Quốc. như sau:

“Đọc một chút về Phật Giáo ta cũng có thể nhận thức được rằng, từ 2500 năm trước, Phật Giáo đã biết về những vấn đề về tâm lý nhiều hơn là về những vấn đề hiện đại về tâm lý học chúng ta thường biết tới. Họ nghiên cứu những vấn đề này từ lâu và cũng đã tìm ra phương thức giải quyết chúng. Ngày nay chúng ta chỉ khám phá lại trí tuệ thông thái cổ xưa của Đông phương.”

(To read a little Buddhism is to realize that the Buddhists knew, 2,500 years ago, far more about modern problems of psychology than they have been given credit for. They studied these problems long ago and found the answers also. We are now rediscovering the ancient wisdom of the East.)

Không phải vô căn cứ mà Tiến sĩ Graham Howe viết như vậy. Nếu chúng ta biết về Duy-Thức Học trong Phật Giáo thì chúng ta thấy rằng các khoa học gia chỉ dùng có 16 phần trăm [16%] của số 100 Pháp được phân loại thành 8 Tâm Pháp, 51 Tâm-Sở-Hữu Pháp, 11 Sắc Pháp, 24 Tâm-Bất-Tương-Ưng Hành Pháp, và 6 Vô-Vi Pháp (Xin đọc Đại-Thừa Bách Pháp Minh Môn Luận), nghĩa là các khoa-học-gia chỉ xử dụng tới 11 Sắc Pháp trong đó có 5 căn là nhãn căn, nhĩ căn, tỉ căn, thiệt căn, và thân căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, và thân thể); và 6 trần là sắc trần, thinh trần, hương trần, vị trần, xúc trần, và Pháp trần (hình tướng, âm thanh, mùi, vị, cảm giác do tiếp xúc, và bóng dáng của 5 trần trên còn lưu lại trong ý thức khi các căn không còn tiếp xúc trực tiếp với trần nữa), cộng với 5 tâm pháp trong số 21 tâm-bất-tương-ưng hành pháp là thời gian, phương hướng, vận tốc di chuyển, số lượng, và thứ tự (thời, phương, thế tốc, số, và thứ đệ). Ở đây tôi không có ý định đi sâu vào thiên luận 100 Pháp đại thừa mà chỉ muốn nói lên điểm cốt yếu như sau: khi mà khoa học không thể tiến hơn được nữa vì những giới hạn tự tại của 5 căn 6 trần và của những dụng cụ đo lường thì Phật Giáo vẫn tiếp tục đi xa hơn, bởi lẽ Phật Pháp, ngoài sự khảo sát những đối tượng vật chất còn chú trọng nhiều đến những vấn đề tâm linh, cho nên đã vượt qua, đi ra ngoài những giới hạn vật lý của khoa-học. Do đó chúng ta có thể nói Phật Giáo là một Siêu-Khoa-Học (Super-science) như học giả Ergeton Baptist đã nhận định, được thành lập trên căn bản trí tuệ Bát Nhã (trí tuệ nhận thức được thực tướng của vạn Pháp). Trong Phật Giáo, Duy-Thức Học cho chúng ta một hệ thống triết lý, phân tâm học rất đầy đủ và tiến bộ hơn bất cứ hệ thống nào trong khoa học hiện đại.

Sau đây, tôi xin nêu thêm vài thí dụ về cái biết của Phật Giáo như được viết trong Kinh Điển Phật Giáo:

1.-Về thế giới vô cùng nhỏ:

Chúng ta đều biết rằng, khi xưa Đức Phật thường khuyên các đệ tử trước khi uống nước hãy niệm chú để phổ độ cho các vi chúng sinh có trong nước. Người còn khẳng định trong mỗi bát nước có tới 84000 sinh vật nhỏ nhoi mà mắt thường chúng ta không thể nhìn thấy được. Chúng ta nên hiểu con số 84000 trong Phật Giáo có nhiều ý nghĩa và một trong những ý nghĩa này là tượng trưng cho một con số lớn chứ không phải là một con số chính xác. Hơn 21 thế kỷ sau, vào cuối thế kỷ 16, năm 1595, các khoa học gia đã phát minh ra cái kính hiển vi đầu tiên và nhờ đó đã có thể nhìn thấy trong một giọt nước có một số lớn các vi sinh vật mà mắt thường không thể nhìn thấy được.

 

Kính Hiển Vi Meiji Techno MT4200

2. Về Thế Giới Vô Cùng Lớn:

Quan niệm của Phật Giáo về vũ trụ như sau: thế giới chúng ta đang sống không phải là duy nhất và cũng không phải là trung tâm vũ trụ. Ngoài thế giới chúng ta đang sống còn có rất nhiều thế giới khác, và Phật giáo phân loại các thế giới thành 3 loại: Tiểu Thiên Thế Giới, Trung Thiên Thế Giới, và Đại Thiên Thế Giới. Danh từ thế giới trong Phật -giáo chỉ một thiên thể (thí dụ như trái đất) hoặc một tập hợp các thiên thể được coi như thuộc một nhóm (thí dụ như thái-duơng-hệ mà trái đất là một hành tinh trong đó). Vậy, một ngàn thế giới họp thành một Tiểu Thiên Thế Giới, một ngàn Tiểu Thiên Thế Giới họp thành một Trung Thiên Thế Giới, và một ngàn Trung Thiên Thế Giới họp thành một Đại Thiên Thế Giới. Vậy, lấy đơn vị là một hệ thống tương tự như hệ thống Thái Dương Hệ và gọi là thế giới thì Tiểu Thiên Thế Giới gồm có khoảng một ngàn thế giới, Trung Thiên Thế Giới gồm khoảng một triệu thế giới , Đại Thiên Thế Giới gồm khoảng một tỷ thế giới v..v.. Đó là quan niệm về vũ trụ của Phật Giáo từ hơn 2500 năm về trước. Nhưng sau đó 22 thế kỷ, vào thế kỷ thế 17, Tây phương vẫn còn chưa thoát khỏi quan niệm sai lầm về trời tròn đất vuông, trái đất được coi là trung tâm vũ trụ, và rằng mặt trời quay xung quanh trái đất như đã viết trong Thánh Kinh.

Trở lại quan niệm về vũ trụ của Phật Giáo, chúng ta thấy rằng quan niệm này hầu như tương hợp hoàn toàn với những kiến thức ngày nay của những nhà thiên văn (astronomers) hay những nhà vật-lý-học về thiên thể (astrophysicists), và đã đi trước khoa-học nhiều thế kỷ. Một Tiểu Thiên Thế Giới có thể so sánh với quan niệm hiện đại về một thiên hà (galaxy) gồm có cả triệu ngôi sao và những hành tinh có thể có sinh vật trên đó. Thí dụ như giải ngân hà (Milky Way) hay M31, hay chòm sao (constellation) Andromeda. Một Trung Thiên Thế Giới có thể so sánh với một chùm thiên hà (galactic cluster) thí dụ như chùm Coma Berenices, và một Đại Thiên Thế Giới có thể so sánh với cái mà Hannes Alfven gọi là siêu thiên hà (metagalaxy) ở trong Đại Vũng (Big Dipper) của Tiểu Ursa (Minor Ursa) trong đó có ít ra là cả triệu thiên hà. Cho tới nay, vì những giới hạn tự tại của những dụng cụ quan sát cho nên các khoa học gia chưa thể đi xa hơn trong việc khảo sát vũ trụ. Nhưng không phải vì những giới hạn kỹ thuật này mà vũ trụ cũng bị giới hạn theo, và nay chúng ta đã hiểu tại sao Đức Phật lại “bỏ ngỏ” quan niệm về vũ trụ hữu hạn hay vô hạn. Điều này chứng tỏ Đức Phật đã thấy rõ khả năng vô tận của con người, và rằng Phật Pháp không phải là những giáo điều cứng ngắc không bao giờ thay đổi. Và đây cũng chính là tinh thần khoa học hiện đại, không có gì có thể coi như là vĩnh cửu, bất biến.

Bức hình trên do NASA ghép một số các mảnh thiên hà trong vũ trụ. Từ bên trái hàng trên đên bên mặt hàng dưới: M61, NGC 4449, NGC 4725, NGC 5068, NGC 5247, and NGC 5775/5774. Đa số hình xoắn ốc gần giống như giải ngân hà Milky Way của chúng ta.

Nói đến quan niệm về vũ trụ của Phật Giáo thì chúng ta không thể bỏ qua Kinh Hoa-Nghiêm, phẩm Thế Giới Thành Tựu. Trong phẩm này, Bồ Tát Phổ Hiền tuyên thuyết về 10 đặc tính của các thế giới: nhân duyên khởi, chỗ trụ nương, hình trạng, thể tánh, trang nghiêm tánh, thanh tịnh tánh, Phật xuất hiện, kiếp trụ, kiếp chuyển biến sai biệt, và môn vô sai biệt. Để cho vấn đề tương hợp với khoa học được rõ ràng, sau đây tôi xin luận về hai điểm : hình trạng và kiếp trụ các thế giới. Chúng ta hãy xét đoạn kinh văn sau đây:

Lúc đó Phổ Hiền Bồ Tát lại bảo đại chúng rằng: “Chư Phật tử! Thế giới hải có nhiều hình tướng sai khác, hoặc tròn….hoặc hình như nước xoáy….hoặc hình như hoa … có vi trần số hình sai khác như vậy.”

Rồi trong phẩm tiếp theo, phẩm Hoa Tạng Thế Giới, Phổ Hiền Bồ Tát lại tuyên thuyết: “Chư Phật tử! Tất cả thế giới chủng đó hình trạng đều khác nhau: hoặc hình núi Tu Di, hoặc hình sông, hoặc hình xoay chuyển, hoặc hình nước xoáy, hoặc hình trục xe…hoặc hình hoa sen…có vi trần số hình trạng như vậy.” (“Kinh Hoa-Nghiêm”, Thích Trí Tịnh, Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản)

So sánh với những hình trạng của các chòm sao, giải thiên hà, ngân hà khám phá bởi khoa học ngày nay chúng ta thấy Phật giáo đã mô tả hình trạng của chúng một cách vô cùng chính xác. Thí dụ như các hình như bánh xe, nước xoáy chúng ta có thể quan sát được trong các chòm sao như Cetus, Pegasus và Hercules, hình sông là giải ngân hà (Milky Way) và nhiều thiên hà khác, hình dạng như hoa là những khối tinh vân trong khoảng không gian liên-thiên-hà (intergalactic clouds of gas) có chứa hàng tỷ ngôi sao v…v… Thật tôi không thể tưởng tượng được ở một thời chưa hề có kính thiên văn, dù thô sơ nhất, mà Đức Phật và các Đại Bồ Tát đã có những hiểu biết chính xác về vũ trụ như trên. Có cách giải thích nào khác là chúng ta phải tin rằng, do Thiền Định và vì đã giác ngộ hoàn toàn, cho nên các Ngài đã nắm vững được cơ cấu huyền bí của vũ trụ, nếu không thì làm sao có thể biết được những điều như trên. Và chúng ta cũng nên nhớ là những điều đức Phật và các Bồ Tát chọn để tuyên thuyết cho người đời chẳng qua cũng chỉ là một nắm lá trong tay so với số lá cây trong rừng.

Vài hình ảnh chụp được trong vũ trụ

Sau đây, tôi xin đưa ra vài hình ảnh mà các khoa học gia đã chụp được trong vũ trụ, và quý vị sẽ thấy những mô tả về hình trạng thế giới trong Kinh Hoa Nghiêm chính xác như thế nào.

 

 

 

 

Hình hoa nở của Thiên Hà Trifid

 

 

 

                                     Hình núi Tu Di của Thiên Hà M104: The Sombrero Galaxy

Kiếp trụ của các thế giới

Tiếp theo, về kiếp trụ của các thế giới, Kinh văn viết rằng:

“Lúc đó Phổ Hiền Bồ-Tát lại bảo đại chúng rằng: “Chư Phật tử! Nên biết thế giới hải có thế giới hải vi trần số kiếp trụ, hoặc có a-tăng-kỳ kiếp trụ, hoặc có vô-lượng kiếp trụ, hoặc có vô biên kiếp trụ, hoặc có vô đẳng kiếp trụ, hoặc có bất-khả-sổ kiếp trụ, hoặc có bất khả xưng kiếp trụ, hoặc có bất khả tư kiếp trụ, hoặc có bất khả lượng kiếp trụ, hoặc có bất khả thuyết kiếp trụ, ..có vi trần số kiếp trụ như vậy.”

Rồi trong bài kệ để tuyên lại nghĩa này Bồ Tát Phổ Hiền có giải thích bằng một câu: “Hoặc chỉ một kiếp hoặc vô số, Bởi những tâm nguyện đều chẳng đồng.” Chỉ một câu “bởi những tâm nguyện đều chẳng đồng” cũng đã giải quyết vấn đề “thiên sai vạn biệt” trong vũ trụ. Thật là đầy đủ, thật là rốt ráo, thật là chính xác. Nếu chúng ta đi sâu vào một chút trong đoạn kinh văn trên, chúng ta sẽ thấy Phật Giáo đã đi trước khoa học như thế nào.

Phật giáo phân biệt: Tiểu Kiếp có 16 triệu 8 trăm ngàn năm, Trung Kiếp có 336 triệu năm, và Đại Kiếp có 1 tỷ 344 triệu năm. Theo khoa học hiện nay thì một ngôi sao (coi như là một thế giới) mà chất lượng (mass) càng nặng thì đời sống của ngôi sao càng ngắn. Do đó có những ngôi sao chỉ “sống” được từ 1 tới vài tỷ năm và người ta đã tính được rằng một ngôi sao có chất lượng nhẹ hơn những ngôi sao trên khoảng 90 phần trăm thì ngôi sao này có thể sống tới hàng ngàn tỷ năm. Điều này rất phù hợp với câu kệ trên của Phổ Hiền Bồ Tát, có thế giới chỉ tồn tại một kiếp, có thế giới tồn tại vô số kiếp v…v….

Thứ đến, những danh từ như a-tăng-kỳ, vô lượng, vô biên,…bất khả thuyết có vẻ như mơ hồ và không rõ ràng như những con số trong thời đại khoa học. Thật ra không phải vậy, vì trong phẩm A-Tăng-Kỳ, Kinh Hoa Nghiêm ta đọc được như sau, tôi xin đánh số cho nó rõ ràng hơn:

Phật nói: Này thiện nam tử!

1. Một trăm Lạc Xoa làm một Câu Chi.

2. Câu Chi lần Câu Chi làm một A-Giu-Đa

3. A-giu-Đa lần A-Giu-Đa làm một Na-Do-Tha

4. Na-Do-Tha lần Na-Do-Tha làm một Tần-Bà-La

và tiếp tục như vậy tất cả là 123 lần, trong đó số 104 là A-Tăng-Kỳ, số 106 là Vô Lượng, số 108 là Vô Biên, số 110 là Vô Đẳng, số 112 là Bất-Khả-Sổ, số 114 là Bất-Khả-Xưng, số 116 là Bất-Khả-Tư, số 118 là Bất-Khả-Lượng, và số 120 là Bất-Khả-Thuyết.

Chúng ta biết rằng khoa học ngày nay dùng ký hiệu lũy thừa để viết những con số lớn. Thí dụ như 1 triệu là con số 1 với 6 con số 0 đằng sau, 1 000 000, theo ký hiệu điện toán được viết như sau: 10^6 và đọc là 10 lũy thừa 6; 1 tỷ gồm có 9 số 0 và được viết là 10^9 (billion), lớn hơn nữa là 10^12 (1 ngàn tỷ hay trillion), 10^15 (1 triệu tỷ hay zillion) và khoa học chưa có những danh từ riêng để chỉ những con số lớn hơn. Tiếng Việt thì chỉ tới số tỷ là cao nhất.

Theo Kinh Phật thì 1 Lạc Xoa là 100 ngàn, nghĩa là 10^5. Như vậy 1 Câu Chi là 10 triệu, nghĩa là 10^7; 1 A-Giu-Đa là 100 ngàn tỷ, nghĩa là 10^14; 1 Na-Do-Tha là 10 tỷ tỷ tỷ, nghĩa là 10^28. Tiếp tục tính ra ta sẽ thấy 1 A-Tăng-Kỳ là khoảng, 10^(7.09… x 10^31), nghĩa là con số 1 tiếp theo bởi hơn 7000 tỷ tỷ tỷ con số 0 ở đằng sau, một con số vô cùng lớn nhưng vẫn có một tên riêng. Chúng ta có thể suy ra:

Vô Lượng = 10^(2.83… x 10^32), Vô Biên = 10^(1.13… x 10^33),…

và Bất-Khả-Thuyết = 10^(4.65… x 10^36) nghĩa là con số 1 tiếp theo bởi khoảng hơn 4 tỷ tỷ tỷ tỷ con số 0 đứng đằng sau.

Những con số khoa học hiện đại dùng tới có lẽ chỉ vào khoảng 10^40 nghĩa là chỉ có 40 con số 0 đứng sau. Chúng ta thấy ngay rằng, ngay cả về phương diện toán số, Phật giáo đã đi trước khoa học khá xa về sự biểu thị chính xác những con số và đã có quan niệm về những con số vô cùng lớn, lớn ngoài mức tưởng tượng của các khoa học gia hiện đại.

Quan niệm nhìn vũ trụ một cách toàn ký

Quan niệm nhìn vũ trụ một cách toàn ký (The holographic view of the universe) là một quan niệm mới trong khoa học hiện đại, bắt nguồn từ sự khám phá ra kỹ thuật chụp hình toàn ký vài thập niên trước đây. Kỹ thuật chụp hình toàn ký này đã giúp cho một số khoa học gia giải quyết được một số khúc mắc trong những công cuộc khảo cứu của họ về ký ức của con người cũng như trong ngành vật lý các hạt nhỏ (particle physics). Các khoa học gia này, từ những kết quả khảo cứu mới nhất, đã đưa ra những bằng chứng và đề nghị rằng thế giới của chúng ta ngày nay và mọi thứ trong đó chẳng qua chỉ là những hình ảnh không thực, là những dự phóng của một thực thể vượt ra ngoài thực thể của con người và vượt ra ngoài không gian và thời gian.

Hai khoa học gia được biết đến nhiều nhất trong quan niệm mới này là nhà vật-lý học David Bohm, rất nổi tiếng trong ngành vật lý nguyên lượng (quantum mechanics), thuộc đại học Luân Đôn, Anh quốc, và Karl Pribam, một nhà thần-kinh sinh-lý-học (neurophysiologist) thuộc đại học Stanford, California. Điều đặc biệt là Bohm và Pribam, tuy khảo cứu về hai ngành hoàn toàn khác biệt, cùng phải dựa vào quan niệm toàn ký để giải thích những kết quả khảo cứu của mình. Bohm khảo sát về sự tương tác của các hạt nhỏ trong ngành vật lý tiềm nguyên tử (subatomic physics), và Pribam khảo sát về ký ức của con người trong ngành thần-kinh sinh-lý học. Không đi vào chi tiết, hai khoa học gia trên đều nhận thấy rằng các lý thuyết cũ trong khoa học không đủ để giải thích mọi vấn đề trong các ngành khảo cứu của họ, khuôn mẫu toàn ký (holographic paradigm) đã giúp họ giải thích một cách hợp lý các kết quả khoa học của họ.

Nghiên cứu kỹ vấn đề, chúng ta có thể nói ngay rằng khuôn mẫu toàn ký chẳng qua chỉ là sự thuyết giải khoa học của một phần nhỏ những quan niệm đặc thù trong Phật Giáo đã có từ nhiều thế kỷ trước như tương duyên, tương tức, tương nhập, tương liên, một là tất cả v…v… Nhưng trước hết, chúng ta hãy tìm hiểu đại cương thế nào là khuôn mẫu toàn ký.

Toàn ký (holography) là một kỹ thuật tạo hình ảnh bằng một loại ánh sáng đặc biệt thường được biết tới tên quen thuộc là ánh sáng LASER và hiện tượng giao thoa (interference) quen thuộc của các sóng. LASER là những chữ đầu của “Light Amplification by Stimulated Emission of Radiation”, có nghĩa là “ánh sáng khuếch đại do phát xạ kích thích của bức xạ”, hay gọn hơn: “ánh sáng khuếch đại do bức xạ kích thích”.

Một phim ảnh toàn ký được tạo ra khi một tia sáng LASER đơn sắc được tách ra làm hai tia riêng biệt. Tia thứ nhất được chiếu trên vật muốn chụp hình, thí dụ một bức tượng Phật, dội lại và hợp với tia thứ hai tạo thành một mô thức giao thoa và được ghi trên một tấm phim ảnh.

 

Dùng mắt thường mà nhìn thì hình giao thoa trên tấm phim, có tên khoa học là “toàn ký đồ”, không có gì là giống bức tượng Phật cả, mà chỉ là một số mô hình gồm những vòng đồng tâm tương tự như những vòng sóng lăn tăn trên mặt nước khi ta ném một nắm sỏi xuống nước. Hình sau đây chỉ là một thí dụ về toàn ký đồ chứ không phải là toàn ký đồ của bức tượng Phật.

 

Một Toàn Ký Đồ [A Hologram Pattern]

Nhưng khi ta chiếu qua tấm phim này bằng một tia LASER khác, hoặc đôi khi chỉ cần một ngọn đèn thật sáng, một cái hình nổi của bức tượng Phật sẽ hiện ra. Hình này trông y như thật, ta có thể đi vòng xung quanh hình tượng Phật này và thấy đó là một bức tượng thật, bất kể nhìn dưới góc cạnh nào. Nhưng nếu ta muốn nắm bắt hình tượng Phật này thì ta sẽ không thành công bởi vì khi ta đưa tay vào chỗ hình tượng Phật này thì sẽ không thấy gì, vì thật ra đó chỉ là một ảo ảnh. Ngày xưa Phật đã chẳng nói, Phật thì vô hình vô tướng, làm sao mà nắm bắt được, và Tâm Kinh đã chẳng dạy là “Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc chính là không, không chính là sắc” hay sao?

 

Nhưng điểm kỳ diệu của kỹ thuật toàn ký là, nếu ta cắt tấm phim ảnh ra làm hai, rồi chiếu lên mỗi nửa tấm phim này bằng một tia LASER, ta sẽ thấy mỗi nửa tấm phim sẽ lại tạo ra hình ảnh của toàn phần tượng Phật. Cứ tiếp tục chia cắt như vậy, mỗi mảnh nhỏ của tấm phim vẫn tạo ra nguyên hình của toàn thể bức tượng tuy càng ngày càng mờ nếu mảnh phim càng ngày càng nhỏ hơn. Nói tóm lại, kỹ thuật toàn ký đã khám phá lại một phần của một quan niệm rất quen thuộc trong Phật Giáo: một là tất cả. Để cho sự so sánh được rõ ràng hơn, có lẽ chúng ta nên đi thêm vào vài chi tiết trong công cuộc khảo cứu của Pribam và Bohm.

Pribam khám phá ra rằng, ký ức của con người được phân bố đều trong bộ óc và mỗi phần của bộ óc chứa trọn vẹn những thông tin mà bộ óc ghi nhận. Nếu ta cắt bỏ một phần các vùng ký ức, có khi là một phần khá lớn, ở trong óc một người thì ký ức của người đó không bao giờ mất đi một phần, và nếu người đó nhớ một cái gì đó thì bao giờ cũng nhớ trọn vẹn chứ không bao giờ chỉ nhớ một phần, thí dụ như chỉ nhớ 1 phần những người trong gia đình, hay một phần của một khuôn mặt quen thuộc, hay một phần của một câu chuyện mà người đó đã được kể cho nghe.

Khảo sát về sự tương tác giữa các hạt nhỏ trong ngành vật lý tiềm nguyên tử (subatomic physics), Bohm đưa ra nhận định như sau: Thuyết tương đối, quan trọng hơn nữa, cơ học nguyên lượng (quantum mechanics) đề nghị rằng, người ta không thể phân tích thế giới thành những phần riêng biệt và độc lập. Hơn nữa, mỗi phần có vẻ như bằng cách nào đó liên hệ tới mọi phần khác: chứa đựng lẫn nhau hoặc bao hàm nhau.

Chúng ta thấy rằng kỹ thuật toàn ký đã tạo ra một căn bản giải thích những kết quả khảo cứu của Pribam và Bohm. Và Pribam đã đặt một câu hỏi: Nếu các hình ảnh của thực tại ghi trong óc của chúng ta không phải là một hình ảnh như chúng ta thường thấy mà là một toàn ký đồ (hologram), vậy thì toàn ký đồ là cái gì?

Vấn đề khúc mắc là ở chỗ nếu ta chụp hình toàn ký một cảnh, thí dụ một đám người ngồi quanh một cái bàn, và khi rửa phim ra ta thấy không phải là một đám người mà lại là những hình giao thoa, vậy thì thực tại là cái gì? Là những hình ảnh thông thường chúng ta thấy ở ngoài đời ghi nhận bởi quan sát viên/nhiếp ảnh viên hay là những hình mờ ảo giao thoa ghi bởi máy chụp hình/óc con ngườỉ? Pribam ý thức được rằng cái mẫu về “óc toàn ký” với những các kết luận hợp lý của nó đã dẫn đến một vấn nạn về thế giới của thực tại khách quan; thế giới của sông, núi, cây cỏ có thể là không hiện hữu, ít ra là không hiện hữu như chúng ta thường tưởng là hiện hữu. Phải chăng quan niệm về ảo tưởng (maya) của những huyền nhiệm gia cách đây nhiều thế kỷ là đúng, và những cảnh xum la vạn tượng chẳng qua chỉ là vùng rộng lớn các tần số (vast frequency domain) biến đổi thành những sự vật SAU KHI nhập vào các giác quan của con người. Nhưng lãnh vực khảo cứu của Pribam chỉ về ký ức con ngưòi, và khi biết được những kết quả khảo cứu của Bohm, không những Pribam tìm ra được giải đáp cho những thắc mắc trên mà còn biết được rằng, theo Bohm, toàn thể vũ trụ chỉ là một toàn ký đồ (hologram).

Nói một cách vắn tắt thì quan niệm về vũ trụ của Bohm như sau: thực tại mà chúng ta thấy hàng ngày thực ra chỉ là một loại ảo tưởng, giống như một hình ảnh toàn ký. Đằng sau cái thực tại này là một sự xếp đặt sâu sắc hơn của sự hiện hữu mà ta có thể coi như là bản chất rộng lớn của một thực tại từ đó sinh ra mọi sự vật tạo thành thế giới vật chất của chúng ta, giống như một mảnh phim toàn ký tạo ra một toàn-ký-đồ. Bohm gọi cái thực tại sâu sắc này là cấp ẩn (implicate order) hay sự xếp đặt ẩn và những thứ chúng ta thấy thường ngày thuộc cấp hiện (explicate order) hay sự xếp đặt hiện của mọi vật. Nói một cách tóm tắt dễ hiểu thì mọi vật đều sinh ra từ một căn bản chung, và căn bản chung này khi nhập vào giác quan của con người thì sinh ra mọi sai biệt mà chúng ta thường thấy ở ngoài đời.

Nhưng có ai ngờ rằng, những quan niệm về vũ trụ dựa trên khuôn mẫu toàn ký trên đã là những quan niệm đặc thù của Phật Giáo từ bao thế kỷ trước đây. Thật vậy, quan niệm về Chân Không Diệu Hữu, và quan niệm về Tâm Chân Như và Tâm Sai Biệt của Bồ Tát Mã Minh trong Đại Thừa Khởi Tín Luận không khác gì quan niệm toàn ký của Bohm ở trên, nếu không muốn nói là còn sâu sắc hơn và đầy đủ hơn. Và, nếu chúng ta quen thuộc với kinh điển Phật Giáo, nhất là kinh Hoa Nghiêm, thì chúng ta sẽ thấy rằng khuôn mẫu toàn ký và những quan niệm của Pribam và Bohm thực sự đã chậm mất 25 thế kỷ. Để làm sáng tỏ vấn đề này, chúng ta hãy đọc phớt qua chút ít về Kinh Hoa Nghiêm.

Kinh Hoa Nghiêm

Trước hết, chúng ta hãy đọc vài lời tựa của Hòa Thượng Thích Đức Niệm ở đầu mỗi cuốn trong bộ kinh Hoa Nghiêm do Thích Trí Tịnh dịch:

“Kinh Hoa Nghiêm là bộ Kinh Đại Thừa, là vua trong các Kinh, với nội dung siêu việt tuyệt luân hùng vĩ, tráng lệ nguy nga, thể hiện Pháp thân, tư tưởng và tâm nguyện của Phật.

…Tư tưởng Hoa Nghiêm trình bày vạn pháp do tâm sanh. Tâm là thực thể của vạn pháp. Tâm vọng thì vạn pháp hoạt hiện sai biệt, hình hình sắc sắc, trùng trùng duyên khởi, cái này có cái kia có và ngược lại, như lưới đế châu. Tâm chơn thì pháp giới tánh với tâm là một, vạn vật đồng nhất thể….Kinh Hoa Nghiêm, đức Phật chỉ cho chúng sanh thấu rõ cội nguồn của xum la vạn tượng do mê thức vọng tưởng nghiệp duyên hình thành, các pháp hiện hành trong vũ trụ là huyễn hóa, như hoa trong gương, như trăng dưới nước. Tất cả vạn pháp trong pháp giới đều từ tâm sanh. Tâm trùm khắp cả pháp giới. Tất cả vạn hữu vũ trụ có thể nằm gọn trong hạt cải. Hạt cải có thể thâu nhiếp tất cả vũ trụ vạn pháp. Thể tánh của tâm nhiếp thâu tất cả. Tất cả là một, một là tất cả.”

Vài lời trên đã tóm tắt phần nào những tinh túy của Kinh Hoa Nghiêm. Thật vậy, chúng ta hãy đọc đoạn sau đây trong Phẩm Nhập Pháp Giới, lời của nữ nhân Thích Ca Cù Ba giảng một pháp môn giải thoát cho Thiện Tài đồng tử:

“Này Thiện Nam Tử!.. Ta quán thân của Bồ Tát, nơi mỗi lỗ chân lông, mỗi niệm thấy vô lượng vô biên thế giới rộng lớn, những sự an trụ, trang nghiêm, hình trạng, những núi, đất, mây, danh hiệu, Phật xuất thế, những đạo tràng, chúng hội, diễn thuyết những khế kinh, những sự quán đảnh, các thừa, những phương tiện, những thanh tịnh.

Lại mỗi niệm nơi mỗi lỗ chân lông của Bồ Tát thường thấy vô biên phật hải, những sự ngồi đạo tràng, những thần biến, thuyết pháp, thuyết kinh hằng không gián đoạn.

Lại nơi mỗi lỗ chân lông của Bồ Tát thấy vô biên chúng sanh hải: những trụ xứ, hình mạo, tác nghiệp, căn tánh….”

Với lời tựa của Hòa Thượng Thích Đức Niệm và lời trích dẫn trong kinh Hoa Nghiêm chúng ta thấy rằng quan niệm toàn ký của các khoa học gia đã dựa vào các tư tưởng của Phật Giáo rất nhiều. Nhưng xét cho kỹ thì quan niệm toàn ký trong khoa học chỉ có tác dụng giải thích một số khúc mắc trong khoa học một cách đại cương trong khi quan niệm về tương thông, tương tức, hay dung thông vô ngại bao trùm mọi pháp giới. Nếu chúng ta đọc đoạn cuối của Kinh Hoa Nghiêm , khi Thiện Tài đồng tử vào trong lâu các Tỳ Lô Giá Na và rồi sau đó gặp Phổ Hiền Bồ Tát thì chúng ta sẽ thấy quan niệm về một vi trần chứa đủ thiên sai vạn biệt trong vũ trụ đã được trình bày với đầy đủ chi tiết và kèm vào đó những công hạnh của Bồ Tát. Và đây chính là điểm vi diệu của Kinh Phật vì ngoài việc dùng để giải thích những sự việc ngoài đời như khoa học, điểm chính yếu là cái dụng của Kinh Phật như sẽ được tóm tắt sau đây.

Chúng ta biết rằng kinh căn bản trong Hoa Nghiêm Tông là Kinh Hoa Nghiêm. Kinh Hoa Nghiêm bao gồm toàn bộ giáo lý Phật Giáo một cách hòa hợp, đa dạng; đó là một kinh được coi là cao nhất trong mọi kinh Phật ở Á Châu. Kinh trình bày một môn siêu hình học vô cùng tiến bộ và là một tập hợp phát triển tư tưởng một cách kỹ lưỡng, tinh tế để dẫn con người tới toàn giác.

Nhưng muốn nhận định đúng giá trị của Kinh Hoa Nghiêm chúng ta phải xét đến cái mặt dụng của Kinh này. Vì chúng ta đã biết, trong Phật Giáo, Kinh Phật thật là vô ích nếu chúng ta chỉ để ý tới phần lý thuyết mà không áp dụng chúng vào đời sống thường ngày. Các thiền sư thường ví những người tìm hiểu kinh mà không thực hành như là những người “đọc thực đơn mà không ăn” hay là “đếm tiền của thiên hạ trong ngân hàng”.

Nói một cách ngắn gọn, Kinh Hoa Nghiêm cho chúng ta một tập hợp những phương thức tu tập – một lối nhìn sự vật trên mọi góc cạnh, từ đó khám phá ra sự hòa hợp và bổ túc lẫn nhau tiềm ẩn sau những khác biệt và mâu thuẫn biểu kiến của mọi sự vật ở trên đời. Giá trị của sự tu tập này là sự phát triển một quan điểm tròn đầy, lành mạnh, giúp ta khám phá ra sự thống nhất của mọi Pháp nhưng không phủ nhận sự khác biệt của các Pháp. Từ quan điểm này, con người vượt qua được những ngăn ngại tâm linh do sự chấp vào các sai biệt của vạn vật mà sinh ra. Quan niệm về Chân Đế và Tục Đế của Bồ Tát Long Thọ trong Đại Trí Độ Luận sẽ giúp chúng ta tu tập trong Chân Đế nhưng không quên Tục Đế. Từ đó, với sự phát triển bồ đề tâm, cái quan điểm viên dung này vận hành bất tuyệt trên cách hành xử của các bồ tát trong công cuộc tự giác, giác tha. Một khi hội nhập được vào ý tưởng dung thông vô ngại của Kinh Hoa Nghiêm, với căn bản là bồ đề tâm, hành giả sẽ không còn bị ngăn ngại bởi bất cứ cái gì về cách hành xử trong Bồ Tát Đạo. Hành giả sẽ tự do hành xử để giúp chúng sinh ra khỏi chỗ mê mờ của những giáo lý những điều mê tín không còn thích hợp với sự tiến bộ tri thức của con người ngày nay.

Bài trên đây chỉ có mục đích chứng tỏ rằng các tư tưởng trong Phật Giáo đã đi trước và sâu sắc hơn các quan niệm của khoa học hiện đại nhiều, hiển nhiên tôi không thể đi vào chi tiết của khoa học cũng như Kinh điển Phật Giáo trong một bài viết ngắn. Bạn đọc nào muốn hiểu thêm về bồ đề tâm hay những quan niệm như tương duyên, tương tức, dung thông vô ngại trong Phật Giáo xin hãy chăm đi lễ Chùa và thụ huấn quý Thày. Tôi bảo đảm là các bạn sẽ không cảm thấy lãng phí thì giờ trong việc tìm hiểu kinh Phật vì Kinh Phật là một kho tàng vô giá và vô tận để phát triển trí tuệ con người thay vì giam hãm đầu óc con người trong những ngục tù tâm linh¨

 

Vấn đề «tiền định» và quan điểm Tự Do của Giáo Chủ Tin Lành Martin Luther

Vấn đề «tiền định» và quan điểm Tự Do
của Giáo Chủ Tin Lành Martin Luther

(góp ý với anh Trần Tiên Long)

Nguyễn Hoài Vân

 

 

Vấn đề «Tiền Định» mà anh nêu lên rất tế nhị, nếu đứng trên quan điểm cực đoan của Thánh Augustin. Thật ra dòng tư tưởng này bắt nguồn từ trường phái Khắc Kỷ (Stoicisme). Các nhà Stoicien cho là những gì xảy ra đều do một sự tính toán vượt ngoài tri thức của họ, nhưng họ tin là điều ấy tốt cho toàn cuộc, cho một trật tự chung của trời đất. Vì thế họ yêu mến định mệnh của mình (amor fati). Điều này giúp bỏ bớt tư dục. Tự do đối với họ là sự giải thoát khỏi những dục vọng riêng tư của mình. Sau này, Therese d’Avila nói : “tự do là trở thành nô lệ Thiên Chúa”. Thiên Chúa hiểu như một quy luật tối thượng của trời đất, thuận theo quy luật ấy thì «tự do» hơn là làm nô lệ dục vọng của mình.

Giáo chủ Luther, diễn giải tư tưởng này một cách «sư phạm» hơn. Theo ông, Tự Do hoàn toàn là một đặc tính của Thiên Chúa (Du Serf Arbitre – quyển V). Con người chỉ tự do đối với nhưng gì «thấp» hơn mình (bàn ghế, xe cộ, tiền bạc, vung tay múa chân …) nhưng không có tự do đối với những gì «cao» hơn mình, như vấn đề cứu độ. Ở đây cứu độ cũng phải hiểu là kết quả của sự giao chiến giữa sự tốt lành và sự xấu xa, giữa Thiên Chúa và Ác Quỷ, trong nôi tâm mình. Không có tự do, phải hiểu một cách tích cực là con người sẽ không phải đơn độc giao chiến, mà sẽ luôn được sự nâng đỡ, trợ giúp, của Thiên Chúa.

Giáo chủ Luther đặt vấn đề một cách khác trong sách «Về Tự Do trong Ky Tô Giáo» (De La Liberté Chrétienne) khi cho rằng con người vừa tự do, vừa nô lệ. Lý do vì con người gồm hai phần : hồn và xác. Thân xác có thể phải chịu đủ thứ ràng buộc, giam hãm (đói, bệnh, tù đày, nghèo khổ …) nhưng linh hồn không bị ảnh hưởng bởi những thứ ấy. Linh hồn tốt hay xấu không liên hệ gì đến những trói buộc của thân xác. Chỉ có Lời Chúa ảnh hưởng được trên sự tốt xấu của nó. Chúng ta lại nhìn thấy sự can thiệp của Thiên Chúa trong sự tốt xấu của con người.

Trong cùng một tác phẩm Giáo Chủ Luther đi xa hơn khi cho rằng người Ky Tô hữu sống trong Thiên Chúa và trong tha nhân. Họ «sống trong Thiên Chúa bằng Đức Tin, và trong mọi người khác bằng tình yêu». Với Đức Tin, «họ vượt lên cao hơn chính họ để kết hợp với Thiên Chúa» ; và từ Thiên Chúa, họ «trở xuống làm một với tha nhân bằng tình yêu, trong khi vẫn ở trong Chúa, trong Tình Yêu của Ngài». Trong lý thuyết này sự tự do của con người đến từ sự hợp nhất với Thiên Chúa, đấng Tư Do tuyệt đối. Sự tự do ấy trở thành bản chất của hành vi phục vụ tha nhân của người Ky Tô hữu. Người Ky Tô Hữu không phục vụ người khác vì sự áp chế của điều luật, vì lo sợ bị trừng phạt hay mong ước một thiên đường … mà do chính bản chất của sự Tự Do đến từ Thiên Chúa. Sự Tự Do ấy giải thoát họ khỏi những tính toán cá nhân ích kỷ. Thật vậy, một khi đã «ở trong» Thiên Chúa rồi thì họ không còn cần ưu tư, mong cầu gì cho chính họ nữa, nên việc phục vụ tha nhân hoàn toàn được giải thoát khỏi những tính toán cá nhân. Luther nói : «Hãy xem ! Đây chính là sự Tự Do thực sự (…), giải thoát tâm hồn khỏi mọi sự xấu, mọi điều luật, mọi giới răn, một sự Tự Do vượt cao hơn các tự do khác, như bầu trời cao hơn mặt đất» …

 

Nếu nhìn quan điểm này như một người Phật Giáo, chúng ta có thể coi nó như một pháp môn làm giảm tính chấp ngã, qua sự thực hành Từ Bi, một cách tự nhiên, không tính toán. Nếu nhìn theo một quan điểm duy vật thì đó là giảm bớt ích kỷ, buông bỏ những tính toán cho riêng mình để nghe lời cái Tính Thiện nằm sẵn trong tâm mình để sẵn sàng giúp đỡ người khác một cách hồn nhiên, vui vẻ.

Nguyễn Hoài Vân

22 tháng 2 năm 2011


 

Kính ông Nguyễn Hoài Vân,

Thật là thú vị được đọc những gợi ý của ông. Những ưu tư và thắc mắc đó có tính triết học, hàn lâm, và là những câu hỏi chưa có lời giải đáp. Thuận hay chống, đàng nào cũng sẽ đi đến tình trạng tiến thoái lưỡng nan. Đó là vấn nạn của con người có trí óc giới hạn nhưng lại có sức tưởng tượng vô hạn.

Bài diễn thuyết của Quentin Smith (QS) bàn về Thượng đế của các nhà khoa học và Thượng đế của các nhà triết học, không phải là Thượng đế hữu ngã có nhân tính của các ông thần học Thiên Chúa giáo.

Vũ trụ học:

Vũ trụ học cố gắng giải thích nguồn gốc của vũ trụ. Đó là câu hỏi thuộc lĩnh vực của khoa học, không phải câu hỏi thuộc lĩnh vực của tôn giáo như ý kiến của Ts Hồng Lĩnh. Nếu có một siêu sinh vật nào đã sáng tạo vũ trụ thì trước sau gì cũng có ngày khoa học chứng minh được. Cũng như ngày xưa, con người không hiểu thế nào là mưa bão, sóng thần, động đất, núi lữa, v/v… nhưng ngày nay, tất cả đã được khoa học giải thích tường tận.

Những góp ý của ông về “hiện hữu”, “phi hiện hữu”, “yếu tố ngoài hệ thống”, “tín hiệu trong dây DNA”, v/v… càng khẳng định thêm rằng mọi sự xảy ra trong vũ trụ đều có nguyên nhân tự nhiên. Chẳng có ý chí tự do của một siêu sinh vật nào áp đặt vào trong các biến cố. Đây cũng là quan điểm chung của các nhà khoa học, bởi vì mọi người trong chúng ta ai ai cũng đều nhận thấy trong các phương trình hay công thức khoa học không bao giờ có ảnh hưởng của các yếu tố siêu tự nhiên.

Vấn đề sự dữ:

Kinh thánh xác định sự dữ cũng do Thiên Chúa tạo dựng. Chính Lucifer hay Satan cũng là những sinh vật do Chúa sáng tạo. Câu hỏi của ông “Nếu Ngài làm được sự Ác, thì phải chăng cũng có mầm mống “Ác” (Ác căn) nơi Ngài?” cũng là thắc mắc của QS khi ông bàn về vô vàn sự dữ xảy ra rõ ràng trước mắt: Chẳng lẽ Thượng đế không toàn năng? Như vậy Thượng đế có khác gì một sinh vật sống ngoài hành tinh và có khả năng nào đó hơn con người, chẳng hạn như ET, không đáng để chúng ta tôn thờ? Và ông kết luận, có vẻ như sự dữ đang cai quan thế giới, chứ chẳng phải Thượng đế, đấng mà chúng ta gọi là toàn năng, toàn hảo.

Vấn đề tự do:

Công giáo khẳng định con người hoàn toàn có tự do để chọn lựa, trong khi Tin Lành khẳng định con người không có tự do. Tin Lành tin vào tiền định (predestination) nên việc con người lên thiên đàng hay xuống hỏa ngục đã được Thiên Chúa định trước rồi. Tiền định là một ý niệm trong thần học đã bị Công giáo công khai bác bỏ. Đó là một trong những khác biệt căn bản giữa thần học Công giáo và Tin lành. Dù theo bên nào thì cũng đưa đến những câu hỏi không có câu trả lời. Những gợi ý và câu hỏi ông đặt ra trong vấn đề này cho thấy có sự mâu thuẩn trong ý niệm Thiên Chúa. Ở đây, tôi chỉ xin nêu thêm một thắc mắc khác mà tôi đã trình bày ở lần trao đổi trước về vấn đề đức tin và hồng ân: Nếu cho con người sự tự do chọn lựa thì tại sao lại phạt con người khi họ lựa chọn điều Thiên Chúa không muốn? Có bao giờ ai đó cầm khẩu súng dí vào đầu bạn rồi bảo bạn phải chọn bên này, nếu chọn bên kia thì bạn sẽ bị bắn bể sọ? Vậy đó cũng là tự do sao?

Tóm lại, tôi hoàn toàn đồng ý với lời kết luận của ông Nguyễn Hoài Vân:

“Cái thú vị của khoa học, nhất là vũ trụ học nằm ở sự bí ẩn của nó. Khoa học tiến triển bằng sự phủ định. Khám phá sau phủ định khám phá trước. Vì thế, các nhà khoa học sẽ luôn tiếp tục làm cho chúng ta ngạc nhiên.

Sự suy nghĩ về vũ trụ giúp rất nhiều cho lãnh vực tâm linh. Người vô thần hay người hữu thần, trong căn bản cũng đều tìm một Sự Thật không thể phủ nhận. Như vừa nói, họ đều sẽ thất bại. Vấn đề là cùng nhận thức được mối ưu tư chung ấy, chấp nhận sự yếu kém, nhỏ nhoi của mình trước chiều kích bao la của vấn đề, và ngồi lại với nhau, trên quả địa cầu tí hon này, để cùng chiêm ngưỡng những vẻ đẹp vô cùng tận của Trời Đất, Sự Vật. Đồng thời cộng tác với nhau làm đẹp cho cuộc sống.”

Nhưng xin được thêm vào lời kết luận đó, rằng cái bí ẩn hay vẻ đẹp vô cùng tận của vũ trụ không phải do một tác nhân siêu sinh vật có ý chí tự do. Cho đến ngày nay, những khám phá của khoa học không làm tôi tin có một hữu thể toàn năng như vậy. Ý niệm Thượng đế chỉ là sản phẩm tưởng tượng, mang tính biểu tượng, của con người trong cố gắng vươn đến miền tuyệt đối của Chân, Thiện, và Mỹ. Nếu chấp nhận điều này thì mọi khúc mắc về ý niệm Thượng đế như đã trình bày ở trên sẽ được tự động giải đáp một cách thỏa đáng và triệt để.

Thượng đế cũng giống như một cặp nạng. Nếu bạn cảm thấy cần phải dùng đến nó để có thể đi đứng ngay thẳng thì xin cứ việc tự nhiên sử dụng. Còn đối với những người có đôi chân vững chắc, cặp nạng đó không giúp ích gì cho họ. Nếu tôi không bắt bạn phải rời bỏ cặp nạng thì xin bạn cũng đừng bắt tôi phải đi bằng cặp nạng như bạn đang đi. Và tôi cũng biết chắc chắn bạn có thể đi đứng vững vàng như tôi nếu bạn thực sự có ý muốn đó.

Trân trọng,

Trần Tiên Long


 

Tôi không theo Pascal

Trần Tiên Long

4/1/2011

Trong khi trao đổi với các đọc giả trên diễn đàn công cộng và các bạn cùng trường về niềm tin vào sự hiện hữu của Thiên chúa, tôi rất ngạc nhiên vì nhiều người vẫn thường hay nêu ra lập luận đánh cuộc của Blaise Pascal để biện minh cho niềm tin của mình. Đây là lối lập luận mà chúng tôi được nhồi sọ khi còn học chung với nhau ở một tiểu chủng viện hơn ba thập niên trước. Mặc dù lập luận của Pascal không quá khó bị đánh đổ, nhưng sự phổ biến rộng rãi đủ bảo đảm việc bàn về nó là điều cần thiết. Thực vậy, Pascal chỉ nêu ra mối lợi như là lý do để tin, đặt trên những tiền đề giả định hoang tưởng: có một Thiên chúa lo cho phúc lợi của con người; có thiên đàng và địa ngục, những nơi chốn thưởng phạt con người sau khi chết; và con người thì bất tử vì còn linh hồn vẫn tiếp tục sống ngoài thân xác. Đó là ba trong vô số những giả định căn bản mà người tín hữu Thiên chúa giáo phải xem như là hiển nhiên bằng một đức tin không lay chuyển.

Vậy mối lợi Pascal nêu ra có phải là lý do chính đáng để chúng ta theo đuổi bằng bất cứ giá nào không, kể cả mạng sống? Chúng ta sẽ tìm hiểu lập luận của Pascal và những tiền đề giả định hoang tưởng, rồi tuần tự xét đến những trường hợp có thể xảy ra để nhận thấy rằng việc đánh cuộc theo Pascal sẽ dẫn đến nhiều bất lợi hơn cả.

 

Blaise Pascal (1623-1662)

 

Nội dung đánh cuộc

Blaise Pascal (1623-1662) là một nhà toán học và triết học người Pháp. Trong chương có tựa đề Infinirien của cuốn Pensées, ông khẳng định rằng tất cả các lập luận chứng minh sự hiện hữu của Thiên chúa đều vô giá trị. Không ai có thể chứng minh có hoặc không có Thiên chúa. Ông so sánh hệ quả khác nhau từ quyết định tin hay không và đi đến kết luận rằng thái độ và hành xử của người cẩn trọng và khôn ngoan nhất là cứ tin có Thiên chúa, vì sau khi chết, nếu có Thiên chúa thì người tin sẽ được phần thưởng hạnh phúc vĩnh cửu trên thiên đàng, người không tin sẽ bị đày xuống địa ngục đời đời kiếp kiếp; còn nếu không có Thiên chúa thì người tin cũng như người không tin sẽ chẳng mất mát khác nhau. Chúng ta có thể tóm tắt lập luận của Pascal vào những luận điểm chính yếu như sau:

· Thiên chúa chỉ có thể hoặc hiện hữu hoặc không hiện hữu, nghĩa là xác suất cho mỗi bên là 50%.

· Nếu chúng ta tin Thiên chúa và nếu Ngài hiện hữu, chúng ta sẽ nhận được phần thưởng hạnh phúc vĩnh cửu trên thiên đàng; còn nếu Ngài không hiện hữu, chúng ta sẽ chẳng thiệt thòi hay mất mát gì.

· Nếu chúng ta không tin Thiên chúa mà Ngài lại hiện hữu, chúng ta sẽ bị phạt đời đời kiếp kiếp trong địa ngục; còn nếu đúng Ngài không hiện hữu như chúng ta tin, chúng ta sẽ chẳng được gì hơn.

· Thà chúng ta có cơ may nhận phần thưởng hạnh phúc vĩnh cửu thiên đàng hơn là rủi ro bị phạt đời đời kiếp kiếp trong địa ngục.

· Nếu đem so sánh các điều lợi hại của việc tin hay không tin thì người khôn ngoan, cẩn trọng, biết hành xử theo lý trí đương nhiên chấp nhận tin Thiên chúa hiện hữu.

Những tiền đề giả định hoang tưởng

Có một sự khác biệt căn bản giữa hai phạm trù Thượng đế và Thiên chúa, mặc dù cả hai đều được dịch từ một danh từ “God”. Từ Thượng đế thường được dùng trong các bộ môn khoa học, trong khi từ Thiên chúa được dùng trong tôn giáo. Đối với những nhà khoa học, Thượng đế được hiểu như nguyên nhân đầu tiên sáng tạo vũ trụ. Sau khi sáng tạo, Ngài không cai quản và can thiệp vào bất cứ hiện tượng nào trong vũ trụ. Mọi sự xảy ra trong trời đất đều tuyệt đối tuân theo những định luật máy móc, tự nhiên, chẳng có chủ ý. Còn Thiên Chúa là một siêu sinh vật nhưng lại có nhân tính (personal God). Sau khi sáng tạo, Ngài luôn luôn thương yêu, chăm sóc, và lo cho phúc lợi của con người bằng cách can thiệp thường xuyên vào các công việc trần thế. Người tín hữu Thiên chúa giáo tin rằng cho dù một sợi tóc trên đầu rụng xuống cũng không ngoài thánh ý Chúa.

Đối với Pascal, Thiên chúa có thể hiện hữu bởi vì ông đã sống rất lâu trước khi có thuyết Tiến hoá khoa học đánh đổ thuyết Sáng tạo duy thần. Ngày nay, giả định về sự hiện hữu của Thiên chúa không còn cần thiết trong Nhận thức luận để giải thích bất cứ hiện tượng nào trong vũ trụ. Các khoa học thực nghiệm đã xác định rằng ngay cả sự hiện hữu của Thượng đế, tác giả của nguyên nhân đầu tiên, cũng có một xác suất không thể có (improbable). [1] Vũ trụ có thể tự tạo, chẳng cần phải có một sinh vật siêu tự nhiên nào tác động khởi đầu. Mang Thượng đế ra để gán ghép cho nguyên nhân đầu tiên đã trở thành thừa thãi. Nhờ có định luật hấp dẫn, vũ trụ có thể và sẽ còn tự sinh từ hư không. Sự tự sinh là lý do tại sao cần có một thứ gì đó, hơn là không có gì, là lý do tại sao vũ trụ lại hiện hữu, tại sao chúng ta tồn tại. Không cần phải mang Thượng đế ra để làm vũ trụ khởi động. [2]

Xác định có một đấng Sáng tạo hay không là vấn đề khoa học, không phải là vấn đề tôn giáo như chúng ta vẫn thường lầm tưởng. Mọi xác định của khoa học đều có tính xác suất, không bao giờ là một khẳng định tuyệt đối. Bằng chứng của khoa học không mang ý nghĩa tuyệt đối như bằng chứng của Luận lý học. Trong Luận lý học, điều gì cũng có thể xảy ra (possible) nếu chưa được chứng minh chắc chắn không thể xảy ra, nghĩa là việc không có bằng chứng không phải là bằng chứng để khẳng định Thượng đế không hiện hữu. Ngày mai mặt trời sẽ mọc đàng Tây là một điều có thể xảy ra theo Luận lý học, nhưng có một xác suất không thể xảy ra theo khoa học. Khoa học chỉ bàn đến chứng cớ đủ để có sự nghi ngờ hợp lý (reasonable doubt), và khoa học đã xác định rằng không có chứng cớ đủ để nghi ngờ có Thượng đế, cũng như chẳng có chứng cớ đủ để nghi ngờ ngày mai mặt trời sẽ mọc đàng Tây. Nếu chúng ta cho rằng mặc dù vậy vẫn còn có sự hoài nghi thì chúng ta sẽ chẳng có thể tin tưởng vào bất cứ điều gì của khoa học.

Còn Thiên chúa của Thiên chúa giáo thì tuyệt đối không thể có do lập luận về những thuộc tính mâu thuẫn loại trừ nhau trong Luận lý học. Parmenides đã dạy chúng ta biết điều này từ hơn 2.500 năm trước, rằng không thể có một vật có những thuộc tính mâu thuẫn loại trừ nhau. Những thuộc tính của Thiên chúa như toàn năng, toàn trí, toàn thiện, hay thương xót, công bình vô cùng v.v… tự chúng loại trừ nhau. Làm sao mà một hữu thể toàn năng, toàn trí, biết cả tương lai lại có thể thay đổi ý định của mình? Nếu có thể thay đổi ý định thì đã không toàn trí, nghĩa là không thông biết hết mọi sự; còn nếu không thể thay đổi thì đã không toàn năng. Và làm sao mà một hữu thể công bình vô cùng lại có thể thay đổi ý định của mình bằng các phép lạ để thương xót theo lời van xin của một giống người hèn mọn? Nếu phải thay đổi ý định để thương xót thì đã không công bình vô cùng và cũng không toàn trí. Thiên chúa vô nghĩa giống như một hình tròn lại vừa có các cạnh vuông (square sphere). Bởi vậy, từ xưa nay chẳng có một bộ môn khoa học nào bỏ công sức tìm hiểu về Thiên chúa, một ý niệm tưởng tượng vô nghĩa. Có bao nhiêu nhà thần học thì sẽ có bấy nhiêu định nghĩa khác nhau về Thiên chúa. Vẽ ma quỉ là thứ dễ vẽ nhất vì chẳng có tiêu chuẩn nào để định được vẽ đúng hay vẽ sai.

Như vậy, sự hiện hữu của Thượng đế là điều có thể theo Luận lý học, nhưng có xác suất không thể theo các khoa học thực nghiệm. Còn sự hiện hữu của Thiên chúa có nhân tính trong Thiên chúa giáo là điều không thể theo các khoa học thực nghiệm và càng tuyệt đối chắc chắn không thể theo Luận lý học.

Mặc dù vậy, Pascal vẫn cứ khăng khăng cho rằng Thiên chúa của Thiên chúa giáo có thể hiện hữu hoặc không hiện hữu, cũng giống như hai mặt của một đồng xu, chỉ có thể xảy ra hoặc xấp hoặc ngửa, mặc nhiên chấp nhận 50% xác suất cho mỗi bên. Nhưng hiện nay có ít nhất 2.500 thần linh khác nhau. Vậy lấy lý do gì để bảo đảm rằng Thiên chúa của Thiên chúa giáo chân thật hơn các thần linh của các tôn giáo khác? Bởi vì chân lý chỉ có một nên không thể tất cả cùng đúng. Như vậy, xác suất chỉ là 0,04% và cũng có thể là 0%, chứ không phải là 50% nữa. Cũng vậy, bạn mua một vé số độc đắc, không phải bạn có xác suất 50% trúng hoặc không trúng. Xác suất trúng thì rất nhỏ, gần như 0%; và xác suất không trúng thì rất lớn, gần như 100%. Ít nhất cũng đã có những người từng trúng số, còn thiên đàng cho đến nay vẫn chỉ là một bánh vẽ chưa ai nhìn thấy.

Có một đấng Sáng tạo hiện hữu không nhất thiết là phải có thiên đàng và địa ngục. Thiên chúa giáo quan niệm rằng thiên đàng hay địa ngục là những nơi chốn để thưởng phạt con người tùy theo đức tin của họ. Ngày nay, Thiên chúa giáo tránh nhắc đến hai phạm trù này, và giáo hoàng John Paul II cũng đã công khai phủ nhận vì nó chỉ gợi lên nỗi sợ hãi có mục đích kềm chế đầu óc người tín hữu. Không thể có một hình phạt tàn nhẫn vô hạn cho một lỗi lầm hữu hạn. Bertrand Russell cho rằng nỗi sợ hãi là nguồn gốc của đức tin tôn giáo hữu thần. Những hình ảnh khóc lóc và nghiến răng trong biển lửa đời đời kiếp kiếp thì đối nghịch với lòng nhân từ của Thiên chúa, điều mà Thiên chúa giáo đang cố gắng rao giảng. Kinh sách Công giáo trong hai ngàn năm qua cũng từng dạy chúng ta về sự hiện hữu của lâm bô (limbo), một nơi chốn tối tăm dành cho những em bé qua đời khi chưa kịp rửa tội và những người tốt lành sống trước khi đức Giê-su nhập thế. Ngày nay, Vatican đã công khai bác bỏ giáo lý về sự hiện hữu của lâm bô. [3]

 

Triết gia Bertrand Russell

(1872-1970)

 

Giáo hoàng John Paul II

 (1920-2005)

Việc con người có phần linh hồn bất tử hay không để hưởng phước thiên đàng lại còn là một vấn đề khác nữa. Các bộ môn khác nhau của khoa học đã xác nhận rằng không có ý thức hay cái phần tinh thần độc lập với thân xác. Một khi thân xác đã nằm xuống và rữa nát thì không còn ý thức và ký ức nữa. Chúng ta đến từ hư vô rồi sẽ trở về với hư vô. Ý thức và tư duy đều là hệ quả của những dòng điện sinh vật lý thuộc não bộ. Bằng chứng rõ rệt nhất là khi đầu óc của chúng ta bị thương tích thì sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến các sinh hoạt của tri thức. Trí tuệ hay khả năng tri thức mà Thiên chúa giáo gọi là linh hồn, một thực thể thiêng liêng, độc lập với thân xác, có cá tính riêng biệt, nối tiếp, và vĩnh cửu thì hoàn toàn tùy thuộc vào sự lành mạnh của thân xác. Con người trong bản chất là một con vật xã hội không ngừng tiến hoá, chỉ khác nhau về mức độ thông minh được đo bằng lượng chất xám nằm trong não bộ.

Người ta có thể kết án một cách khinh bỉ rằng đây là một quan điểm duy vật. Nhưng thử hỏi chúng ta đã hiểu về vật chất đến mức độ nào? Liệu chúng ta có thể nêu ra một hữu thể nào mà không có phần căn bản vật chất được không? Những tác nhân không có phần thân xác vật chất như thần thánh hay ma quỉ mà tổ tiên chúng ta thường dùng để “giải thích” những hiện tượng dị thường càng ngày càng trở nên không cần thiết trong việc giải thích mọi hiện tượng. Chân lý mọi người đều phải chết, nghĩa là không có sự bất tử, mãi mãi vẫn đúng.

Nếu Thiên chúa hiện hữu

Cho dù giả định Thiên chúa hiện hữu, hoàn toàn nghịch với Luận lý học và các khoa học thực nghiệm, thì mối lợi của người tin hay mối hại của người không tin cũng không được xác định.

Việc ban thưởng hay luận phạt theo tiêu chuẩn đức tin thì hoàn toàn vô lý. Tại sao vất bỏ lý trí để tin điều vô lý lại là một nhân đức lớn trong Thiên chúa giáo, cao trọng hơn cả lòng bác ái và tính ngay thẳng lương thiện trí thức; trong khi lòng hoài nghi, một phẩm hạnh thiết yếu và đứng đầu trong khoa học, thì lại bị dèm pha là kiêu ngạo? Rất có thể Thiên chúa chỉ ban phần thưởng thiên đàng cho những kẻ ngay thẳng với lương tâm, can đảm và hành động theo lý trí, chứ không cho những kẻ mù quáng, chỉ vì mối lợi mà hèn nhát đến nỗi bất chấp mọi lý lẽ. Hành động tốt hay xấu của chúng ta quan trọng hơn việc tin hay không tin. Người tốt lành là người ăn ở ngay thẳng, không màng đến kết quả của phần thưởng hay hình phạt. Nếu chúng ta làm điều tốt lành để mong được phần thưởng thiên đàng hay để khỏi chịu hình phạt ở địa ngục thì đó là sự buôn bán đổi chác, đầu tư sòng phẳng không hơn không kém. Điều này cho chúng ta thấy đạo đức và luân lý của người không tin có tiêu chuẩn cao hơn đạo đức và luân lý của người tin.

Richard Dawkins viết, khi Bertrand Russell đối diện với Thiên chúa và được hỏi: “Tại sao ngươi đã không tin Ta hiện hữu?” Russell thành thật ngay thẳng trả lời: “Thưa Ngài, tại vì không có bằng chứng để tôi tin Ngài hiện hữu”. Nếu Thiên chúa có tinh thần của một nhà khoa học – Thiên chúa dĩ nhiên phải có tinh thần khoa học vì chính Ngài được xem như đã thiết kế và tạo dựng vũ trụ – thì Thiên chúa phải biết thưởng thức tính lương thiện trí thức của người hoài nghi như Russell và khinh thường sự hèn nhát của những người chỉ vì lợi mà tin vào điều vô lý. Và khi không biết chắc chắn kết quả thắng cuộc sẽ được ban thưởng hay bị luận phạt nặng nề hơn thì sự đánh cuộc là một việc làm vô nghĩa lý.

Ngoài ra, không phải muốn tin là có thể tin. Tin tưởng không phải là một quyết định của ý chí mà là trạng thái của trí tuệ khi chấp nhận một mệnh đề nào đó. Trạng thái chấp nhận này chỉ đến với chúng ta qua lý luận hợp lý hay khi có các chứng cớ khách quan hỗ trợ. Lý trí nhận thấy điều gì vô lý thì tự động làm mình không tin. Người ta không thể tin tưởng điều vô lý chỉ vì lợi. Người tin vào điều vô lý thực ra chỉ hy vọng và ao ước điều hắn tin là đúng, do động cơ mối lợi, chứ không phải hắn đang tin tưởng thực sự. Niềm hy vọng và ao ước của hắn không làm điều hắn tin chân thật hơn. Hắn có thể đi nhà thờ, lần chuỗi Mân côi, đọc kinh Tin kính, tuyên xưng đức tin, đặt tay lên Kinh thánh để thề v.v… nhưng những thứ đó không làm đức tin của hắn mạnh mẽ hơn nếu hắn đã không tin. Trong trường hợp đó, một dụng cụ điện tử như máy ghi âm lặp đi lặp lại vô hạn lời kinh chắc chắn tốt và có giá trị hơn người đọc kinh.

Đó cũng là lý do tại sao Thiên chúa giáo hay quanh co bàn về niềm hy vọng thay vì bàn thẳng vào đức tin. Hiểu được điều này sẽ làm chúng ta không còn ngạc nhiên và thắc mắc tại sao vẫn thường hay xảy ra những vụ xì căng đan lớn của những giáo sĩ quyền cao chức trọng. Spinoza, triết gia người Đức, cho rằng tin và hiểu thì hoàn toàn giống nhau; trong khi không tin còn phải đòi hỏi một động tác tiếp theo là từ khước, chối bỏ.

Như vậy, nếu không có thể tin tưởng, nắm chắc và thấu hiểu thực sự những điều phi lý thì làm thế nào Thiên chúa thưởng phạt con người dựa theo tiêu chuẩn đức tin? Điều Thiên chúa giáo dạy rằng đức tin là một ân huệ hay tặng phẩm Thiên chúa ban riêng cho mỗi người càng làm sự thưởng phạt trở nên vô nghĩa hơn nữa. Vậy đức tin do giáo dục, không phải là ân huệ hay tặng phẩm.

Nếu Thiên chúa không hiện hữu

Giả định Thiên chúa của Thiên chúa giáo không hiện hữu, và điều này tuyệt đối chắc chắn đúng theo Luận lý học và các khoa học thực nghiệm, thì có phải người tin và người không tin đều không mất mát như nhau? Chúng ta hãy thử xem xét thời gian và công sức một người phải bỏ ra để lo việc tôn thờ và vinh danh Thiên chúa.

Đời người chỉ có trung bình chừng 70-80 năm. Nếu phải dành một ngày trong mỗi tuần cho việc tôn thờ và vinh danh Thiên chúa thì mỗi người phải bỏ phí mất 10 năm. Cho dù có tính toán một cách dè dặt hơn thì cũng phải 7-8 năm của tuổi thọ, hơn cả thời gian học đại học để lấy bằng tiến sĩ. Đó là chưa kể thời gian làm ra tiền bạc để hỗ trợ cho các công việc tôn giáo như xây dựng nhà thờ, nhà xứ, nuôi các giáo sĩ và tu sĩ v.v… Thời gian phí phạm 7-10 năm là một quãng thời gian quá dài nếu biết rằng con người rất bận rộn vật lộn với một đời sống khó khăn, hữu hạn và duy nhất. Nếu huy động thời gian và nguồn lợi tức này để chú tâm lo cho các công việc bác ái thì sẽ hữu ích cho xã hội và con người hơn.

Luận điểm hấp dẫn nhất của Pascal nằm ở chỗ so sánh một bên là “một đời” hiện tại với sinh, lão, bệnh, tử; và một bên là “muôn muôn đời” với hạnh phúc vĩnh cửu. Nếu bạn chỉ cần bỏ ra một đồng VN để có cơ hội 50% thắng “muôn muôn” lần đồng Euro thì sự đánh cuộc quá hấp dẫn, không thể không đặt cuộc. Điều này có nghĩa là ngoài cuộc đời khổ luỵ này, chúng ta còn có vô số cuộc đời tiếp nối khác để hưởng thụ. Hệ quả hai bên không cân bằng của việc đánh cuộc là người ta xem thường mạng sống của mình. Cuộc sống kiếp này chỉ là một cuộc du hành phù du để đi về nhà Chúa, và ở đó, người ta sẽ gặp lại những người thân yêu đã đi trước. Sinh ký tử qui là vậy! Do đó, người ta không lạ lùng gì khi người tín hữu Thiên chúa giáo đã từng hô hào rằng chúng tôi thà vâng lời Thiên chúa hơn là vâng lời người thế gian, hoặc thà mất nước hơn là mất Chúa. Lề luật của tôn giáo được đặt lên trên lề luật của quốc gia, nhất là khi có sự mâu thuẫn giữa hai lề luật. (Ðó là chưa kể đến việc còn có nhiều tôn giáo với những lề luật đối nghịch nhau trong cùng một quốc gia.)

Vụ những người có đức tin tôn giáo hữu thần ám sát các bác sĩ và đặt bom nhà thương có dịch vụ phá thai hợp pháp, vụ cướp hai phi cơ đâm vào hai toà nhà ở World Trade Center thuộc bang New York ngày 11 tháng 9 năm 2001, vụ các khủng bố quân ôm bom nổ ở khắp nơi v.v… tất cả đều có nguồn gốc từ đức tin của những tôn giáo hữu thần trong nhóm độc thần giáo. Những tác nhân của các thảm trạng này đều có niềm tin tưởng không lay chuyển rằng đó là con đường ngắn nhất để đi đến thiên đàng, nơi có các cô trinh nữ đang chờ đợi mà Thiên chúa đã hứa ban thưởng cho họ, những người chết cho đạo giáo. Không có một phản lực nào có thể chống đỡ nỗi sức mạnh của niềm tin tưởng cuồng tín vào tôn giáo.

Người ta có thể lập luận rằng đó là những người theo chủ nghĩa cực đoan, cuồng tín, giáo điều vì tin tưởng sai lầm, không phải là những người có đức tin đúng đắn. Nhưng làm thế nào để có thể bào chữa được rằng đức tin của bạn đúng đắn hơn đức tin của họ nếu không có một tiêu chuẩn nào để so sánh? Một khi lý trí đã bị vứt bỏ để tin vào điều vô lý thì người ta không còn có thể nói chuyện theo lý lẽ. Và hậu quả của một quốc gia không thượng tôn pháp luật tất nhiên sẽ dẫn đến bất ổn, loạn lạc và chiến tranh, nguồn gốc của biết bao sự dữ.

Sự thực dụng của niềm tin hữu thần:

Như vậy, những điều bất lợi do niềm tin tôn giáo hữu thần mang lại rõ rệt nhiều và nghiêm trọng hơn những điều lợi. Bằng chứng ngày 23.12.2006, báo The Guardian đã đăng kết quả một cuộc nghiên cứu thăm dò về các tôn giáo ở Anh quốc, một quốc gia có một thời nhận Anh giáo Tin lành là quốc giáo nhưng ngày nay có tới 2/3 dân chúng tự nhận mình là người không tin (non-believers), ghi nhận rằng 82% dân chúng được phỏng vấn trên 18 tuổi đều tin rằng tôn giáo làm hại hơn làm lợi (religion does more harm than good), là duyên cớ gây chia rẽ và căng thẳng giữa con người với nhau (they see religion as a cause of division and tension between people). Chỉ có 16% dân chúng nghĩ tôn giáo có lợi cho con người và xã hội. [4]

Còn một cuộc nghiên cứu thăm dò khác trên trang báo điện tử About.com đặt câu hỏi rằng nếu bạn phải đánh cuộc theo Pascal, bạn sẽ đặt đời bạn ở tôn giáo nào? Có 30% trả lời rằng họ không thiết tha đặt đời mình đánh cuộc theo bất kỳ tôn giáo nào; 34% chọn một tôn giáo vô thần có lẽ như Phật giáo (atheistic religion like maybe Buddism); chỉ có 17% chọn Thiên chúa giáo. [5] Tôn giáo vô thần ở đây phải hiểu là tôn giáo trong đó không có chỗ đứng của một Thượng đế sáng tạo, đối nghịch với các tôn giáo hữu thần trong hệ thống độc thần giáo.

Nhưng cho dù niềm tin hữu thần, bất kể đúng hay sai, có thể mang đến những điều tốt lành cho xã hội, đó vẫn không phải là lý do chính đáng để áp đặt lên đầu lên cổ mọi người dân. Nhân danh giá trị lợi ích thực dụng của nó, chính quyền sẽ không ngần ngại thực hiện mọi biện pháp trấn áp, vi phạm những quyền căn bản của con người, miễn sao mang lại điều tốt lành cho xã hội. Đó là một chính sách sai lầm lớn mà chúng ta đã nhận thấy trong suốt chiều dài của lịch sử qua những việc như kiểm duyệt, đốt sách vở, trù dập, bắt bớ, thủ tiêu, nướng sống các phù thủy và khoa học gia, thánh chiến, v.v… Những thủ đoạn áp bức hay dụ dỗ cải đạo thiên hạ, hay nhẹ nhàng hơn, những phương cách truyền giáo của Thiên chúa giáo chính là những cố gắng áp đặt niềm tin dựa trên lý do hiệu quả tốt, bất chấp niềm tin đó có chân thật hay không. Chúng ta không thể lấy cứu cánh để biện minh cho phương tiện, huống hồ cái cứu cánh tốt lành mơ hồ của niềm tin tôn giáo hữu thần lại đang là một câu hỏi lớn bên cạnh 7 núi tội mà Thiên chúa giáo đã công khai xin lỗi với toàn thể nhân loại.

Kết luận

Tóm lại, nếu theo Pascal đặt cuộc thì chúng ta sẽ chịu nhiều thiệt thòi hơn ở đời này và còn thê thảm hơn ở đời sau, nếu có, bởi phần thưởng thiên đàng sẽ thuộc về người lương thiện, ngay thẳng, không tin; còn địa ngục thì dành cho kẻ mù quáng, những người chỉ vì lợi mà bất chấp mọi lý lẽ. Một khi không biết chắc chắn kết quả thắng cuộc sẽ được ban thưởng hay bị trừng phạt nặng nề hơn thì sự đánh cuộc là một việc làm hoàn toàn vô nghĩa. Hơn nữa, sự hiện hữu của Thiên chúa với những thuộc tính mâu thuẫn loại trừ nhau là điều tuyệt đối không thể có theo Luận lý học, và do đó, cũng chắc chắn không thể có theo các bộ môn khoa học thực nghiệm. Mối lợi mà Pascal tin tưởng đã được dựa trên những tiền đề giả định hoang tưởng.

Việc nêu ra mối lợi để tin tưởng mà không cần bằng chứng cũng giống như việc tin tưởng rằng có một viên kim cương to lớn bằng cái tủ nằm rất sâu trong vườn để rồi bỏ công sức cả đời ra đào xới, tìm kiếm. Nếu tìm được viên kim cương đúng như mình luôn luôn hy vọng và tin tưởng bằng một đức tin không lay chuyển thì đời mình chắc chắn sẽ được sung sướng và hạnh phúc lắm. Phải chăng đó cũng là mối lợi lớn chúng ta nên theo đuổi với bất cứ giá nào?

Như vậy, chúng ta có thể khẳng định được rằng không cần phải tin có Thiên chúa, cũng chẳng cần phải sợ hình phạt địa ngục, hay phải ham muốn mối lợi phần thưởng thiên đàng, chúng ta vẫn có thể sống tử tế và tốt lành như những con người cao quí có phẩm giá. Chúng ta chỉ có một cuộc đời hiện tại để sống thật trọn vẹn với nó, chẳng cần mơ ước một cuộc đời nào khác để rồi phải chạy theo, sống với những ảo tưởng trong suốt cuộc đời này. Quá khứ cũng giống như món tiền đã xài rồi, còn tương lai là những giấy nợ chưa chắc có thể thanh toán. Chỉ có hiện tại mới là món tiền tươi mà mình có thể sử dụng ngay bây giờ.

Và mục đích của chúng ta nhắm tới là hạnh phúc ở ngay cõi đời này, nó gắn bó mật thiết với hạnh phúc của những người xung quanh chúng ta; chứ chẳng phải là làm vinh danh Thiên chúa để mong có được phần thưởng bánh vẽ thiên đàng. Đối tượng phục vụ của chúng ta là con người và cuộc đời cụ thể này, không phải là ý niệm Thiên chúa, chỉ có trong tưởng tượng.

Chúng ta là những ký sinh trùng li ti bám víu vào một hành tinh vô nghĩa, trôi lơ lững như hạt bụi trong không gian vô tận. Bạn nghĩ bạn là ai mà có thể làm “vinh danh Thiên chúa trên các tầng trời”, hay làm “rạng danh Cha cả sáng”, đấng toàn năng, toàn trí, đã tạo dựng vũ trụ và muôn loài?


[1] Richard Dawkins – The improbability of God http://www.secularhumanism.org/ library/fi/dawkins_18_3.html

Richard Dawkins – Không thể có Thượng đế, Trần Tiên Long dịch. http://www. talawas.org/talaDB/showFile.php?res=8847&rb=0303

Quentin Smith – Two Ways to Prove Atheism (1996). http://www.infidels.org/ library/modern/quentin_smith/atheism.html

Quentin Smith – Hai lối chứng minh không có Thượng đế, Thích Bình Thường dịch. http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=3578&rb=0303

[2] Stephen W. Hawking and Leonard MlodinowThe Grand Design, Bantam Press, 9/9/2010.

[3] Pope to end doctrine of Limbo. http://www.religionnewsblog.com/16159/pope-to-end-doctrine-of-limbo

[4] Religion does more harm than good-Poll. http://www.guardian.co.uk/uk/2006/ dec/ 23/religion.topstories3

[5] Poll Results. http://atheism.about.com/gi/pages/poll.htm?linkback=http%3A%2F%2 Fatheism.about.com%2Flibrary%2Fpolls%2Fblpoll_rel0001.htm&poll_id=6536398568&poll= 2&submit1=Submit+Vote


 

Trao đổi với ông Nguyễn Hoài Vân

Trần Tiên Long

16/1/2011

LTS:

 Rất hiếm thấy được một cuộc đàm thoại lành mạnh và trí thức như sau trên các hộp thư chung của người Việt ở hải ngoại. Lần đầu tiên trong quá nhiều năm, độc giả được nghe hai bên trao đổi trong một đề tài mà bản chất thường khó nằm gọn trong khuôn khổ của nó, triết học liên quan đến tôn giáo nhưng lại không bị đánh lạc sang góc độ nhạy cảm, và tuyệt nhất là được biệt lập khỏi lăng kính hay thái độ chính trị. Đây thật là một món quà vừa làm tươi mát cho cuộc sống trí tuệ, vừa đem lại thêm kiến thức cho một số độc giả, vừa làm gương tiêu biểu cho tư cách trong cuộc thảo luận. SH hân hạnh được đăng mẫu chuyện trao đổi đầy thú vị này. (SH)


 

Trước hết, tôi xin chân thành cám ơn ông Nguyễn Hoài Vân (NHV) đã bỏ thì giờ để đọc bài Tôi không theo Pascal và đặc biệt đã chia sẻ những ý kiến trong tinh thần thân thiện liên quan đến những gì tôi viết. Đối với tôi, trao đổi với tất cả mọi người luôn luôn là một niềm vui và vinh hạnh.

Phần nhiều, những góp ý của ông NHV là để đưa ra những quan điểm trái nghịch nhưng không cho đọc giả chúng tôi biết ông theo quan điểm nào, và tại sao. Tôi tin chắc là ông cũng không theo những quan điểm mà ông đã đưa ra vì rõ ràng chúng đã lỗi thời và đã từng bị nhiều triết gia vạch ra những sai lầm. Chẳng hạn quan điểm của St. Augustino, một thánh cả đã đặt nền tảng cho Thiên chúa giáo, về nhiều vấn đề thần học như tội tổ tông, tín điều Đức mẹ vô nhiểm nguyên tội, Chúa cứu thế, Thiên chúa ba ngôi; và về những vấn đề xã hội như vị thế của người đàn bà trong gia đình và xã hội, quan điểm về nô lệ, về tình dục v.v… Tiểu sử cuộc đời của St. Augustino cho chúng ta biết ông là một người sa đọa và có nhiều ám ảnh về tình dục, và nhiều quan điểm của ông được người thời nay xem như là hoang tưởng, hay tệ hại hơn, là trái nghịch với luân lý và đạo đức.

Vấn đề Thượng đế là một vấn đề nhạy cảm và hiếm khi có sự đồng thuận. Khi chúng ta bàn về vấn đề này thì trước tiên chúng ta phải xác định từ Thượng đế định bàn nằm trong ý nghĩa nào. Bài Tôi không theo Pascal đã được viết về một Thượng đế có nhân tính (personal God) của Thiên chúa giáo còn được gọi là Thiên chúa.

Ông NHV bàn về rất nhiều vấn đề trong một bài viết, vậy ở đây tôi chỉ xin trả lời một cách vắn tắt, cố gắng đề cập đến nhiều vấn đề ông đã nêu ra nên không thể đi sâu vào chi tiết.

Ý niệm về Thượng đế

Tôi đã có dịp vào trang nhà của ông và rất khâm phục những tư tưởng tiến bộ và tự do của ông khi bàn về Thượng đế. Những gì ông bàn về cầu nguyện như là “nhắc tuồng” một Thượng đế toàn năng toàn trí, hay thực ra là “ta chỉ thờ ta”, thì thật là chính xác, khó có thể phủ bác. Nhưng rõ ràng ông vẫn cố ý vớt vát trong vô vọng về sự hiện hữu của một Thượng đế, cho dù Thượng đế theo cách ông hiểu hoàn toàn không phải là Thượng đế có nhân tính của Thiên chúa giáo.

 

Sir Edward Tylor hình thành định nghĩa của vạn vật hữu linh (thuyết vật linh).

Quan điểm của ông về ý thức (consciousness) nằm trong mọi sự vật có nguồn gốc từ thuyết Duy linh (Animatism: the attribution of consciousness and personality to natural phenomena such as thunderstorms and earthquakes and to objects such as plants and stones) hoặc thuyết Vật linh (Animism: the doctrine that all natural objects and the universe itself have souls; animism is common among primitive peoples), những học thuyết của người sơ khai từ thời Thượng cổ khi con người chưa biết khoa học. Khi suy diễn cho tới một ý thức cuối cùng mà ông gọi là Ý Thức Thuần Túy, ông đã xem đó như là Thượng đế. Đây chính là Thượng đế của các nhà khoa học như là nguyên nhân đầu tiên mà tôi đã trình bày trong bài Tôi không theo Pascal.

Quan điểm của tôi thì hoàn toàn trái nghịch, vì tôi không tin có một ý thức nằm trong sự vật. Ý thức là của con người gán cho sự vật chứ chẳng có ý thức nào nằm trong sự vật, cho dù là tiềm thức hay vô thức. Nếu con người không có khối óc vật chất thì sẽ không có ý thức. Những hiện tượng thiên nhiên như sóng thần, động đất, mưa bão, v.v… ngày nay không còn được tin như là do chủ ý hay ý thức của một siêu sinh vật nào nữa.

Hơn nữa, khi ông suy diễn tới một ý thức cuối cùng thì rõ ràng ông đang áp dụng lập luận thiết kế thông minh (intelligent design argument), bởi vì ý thức cuối cùng đó, hay điều mà ông gọi là Ý Thức Thuần Túy, lại nằm ngoài sự vật từ vô thủy vô chung, trước khi vũ trụ và muôn loài được sáng tạo. Như vậy, câu hỏi “ai đã tạo ra Thượng đế hay Ý Thức Thuần Túy” vẫn chưa có câu trả lời. Tại sao vũ trụ cần phải có nguyên nhân đầu tiên mà Ý Thức Thuần Túy không cần phải có nguyên nhân đầu tiên? Tại sao Ý Thức Thuần Túy có thể tự sinh mà vũ trụ không thể tự sinh? Vậy đây chính là bình mới nhưng vẫn chứa rượu cũ. Chỉ cần đổi ý thức thành phạm trù nhân quả (causation) và Ý Thức Thuần Túy thành nguyên nhân đầu tiên (first cause) thì chúng ta sẽ trở về với lập luận thiết kế thông minh, một phó sản của thuyết sáng tạo.

Đức tin và Hồng ân,

Thiên chúa giáo dạy rằng đức tin là tặng phẩm hay hồng ân của Thiên chúa ban riêng cho mỗi người. Đó là lý do tại sao khi chúng ta được rửa tội, linh mục chủ tế hỏi chúng ta xin điều gì từ Thiên chúa. Người đỡ đầu (god father) của chúng ta trả lời rằng, xin nhân đức tin.

Quan điểm của tôi thì cho rằng, đức tin là do giáo dục, chẳng phải là một tặng phẩm cho không. Người ta có thể giáo dục một người tin theo điều mình muốn rất dễ dàng nếu cứ tiếp tục nhồi sọ họ ngay từ khi mới sinh ra. Nếu tôi sinh ra trong một gia đình Công giáo và được giáo dục theo Công giáo thì tôi sẽ có đức tin Công giáo. Hoặc nếu tôi sinh ra trong một gia đình Phật giáo và được giáo dục theo Phật giáo thì tôi sẽ là một Phật tử. Một điều, cho dù có vô lý đến cỡ nào, nếu cứ được khéo léo tuyên truyền không ngừng thì sẽ có vô số người tin theo.

Nếu hiểu đức tin do hồng ân thì sẽ đưa đến rất nhiều vấn nạn không có giải đáp. Tặng phẩm hay hồng ân là một quyền lợi, không phải là một bổn phận, nên ai ai cũng có quyền từ chối. Vậy tại sao Thiên chúa giáo dạy rằng những người tin Thiên chúa thì sẽ được hưởng phần thưởng thiên đàng, còn những người không tin thì sẽ bị đày xuống địa ngục đời đời kiếp kiếp? Có bao giờ cha mẹ tặng một cái gì cho con cái và dí súng dọa rằng nếu mày không nhận thì tao sẽ giết mày? Chẳng lẽ Thiên chúa nhân từ vô cùng mà chúng ta tôn thờ lại có trái tim độc ác hơn con người? Đó rõ rệt là thủ đoạn đe dọa làm cho con người sợ hãi và chính nó là nguồn gốc của đức tin.

Hơn nữa, nếu đã là tặng phẩm hay hồng ân ban riêng thì sự thưởng phạt không còn có ý nghĩa gì nữa, bởi vì sự thưởng phạt đã không được đặt trên căn bản công trạng.

Khoa học và đức tin

Đức tin là tin vào điều vô lý và không có khoa học nào dạy chúng ta tin vào những điều vô lý. Nếu không phải là điều vô lý thì chẳng cần đến đức tin. Điều nguy hiểm nằm ở chỗ là bất kỳ tôn giáo nào cũng có thể nại cớ đức tin để bắt tín đồ tin theo bất cứ điều vô lý nào. Những cố gắng của những nhà tôn giáo hữu thần biện minh cho đức tin tôn giáo của họ đều có thể áp dụng để biện minh cho bất kể đức tin của bất kỳ tôn giáo nào. Điều chúng ta đang tin có gì chân thật hơn điều những người khủng bố ôm bom nổ đang tin?

Bởi vậy, tôi cũng có thể bảo đảm được rằng, nếu chúng ta tôn thờ và cầu nguyện nơi con kỳ lân mầu tím vô hình (pink invisible unicorn) bằng một đức tin không lay chuyển như chúng ta đang tôn thờ và cầu nguyện nơi Thiên chúa, thì chúng ta cũng sẽ nhận được những điều từ con kỳ lân giống như những điều chúng ta nhận được từ Thiên chúa. Điều đó cho chúng ta biết rằng Thiên chúa chỉ là sản phẩm tưởng tượng của con người, cũng giống như con kỳ lân, không hơn không kém. Những lập luận cố gắng chứng minh cho sự hiện hữu của Thiên chúa đều hoàn toàn có thể áp dụng để chứng minh cho sự hiện hữu của con kỳ lân. Mặc dù vậy, trên đời chẳng có ai tin con kỳ lân nhưng lại có vô số người tin Thiên chúa. Vậy đó chính là kết quả của giáo dục và tuyên truyền.

Các phép lạ, điều trái nghịch với các định luật của thiên nhiên, thì ở trong tôn giáo hay thần thoại nào cũng có. Đức tin trong bản chất không thể đi đôi với khoa học. Những cố gắng giải thích đức tin cho có vẻ khoa học thực ra chẳng có chút gì là khoa học.

Vấn đề hạnh phúc

Vấn đề này tôi đã minh xác ở phần kết luận trong bài Tôi không theo Pascal. Điều rõ ràng không thể chối cãi là hiện nay đang có những người vô thần sống rất hạnh phúc và đóng góp rất nhiều cho phúc lợi xã hội; và ngược lại, cũng không thiếu những người hữu thần lại có một cuộc sống không hạnh phúc và làm hại cho xã hội. Hạnh phúc là một vấn đề cá nhân, tại tâm, và người vô thần hay hữu thần đều có cái tâm của một con người.

Người tốt thì làm những điều tốt, còn người xấu thì làm những điều xấu. Chỉ có tôn giáo hữu thần mới biến người tốt làm điều xấu mà họ cứ tưởng là tốt lành vì nhân danh đức tin và tôn giáo của họ. Chứng minh? Xin cứ nhìn những tên khủng bố ôm bom nổ, các cuộc thánh chiến, tòa án xử dị giáo, thiêu đốt phù thủy v.v… Tất cả đều phát xuất từ đức tin của những người tốt lành theo Thiên chúa giáo hữu thần.

Đức tin và vấn đề thiện ác

Ông NHV lập luận rằng “Khi anh thích làm một chuyện được coi là “xấu”, thì vì lý do gì anh phải chọn hy sinh sự khoái lạc của mình để làm điều tốt, thay vì làm điều xấu, nếu không có một sự thưởng phạt mà anh không thể tránh được, sẽ đuổi theo anh ngay cả sau khi chết ? Nếu cuộc sống thực sự chấm dứt khi từ trần, ai cũng như ai, thì việc gì tôi phải hy sinh cho bất cứ lý do gì?”

Xin trả lời: Đó là vấn nạn của những người hữu thần, không phải của những người vô thần. Người vô thần chẳng cần tin có sự thưởng phạt sau khi chết mà họ cũng vẫn làm những điều tốt lành cho xã hội. Hãy xem những việc làm từ thiện của Bill Gates, chủ nhân của Microsoft Corp, một nhà vô thần đã đóng góp tài chánh nhiều nhất cho những công việc bác ái, từ thiện. Xin xem danh sách những nhà vô thần nổi tiếng ở cái link sau:

http://celebatheists.com/wiki/Main_Page

Vậy chúng ta nên có sự phân biệt giữa tôn giáo và đạo. Không phải ai ai cũng có một tôn giáo để theo; nhưng tất cả mọi người đều có một đạo, ít nhất là đạo làm người. Nếu đã xác định hạnh phúc của chúng ta liên hệ mật thiết với hạnh phúc của những người xung quanh thì hành động làm việc thiện của các nhà vô thần thật dễ hiểu. Hạnh phúc đời này thì ai ai cũng cảm nhận rành rành trước mắt, còn hạnh phúc đời sau thì chỉ là chiếc bánh vẽ. Làm điều thiện vì bất cứ lý do gì cũng đều đáng khuyến khích.

Vai trò của hiện hữu phản vật chất

Ông NHV gọi “anti-matter” là phi vật chất. Theo tôi, đúng hơn, nên gọi đó là phản vật chất vì nó đi đôi với vật chất như hình với bóng. Tĩnh từ “phi” làm cho người ta hiểu lầm như là một thứ gì không có thật. Người ta đã thử nghiệm chứng minh được sự hiện hữu của anti-electron và anti-proton. Điều quan trọng ở đây là phản vật chất cũng vẫn hoàn toàn tuân theo các định luật của thiên nhiên, chẳng hạn như nguyên lý bảo tồn khối lượng, năng lượng, momentum, định luật E=mc2 của Einstein, chứ không có một siêu sinh vật nào can thiệp vào tiến trình phản ứng của nó. Câu nói của Einstein rằng “nếu bạn làm cùng một việc và theo cùng một cách thức thì bạn sẽ luôn luôn có kết quả như nhau. Nếu bạn có kết quả khác có nghĩa là bạn đã làm việc khác hoặc theo một cách thức khác” cho tới ngày nay vẫn luôn luôn đúng.

Những thứ mà ông NHV đề cập, chẳng hạn như âm thanh, ngôn ngữ, ý thức, suy tưởng, cảm nhận, trí nhớ… tất cả đều là những thuộc tính (properties) của vật chất, hay sản phẩm của con người vật chất, không phải là những thực thể (entities) độc lập, riêng biệt. Những thứ đó chẳng chứng minh được rằng có một siêu sinh vật đứng phía sau để điều khiển theo ý muốn của siêu sinh vật đó mà chúng ta gọi là Thiên chúa. Tất cả đều vận hành, tuân theo những định luật máy móc, tự nhiên, mà nhà Phật gọi là duyên khởi. Chúng đều là kết quả của vật chất trong thiên nhiên khi vận hành, chứ không hề độc lập với vật chất.

Nếu ý thức độc lập với vật chất thì nó phải có ý chí tự do. Cho đến bây giờ, chưa có một bộ môn khoa học nào xác định được rằng có những hiện tượng không tuân theo những những định luật của thiên nhiên. Mọi sự xảy ra trong trời đất đều có nguyên nhân tự nhiên, chẳng phải do ý muốn tự do của một sinh vật thiêng liêng nào.


From: thaoluan9@yahoogroups.com [mailto:thaoluan9@yahoogroups.com] On Behalf Of NGUYEN Hoai Van
Sent: Saturday, January 08, 2011 3:24 PM
To:
nhiều địa chỉ và thư nhóm…
Subject: [Thaoluan9] Re: TÔI KHÔNG THEO PASCAL

……Xin cảm ơn anh Hoàng Thúc Long đã gửi cho bài viết giá trị này. Xin có vài đóng góp với tác giả Trần Tiên Long và quý anh chị quan tâm đến vấn đề :

Đức Tin và Luận Lý học – Quan điểm “Hồng Ân”

Về Đức Tin, người Ky Tô giáo cũng biết là nó vô lý, nên trên nguyên tắc thường không tìm cách lý luận để chứng minh nó. Augustin nói : “tôi tin (Chúa) vì điều ấy vô lý” (Je crois parce que c’est absurde) hay :”Hãy tin rồi sẽ hiểu, đức tin đến trước, trí tuệ theo sau”. Một câu khá bí hiểm của Jean de la Croix cũng đáng được lưu ý : “Với sự tăm tối của nó, Đức Tin làm sáng lạn sự tăm tối của tâm hồn” ! (Nuits obscures) (1)

Một cách bình thường, chúng ta không « tin » vào sự hiện hữu của màn hình máy vi tính trước mặt mình. Chúng ta chỉ có thể « tin » vào một điều đáng làm cho chúng ta nghi ngờ, kiểu như «  hiện có một người mặc áo trắng thắt cà vạt đỏ đang ngồi ăn phở trong một căn nhà màu xanh trên … sao Hỏa ! » … Vì thế nhà Phật nhấn mạnh đến Đại Nghi Tình (Đại nghi đại ngộ, tiểu nghi tiểu ngộ, bất nghi bất ngộ) trước Đại Tín Tâm (xem : http://nguyenhoaivan.com/ default.asp?do=news_detail&id=132&kind=1 – chép dán link vào navigator).

Tuy nhiên, làm sao để tin được một điều vô lý ? Làm sao một sự tăm tối có thể soi sáng một sự tăm tối, như lời Jean de La Croix ? Nói cách khác, làm sao thắng được một sự hoài nghi “hợp lý” ? (2) Để giải quyết vấn nạn này, thần học đề ra khái niệm “hồng ân“. Theo Augustin, hồng ân được ban cho một số (ít) người (massa praedestinati), khiến họ có Đức Tin. Những người này sẽ được cứu rỗi. Quý vị khác (massa perditionis), được mời tham quan Hỏa Ngục cho đến … vĩnh cửu !

Đức Tin có tính toán của Pascal không phải là một quan điểm được Thần Học công nhận. Bản thân Pascal cũng không giữ quan điểm ấy lâu năm. Ông viết, ngày 23 tháng 11, 1654 : “Lửa ! Thiên Chúa của Abraham, của Jacob, của Isaac, không phải của các nhà khoa học hay triết gia” (Feu. Dieu d’Abraham, Dieu d’Isaac, Dieu de Jacob, pas des philosophes ni des savants). Ông đặt Thiên Chúa ra khỏi phạm trù lý luận. Trường phái Jansenisme mà Pacal là một thành viên cũng hướng theo quan điểm về Hồng Ân như Augustin.

Vấn đề Hạnh Phúc

Về sự « uổng phí cuộc đời » nếu tin theo một tôn giáo là một vấn nạn cổ điển. Đức Ky Tô đã khẳng định vương quốc của ngài « không thuộc thế gian này », rằng « vua của thế gian » không ai khác hơn là Ma Quỷ … Tức là hạnh phúc không thuộc đời này, mà ở đời sau. Tuy nhiên, quan điểm này khi gặp gỡ trường phái Stoicisme thịnh hành ở La Mã vào những năm đầu của công nguyên, thì đưa đến ý niệm hạnh phúc trong niềm tin, trong sự vâng phục Thiên Chúa, bất chấp những khó khăn của  sống, tức là ngay trong hiện tại. Phái stoicisme (khắc kỷ) từ chối mọi lạc thú, coi việc can đảm làm đúng bổn phận của mình là niềm vui. Hoàng Đế Marc Aurele cho rằng sự buồn đau không phải là buồn đau mà là niềm vui, niềm vui đã can đảm chịu đựng được chúng (4). Thánh Paul cũng khuyên người nô lệ nên tiếp tục làm nô lệ, dù cho mình có thể thoát khỏi tình trạng ấy, vì đó là ý Chúa (1 Corinthien,VII, 17-23). Như các nhà khắc kỷ, Paul coi sự chấp nhận là hạnh phúc … Người theo Ky Tô Giáo còn có một lý do khác để cảm thấy hạnh phúc, đó là « tin mừng » mà họ được đón nhận từ đức Ky Tô. Niềm vui ấy được bổ xung bằng nỗ lực chia sẻ nó với mọi người khác. Tâm lý học cho biết chia sẻ một niềm vui với người khác giúp tăng cường niềm vui ấy.

Khoa Học trước Đức Tin

Thái độ phủ định của khoa học trước vấn đề đức tin là điều không cần thiết, vì nó hiển nhiên. Chính những người mang Đức Tin cũng công nhận là niềm tin của họ vô lý (lời Augustin trích dẫn ở trên). Một trong những thái độ thích nghi của khoa học trước vấn đề Đức Tin, hay Thiên Chúa, là khảo sát những vấn đề ấy trên quan điểm nhân chủng, khảo cổ, xã hội và tâm lý học, để tìm xem những gì quy định chúng, và những quy luật vận hành chúng. Đứng trên quan điểm khoa học, đó là những hiện tượng, cần được khảo sát như mọi hiện tượng, với những ảnh hưởng tiên liệu được trên hệ thống tương quan xã hội (xem TƯƠNG LAI TÔN GIÁO TRONG XÃ HỘI HẬU TÂN TIẾN – http://nguyenhoaivan.com/default.asp?do=news_detail&id=433&kind=10 – chép dán link vào navigator).

Đức Tin và vấn đề Thiện Ác

Vấn đề “đạo đức” mà tác giả đề ra trong bài, hoàn toàn chính đáng. Người tin Chúa có thể tốt lành được hay không ? Rất khó ! Vì người ấy thực sự tốt lành, hay chỉ tốt lành vì sợ bị Chúa trừng phạt, vì muốn dành một chỗ tốt trên thiên đàng, hay vì muốn được hưởng “ơn phước” nơi trần gian ? Ngược lại, một người không tin Chúa có thể tốt lành được không ? Cũng không phải dễ ! Kant nói : không ai làm điều xấu vì sự xấu, mà vì sự khoái lạc của mình, tức là một điều tốt (on ne fais pas le mal pour le mal, mais pour son plaisir, ce qui est un bien). Khi anh thích làm một chuyện được coi là “xấu”, thì vì lý do gì anh phải chọn hy sinh sự khoái lạc của mình để làm điều tốt, thay vì làm điều xấu, nếu không có một sự thưởng phạt mà anh không thể tránh được, sẽ đuổi theo anh ngay cả sau khi chết ? Nếu cuộc sống thực sự chấm dứt khi từ trần, ai cũng như ai, thì việc gì tôi phải hy sinh cho bất cứ lý do gì ? Có thể nào một người lính Cộng Sản, vô thần và duy vật « trong bản chất », luôn tin tưởng rằng con người chỉ là « vật chất động », sẽ chết như chó chết, lại sẵn sàng xung phong trước lằn đạn của đối phương ? Để làm gì ? Nhân chủng cũng như khảo cổ học, cùng với thuyết tiến hóa, và trong ngắn hạn, neuroscience, có thể giải thích được phần nào điều này. Tôi có trình bày sơ qua trong bài : « Thượng  Đế và Thần Linh được tạo ra như thế nào ? » (http://nguyenhoaivan.com/default.asp?do=news_detail&id=388&kind=10)

Vai trò của hiện hữu phi vật chất

Vấn đề một sự hiện hữu phi vật chất cũng là một đề tài lý thú. Vật chất vẫn còn nhiều bí ẩn đối với khoa học. Ít nhất là ba vấn đề lớn vẫn còn chưa được giải đáp : vấn đề « phản vật chất » (3), vấn đề vật chất « tối », và vấn đề năng lượng của chân không.  Tức là chúng ta chưa biết rõ vật chất như thế nào (có khi nào thực sự biết rõ được hay không ?), và cũng chưa biết rõ những gì « bên cạnh » vật chất. Ngoài ra, có những sự hiện hữu « phi vật chất », nhưng lại có một vài trò rất quan trọng. Thí dụ  âm thanh là một hiện tượng vật lý, nhưng muốn trở thành tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, thì phải cần đến ngôn ngữ, là một hiện tượng phi vật chất. Nếu không nắm được ngôn ngữ, như trường hợp anh em chúng mình rủ nhau nghe một chương trình phát thanh bằng tiếng Swahili, thì âm thanh nhận được chỉ là những tiếng động vô nghĩa, không thể là một bài thơ, một câu chuyện, một bản tin (5) … Chúng ta biết rằng ý thức, suy tưởng, cảm nhận, trí nhớ v.v… đến từ những phản ứng điện lực và hóa học của hệ thần kinh. Thật ra những hoạt động có tính cách vật lý ấy có đủ để tạo ra tất cả những gì sinh hoạt tâm trí của chúng ta hay không ? Phải chăng chúng cũng chỉ như những âm thanh, còn cần phải có một « ngôn ngữ », tức một cái gì phi vật chất, để thực sự làm ra được tư tưởng, cảm xúc, v.v… ? Tôi đã đề cập đến vấn đề này trong bài « Ontogenese et Phylogenese » (http://pagesperso-orange.fr/nguyen.hoai.van/ontogenese_et_phylogenese. htm) sẽ được dịch sang tiếng Việt trong một ngày gần đây (bản tóm tắt tiếng Việt : http://nguyenhoaivan.com/default.asp?do=news_detail&id=118&kind=1 )

Một quan điểm về sự đồng nhất giữa Thiên Chúa với vật chất cũng cần được ghi nhận. Ấn Giáo cho rằng mọi sự hiện hữu đều là thể hiện của Brahma. Spinoza cho rằng Thiên Chúa là toàn bộ thế giới tự nhiên (Deus sive Natura). Như thế, nhà khoa học, khi nghiên cứu vật chất, cũng chính là tìm hiểu … Thiên Chúa ! Dung hòa hai quan điểm vừa kể, chúng ta có thể nghĩ rằng vật chất và những gì quanh nó, là những hiện tượng tương tự như âm thanh trong một tiếng nói, còn cần đến một yếu tố phi vật chất như ngôn ngữ để mang một ý nghĩa, để trở thành cái thế giới mà chúng ta thường cảm nhận hàng phút, hàng giây …

Các vấn đề này thực sự không dễ, ít ra là đối với tôi. Nên xin chia sẻ một cách rất khiêm nhượng với quý anh chị, và đặc biệt với tác giả Trần Tiên Long, nhân được đọc và cảm phục bài viết của anh. Mong sẽ được đón nhận những ý kiến của anh Long và quý anh chị.

Nguyễn Hoài Vân

8 tháng 1 năm 2010

Chú thích :

(1) Câu này ngược lại với surate “Noor al noor” (ánh sáng của ánh sáng) của kinh Coran : ánh sáng trí tuệ của Thiên Chúa soi sáng trí tuệ của con người.

(2) Trên thập giá, khi kêu lên “sao Chúa bỏ tôi ?”, đức Ky Tô cũng phát biểu một sự hoài nghi to lớn, chứng minh cho nhân tính của ngài (là người thật – và đồng thời là Thiên Chúa thật – chứ không phải là Thiên Chúa giả trang làm con người).

(3) Cơ quan CERN vừa lưu giữ được trong 1 phần 10 của 1 giây, 38 phản nguyên tử Hyrogen. Nếu sự tiến bộ này được duy trì thì người ta sẽ có thể nghiên cứu những đặc tính của phản vật chất, như ảnh hưởng của lực hấp dẫn trên chúng (được « buông ra », chúng sẽ « rơi xuống » hay sẽ « bay lên » ?)

(4) Ông viết, trên bờ sông Danube, giữa một cuộc chinh chiến rất hãi hùng (phim « Gladiator » với Russel Crowe hay « The fall of the roman empire » với Sophia Loren …) : A propos de tout ce qui provoque en toi la tristesse, souviens-toi d’user de ce dogme: non seulement ceci n’est pas un malheur, mais c’est un bonheur de le supporter avec courage – Marc Aurèle.

(5) Bất quá hiểu được câu « hakuna matata » nhờ xem « Lion King » …

(xin đọc bài đáp lời của Trần Tiên Long ở trên)

From: thaoluan9@yahoogroups.com [mailto:thaoluan9@yahoogroups.com] On Behalf Of NGUYEN Hoai Van
Sent: Thursday, January 13, 2011 8:08 PM
To: nhiều địa chỉ và thư nhóm…
Subject: [Thaoluan9] Re: [ChinhNghiaViet] Trao đổi với ông NHV về bài “Tôi không theo Pascal”

Kính thưa anh Trần Tiên Long,

Xin cảm ơn bài trả lời của anh. Anh nghĩ đúng : tôi không có một lập trường cố định, và những gì tôi trình bày chỉ là sự liệt kê những biện minh có thể có, cho các vấn đề được đưa ra. Riêng tôi, thành thực mà nói là tôi có thể đào xâu vài giả thuyết mà tôi thấy thích thú, nhưng bảo là “theo”, thì đúng là một ngưỡng cửa mà tôi chưa bước qua được ! 

Thí dụ hôm nay tôi có nói chuyện về các cách chứng minh Thượng Đế. Tôi trình bày các lập luận như “preuve ontologique” (bằng chứng “bản thể”), của Anselme, Descartes v.v.., lập luận của Berkeley, ý tưởng về “Thiên Chúa của Whitehead” (một nhà toán học), ý tưởng về một “trạng thái tri hành” gắn liền với vật chất ở mọi trình độ, tôi suy ra từ cấu trúc chủ nghĩa và lý thuyết của Saussure về ngôn ngữ, giả thuyết “ý thức” độc lập với vật chất (có khi tôi dùng đến trong tâm lý trị liệu), và vài thứ linh tinh khác … Chắc chắn còn nhiều lý thuyết khác mà tôi chưa được biết.

Lập luận để phủ nhận Thượng Đế thì không có gì cần khai triển nhiều, vì như anh đã cắt nghĩa, chỉ cần tuân theo luận lý cơ bản.

Về “nhân tính” của Thiên Chúa, chúng ta có thể ghi nhận đóng góp tương đồng của Phật Giáo và Ky Tô Giáo. Cả hai đều quan niệm Phật, hay Chúa ở trong chúng ta. Câu “Chúng sinh thị Phật” hay câu của Đức Ky Tô “con là một với Cha, và họ làm một với con” đều cho thấy một sự hợp nhất giữa con người và Phật, Chúa. “Tin Mừng” của Ky Tô Giáo chính là “khám phá” ấy …

Antimatter tôi cũng dịch là “phản vật chất”. Nó cũng là vật chất dù các đặc tính của nó chưa được biết nhiều …

Câu của Einstein mà anh trích dẫn chỉ có giá trị cho những cấu trúc vật chất ở trình độ cao. Trong vật lý lượng tử thì có thể “vừa là thế này, vừa là thế khác” (flou quantique – Heisenberg – phương trình Schrodinger …). Đối với sự sống, thì các nhà luận lý học, từ Heraclite, và sau này Hegel và Marx đưa ra luận lý biện chứng (sự vật là và không là …), thay cho luận lý hình thức (hoặc là, hoặc không là – nguyên tắc triệt tam của Aristote). Biện chứng của Hegel đưa đến Thiên Chúa (hợp đề tối thượng), trong khi Marx thì … không 🙂

Xin đồng ý với anh về đạo đức phi tôn giáo. Vấn đề chỉ là cắt nghĩa nó. Tôi đã viết về đề tài này ở nhiều chỗ (đại khái : sự di truyền của “ý thức hợp tác” nơi những cộng đồng người nguyên thủy, từng giúp cho các cộng ấy tồn tại, truyền đến ngày nay, hóa thành ý thức “thiện ác”). Phim “Gran Torino” đem lại một cái nhìn lý thú về đề tài này. Xem : http://nguyenhoaivan.com/default.asp?do=news_detail&id=243&kind=2

Tôn giáo có những đóng góp của nó, và có thể tốt hay xấu, tùy thời đại, tùy nơi chốn, tùy cấu trúc xã hội, và tùy … tôn giáo 🙂 Có những quan điểm cho rằng tôn giáo là một thành tố không thể thiếu trong một xã hội (Emile Durkheim). Hay Max Weber cho rằng Cách Mạng Kỹ Nghệ và Tư Bản Chủ Nghĩa đến từ … đạo Tin Lành ! (xem : http://nguyenhoaivan.com/default.asp?do=news_detail&id=433&kind=10) . Ngay đến Marx cũng công nhận vai trò tích cực của tôn giáo trong nhiều trường hợp …

Về hạnh phúc, xin thêm là : hạnh phúc đòi hỏi thời gian, trong khi lạc thú là chuyện giai đoạn. Thời gian luôn hủy diệt, làm hư hoại, nên chúng ta có thể dễ có lạc thú, nhưng nếu tin vào hạnh phúc thì chính là mù quáng phủ nhận thời gian … Nhiều tôn giáo ý thức điều ấy nên dời hạnh phúc sang “đời sau”, khi thời gian không còn ảnh hưởng, cho tiện đường dư luận !

Nói chung, tôi không có gì để phản bác những lý luận của anh. Có chăng là thêm thắt gợi vài suy nghĩ cho vui thôi. Giả sử có được chút hữu ích, thì chỉ là cho thấy trong suốt dòng lịch sử, nhiều quan điểm đã được đưa ra, nhiều cuộc hành trình tâm trí đã được thực hiện. Chúng đều tuân theo những quy luật và ưu tư rất “người”. Chúng ta có thể chia sẻ những ưu tư, thắc mắc ấy, mặc dù không nhất thiết đồng ý với những kết luận, những điểm đến, của mọi suy nghĩ (*).

Vân

(*) đương nhiên là phải chống lại những quan điểm cực đoan quá khích …

 

Kitô giáo: Lịch sử truyền đạo

Kitô giáo: Lịch sử truyền đạo

Minh Kiến dịch từ

PARTIAL HISTORY OF CHRISTIAN MISSIONARY ATROCITIES

Nguyên bản tiếng Anh:
 http://web.archive.org/web/20080415222023/www.burningcross.net/crusades/christian-missionary-atrocities.html

26 tháng 3, 2011

Lời mở đầu – Hệ Thống Pháp Luật KitôThập Tự ChinhThiêu Đốt Phù ThủyĐàn Áp Người Do TháiDiệt Chủng Ở RwandaTahitiColumbus Và Các Đảo CaribbeanMexico CityMiến Điện Và Thái LanTrung Quốc Ấn ĐộKết Luận


 

Lời mở đầu:

Những người truyền đạo Chúa thường được miêu tả là những người đơn giản với một mong muốn duy nhất là truyền bá một cách hòa bình phúc âm và thông điệp của tình thương. Nhưng trong thực tế, phương pháp truyền giáo của họ thường không có gì gọi là hòa bình và đã để lại những sắc dân bản địa bị tước đoạt văn hóa hay bị tàn sát. Với đạo Kitô đang suy giảm ở phương Tây, các nhà truyền giáo tìm kiếm các vùng đất mới đang còn nguyên vẹn và xanh ngát ở các nước nghèo của thế giới thứ ba, và họ được hỗ trợ bởi ngân quỹ khổng lồ từ những tín đồ ngây thơ; những người này bị tuyên truyền rằng đem văn minh và tôn giáo đến những người nghèo ở phương xa là một mục đích cao cả, dù các người bản địa đó không muốn.

Những người truyền giáo thường trộn lẫn chiến dịch quân sự với chiến dịch truyền giáo và với nhiệt tình của họ để “văn minh hóa các kẻ ngoại đạo” thường là những người thổ dân đơn giản, hạnh phúc, chỉ có tội là họ không phải tín đồ Kitô. Chinh phục ngoại đạo bằng bất kỳ phương tiện nào, bất cứ giá nào, được khuyến khích trong Kinh Thánh:

 
 

 

“Ngươi không phải cứu sống những ai đang thở. Nhưng ngươi phải hoàn toàn tiêu diệt chúng … “(Deut. 20)

“Nhưng những kẻ thù của Ta (kẻ không thờ Chúa, MK), nếu không muốn Ta cai trị họ, hãy mang họ đến đây, và giết chúng trước mặt Ta” (Luke 19.27).

ïTruyền Giáo Kitô ở Ấn Độ 

Dưới đây là số người chết trong vài thảm họa do các người Âu châu theo đạo Kitô gây ra trong lịch sử theo Wikipedia

http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_wars_and_disasters_by_death_toll

Thảm Họa Số người chết Thời gian
Thập tự chinh (Crusades) ở Trung Đông và Âu châu 9 triệu 1095-1291
Tàn sát người Do Thái ở Âu châu trong Thế chiến II 6 triệu 1939-1945 
Chiếm châu Mỹ bởi người châu Âu 10 triệu 1492-1900
Chiếm châu Á bởi người châu Âu 50 triệu 1758-1970
Chiếm châu Phi bởi người châu Âu 10 triệu 1758-1970
Chiến tranh Công giáo-Tin lành ở Pháp 4 triệu 1562-1598
Chiến tranh Công giáo-Tin lành ở Đức (30-Year War, Guerre de trente ans, Dreissigjaehriger Krieg) 11.5 triệu 1618-1648 

Tổng cộng:100 triệu 500 ngàn người trong 553 năm.

 Tù nhân bị căt đầu bằng cưa

Theo lời của một người dân Thái Lan, “Họ [các người truyền đạo Chúa] dường như không chú ý mấy đến nền văn hóa của chúng tôi. Tại sao? Họ chỉ mong muốn xây dựng nhà thờ to lớn ở mỗi làng. Có vẻ như họ đang có hai khuôn mặt, dưới chiêu bài giúp đở họ đàn áp chúng tôi. Với thế giới, họ đã đạt được tiếng tốt là ân nhân của các bộ lạc đang biến mất. Họ dùng chúng tôi để tạo danh tiếng của họ trong nhiều năm. Cách họ cư xử với chúng tôi như là chúng tôi không biết gì về Thượng đế trước khi họ đến đây.”[1]

“Tại sao những người truyền đạo cho rằng họ là những người duy nhất có thể cảm nhận được Thượng Đế?” Trong thực tế, hầu hết các nền văn minh bị tiêu diệt bởi các người Kitô (Cơ đốc) đã có nhiều phát triển về các tiêu chuẩn đạo đức, với cấu trúc xã hội ổn định, trình độ cao về sạch sẽ, vệ sinh, trang trí nghệ thuật và khoa học, và người bản xứ đã mãn nguyện với tôn giáo, tín ngưỡng truyền thống của mình.

Sự xuất hiện của Kitô giáo thực sự làm cho những nền văn minh này lùi lại phía sau. Về vấn đề này chúng ta chỉ cần nhìn sang châu Âu, trong thời kỳ Đen Tối (Dark Ages) của châu Âu là một giai đoạn khi Giáo hội nắm toàn quyền kiểm soát. Thời kỳ Phục Hưng (Age of Enlightenment – Renaissance) bắt đầu khi người dân thường thoát khỏi sự chuyên chế của nhà thờ Thiên chúa giáo.

Các người truyền đạo Chúa đã đàn áp nhiều nền văn hóa, xây dựng nhà thờ trên các chùa chiền Phật giáo, nhà thờ Hồi giáo và đền thờ các tín ngưỡng bản địa. Ví dụ, các nhà thờ lớn ở Rome được xây dựng trên các đền thờ ngoại giáo và nhiều sử gia nói rằng chính Vatican được xây dựng trên những tàn tích của một đền thờ Mithra (Thần Mặt Trời của người La Mã). Những ngày lễ chính của đạo Kitô đều được lấy từ những ngày lễ của ngoại đạo. Trên thực tế, nhiều nhà sử học và các học giả tôn giáo đã tuyên bố rằng toàn bộ Kitô giáo là vay mượn từ các tôn giáo và các nền văn hóa khác và đạo Kitô là một gian lận – Chúa Giêsu hay Kitô là một sự pha trộn của một số nhân vật có trước Chúa Kitô.

G  Hành Quyết tập thể

HỆ THỐNG PHÁP LUẬT KITÔ (Cơ đốc)

Vì Kitô giáo tin rằng Chúa Giêsu phải chịu tội vì lỗi của kẻ khác, họ lợi dụng niềm tin này cho các mục đích riêng của họ “để cho Chúa Kitô đau khổ trong khi họ, các người Kitô, đi phạm các tội ác”. Vì vậy khi các người Kitô giết người ngoại đạo, họ hoàn toàn không lo lắng và với một lương tâm không có chút cắn rứt nào, bởi vì Chúa Giêsu sẽ miễn tội cho họ, và vì họ không phải đối mặt với luật nhân quả và tái sinh hay những hậu quả thực sự của những luật này. Thậm chí một người tín đồ đạo Chúa tầm thường không hề tự hỏi một câu hỏi đơn giản, rằng nếu có một người giết người và người đó nói với tòa án rằng cha của tôi sẽ chịu tội thế, tòa án sẽ chấp nhận việc thay thế chịu hình phạt này không? Một người đạo Kitô trung bình cũng không hề nghĩ rằng nếu bất kỳ tòa án nào chấp nhận việc thay thế như vậy, thì hệ thống công lý của thế giới, như chúng ta đang có, sẽ hoàn toàn bị phá hủy và hỗn loạn sẽ xảy ra.

Lịch sử đã làm chứng cho sự hủy diệt hàng loạt vô số các nền văn hóa, và nạn diệt chủng gần như hoàn toàn của các chủng tộc “ngoại đạo” dưới bàn tay của Thiên Chúa giáo. Lịch sử đã chứng minh rằng hầu hết các nền văn hóa bị phá hủy bởi Thiên Chúa giáo đã có nhiều phát triển về đạo đức và phẩm giá hơn những gì họ đã được thay thế.

Những ảnh hưởng của đa phần việc cải đạo là cố ý thay thế các truyền thống văn hóa của một dân tộc bởi một hình thức của Kitô giáo. Điều này theo định nghĩa của Liên Hiệp Quốc là diệt chủng và diệt chủng là nghề của các người truyền giáo: cải đạo các dân tộc khác theo Kitô giáo và do đó tiêu diệt các nhóm dân tộc, và không cho họ quyền của các dân tộc bản địa gìn giữ những gì họ đang có — nền văn hóa, ngôn ngữ và tôn giáo của riêng họ. Với nhiều lý do, một suy giảm to lớn về dân số, nói cách khác phần lớn dân số bản địa đã chết, thường tiếp theo sau việc cải đạo [2]. Và công việc được gọi là “chân chính” này vẫn tiếp tục cho đến ngày nay trên khắp thế giới dưới danh nghĩa công tác nhân đạo của Kitô giáo.

Sự thật đơn giản là người ta không bao giờ từ bỏ tôn giáo của mình, cũng như không bỏ con cái hoặc cha mẹ của mình … trừ khi họ đang bị áp lực, vũ lực hoặc bị dụ dỗ quá hấp dẫn. Khẩu hiệu của Kitô “Đức tin vào Chúa Giêsu là cách duy nhất để được cứu rỗi “; ngoài việc nó hoàn toàn sai, nó cũng hoàn toàn không có mấy hiệu quả trong việc cải đạo. Các thủ đoạn gian trá, phản bội, hối lộ và đâm thọc … do đó đã được sử dụng để cải đạo (xem bài 43 Phương Pháp Cải Đạo của Tin Lành và Công Giáo, http://giaodiemonline.com/2011/03/caidao.htm ).

Các người truyền giáo Kitô biết sự thật trắng trợn này và lịch sử của đạo Kitô đã ghi lại các tàn bạo và man rợ trong vòng 20 thế kỷ qua để chiếm đoạt tín đồ là một minh chứng cho những phương pháp dã man của Kitô giáo [3].

“Người đạo Kitô quyết tâm tìm tội ác và xấu xí ở thế giới đã làm cho thế giới đầy tội ác và xấu xí “- Friedrich Nietzsche.

THẬP TỰ CHINH

Nhiều người nghĩ rằng những cuộc “thánh” chiến là cuộc chiến tranh giải phóng vùng đất thánh từ những người không phải là Kitô. Nhưng ít người biết rằng nhiều cuộc thánh chiến là để chống lại các giáo phái Kitô khác, và nhiều cuộc Thập tự chinh đã được hình thành vì các mục đích khác, chẳng hạn như vụ chết đuối của gần 6000 người Tin Lành bởi quân đội Tây Ban Nha Công giáo ở Hà Lan năm 1568, việc chiếm thành phố Magdeburg ở Đức trong thế kỷ 17, việc giết 30.000 người Tin Lành, tiếp theo là một cuộc chiến tranh 30 năm 1618-1648 tại châu Âu (30-Year War, Guerre de trente ans, Dreissigjaehriger Krieg) giữa Công giáo và Tin lành, trong đó hơn 40% dân chúng (chủ yếu là người Đức) đã bị tiêu diệt (link: http://de.wikipedia.org/wiki/Drei%C3%9Figj%C3%A4hriger_Krieg )

Rõ ràng nhất là vụ chinh phục và cướp bóc thành Constantinople của Chính thống giáo bởi các thành viên trong cuộc Thập tự chinh thứ tư vào năm 1204; việc này đã tạo ra một tình trạng thù địch giữa người Công giáo và Chính thống giáo cùng thờ một Chúa và đã kéo dài cho đến thế kỷ 20.

Trên thực tế, các cuộc Thập tự chinh là những tham vọng lớn nhất của hệ thống kinh doanh chiến tranh của đạo Kitô và cũng là những thất bại dễ thấy nhất. Đây chỉ là những nỗ lực buộc tất cả thế giới và nhân loại phải phục tòng vị giám mục của Roma, Giáo Hoàng Công giáo Vatican.

Một thánh binh

Một cuộc tàn sát của Thánh Chiến ở St Bartholomew 1572. Tranh của họa sĩ Francois Dubois.

THIÊU ĐỐT PHÙ THỦY

Tất nhiên chúng ta đã nghe đến các cuộc săn đuổi các phù thủy ở Salem, bang Massachusetts ở Mỹ vào năm 1691-1692 và việc thiêu sống một số “phù thủy” bởi người Thanh giáo (Puritans). Nhưng bạn có biết rằng tất cả các phù thủy Salem đã được chứng minh vô tội? Tất nhiên, đây là phát hiện sau khi họ bị chết thiêu. Bạn có biết rằng việc đốt phù thủy này được thực hiện trên toàn thế giới làm hàng trăm ngàn người chết (80% phụ nữ), được khởi xướng bởi các nhà thờ Công giáo để tiêu diệt những người mà họ gọi là dị giáo. Các phụ nữ làm nghề đở đẻ (nữ hộ sinh hay bà mụ) đã bị buộc tội làm cản trở tỷ lệ sinh đẻ – tất cả các kiến thức về kiểm soát sinh đẻ đã bị xóa hết, đến nỗi các học giả ở thế kỷ 20 tin rằng kiểm soát sinh đẻ là một phát minh hiện đại. Các toà án dị giáo đã viết: “Không ai nguy hiểm và có hại cho đức tin Công giáo bằng các bà mụ”.

Bản kể tội phù thủy của Giáo hoàng Innocent VIII vào năm 1484 đã dẫn đến việc đàn áp qua nhiều thế kỷ cái gọi là phù thủy. Hàng trăm ngàn phụ nữ, trẻ em và đàn ông (khoảng 20%) đã bị tra tấn, thiêu sống hoặc bị treo cổ. Cuốn Malleus Maleficarum (Cái búa phù thủy hay Cẩm nang của các quan toà án dị giáo) được viết bởi hai giáo sĩ dòng Đa minh (Dominican), và có lẽ nó đã gây đổ máu nhiều nhất so với bất kỳ cuốn sách nào khác (Thiên chúa giáo hay không). Các chính sách tra tấn, thiêu đốt và treo cổ người dị giáo đã được xem là chính sách của Giáo hội trong nhiều thế kỷ, bất cứ khi nào họ có thể làm được. Từ thế kỷ 15 đến 18 khoảng nửa triệu người đã bị giết vì tội phù thủy, phần nhiều là phụ nữ.

ĐÀN ÁP NGƯỜI DO THÁI

 

Đàn áp người Do Thái bởi đạo Kitô có một lich sử lâu dài, bắt đầu với việc đốt các giáo đường Do Thái giáo trong thế kỷ thứ 4, với nhiều vụ giết người Do Thái không chịu cải đạo sang Kitô giáo, đến sự hủy diệt các cộng đồng Do Thái ở nhiều nước châu Âu, cho đến các trại tử thần của Hitler trong Thế chiến thứ II. Riêng tại Nam Tư, đứng đầu các trại tử thần là một giáo sĩ Franciscan và điều hành bởi người Công giáo, giống như các lò giết người của Đức ờ Auschwitz – và họ đã giết chết khoảng nửa triệu người trên một đất nước nhỏ bé [5,5].

Chính Hitler đã biện hộ việc giết người Do Thái bằng các trích dẫn Kinh Thánh và Chúa Giêsu (trong bài phát biểu ngày 12 tháng 4 năm 1922:

“Với tình thương vô biên của một tín đồ Kitô và là một người đàn ông tôi đọc đoạn [Kinh Thánh] cho chúng ta biết Chúa Giêsu cuối cùng đã vùng lên và nắm lấy cây roi để đuổi ra khỏi đền thờ bầy rắn độc. Cuộc chiến đấu của Ngài thật tuyệt vời cho thế giới chống lại độc hại của người Do Thái.”

DIỆT CHỦNG Ở RWANDA

Bạn đã xem phim về Rwanda chưa? Bạn có biết rằng một số đáng kể gồm các linh mục, nữ tu sĩ và thậm chí cả giám mục đã bị kết tội và nhiều người đã bị kết án (do tòa án tội phạm chiến tranh) vì họ đã trực tiếp chịu trách nhiệm về cuộc tàn sát vô nghĩa của hàng ngàn người Tutsi vô tội? Nhiều giáo sĩ đã trao ra những người trú ẩn trong các nhà thờ của họ cho dao phay của các dân quân Hutu. Lòng căm thù và chia rẽ giữa người Hutu và người Tutsi đã được lan truyền bởi những người truyền giáo để làm thuận lợi cho các mục tiêu cải đạo của họ.

Thậm chí một linh mục đã đốt cháy nhà thờ của mình để giết chết hàng trăm người Tutsi đang ẩn náu ở đó. Hai linh mục đã bị kết án tử hình vào năm 1998 vì vai trò của họ trong vụ diệt chủng này và hai nữ tu sĩ dòng Biển Đức (Benedictine) đã cung cấp xăng dầu cho vụ đốt người thường dân Tutsi đang ở trong nhà thờ của họ; họ đã trốn chạy về Bỉ nhưng sau đó đã bị kết tội đồng lõa với tội giết người ở Bỉ.

“Nữ tu Maria Kisito, người bị án 12 năm tù, và “Mẹ” bề trên, bà Gertrude bị án 15 năm tù, đã bị kết án trợ giúp giết 7000 người ẩn náu tại tu viện của họ ở miền nam Rwanda. Các công tố viên lập luận rằng họ gọi dân quân Hutu để đuổi người dân Tutsi ra khỏi tu viện dầu biết rằng những người này sẽ bị giết chết, và sau đó cung cấp xăng dầu cho dân quân sử dụng để đốt cháy một nhà chứa xe, trong đó có khoảng 500 người Tutsi đang ẩn náu “ (Washington Post, 09 tháng 6 năm 2001) [6].

Tất nhiên Giáo Hội Công Giáo đã tuyên bố các giáo sĩ của họ đã hành động một cách độc lập với Giáo hội, mặc dù phần lớn các tội diệt chủng đáng chú ý nhất đã xảy ra trong các nhà thờ và cũng thường được biết là chính sách của Giáo hội qua nhiều thế kỷ là chia rẽ và cải đạo, tạo bất đồng giữa các nhóm dân tộc và sau đó các người truyền đạo đến để lợi dụng sự hỗn loạn, cung cấp nguồn an ủi Kitô và cải đạo. Cuối cùng gần một triệu thường dân Tutsi đã bị giết chết.

 

Ý Diệt chủng ở Rwanda

TAHITI

Chúng ta đều nhớ câu chuyện về thuyền trưởng Bligh và cuộc nổi loạn trên tàu Bounty. Tuy nhiên, hầu như ít ai biết rằng các thủy thủ đã nổi loạn vì họ bị thu hút bởi cuộc sống thôn dã ở Tahiti – các thủy thủ đã nhất định ở lại Tahiti chứ không muốn trở về nước Anh. Thuyền trưởng Cook đã viết về “những hòn đảo hạnh phúc này và những người tốt ở trên đảo”. Hơn nữa, sau này ông đã viết: “Tốt hơn là những người bất hạnh này không bao giờ biết đến chúng ta. “

Năm 1797, Hội Truyền giáo Luân Đôn đã đưa người truyền giáo đầu tiên lên đảo Tahiti. Mười bốn năm sau đó, họ đã không cải đạo được một người, mặc dù dân Tahiti vẫn sung sướng làm người hầu hạ cho họ, xây dựng nhà ở và cung cấp thức ăn cho họ. Cuối cùng các người Kitô đã nghĩ ra một kế hoạch tài tình để cải đạo toàn bộ hòn đảo trong một ngày. Theo một lá thư gởi về nhà viết bởi anh em JM Orsmond, một trong những người truyền đạo, họ đã làm cho người lãnh đạo địa phương, Pomare, thành một người nghiện rượu, cung cấp cho ông ta vũ khí để chống lại các đảo khác. Với sự đồng ý rằng sau khi chiến thắng tất cả sẽ buộc phải cải đạo. Sau đó là khủng bố khi các người không chịu cải đạo đã bị giết. Các người đạo Kitô đã tuyên bố bất hợp pháp bất cứ ai trang điểm bằng hoa, ca hát (trừ các bài thánh ca), lướt sóng hoặc ca múa. Trong vòng 25 năm nền văn hóa bản địa của Tahiti và các đảo Thái Bình Dương đã bị dập tắt toàn bộ.

Nỗ lực biến dân Tahiti thành người phục vụ trồng mía đã thất bại. Một tín đồ Kitô, ông Orsmond, cho rằng “cuộc sống phong phú làm con người ít ham muốn làm việc,” và ông đã ra lệnh chặt bỏ tất cả các cây bánh mì (breadfruit tree). Các việc ác độc như vậy và các bệnh tật (mang từ bên ngoài), chẳng hạn như bệnh lao, giang mai và bệnh đậu mùa, đã làm giảm dân số ban đầu (theo ước tính của Cook là 200.000 người) còn lại 6.000 sau ba mươi năm bị người truyền giáo đô hộ.

Sau khi căn cứ quyền lực của họ được thiết lập vững chắc ở Tahiti, những người truyền giáo đã nhanh chóng đến những hòn đảo khác và cũng sử dụng những kỹ thuật tương tự. Họ giới thiệu chai rượu với người thủ lãnh địa phương, phong ngôi vua cho người ấy và dụ ông ta thực hiện công việc chinh phục và cải đạo bằng thanh kiếm.

Những người Polynesia và Melanesian cũng rất văn minh và sáng tạo. Họ trang trí tất cả mọi thứ với các chạm khắc gỗ tinh xảo và với hoa, và họ đã sản xuất nhiều thứ đẹp. Tuy nhiên, vào năm 1850 tất cả các điều này đã biến mất, di tích duy nhất còn lại của các nền văn hóa lớn này chỉ là cái váy bằng cỏ và điệu múa lắc hông cho các du khách. Trước khi Kitô hoá ở Polynesia và Hawaii các điệu múa địa phương thường được thực hiện bởi những người đàn ông thuộc tôn giáo bản địa, nhưng các người đạo Kitô đã biến các điệu múa này như Hula thành một chương trình kích động tình dục cho các du khách. Cuộc chinh phục các đảo Thái Bình Dương của đạo Kitô đã hoàn thành.

COLUMBUS và CÁC ĐẢO CARIBBEAN

Christopher Columbus là một người buôn bán các nô lệ châu Phi và ông được biết đến là người phát hiện “cái gọi là châu Mỹ”. Trong nhật ký cá nhân của mình, Columbus đã viết rằng mục đích của ông trong việc tìm kiếm thế giới chưa được khám phá là “để mang Tin Mừng của Chúa Giêsu đến các người ngoại đạo” [xem cuốn sách Tiên tri của Columbus]

Trong chuyến đi đầu tiên, ông Columbus đã mô tả người bản địa như sau:
“Những người dân của hòn đảo này và của tất cả các hòn đảo khác mà tôi đã tìm thấy và nhìn thấy, … tất cả … đều ngây thơ và sẳn sàng cho tất cả những gì mà họ có; không ai có thể tin được điều này nếu không nhìn thấy tận mắt. Với bất cứ thứ gì họ có, nếu bạn yêu cầu họ cho, họ không bao giờ nói “không”; họ mời mọi người chia sẻ nó, và cho thấy họ có nhiều tình thương vì họ có thể cho trái tim của họ … ” Nhưng sứ mệnh của Columbus là lấy đất cho Thiên Chúa giáo và cải đạo tất cả những người bản địa theo Kitô giáo hoặc tiêu diệt họ và thay thế văn hóa của họ. Ở bất cứ hòn đảo nào ông đến (trong chuyến đi thứ hai) các người thủ hạ của ông đã giết một cách bừa bãi bất cứ động vật và người bản địa nào mà họ tìm thấy, “cướp bóc và phá hủy tất cả những gì mà họ tìm thấy” theo lời con trai của Columbus là Fernando. Các người bản địa bị giết hoặc bị bắt làm nô lệ. Columbus nhận xét về vấn đề này rằng người bản địa “làm người hầu hạ tốt … và dễ dàng cải đạo theo Kitô,” bởi vì ông nhận thấy công việc của mình là “thực hiện lời tiên tri trong Ê-sai (Isaiah).” Đối với những phản đối từ người bản địa, Columbus trả lời, “… với sự trợ giúp của Thiên Chúa, chúng tôi … sẽ khởi động chiến tranh chống lại các người với tất cả các cách thức và phương pháp mà chúng tôi có, và đặt các người dưới cái ách và tuân phục với Giáo Hội và Giáo Hoàng. Chúng tôi sẽ bắt giữ các người, con các người, và sẽ làm họ trở thành nô lệ ” [7].

Những người chứng kiến đã kể lại, “Khi người da đỏ đã ở trong rừng, bước tiếp theo là tạo những đội quân để săn đuổi họ, và bất cứ khi nào người Tây Ban Nha tìm thấy người da đỏ, họ tàn sát không thương tiếc tất cả mọi người da đỏ như giết cừu … Vì vậy, họ cắt hai bàn tay của một người da đỏ và để chúng lơ lửng … Một số người Kitô gặp một phụ nữ da đỏ, và nếu con chó của họ đang đói, họ giựt người con từ tay của người mẹ và ném người con vẫn còn sống cho con chó … “Cuối cùng, những người da đỏ chỉ là những kẻ ngoại đạo.”

Chuyến đi thứ hai của Columbus đã được ghi thêm: “Các người Tây Ban Nha tìm thấy niềm vui trong việc sáng tạo ra các loại tàn bạo kỳ lạ … Họ đã dựng lên một giàn treo cổ vừa đủ cao để các ngón chân chạm vào mặt đất để tránh kìm hãm, và treo cổ mười ba [thổ dân] một lần để vinh danh Chúa, Đấng Cứu Thế, và mười hai tông đồ … sau đó, rơm được quấn quanh thi thể rách nát của họ và họ bị đốt “[8].

Chưa đầy một thập kỷ sau lần đổ bộ đầu tiên của Columbus, số người dân bản địa của đảo Hispaniola (Santo Domingo và Haiti) đã giảm xuống một phần ba tới một nửa. Trước khi thế kỷ sau đó kết thúc, thổ dân ở Cuba và nhiều hòn đảo Caribê khác hầu như bị tiêu diệt hoàn toàn.

MEXICO CITY

Không giống như các thành phố châu Âu cuối những năm 1400 đầy với những người kêu la và bệnh tật (đa số người châu Âu không bao giờ tắm lấy một lần trong cuộc đời của họ, do đó có việc phát minh ra nước hoa ở Pháp) [DE Stannard, American Holocaust, Columbus and the Conquest of the New World, New York / 1992 Oxford, trang 59], nước Mexico đã được sạch sẽ. Hai thành phố sinh đôi Tenochtitlan và Tlateloico, ngày nay là Mexico City, đã duy trì các tiêu chuẩn cao: chất thải được chở đi bằng sà lan và ủ làm phân bón, một ngàn người quyét và rửa sạch các đường phố mỗi ngày. Các người Aztec lịch sự thường tắm hàng ngày, thường đưa hoa lên mũi mỗi khi họ gặp người châu Âu; những người Âu này cho bẩn thỉu là một đặc điểm. Hầu hết các đường phố của Mexico là kênh đào và một đường hầm đã mang nước uống từ các suối trên núi [21].

Hernan Cortez cảm thấy đây là thành phố đẹp nhất trên trái đất và ông đã nói: “Tất cả những ngôi nhà có phòng rất lớn và rất tốt, và có vườn rất đẹp với các loại hoa khác nhau …” [22]. Các người khách Kitô rất ngạc nhiên vì sự sạch sẽ cá nhân và vệ sinh của dân chúng, quần áo nhiều màu sặc sỡ, và họ dùng quá mức (so với các người Kitô) các loại xà phòng, chất khử mùi, và chất làm thơm hơi thở [23]. Những người Mexico [Aztec] rất khoan dung với người khác, chẳng hạn như người Otomi đang chung sống với họ. Các người này có tôn giáo, văn hóa, ngôn ngữ của riêng họ …, hận thù bộ tộc dường như không có trong cơ chế chính trị của Mexico [24].

Như một hệ quả của “khám phá” của Columbus, ít hơn một thế kỷ sau chuyến đi của ông ta, thành phố đã bị chinh phục bởi các người Kitô, các tòa nhà và khu vườn xinh đẹp bị đốt cháy và bị tàn phá. Các người dân thành phố, trước thời Columbus, chỉ biết chế độ nô lệ tạm thời như một hình phạt. Nhưng sau Columbus thì họ đã bị giết chết hoặc trở thành nô lệ vĩnh viễn cho một chính quyền phong kiến thuộc địa được Giáo hội Công giáo chấp thuận, hoặc trực tiếp cho một Giáo hội đã thiêu sống bất kỳ người nào không muốn cải đạo theo Kitô, một tôn giáo mà ngay cả các tín đồ Kitô trung thành ngày hôm nay chỉ có thể mô tả như là một hỗn hợp vô vọng của mê tín dị đoan, vô lý hoặc ghê tởm; người ta chỉ cần nghĩ đến các di hài, bộ sưu tập sọ, xương, răng, hoặc các vật còn lại của cái gọi là thánh, được ghi nhận và được tôn thờ công khai ở bất kỳ nhà thờ Kitô vào thời đó.

MIẾN ĐIỆN và THÁI LAN

Báo cáo của các dân tộc thiểu số cho biết: Người truyền giáo Baptist Mỹ Paul Lewis đã làm mất khả năng sinh đẻ hơn 20.000 phụ nữ thuộc bộ lạc Akha Hill tại miền Đông Shan State ở Miến Điện. Vụ này đã được thực hiện bí mật, và máu đã bị đánh cắp từ những phụ nữ này để bán lại, trong lúc làm phẩu thuật cho họ. Hơn 3000 phụ nữ đã chết. [25].

Theo văn hóa truyền thống Akha, năm người họp thành ban lãnh đạo trong một ngôi làng. Lãnh đạo với thể chế nhiều người này ở các làng bị loại bỏ và thay thế bằng các mục sư là những người thống trị duy nhất với bàn tay sắt, không cho phép bất đồng ý kiến hoặc trở lại những truyền thống như trước đây. Những thay đổi này đã tàn phá những truyền thống của người dân địa phương.

“Những tập quán truyền thống, bài hát, hoặc ca múa như hiện nay sẽ bị cấm, nhưng một cái gì đó sẽ được cho phép vào dịp Giáng Sinh. Các người phụ nữ áp dụng những kiến thức và y học truyền thống ở làng bị cấm. Người ta đã nói với họ rằng đó là xấu xa và họ không còn có thể điều trị bệnh cho người dân nữa. Nhân danh những niềm tin Kitô giáo — nhưng thực tế là hoàn toàn trái với tinh thần của những niềm tin ấy – những người truyền giáo đã xóa bỏ văn hóa Akha từ làng này qua làng khác” [26].

Một người dân tộc Thái nói về các hoạt động truyền giáo ở Thái Lan: “Đặc biệt là ở Thái Lan, do mức độ cao của tệ nạn mại dâm, dưới chiêu bài bảo vệ người phụ nữ trẻ, nhiều trường học nội trú cho các em gái đã mọc lên. Nhưng sau đó các cô gái không còn muốn kết hôn với người đàn ông Akha không theo đạo Kitô nữa” [27].

“Về tôn giáo, ban đầu dường như là rất tốt. Sau đấy, đó là mầm mống chia rẽ trong nhân dân. Một số đã trở thành người Công giáo, một số người theo Tin lành, một số vẫn còn giữ thờ cúng tổ tiên, trong khi những người khác trở thành Phật tử. Họ không còn gặp mặt nhau. Các nhà truyền giáo thường gây mâu thuẫn trong làng dầu không được phép của trưởng làng. ”

“Bây giờ chúng tôi muốn nêu một câu hỏi, đó là đạo Thiên Chúa giáo tốt như thế nào? Nếu là tốt, tại sao vẫn có nhiều nhóm như vậy, giảng dạy về Chúa Giêsu nhưng vẫn đánh nhau? Đầu tiên họ chia rẽ dân chúng tôi, bây giờ họ đang phân chia làng và gia đình của chúng tôi. Chúng tôi dường như giống như một con mồi của họ.”

TRUNG QUỐC

Mặc dù tất cả mọi người hầu hết đã nghe nói về các cuộc nổi dậy của các võ sĩ (Boxer Rebellion) tại Trung Quốc vào năm 1900, nhưng ít ai biết rằng cuộc nổi loạn này là một phản ứng trực tiếp của người Trung Quốc đối với các nhà truyền giáo Kitô đã tràn vào trong nước họ để cải đạo các người nghèo, mù chữ và bơ vơ. Tất nhiên cuộc nổi loạn đã bị đàn áp bởi các nước hỗ trợ các nhà truyền giáo.

Vào tháng 10 năm 2000, hơn hai mươi học giả Trung Quốc gồm các chuyên gia về lịch sử và tôn giáo đã tổ chức một hội nghị chuyên đề vạch trần tội ác của các nhà truyền giáo nước ngoài và những người theo họ mới được phong thánh. Các học giả liệt kê một số sự kiện để chứng minh rằng trong lịch sử hiện đại các hoạt động của các nhà truyền đạo Công giáo được gắn liền chặt chẻ với các cuộc xâm lược Trung Quốc bởi các lực lượng nước ngoài.

Giáo sư Dai Yi nói: “Rất nhiều nhà truyền giáo nước ngoài theo các tàu chiến của kẻ xâm lược nước ngoài đến Trung Quốc trong và sau chiến tranh Nha phiến, và thực sự xâm lược của nước ngoài và các hoạt động truyền giáo được kết hợp thành một. Đó là, “hoạt động truyền giáo là một phần của cuộc xâm lược, các nhà truyền giáo đã dẫn đường và làm công cụ cho kẻ xâm lược nước ngoài và ngược lại, kẻ xâm lược đã mở đường cho những người truyền giáo hoạt động”. Những người truyền giáo nước ngoài nên trả lời cho những hậu quả của hành động của họ bởi vì các tội ác to lớn của họ làm bực tức người dân Trung Quốc và cuối cùng đã làm bùng nổ phong trào võ sĩ nổi loạn.

Những người tham gia hội nghị chuyên đề chỉ ra rằng những người truyền giáo nước ngoài bị xử tử trong một vài “trường hợp tôn giáo”, như Auguste Chapdelaine, Franciscus de Capillas và Albericus Crescitelli, chỉ có thể tự trách mình vì họ vẫn đang còn bị ghét bởi người dân Trung Quốc ngày hôm nay, vì họ đã không dừng lại với bất cứ một tội ác nào.

Tòa Thánh Vatican đã không đếm xỉa đến sự phản đối mạnh mẽ từ người dân Trung Quốc và đã “phong thánh” cho những người truyền giáo này. Các học giả nói việc này cho biết Vatican có “ý định xấu xa để can thiệp vào nội bộ của Trung Quốc qua các hoạt động tôn giáo”. Các học giả cũng chỉ ra rằng “phong thánh” đã chà đạp chủ quyền của Giáo hội Công giáo Trung Quốc, và cũng là một hành động khiêu khích nghiêm trọng đến 1,2 tỷ người Trung Quốc.

Các học giả đều lên tiếng phản đối các hành động tà mị và độc ác của Vatican, nói rằng Trung Quốc hiện nay đủ mạnh để bảo vệ an ninh quốc gia và phẩm giá quốc gia của mình và bất cứ nỗ lực nào để bóp méo lịch sử và nhục mạ người dân Trung Quốc sẽ bị thất bại.

Phản ứng rõ rệt của Chính phủ Trung Quốc trước các hoạt động truyền đạo Kitô trải qua nhiều thế kỷ là cấm tất cả những nỗ lực cải đạo ở Trung Quốc.

ẤN ĐỘ

Liên hệ đầu tiên của Ấn Độ với Thiên Chúa giáo bắt đầu khi Vasco da Gama từ Bồ Đào Nha đã đổ bộ với các tàu chiến và các linh mục năm 1498 . Những người mới đến không những là người buôn bán mà còn mộ đạo Kitô theo lệnh của Đức Giáo Hoàng: “… để xâm chiếm, chinh phục, và đô hộ các quốc gia đang ở dưới những kẻ thù của Chúa Kitô, như Saracens (người Hồi giáo đã chiến đấu chống lại quân Thập tự chinh Thiên chúa giáo thời Trung cổ) hoặc Pagan (ngoại đạo)… ”

   
Nhà thờ Born Jesus ở Goa (Âsn Độ) trên đất của đền thờ Shiva mà người Portugese tiêu hủy Thánh đường Santhome xây dựng trên đất của đền thờ Kapaleeswala ở Nam Ấn Độ

Người dân Ấn đã bị bắt buộc phải cải đạo hay bị tra tấn và giết chết. Hàng ngàn người đã phải chạy trốn khỏi Goa để gìn giữ văn hoá và tín ngưỡng tôn giáo của họ.

Sử gia Gaspar Correa đã mô tả những gì Vasco da Gama đã làm như sau: “Khi các người Ấn Độ đã bị xử tử như vậy, ông ta ra lệnh đánh gãy răng của họ với gậy và đẩy chúng xuống cổ họng; sau khi họ được đặt lên tàu, chất chồng lên nhau, trộn lẫn với các giòng máu chảy từ họ, ông đã ra lệnh trải chiếu và lá khô lên trên các tử thi, cho các tàu tiến vào bờ và các tàu bị đốt cháy … Trước khi giết và đốt các người Ấn vô tội, ông đã ra lệnh chặt tay, tai và mũi họ.”

“Khi Zamorin (lãnh tụ của dân Ấn) gửi một người Bà La Môn đến cầu hòa với Vasco, ông ta bị cắt đôi môi và hai tai. Đôi tai của một con chó đã được khâu vào và người Bà La Môn này được gửi trở lại cho Zamorin trong tình trạng đó. Người Bà La Môn đó … đã mang theo ba chàng trai trẻ, hai người con trai và một cháu trai. Họ bị treo cổ trên sàn tàu và thi thể của họ được gửi vào bờ. ”

Francis Xavier, một linh mục dòng Tên (Jesuit), đã đến ngay sau Vasco da Gama, với quyết tâm nhổ Ấn Độ giáo ra khỏi đất Ấn Độ và thay thế bằng đạo Kitô. Những lời nói và việc làm của ông ta đã được ghi lại trong nhiều tiểu sử của ông. Francis Xavier đã viết về nhà:

Ngay khi tôi đến ở bất kỳ làng ngoại đạo nào, khi tất cả được rửa tội, tôi ra lệnh phá hủy tất cả các đền thờ thần tượng của họ và tất cả các thần tượng bị vỡ ra từng mảnh. Tôi không thể nói hết với bạn niềm vui mà tôi cảm thấy khi nhìn thấy điều này xảy ra. Giáo Hội đã có một cách đặc biệt để đối phó với các người Ấn đã cải đạo nhưng bị nghi ngờ là không theo nghi lễ Thiên chúa giáo với thành khẩn và nhiệt tình, hoặc thậm chí thực hành bí mật đức tin cũ của họ; những thủ phạm sẽ bị theo dõi và bị thiêu sống” [28].

Xavier lập một Toà án dị giáo, được ghi nhận bởi các sử gia là kinh khủng và man rợ hơn bất kỳ toà án nào trước đó. Hàng ngàn người đã bị tra tấn, bị cắt xẻo và bị giết. Hàng ngàn người đã phải chạy trốn khỏi Goa để giữ văn hóa và tôn giáo truyền thống của họ.

Có từ 600 đến 1000 ngôi đền Ấn Độ giáo và đền thờ đã bị phá hủy, nhưng nhiều người xem những con số này hơi thấp [29]. Nhiều loại tra tấn tàn bạo đã được sử dụng bởi các quan toà án dị giáo, chẳng hạn như cắt xẻo các bộ phận cơ thể, tra tấn bằng lửa và chết đuối. Chi tiết của các tra tấn này quá khủng khiếp và kinh khủng với bất kỳ người lành mạnh nào: “Trẻ em bị đánh đập và từ từ bị cắt xẻo trước mặt cha mẹ chúng và mí mắt của họ đã bị cắt để đảm bảo họ thấy hết tất cả. Các tứ chi đã được cắt bỏ một cách cẩn thận, vì vậy mà một người vẫn còn tỉnh táo ngay cả khi tất cả những gì còn lại chỉ là thân mình và đầu“[30].

Tổng giám mục của xứ Evora ở Bồ Đào Nha cuối cùng đã công nhận rằng toà án dị giáo là một tòa án nổi tiếng xấu nhưng không có nơi nào ghê rợn bằng tòa án ở Goa [31].

Không ai biết chính xác số lượng người dân thành Goa bị tra tấn một cách ác độc như vậy; ước tính thấp là hàng chục ngàn người, ước tính cao là hàng trăm ngàn, thậm chí có thể nhiều hơn nữa. Các man rợ của các toà án dị giáo tiếp tục từ 1560 cho đến một thời gian nghỉ ngắn vào năm 1774, nhưng bốn năm sau, toà án dị giáo lại xuất hiện một lần nữa và nó tiếp tục không ngừng cho đến 1812. Toà án dị giáo tại Goa đã hoạt động hơn 250 năm. Tại thời điểm đó, vào năm 1812, người Anh đã áp lực người Bồ Đào Nha phải chấm dứt sự khủng bố của Toà án dị giáo và sự hiện diện của quân đội Anh tại Goa đã làm cho người Bồ phải theo ý muốn của người Anh [32].

Tiến sĩ Trasta Breganka Kunha, một người Công Giáo ở Goa, viết: “Mặc dù tất cả các cắt xén và che giấu của lịch sử, vẫn là một sự thực không thể nghi ngờ được rằng việc cải đạo người Goa là do những phương pháp tàn bạo bởi người Bồ Đào Nha để thiết lập nền đô hộ của họ. Kết quả của bạo lực này là những đặc tính của dân tộc Ấn đã bị phá hủy. Công tác truyền đạo Kitô ở Goa đã không bằng cách rao giảng về tôn giáo mà qua các phương pháp tàn bạo và áp lực. Nếu cần bằng chứng nào cho sự thực này, chúng ta có thể tìm được qua các sách pháp luật, các mệnh lệnh, báo cáo của các nhà cai trị địa phương vào thời kỳ đó và cũng từ những tài liệu đáng tin cậy nhất của chính giáo phái Kitô. “[33]

Một lễ kỷ niệm 500 năm của ngày Vasco de Gama đến Ấn Độ đã được đề xuất một cách hồ hởi nhưng đã bị ngừng lại bởi một liên minh đáng ngạc nhiên của người Ấn độ giáo, Hồi giáo, các người tả khuynh và bảo vệ môi trường.

Frances Xavier thường được gọi là ‘Thánh Francis Xavier’ và ”Thánh bảo trợ của phương Đông”. Ông vẫn còn được thờ, cầu nguyện và vinh danh là đại diện thuần khiết của Chúa Giêsu và Tin Mừng bởi các tín đồ Kitô trên khắp thế giới. Có vô số các bệnh viện, trường học, và các tổ chức khác ở Ấn Độ mang tên ông. Thậm chí ngày nay Tổng giáo phận Goa còn huyênh hoang tự hào: “Chương sử vẻ vang của sự mở rộng của Giáo hội Công giáo ở phía đông có thể được cho là đã bắt đầu sau khi người châu Âu phát hiện những tuyến đường biển đến Ấn Độ vào năm 1498. Điều này đã giúp mang các linh mục châu Âu đến những vùng đất này; một trong số họ là Thánh Francis Xavier, tông đồ vĩ đại của phương Đông và người bảo trợ của các đoàn truyền giáo. Goa có đặc quyền là điểm xuất phát khi Ngài làm việc cho Hội Thánh, và là nơi mà nấm mồ thiêng liêng của Ngài vẫn còn được bảo tồn. Goa được gọi là “La Mã của phương Đông” do vai trò trung tâm của nó trong phúc âm hóa phương Đông” [34].

Ngày nay các chiến thuật Kitô giáo đã thay đổi, nhưng tiền đề cơ bản của họ rằng ‘Thiên Chúa giáo là tôn giáo chân thật duy nhất’ làm vô hiệu tất cả các nỗ lực tuyên truyền của họ là khoan dung và yêu thương. Thực tế là Kitô giáo đã không thay đổi thần học của nó, chỉ có thay đổi kỹ thuật cải đạo. Những nhà truyền đạo Chúa đang sử dụng một tài sản lớn (nhiều tỷ đô la Mỹ) để tuyên truyền. Họ hoạt động tại Ấn Độ dưới chiêu bài giúp người bị áp bức, bị bệnh và yếu hèn. Trong thực tế, mục đích vẫn giống nhau – để cải đạo tất cả theo Thiên Chúa giáo và phá hủy tất cả các nền văn hóa và tôn giáo khác nằm trên đường đi. Không cần tấn công, lạm dụng, hoặc lên án các tôn giáo ngoài Kitô giáo. Sự thật đơn giản là người truyền đạo Kitô sử dụng láo khoét, dối trá, và đạo đức giả. Cải tiến xã hội chỉ là một ngụy trang cho việc cải đạo và việc phá hủy tất cả các tôn giáo và văn hóa bản địa.

Tại sao các nhà truyền đạo Chúa muốn cải đạo người khác? Bởi vì đó là bản chất của các tôn giáo độc quyền (Hồi giáo, Thiên chúa giáo và Tin lành) để cố gắng làm cho mọi người giống như họ về phương diện tôn giáo. Họ không cần đa nguyên hoặc tôn trọng các tôn giáo khác; trong thực tế họ rất coi thường các tôn giáo khác. Hơn nữa, niềm tin độc quyền và thái độ này đến thẳng từ “miệng của con ngựa”, từ các thánh kinh của họ. Ví dụ, trong Kinh Thánh Matthew 28:19-20, Mark 16:15-16, Luca 24:46-47 mọi tín đồ Kitô được lệnh cải đạo người khác và bổn phận của mọi tín đồ Kitô là vâng lời các lệnh của Kinh Thánh.

Nhìn qua các hoạt động của họ ở Ấn Độ rõ ràng cho thấy các nhà truyền đạo Chúa bôi nhọ Ấn độ giáo và cho là tà giáo mỗi ngày. Ấn Độ giáo được xem là đồng nghĩa với thờ cúng ma quỷ và người Ấn giáo được mô tả là ngoại đạo, làm việc cho ma quỷ, và như các người mất linh hồn đang đi thẳng vào địa ngục.

Cho đến ngày nay Ấn Độ mới bắt đầu nhận ra những người truyền đạo Kitô thực sự như thế nào. Điều này được chứng minh ở các tiểu bang như Nagaland, Mizoram, Assam, Arunachal Pradesh và các khu vực khác ở Đông Bắc Ấn Độ. Ngay sau khi đạo Kitô trở thành đa số trong một khu vực, họ gieo nọc độc của thù hận và xung đột, biến người trong gia đình chống lại người trong gia đình, dân làng chống lại dân làng. Họ còn kích động người theo Kitô giáo đòi tự trị và lập một quốc gia theo đạo Kitô. Ngay sau khi có người bị cải đạo, họ liền được khuyến khích bôi nhọ mạnh mẽ và công khai văn hóa và truyền thống trước đây của họ và tất cả mọi thứ liên quan. Điều này làm phá vỡ toàn bộ cộng đồng và các hoạt động bình thường của xã hội và kinh tế.

Dân quân Kitô trong nhiều tỉnh ở Đông Bắc Ấn Độ đã buộc người dân ngoại đạo hoặc là cải đạo sang Thiên Chúa giáo hoặc bị hình phạt tử hình. Với cái chết trước mặt họ, hầu hết các người lớn đã chạy trốn khỏi làng để khỏi bị tra tấn, dẫn đến sự phá vỡ các hoạt động nông nghiệp. Các nhà lảnh đạo Phật giáo của các bang Assam và Arunachal Pradesh đã mạnh mẽ lên án cuộc tàn sát ghê tởm của các dân quân đối với các Phật tử yêu chuộng hoà bình và những bộ lạc theo tôn giáo của họ.

Vì người Ấn Độ bây giờ mới biết những gì các người Kitô đang làm, đây là thời điểm để có một số biện pháp nghiêm chỉnh chống tuyên truyền Kitô và truyền niềm tự hào cho mỗi người Ấn Độ trên toàn quốc về một quá khứ vẻ vang và một di sản Vệ Đà đáng quý.

KẾT LUẬN

Các người theo đạo Kitô luôn luôn miêu tả các nền văn minh không phải Kitô là đi thụt lùi, kém phát triển, mê tín dị đoan, và man rợ. Thực sự nguyên nhân của tất cả những lời chỉ trích này là vì những nền văn hóa bản địa không chấp nhận Chúa Giêsu, Thánh Kinh và lối sống phương Tây của họ. Vì vậy theo các tín đồ Kitô, các nền văn hóa này cần sự giúp đỡ của họ. Trong thực tế họ hăng say tiêu diệt bất kỳ quan niệm hữu thần nào khác ngoài Thiên Chúa giáo hoặc đền thờ nào không phải là một nhà thờ Kitô; những điều này cho thấy rằng những người truyền đạo thực sự mới đầy tính chất của người man rợ.

Nói chung các nền văn hóa bản địa thật sự tốt hơn trước khi Kitô giáo đến, vì Kitô không có gì tốt hơn cho người bản xứ. Trong thực tế, các nền văn hóa này đã bị tiêu diệt, lịch sử của họ bị xoá hoàn toàn, truyền thống văn hóa của họ bị loại trừ, các tôn giáo cũ của họ bị phá hủy và họ đã có nhiều hạnh phúc hơn trước khi đạo Kitô xuất hiện.

Đã có nhiều sửa đổi những lời dạy của Chúa Giêsu kể từ khi bắt đầu khoảng 2000 năm trước. Nhưng cho đến khi nào những giáo lý bài ngoại và chống thần tượng của Kinh Thánh được sửa đổi, các hoạt động truyền giáo cũng sẽ mang lại những kết quả thảm khốc tương tự. Như được dạy trong Kinh Thánh, ‘chúng ta có thể biết một cây bằng trái của nó’, những nhà truyền giáo cần phải chấp nhận một nền thần học đa nguyên hơn, công nhận thần thánh trong các tôn giáo khác và các đóng góp của các nền văn hóa khác. Họ phải nhận ra rằng họ không phải là con đường duy nhất của sự cứu rỗi. Cho đến khi những điều này được sửa đổi, các nỗ lực truyền đạo để phụng sự Chúa Giêsu là những việc không tốt và trái với đạo đức. Nếu không, trong thời hiện đại, các hoạt động truyền đạo trên toàn thế giới phải bị lên án, vì chúng tìm cách tiêu diệt các nền văn hóa và tôn giáo bản địa. Các người truyền đạo cần phải được theo dõi và các hoạt động truyền giáo cần phải được xem xét lại.

Minh Kiến

Tháng 3, 2011


Chú thích :

[1] Akha Chronicles, Tập 1: Chương, Maesai 20: Các mục vụ (Missions). Trực tuyến: http://www.akha.org/upload/akhachronicles/chapter20missionaries.htm

[2] Diệt chủng được xác định bởi Công ước về phòng chống, trừng phạt các tội phạm diệt chủng (CPPCG) Điều 2 như trong các hành vi sau đây đã phạm với ý định tiêu diệt, toàn bộ hoặc một phần, một quốc gia, dân tộc, chủng tộc hoặc tôn giáo, như vậy: “Giết thành viên của nhóm; Gây thương tích cơ thể nghiêm trọng hoặc gây tổn hại tinh thần cho các thành viên của nhóm; Cố ý gây cho nhóm các điều kiện cuộc sống được tính toán để tiêu hủy vật chất toàn bộ hoặc một phần; áp đặt các biện pháp nhằm ngăn chặn sinh sản trong nhóm, và chuyển giao bắt buộc trẻ em của nhóm cho một nhóm khác : http://en.wikipedia.org/wiki/Genocide

[3] SP Attri, Cải đạo xâm lược (Conversion Aggression),
http://conversionagenda.blogspot.com/2004/01/conversion-aggression.html

[4] Lời xin lỗi của Kitô giáo cho những cuộc thập tự chinh: Chuyến đi hoà giải (Christian apology for the Crusades: The Reconciliation Walk). http://www.religioustolerance.org/chr_cru1.htm

[5] C.M. Cipolla, Trước cuộc cách mạng công nghiệp (Before the Industrial Revolution) , London 1981, tr. 55ff.

[5,5] http://web.archive.org/web/20080415222023/http://en.wikipedia.org/wiki/Ustasha,
http://web.archive.org/web/20080415222023; http://www.priestsofdarkness.com/gold.html ;

http://web.archive.org/web/20080415222023 ; http://www.holocaustrevealed.org/_domain/holocaustrevealed.org/Yugoslavia/Yugoslavia-Croatia.htm

[6] http://www.washingtonpost.com/ac2/wp-dyn/A42755-2001Jun8?language=printer

[7] Trích từ Requerimiento.

[8] D. E. Stannard, Tàn sát ở châu Mỹ – Columbus và cuộc chinh phục của thế giới mới (American Holocaust – Columbus and the conquest of the New World), New York / 1992 Oxford, trang 72.

[9] E.S. Morgan, Chế độ nô lệ, Tự do của Mỹ (American Slavery, American Freedom), New York 1975, tr. 39.

[10] D.E. Stannard, Tàn sát ở châu Mỹ – Columbus và cuộc chinh phục thế giới mới (American Holocaust – Columbus and the conquest of the New World), New York / Oxford năm 1992. Trang 106

[11] Ibid.

[12] Ibid, trang 227.

[13] Ibid.

[14] ed. Stuewe, Paul K., Kansas xét lại: Hình ảnh lịch sử và triển vọng (Kansas revisited: Historical images and perspectives), bài viết của Unrau, William, Sụt giảm dân số của người da đỏ ở Kansas – The depopulation of the Kansas Indians “)

[15] Chú thích nguồn của Jefferson: nguồn của bản tuyên bố thực sự là Thomas Jefferson có niên đại 1807 khi nói với Bộ trưởng bộ Chiến tranh liên quan đến người da đỏ chống lại Mỹ mở rộng vào vùng đất của họ.

Xem thêm David Stannard , American Holocaust – Columbus and The Conquest of the New World, Oxford Press, 1992, trang 120.

[16] J. Axtell, Xâm lăng từ phía trong -The Invasion Within, New York 1985, tr. 327.

[17] Ibid, tr. 303.

[18] Drinnon, Đối mặt với phương Tây – Facing West, tr 96, 98, 116; Ronald T. Takaki, Lồng sắt: chủng tộc và văn hóa trong thế kỷ 19 ở Mỹ – Iron cages: Race and Culture in 19th Century America, (New York: Alfred A. Knof, 1979), pp.61-65.

[19] Các nhà thờ của California: Một di sản của diệt chủng – The Missions of California : A legacy of Genocide, Rupert Costo và Jeannette Henry Costo, San Francisco: Ấn Độ Sử Press, 1987.

[20] Bradford, Of Plymouth Plantation, pg. 374f.

[21] R. Wright, Lục địa bị đánh cắp. Câu chuyện của Ấn Độ – Stolen Continents. The Indian Story, London 1992, tr 20-21.

[22] D.E. Stannard, Tàn sát ở châu Mỹ. Columbus và cuộc chinh phục của thế giới mới- American Holocaust. Columbus and The Conquest of the New World, New York / 1992 Oxford, pg. 5.

[23] B.R. Ortiz de Montellano, Y khoa, sức khỏe và dinh dưỡng của người Aztec – Aztec Medicine, Health and Nutrition, New Brunswick 1990, tr. 127f.

[24] H. Thomas, Chinh phục. Montezuma, Cortés, và sự sụp đổ của Mexico -Conquest. Montezuma, Cortes and the Fall of Old Mexico, New York 1993, tr. 19.

[25] Akha Chronicles, Tập 1: Chương, Maesai 20: Missions. Có trực tuyến: http://www.akha.org/upload/akhachronicles/chapter20missionaries.htm

[26] Ibid.

[27] Akha Heritage Foundation, http://www.eco-action.org/mission/akha1.html ; http://www.akha.org

[28] Paul William Roberts, Vương quốc của Linh hồn, vài hành trình ở Ấn Độ – Empire of the Soul, Some Journeys in India (Riverhead Books, New York)

[29] Lịch sử của gặp gở Ấn Độ giáo và Kitô giáo -History of Hindu-Christian Encounters, Sita Ram Goel, South Asia Books (tháng 7 năm 1990), ISBN 9990049173.

[30] Ibid.

[31] Empire of the Soul, Roberts William Paul (Harper Collins, 1999)

[32] Ibid.

[33] Sự xâm lược của Bồ Đào Nha – The Portuguese Invasion, http://www.indpride.com/portuguese% 20invasion.html

[34] Tổng Giáo Phận của Goa và Daman,
http://www.archgoadaman.org/Dioceses/index.htm

http://sachhiem.net/TONGIAO/tgM/MinhKien2.php 

Bài đọc thêm, tiếng Anh:

St Thomas in India

 http://apostlethomasindia.wordpress.com/

http://www.mediafire.com/?pz6tfp1rx24ez5o

 

Ki tô giáo,Mánh Khóe Mới Nhất Trong Việc Cải Đạo

Ki tô giáo,

Mánh Khóe Mới Nhất Trong Việc Cải Đạo

J. Goonetilleke

Nguồn: J. Goonetilleke, Vijayvaani.com

http://www.crusadewatch.org/index.php?  ngày 25 tháng 10 năm 2010

Nguyên Tánh dịch

05 tháng 2, 2011

Kitô hóa là lực lượng thứ ba của chủ nghĩa thực dân như Jomo Kenyatta, một nhà lãnh đạo ở Kenya đã quá cố(*), lý giải khi ông nói: “Khi người da trắng đến ông ta có kinh thánh chúng tôi có đất. Sau đó ông nói “chúng ta hãy nhắm mắt lại và cầu nguyện. Khi chúng tôi mở mắt ra, chúng tôi có kinh thánh và ông ta có đất.

 

Jomo Kenyatta và tượng của ông

 http://arsnotoria.blogspot.com/2010/09/rise-and-fall-of-neo-colonialism.html

(*) Giám mục Desmond Tutu (1931-) cũng tuyên bố câu tương tự.

Đây là một khẳng định thêm bởi thực tế là mỗi gia đình quý tộc người Anh đã có một Lãnh Chúa, một Giám mục, một doanh nhân trong thành phố, và một địa chủ, khẳng định vai trò tích cực của Kitô giáo trong hệ thống thuộc địa. Nhà thờ phát triễn tốt và thực sự tham gia vào việc chinh phục và khai thác người dân ở các thuộc địa, và cũng có nhiều lợi ích tài chính trong hệ thống thuộc địa. Ai cũng biết rằng ngân hàng đầu tiên tham gia vào các giao dịch đa tiền tệ là Vatican, để tài trợ cho số tiền mà họ kiếm được từ các quốc gia khác nhau. Chủ nghĩa thực dân hiện nay bị vượt qua bởi chủ nghĩa Tân thực dân, nhưng vai trò của nhà thờ thì không có gì thay đổi. Lợi dụng chỉ có thể được tiếp tục nếu sự gắn bó tự nhiên trong xã hội bị phá vỡ bởi các nhóm liên kết với các lực lượng nước ngoài. Đây là mục đích của việc cải đạo.

David Frawley trong cuốn sách “Đạo đức của việc cải đạo” (Ethics of Conversion) nói: “Truyền giáo kinh doanh vẫn là một trong những hoạt động kinh tế lớn nhất trên thế giới và được tài trợ rất dồi dào ở nhiều đẳng cấp. Có nhiều tập đoàn đa quốc gia đang hoạt động với sự tham gia của các nhóm Công giáo, Tin Lành và Truyền Giáo. Họ có nhiều nhân viên làm việc toàn thời gian và hệ thống cấp phát tiền, tạo sôi động trong giới truyền thông, âm mưu các sách lược và tìm kiếm những cách thức mới để thúc đẩy việc cải đạo. Các tôn giáo bản địa chỉ còn có cơ hội nhỏ nhoi của một tiệm ăn nhỏ khi có Mc Donald’s xâm nhập vào khu phố với một chiến dịch quảng cáo tài tình và đắt tiền nhắm vào khách hàng của mình. Tuy nhiên, trong khi nhiều nước ở thế giới thứ ba có các chính sách của chính phủ để bảo vệ các doanh nghiệp nhỏ, họ thường không có cơ chế an toàn để bảo vệ các tôn giáo địa phương”. Các tổ chức này có quan hệ chặt chẽ với các chính phủ phương Tây và các cơ sở kinh doanh. Sự thay đổi duy nhất là những nhà truyền giáo da trắng đã được thay thế bởi người truyền giáo da nâu và da đen để giảm bớt sự chú ý trong khi hoạt động.

Như thế là chu kỳ lợi dụng và khai thác vẫn tiếp tục. Thật là mỉa mai khi những người lợi dụng người nghèo ở thế giới thứ ba lại sử dụng các tài sản bất chính để cải đạo. Với người sắp chết đói cho họ các mẩu bánh mì vụn là đủ lý do để cải đạo. Họ không hiểu rằng ân nhân của mình lại có một phần trách nhiệm cho tình trạng khó khăn của mình. Về lâu dài, người nghèo phải trả giá rất đắt cho thân phận ở đợ và bị lợi dụng cho các thế hệ tới, như đã thấy ở Châu Mỹ La-tinh và Châu Phi. Chống đối duy nhất việc cải đạo đã xảy ra ở Châu Á, nhưng Châu Á bây giờ là mục tiêu.

Thách thức của Phật giáo

Phật giáo (PG) là một tôn giáo thích ứng. Vừa là một tôn giáo và một triết lý / đạo đức, PG có thể vượt qua ranh giới chính trị và văn hóa. PG là một tôn giáo di động hướng đến cả lý trí và quán sát. PG không chủ trương chia rẽ và cho cá nhân một phương pháp để giải thoát chính mình. Tự do tư tưởng và sự hiểu biết đúng trách nhiệm của chính mình và cuối cùng cho những người khác đã hấp dẫn mạnh các nhà trí thức. Với sự tự do này, Phật giáo đang nhanh chóng lan rộng ở phương Tây. Các mô hình phương Tây như nữ quyền, dân chủ, thực dụng cá nhân, luân lý đa nguyên và các hoạt động xã hội có thể thi hành với PG; điều này làm cho PG được dễ chấp nhận hơn với người phương Tây.

Triết học Phật giáo và thực hành đang đi đầu trong phong trào hiện đại về môi trường. Các quan điểm Phật giáo về sinh thái được thể hiện trong giáo lý Duyên Khởi, vì mọi vật không tồn tại riêng rẽ, mà phụ thuộc lẫn nhau. PG phủ nhận vai trò truyền thống của con người là chinh phục thiên nhiên, một chính sách mâu thuẫn với những suy nghĩ của phương Tây Thiên chúa giáo đã góp phần lớn vào việc phá hủy môi trường. Vì vậy Phật giáo không chỉ đang xâm nhập vào số dân cốt lõi của Thiên Chúa giáo ở châu Âu và Châu Mỹ, mà còn thách thức gián tiếp hệ thống kinh tế phương Tây dựa trên tiêu thụ. Có thể sai khi nói triết lý này hoàn toàn là của Phật giáo, vì nó bao gồm tất cả các truyền thống bản địa của châu Á như Ấn Độ giáo, Lão giáo, đạo Jain, vv… Nó thể hiện tốt nhất trong Triết học châu Á của Hài hòa.

Shaku Soen

Shaku Soen là một nhà tu thông thái của Nhật Bản và được xem là người truyền Phật giáo sang Mỹ; ông đã nói vào cuối thế kỷ 19 là hy vọng duy nhất cho Phật giáo là ở phương Tây. Ông nói rằng có con hổ dưới hình thức Kitô giáo ở cửa trước và con cáo dưới hình thức đạo Hồi ở cửa sau, và Phật tử không còn có hy vọng tại châu Á. Điều này chỉ đúng một phần. Các xã hội Phật giáo rất vững chắc và đã chống lại Kitô hóa trong 200 năm qua. Đó là lý do tại sao việc Kitô hóa đang được đẩy mạnh trong thế kỷ 21 này.

Phật giáo là một trở ngại cho việc khai thác liên tục các tài nguyên thiên nhiên trong hệ thống kinh tế hiện nay. Vì vậy nó là một mối đe dọa lâu dài cho Kitô giáo, vì Kitô liên kết chặt chẽ với hệ thống kinh tế phương Tây. Đối thoại liên tục giữa Phật giáo phương Tây và các xã hội tôn giáo bản địa đã mang lại nhiều hiểu biết cho cả hai bên và nhanh chóng mang Phât giáo vào thế kỷ 21. Việc Phật giáo đe dọa mục tiêu cơ bản của sự thống trị của Thiên chúa giáo và việc khai thác người dân địa phương đã đẩy mạnh một chiến dịch chống Phật giáo dữ dội đang được nhà thờ thực hiện một cách tinh vi.

Xáo trộn các xã hội Phật giáo

Tạo ra bạo động và sau đó giảng đạo là một trong những phương pháp được sử dụng bởi các nhà thờ Thiên chúa giáo để gây bất ổn trong các xã hội bản địa. Các phiến quân Karen ở Miến Điện và Tamil Tigers ở Sri Lanka đã được hỗ trợ bởi Giáo hội Thiên chúa giáo. Họ đã cầm đầu các hỗ trợ quốc tế cho các Tigers này. Bộ máy tuyên truyền của họ đã miêu tả cuộc chiến tranh như là một cuộc đấu tranh giữa Phật giáo và Ấn giáo. Không phải là chuyện bất thường khi họ sử dụng một bức tranh hài hước của một tu sĩ Phật giáo cầm khẩu AK-47 trong một tay và một quả lựu đạn trong tay khác như là một công cụ để bôi nhọ Phật giáo trong các bài báo ở phương Tây. Điều này đã được thực hiện nhằm tăng cường nhận thức ở phương Tây rằng các tôn giáo không phải từ phương Tây là các giáo phái nguy hiểm, dã man, sơ khai, không khoan dung và hiếu chiến.

Quân đội Karen National Liberation Army (KNLA) ở Miến Điện

– tuy ít người nhưng rất kiên quyết

Có tạo ra tình trạng lộn xộn, họ nắm thẩm quyền đạo đức. Hàng loạt tổ chức phi chính phủ hoặc hoạt động nhân quyền, các nhân viên xã hội và y tế vv…liền xâm nhập đất nước. Mục đích là để lợi dụng tối đa các khó khăn của các nạn nhân để cải đạo. Tại Sri Lanka, cải đạo người Ấn giáo và Phật tử tiếp tục sau chiến tranh. Điều thú vị là các tổ chức này không bao giờ lên án những Tigers đã thu tiền tại Vương quốc Anh và châu Âu để tiếp tục bạo lực, cũng như không lên án việc sử dụng binh lính trẻ em.

Các thảm họa tự nhiên cũng mang theo xâm lược của hàng loạt tín đồ Kitô giáo đầy long từ bi. Sau vụ sóng thần, một số tổ chức phi chính phủ đã đến Sri Lanka và hiện nay vẫn chưa rời đất nước này. Việc cải đạo vẫn đang diễn ra một cách tích cực. Quốc gia duy nhất đang chống lại sự tấn công của Kitô giáo là Myanmar, và nước này đang bị lên án nặng nề. Myanmar đã nhìn thấy tình cảnh của Sri Lanka.

Một phương pháp khác để đạt được tin tưởng của các tôn giáo khác là tổ chức “đối thoại”. Đây chỉ là một thủ đoạn để tiêu diệt phản ứng của xã hội đối với việc Kitô hóa.

Cải Đạo

Tổ chức cuộc hội thoại giữa các tôn giáo và đối thoại thông thường giữa các tôn giáo là điều có thể chấp nhận được. Nhưng cải đạo có tổ chức cũng giống như một đội quân được đào tạo để xâm lược một quốc gia khác. Những đội quân truyền giáo thường đi vào các cộng đồng ít chống đối hoặc có thể không biết quyền lực hoặc động lực của họ. Họ lợi dụng các cộng đồng đầy khoan dung và cởi mở về vấn đề tôn giáo, đặc biệt là những nơi có nhiều tôn giáo như Phật giáo và Ấn Độ giáo, để thúc đẩy chương trình truyền giáo của họ.

Các xã hội nghèo bị mất ổn định ở châu Á đã trở thành ruộng đất màu mỡ cho các nhà truyền giáo đến “thu hoạch linh hồn”. Tại Sri Lanka, sự khoan dung của xã hội đã vượt quá giới hạn và bạo lực đã đôi lúc xảy ra. Điều này đã trở thành một cơ hội để các phương tiện truyền thông Kitô giáo tuyên truyền huyền thoại của Phật giáo về bạo lực.

Điều này đã được miêu tả rỏ ràng trong một bản tin của Reuters “Chống Kitô giáo tăng ở nước Phật giáo Sri Lanka” nhưng không bao giờ cho biết về tình hình thực tế hoặc tình hình phía sau. Nhiều tổ chức Phật giáo đã yêu cầu chính phủ tạo một dự luật chống cải đạo, nhưng luật vẫn chưa xảy ra vì sức ép từ phương Tây. Cải đạo đã tiến triển rất nhanh chóng ở Hàn Quốc, một đất nước Phật giáo. Bây giờ khoảng 40-60% của cả nước đã cải đạo. Các hoạt động truyền giáo bắt đầu từ chiến tranh Triều Tiên đã thành công.

Tuyên truyền chống Phật giáo

Ngoài việc cải đạo, nhiều chương trình đã được thực hiện để bôi nhọ Phật giáo. Các cơ quan truyền giáo đã phát hành sách và tờ rơi nhạo báng Phật giáo và ca ngợi Thiên Chúa giáo. Các Phật tử mới cải đạo được khuyến khích để phá hủy hình tượng Phật giáo và xúc phạm đến Phật giáo trước khi được chấp nhận vào đạo.

Việc phát hành gần đây của cuốn sách “Chiến Tranh với Phật giáo” (Buddhist Warfare) của Michael Jerryson và Mark Juergensmeyer là một nỗ lực nhằm làm mất uy tín tinh thần bất bạo động của Phật giáo. Mô tả trong một bài viết bởi Katherine Wharton “Mặt trái của tôn giáo thường được cho là hoà bình nhất “ (The dark side of what is often thought to be the most peaceful of all religions). Bài viết đã phá niềm tin. Ngẫu nhiên, Catherine Wharton đã tổ chức chương trình thăm Ấn Độ của Tổng giám mục Canterbury và một hội nghị gần đây giữa các nhà lãnh đạo Ấn giáo và Kitô giáo ở Bangalore.

Ứng phó

Thống trị, khai thác và hủy diệt các xã hội bản địa là chương trình bí mật của Kitô hóa. Trừ khi các chính phủ bản địa và các tổ chức tôn giáo đều nhận thức được điều này, nghèo đói và xâm thực các xã hội châu Á vẫn sẽ tiếp tục. Để các tôn giáo và văn hóa châu Á còn tồn tại, phải có một phản ứng trước sự tấn công của đạo quân truyền giáo này. Chúng ta hy vọng sẽ không có thêm một Nam Triều Tiên nữa.

Nguyên Tánh chuyển dịch

Tết 2011
 

 

[] llllllllllllllllllll [] llllllllllllllllllll [] llllllllllllllllllll [] llllllllllllllllllll [] llllllllllllllllllll [] llllllllllllllllllll [] llllllllllllllllllll []

Denigration of Buddhism & conversion of the vulnerable: Christianity’s latest ploy

J Goonetilleke 25 Oct 2010

Christianisation was the third force of colonialism as best expressed by Jomo Kenyatta, the late Kenyan leader, who said: “When the white man came he had the bible we had the land. Then he said ‘let us close our eyes and pray’. When we opened our eyes we had the bible he had the land.”

This is further confirmed by the fact that every British aristocratic family had a Lord, a Bishop, a businessman in the City, and a landed proprietor, confirming the active part played by Christianity in the colonial system. The church was well and truly involved in the subjugation and exploitation of the people in the colonies, and also had financial interests in the colonial system. It is well known that the first bank that dealt in multi-currency dealings was the Vatican, to bankroll the money it acquired from the various countries. Colonialism has now been overtaken by Neo-Colonialism, but the part played by the church has not changed. Exploitation can only be continued if the natural cohesion in societies is disrupted by groups aligned to foreign forces. This is the aim of conversion.

David Frawley in his book Ethics of Conversion says: “Missionary business remains one of the largest in the world and it has enormous funding at many levels. It is like several multinational corporations with different Catholic, Protestant and Evangelical groups involved. There are full time staff and organisations allocating money, creating Media hype, plotting strategies and seeking new ways to promote conversions. The local native religion has about as much chance as a local food-seller has if Mc Donald’s moves into his neighbourhood with a slick well funded advertising campaign targeting his customers. Yet while many third world countries have government policies to protect small businesses, they usually has no safety mechanism to protect the local religions.” These organisations have close relations with Western governments and business establishments. The only change is that the Whites have been replaced by Brown and Black evangelists who attract less attention to the modus operandi.

Thus the cycle of exploitation continues. It is ironic that the same people who exploit the poor in third world use the same ill-gotten wealth to convert. To a starving man the offer of crumbs of bread is enough reason to convert. He does not understand that his benefactor is partially responsible for his predicament. In the long term, the poor pay the ultimate price of servility and exploitation for generations to come, so well seen in Latin America and Africa. The only resistance to conversion has been in Asia, which is now targeted.

Challenge of Buddhism

Buddhism is adaptive. Being both a religion and a philosophical/ethical code, it can cross political and cultural boundaries. It is a portable religion geared to both reason and reflection. It is not divisive and offers a way to the individual to liberate himself. Freedom of thought and the proper understanding of the responsibility to oneself and ultimately to others has great appeal to the educated. Given this freedom, Buddhism is rapidly spreading in the west. Western paradigms like feminism, democracy, pragmatic individualism, moral pluralism and social activism can be accommodated in the religion which makes it more acceptable to the westerner.

Buddhist philosophy and practice is at the forefront of modern environmental movements. The Buddhist ecological perspective is embodied in the doctrine of Patticasamupadda (Dependent Co Origination), where things exist not in their own right but interdependently. It addresses humanity’s hubris regarding its traditional role as conqueror of nature, a policy which contradicts the western Christian mindset that has greatly contributed to the destruction of the environment. Thus Buddhism not only is making inroads in Christianity’s core population in Europe and America, but is challenging indirectly the western economic system of consumption. It will be wrong to say this philosophy is purely Buddhist; it encompasses all native Asian traditions like Hinduism, Daoism, Jainism, etc. It is best embodied in the Asian Philosophy of Harmony.

Shaku Soen, the erudite Japanese priest credited with taking Buddhism to America, who said in the late 19th century that the only hope for Buddhism was in the west. He said there was a tiger in the form of Christianity at the front door and a fox in the form of Islam at the back door, which gave no hope for Buddhists in Asia. This is only partially true. Buddhist societies have been resilient and have resisted Christianisation for the last 200 years. That is why the process of Christianisation is attempted with greater vigour now in the 21st century.

Buddhism is a hurdle to the continuous exploitation of natural resources in the present economic system. Hence it is a long-term threat to Christianity, as the latter is closely connected to the western economic system. Continuous dialogue between the western Buddhist and native religious societies are enlightening each other and fast bringing Buddhism into the 21st century. This Buddhist threat to the fundamental Christian objectives of domination and exploitation of natives has promoted a vicious anti-Buddhist campaign conducted subtly by the church.

Destabilisation of Buddhist societies

Creating violence and then moralising is one of the WMDs used by the Christian church to destabilise native societies. The Karen rebels in Burma and Tamil Tigers of Sri Lanka were well supported by the Christian church. They were in the forefront supporting the Tigers internationally. Their propaganda machines depicted the war as a fight between Buddhists and Hindus. It was not unusual to use a caricature of a Buddhist monk with an AK-47 in one hand and a grenade in the other as a tool to denigrate Buddhism in articles written in western media. This was done with a view to reinforcing the western mindset that non-western religions are dangerous cults, barbaric, primitive, intolerant and aggressive.

Having created the mayhem, they highjack the moral authority. Hoards of NGOs or human rights activists, social and medical workers etc., invade the country. The purpose is to maximally utilise the predicament of the victims for conversion. In Sri Lanka, Christianisation of Hindus and Buddhists continues in the post-war situation. It is interesting that none of these organisations ever condemned the Tigers who collected money in UK and Europe to continue the violence; nor was there any vociferous condemnation of the use of child soldiers.

Natural disasters are also followed by the invasion of hoards of Christian compassionates. After the Tsunami, some NGOs who arrived in Sri Lanka have still not left the country. Active conversion is still going on. The only country that resisted the Christian onslaught was Myanmar, which has been roundly condemned. Myanmar had seen the predicament of Sri Lanka.

Another modus operandi is to gain the confidence of other religions by having a ‘dialogue’ with them. This is nothing more than a ruse to disarm the reaction of the society against Christianisation.

Conversion

Organised conversation between religions and common dialogue between religions is acceptable. But organised conversion is like a trained army invading another country. These missionary armies often go into communities where there is little organised resistance or which may not even be aware of their power or motives. They take advantage of communities that are tolerant and open minded about religion, especially those that are pluralistic like Buddhism and Hinduism, to promote their missionary agenda.

Poor destabilised Asian societies have become fertile grounds for evangelists to “harvest souls”. In Sri Lanka, society’s tolerance has exceeded its limits and violence has erupted on and off. This has become another opportunity to the Christian media to propagate the myth of Buddhist violence.

This was well-depicted in a Reuters article “Anti Christian Sentiment Rises in Buddhist Sri Lanka” which never gave an inkling of the real situation or background to the situation. Several Buddhist organisations have asked the government to formulate an anti-conversion bill, but it is yet to materialise because of pressure from the west. Evangelical conversion has progressed very rapidly in South Korea which was a Buddhist country. Now about 40-60% of the country is converted. The missionary activity that started with the Korean War has succeeded.

Anti Buddhist Propaganda

Apart from conversion, valiant attempts have been made to denigrate Buddhism. Missionary bodies go about distributing books and pamphlets ridiculing Buddhism and praising Christianity. Buddhist converts are made to destroy Buddhist images and insult the religion before being accepted into the faith.

The recent publication of “Buddhist Warfare” by Michael Jerryson and Mark Juergensmeyer is another attempt at discrediting the non-violent aspect of Buddhism. Depicted in a write up by Katherine Wharton as “The Dark side of what is often thought to be the most peaceful of all religions,” it debunks the faith. Incidentally, Catherine Wharton has organised the India programme of the Archbishop of Canterbury and the recent conference between Hindu and Christian leaders in Bangalore.

The Response

Domination, exploitation and destruction of native societies is the hidden agenda of Christianization. Unless native governments and religious organisations are aware of this, the poverty and cannibalisation of Asian societies will continue. It is imperative that if Asian religions and culture are to survive, there must be a response to this missionary onslaught. Let us hope there will not be any more South Koreas.

The author is a Sri Lanka Buddhist

Listen

Read phonetically

Dictionary – View detailed dictionary

 

43 PHƯƠNG PHÁP CẢI ĐẠO CỦA TIN LÀNH VÀ CÔNG GIÁO

43 PHƯƠNG PHÁP CẢI ĐẠO CỦA TIN LÀNH VÀ CÔNG GIÁO 

Minh Kiến

Lời nói đầu
 

Trong số các nước theo đạo Phật ở châu Á, Việt Nam có nhiều người bị cải đạo nhất.  Trước tiên là sự cải đạo mạnh mẽ của Thiên Chúa giáo La Mã rồi gần đây từ Tin lành. Giáo hoàng John Paul II đã tuyên bố Á châu là mục đích của Thiên niên kỷ thứ ba (Asia is the common goal of the Third Millennium).  Các giáo phái Tin lành cũng đã có “Kế hoạch cho ngày tàn của Phật Giáo” (xin mời xem bản dịch bài Planning the Demise of Buddhism tại http://www.buddhismtoday.com/viet/diemsach/kehoachchongay-tancuaPG.htm ).  Theo báo cáo Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế của Mỹ, số người theo Tin lành ở Việt Nam đã gia tăng 600%  trong thập niên vừa qua (http://www.state.gov-/g/drl/rls/irf/2007/90159.htm ).

 Trong bài này chúng ta tìm hiểu các chiêu thức hay các phương pháp mà các người truyền đạo Chúa (gồm Công giáo và Tin lành) đã và đang áp dụng để “gặt linh hồn về cho Chúa” (soul harvest for Christ), danh từ được dùng để ám chỉ việc cải đạo người khác theo tôn giáo của họ. Họ sử dụng nhiều phương pháp, kể cả phi pháp và vô đạo đức, để tiêu diệt các tôn giáo và nền văn hóa khác làm cho một người rất ôn hoà và rộng lượng như Đức Đạt Lai Đạt Ma cũng chống cải đạo và gần đây Ngài đã phải kêu lên cải đạo là không đúng với thông điệp của Chúa Trời!   Các phương pháp cải đạo của Tin lành trong bài này được trích từ website CrusadeWatch: http://www.crusadewatch.org/index.php?option=com_content&task=-section&id=21&Itemid=54 

Dưới đây là các phương pháp nổi bật nhất đang được các giáo phái đạo Chúa áp dụng. Chúng tôi cũng nêu lên những trường hợp cải đạo xãy ra gần đây ở các nước Phật giáo, nhất là ở Việt Nam.  

1. Trẻ em bị lôi cuốn bằng quà tặng, đồ chơi và thức ăn

 

Đồ chơi với chủ đề “Tin Lành” được làm quà cho trẻ em. Truyền bá sẽ dễ dàng hơn với các đồ chơi như eCube và 4 triệu cái đã được phát ở 75 quốc gia (http://www.e3resources.org/) . Đó là một hình khối có thể lật và gấp thành những câu chuyện của Chúa Giêsu hay các tin nhắn từ Kinh Thánh lên án các tôn giáo bản địa. Phương pháp này rất phổ biến ở châu Phi và châu Á.  Ở nước Anh, các học sinh được yêu cầu bỏ vào hộp giày một món quà để gửi đến các nước ở châu Phi. Ở Mỹ, các nhà truyền đạo bí mật tổ chức tiệc pizza ở các trường học. Ở Kampuchea, các nhóm truyền đạo đem kẹo bánh, quần áo và học tiếng Anh để dụ dỗ trẻ em theo đạo. Vì thế chính phủ Kampuchea đã ra lệnh nghiêm cấm họ đi đến nhà người dân và giới hạn các hoạt động truyền giáo vì đã gây bất ổn trong xã hội (Cambodia bans Christian proselytizing, AFP France, July 17, 2007,   http://www.religionnewsblog.com/18750/cambodia )

2. Thưởng tiền: $1 + cầu nguyện Chúa Giêsu = $10

 

Phần lớn người trên thế giới đang điên vì tiền và sự giàu có. Nhiều người sẵn sàng làm bất cứ chuyện gì để được giàu sang. Giáo hội khai thác rất thành công cơn điên này bằng cách khuyên mọi người nên quyên góp (gọi là đầu tư) cho Chúa (tức là Giáo hội của họ) và cầu nguyện. Giáo hội tuyên bố rằng Đức Chúa Trời sẽ đáp lời cầu nguyện của họ bằng cách trả lại ít nhất 1000% của những gì mà họ đóng góp. Khi người ta không nhận được gì hết thì họ được bảo rằng những lời cầu nguyện của họ chưa đủ hoặc $10 + cầu nguyện chỉ có được một xe đạp chứ không phải là một xe Rolls Royce. Đây được gọi là phúc âm “Sức khỏe và Giàu Sang” được truyền bá tại Mỹ : bạn cung cấp cho các nhà thờ 10 phần trăm tổng thu nhập của bạn, và Thiên Chúa sẽ cung cấp cho bạn một cách kỳ diệu. Phương pháp này rất thịnh hành trong đạo Mormons và Pentecostal, và đang xâm nhập mạnh mẽ vào giáo phái Baptists và các nhà truyền đạo “không giáo phái”. Theo các nhà truyền giáo này, nếu bạn không giàu sang và mạnh khỏe, đó là vì bạn thiếu đức tin. Người ít học thức hay người dân nghèo khổ sẵn sàng thử bất cứ điều gì để có được một cuộc sống tốt đẹp hơn.
[Việt Nam]: Đại loại lời giảng là Chúa khuyên chúng ta hãy kêu cầu ngài vì ngài sẽ nghe mọi lời cầu nguyện của chúng ta. Ngài phán “Hãy xin, sẽ được; hãy tìm, sẽ gặp; hãy gõ cửa; sẽ mở cho. Bởi vì, hễ ai xin thì được; ai tìm thì gặp; ai gõ cửa thì được mở”.  Hễ xin gì Chúa cho nấy vì ngài phán rõ ràng rằng ngài sẽ trả lời… (Minh Tuệ, Nhìn vài ví dụ về Tin Lành, nghĩ về PGVN, 06/11/2009, http://www.phattuvietnam.net/3/chanhung/7911.html ) 3. Bắt cóc  
Bắt cóc là một phương pháp rất phổ biến được sử dụng với các bộ lạc. Nó đã được áp dụng cho các bộ lạc bản địa ở Canada, Mỹ và Úc trong những thế kỷ trước. Chiến lược này vẫn đang được dùng nhưng với quy mô nhỏ hơn nhiều để đảm bảo bí mật.

4. Viết lại Lịch sử

 

Chiến lược này nhằm tạo ra thành kiến xấu, khiến người dân địa phương giảm gắn bó với các tôn giáo bản địa, các nền văn hóa và truyền thống của họ. Các học giả Fredrich Max Muller, Wendy Donniger, Paul Courtright, Jeffrey Kirpal vv… là những ví dụ trong số này. Max Muller đã nói rằng “tôi sẽ viết và dịch kinh Upanishads đến độ sẽ không có một tín đồ Ấn độ giáo nào tôn trọng kinh đó nữa”. Jeffrey Kirpal đã ngụy tạo mối quan hệ loạn luân giữa Ramakrishna Paramahamsa và Vivekananda trong khi Paul Courtright gọi thần Ganesha là một nhân vật bị ám ảnh bởi tình dục bằng miệng.

Một tín đồ Ấn độ giáo bình thường sẽ không còn tự hào là một tín đồ nữa sau khi đọc các tác phẩm này và thường trở thành đối tượng chế giễu trong xã hội của mình. Mặc dù nhiều người trong số các học giả này không tự gọi mình là người truyền giáo tích cực nhưng họ đã thành công phần đầu của việc truyền giáo, tức là khiến người bản xứ ngưng gắn bó với tôn giáo và văn hoá của mình.  

[Việt Nam]: Cuối năm 2009, các giáo phái Tin lành đã tổ chức lễ Thuộc Linh tại sân vận động Mỹ Đình, Hà Nội.  Trong buổi lễ này, họ đã tuyên bố Dân tộc Việt Nam chắc chắn thuộc về Đức Chúa Trời. Mọi xiềng xích tội lỗi và rủa sả của các thế hệ trước đã bị tuyên bố cắt đứt, hình ảnh con rồng, tức con rắn xưa là ma quỷ kể từ nay không còn được tiếp tục được ảnh hưởng trên dân tộc Việt Nam. Việt Nam thuộc về Đức Chúa Trời, từ nay dân tộc Việt Nam sẽ được phước. Hội Thánh Việt Nam sẽ bước vào một cơn phấn hưng chưa từng có và trong một tinh thần hiệp thông khắng khít với Đức Chúa Trời…”.   (Lửa đã cháy ở Mỹ Đình, bao giờ lan đến Quán Sứ?, Minh Thạnh và Trọng Hoàng, 07/11/2011, http://www.phattuvietnam.net/3/chanhung/12848.html)

5. Nghiện rượu

 

Các người truyền giáo đã mang rượu và khuyến khích nghiện rượu đến các bộ lạc (ví dụ ở Polynesia và Tahiti). Các nhà lãnh đạo quen dần với rượu và đã làm tất cả mọi chuyện mà các người truyền giáo đòi hỏi, và toàn bộ cộng đồng của họ đã theo đạo Chúa.

6. Tẩy não và thôi miên  

 

Cải đạo là một danh từ “đẹp” cho tẩy não … và các nghiên cứu về tẩy não đã bắt đầu với phong trào sống lại của đạo Chúa  (Christian revival) ở Mỹ vào thế kỷ thứ 18. Hình như ông Jonathan Edwards đã vô tình phát hiện ra các kỹ thuật này trong một chiến dịch tôn giáo vào năm 1735 tại Northampton, tiểu bang Massachusetts. Bằng cách gây cảm giác tội lỗi và lo âu cấp tính và bằng cách gia tăng sự căng thẳng, các “tội nhân” tham dự các cuộc hồi sinh của ông đã suy sụp và hoàn toàn bị chinh phục. Về mặt kỹ thuật, những gì mà ông Edwards đã làm được tạo điều kiện tẩy sạch não bộ để chấp nhận những nhận thức mới. Ông đã nói với những người tham dự “Bạn là một người có tội! Bạn đang đi vào địa ngục!”

7. Kinh doanh và việc làm

 

Nhiều người chủ thuộc Kitô giáo đã dùng công ăn việc làm để thu hút và nhiều lúc bắt một người không có đạo vào giáo phái Kitô của họ. Ngay ở Mỹ, không ít người Việt tỵ nạn đã bị người bảo trợ, thường là nhà thờ, dụ dỗ cải đạo để nhận giúp đở về định cư, việc làm …

8. Từ thiện, hối lộ và mua linh hồn 

 

Từ thiện là phương pháp  được sử dụng phổ biến nhất hiện nay. Điều này cho họ một bao che thế tục và tránh được nhiều câu hỏi về các hoạt động truyền đạo của họ. Phương pháp này thường được sử dụng để giúp những người truyền giáo ở lại lâu dài. Họ có thể là người dạy ngoại ngữ, nhân viên xã hội, người giúp bệnh HIV / AIDS  v.v…

[Việt Nam]: Trích “Khi đi làm việc y tế từ thiện như vậy chúng tôi được nhiều người hỏi tại sao chúng tôi làm thế. Ðây là dịp để những người Kitô Hữu truyền giáo bằng cách cho họ biết là vì đức bác ái của Chúa Kitô mà chúng tôi làm việc này. Trong quá trình làm việc của đoàn đã có 2 thành viên trong đoàn trở lại đạo Công Giáo! Và hy vọng công việc bác ái này cũng đánh động và ảnh hưởng nhiều người nhận ra lòng nhân từ của Thiên Chúa là nguồn mạch của mọi ân sủng và lòng yêu thương” [Chương Trình Y Tế Từ Thiện cho Việt Nam, LM Trần Mạnh Tiến, 2007, http://medicalaidforvietnam.org/Documents/Chuong%20Trinh%20Y%20Te%20Tu%20Thien%20cho%20VN.pdf ] (chương trình này của Evangelical Medical Aid Society và Christian Medical &Dental Society ở Canada). 

9. Buôn bán trẻ em / trại mồ côi

 

Mặc dù có một số ít trại mồ côi của đạo Chúa thực sự làm từ thiện, đa số các trại mồ côi mọc lên ngày hôm nay chủ yếu là các trung tâm truyền đạo. Họ tin vào nguyên tắc ‘Bắt chúng khi còn nhỏ’. Nhiều trại mồ côi cho rằng họ đang huấn luyện các con chiên tương lai.

[Việt Nam]: Các em tại trại mồ côi Khe sanh đã nhận được áo quần, đồ chơi, kẹo và Kinh Thánh tiếng Việt …Các em đã xin các hình của Chúa Giêsu, Kinh Thánh và cừu. Tin lành đã tuyên bố là Bác Ái sẽ dẫn đến Cải ĐạoCompassion leads to Conversion.

(Sứ Mạng Việt Nam – Mission Vietnam, 12/2010,

 http://missionvietnam.org/steph/pdf/newsletter_nov_dec_2010.pdf  

10. Giả tạo tu viện và đạo sư

 

Người theo Ấn độ gíáo rất tôn trọng các tu viện (Ashrams) và đạo sư (Swamis). Có nhiều tín đồ Kitô đã bắt đầu mặc áo choàng màu vàng và trông giống các nhà tu khổ hạnh. Nhiều người Ấn độ giáo bị lừa bởi các hình thức bên ngoài này và trở thành thành viên của các tu viện giả hiệu này. Một ví dụ tốt là Shantivanam Ashram của Linh mục chuyên lừa đảo Bede Griffiths. Nơi đó trông và cảm thấy như một tịnh thất của Ấn độ giáo. Cha Bede Griffiths mặc áo vàng nghệ, mang nhãn hiệu màu đỏ và cả đạo tràng đầy thiền định và tiếng tụng kinh. Nhưng mọi chuyện họ nói là về Chúa Giêsu và thánh Paul.

11. Khai thác giao tiếp

 

Giao tiếp là chìa khóa để truyền giáo. Không phải là những gì bạn nói nhưng “cách bạn nói”.
Những nhà truyền giáo hiểu khái niệm này tốt hơn so với bất cứ ai khác. Tất cả những người truyền giáo được đào tạo về tiếp thị và báo chí. Các kỹ thuật tiếp thị được sử dụng để thúc đẩy sản phẩm của họ (Chúa Giêsu = Cứu rỗi; các tôn giáo khác = Địa ngục). Kỹ thuật báo chí được sử dụng để tâng bốc các câu chuyện của họ, quản lý các phương tiện truyền thông và tạo ra những câu chuyện xấu về các tôn giáo không phải là Kitô giáo.

12. Đối chất gay gắt

 

Ở các trường Đại học và các nơi công cọng đông người như sân thể thao thường có vài người truyền đạo cầm bảng đề chữ “Giêsu cứu rỗi” (Jesus Saves) hoặc một đoạn trong Thánh Kinh như John 3:16. Họ còn khiêu khích bằng cách nói mọi người đều có tội và sẽ bị đọa địa ngục. Mục đích của họ là khiến người đến đối chất với họ và như thế họ có cơ hội để truyền đạo.  

   

13. Xâm nhập văn hóa

 

Đây là một kỹ thuật xâm nhập các nền văn hóa và niềm tin bản địa để làm cho người ngoại đạo  lầm tin rằng họ không ở trong một thế giới khác. Ấn độ giáo dùng chuổi Mangalsutra trong buổi lễ kết hôn. Các nhà truyền đạo liền tạo ra chuổi tương đương gọi là Yesusutra. Các nghi lễ Ấn độ giáo và Phật giáo đã được bắt chước.

14. Củng cố ảnh hưởng và quyền lực

 

Truyền đạo không phải là hoạt động hời hợt mà có kế hoạch lâu dài. Mục tiêu cuối cùng của họ là kiểm soát mọi thứ trên thế giới. Trước đây Giáo hội đã có quyền kiểm soát tất cả mọi thứ bao gồm cả thức ăn, áo quần, suy nghĩ và thậm chí cả vị trí tình dục (chỉ được phép làm tình theo vị trí truyền giáo, missionary position). Các nhà truyền đạo ngày nay đang cố gắng dựng lại thời đại hoàng kim của họ. Để đạt được điều này họ củng cố tất cả các vị trí mạnh có được trong tư pháp, quân đội, chính trị hoặc giới truyền thông.  

15. Tạo tội lỗi

 

Chiến lược này đổ lỗi cho các tôn giáo bản địa là nguồn gốc của các vấn đề. Năm 1975-1976 các nhà truyền giáo đã không thành công việc cải đạo người da đỏ Panare ở thung lũng Colorado, USA. Họ liền sửa Kinh Thánh nói rằng “Các người Panare đã giết Chúa Giêsu vì họ đã độc ác …. Thiên Chúa sẽ đốt cháy họ, đốt tất cả các súc vật, đốt cháy luôn đất, trời, tất cả mọi thứ. Ngài sẽ đốt cháy các người Panare”. Người da đỏ Panare cảm thấy có tội mà tổ tiên của họ đã phạm và đã cải đạo sang Thiên chúa giáo để tránh “cuộc trả thù của Chúa Giêsu”. Điều này hiện đang được áp dụng chống lại người Hồi giáo. Họ nói rằng đạo Hồi là nguồn gốc của chủ nghĩa cực đoan trên thế giới và người Hồi giáo nên bỏ đạo Hồi để được xóa tội.

 16. Tạo sợ hãi bị bỏ rơi

 

Chiến lược này rất có hiệu quả với người yếu tâm lý. Tin Lành tin rằng chỉ có đạo của họ là tôn giáo chân chính. Họ thường hỏi các người ngoại đạo “Số phận của các người sẽ ra sao trong trường hợp Thiên Chúa giáo là tôn giáo chân chính và tôn giáo bản địa là sai? “. Sau đó các nhà truyền đạo liền mô tả số phận của người ngoại đạo phải đọa địa ngục, biển lửa và biển máu trong lần trở lại thứ hai của Chúa Giêsu vv… và khuyên người bản địa nên cẩn thận. Nhiều người yếu tâm lý vì muốn an toàn nên đã cải đạo để khỏi bị bỏ rơi lại đằng sau.

17. Chê bai và gây thù hận

 

Theo Kitô giáo, các tôn giáo khác đều là tác phẩm của quỹ Satan và tất cả ngoại đạo đều thờ Satan. Những chiến lược này chủ yếu được sử dụng để tạo động lực cho các nhà truyền giáo và để tạo ra ác cảm ở các người ngoại đạo về tôn giáo của họ.  Ở Sri Lanka, có cả trăm nhóm truyền đạo dùng tiền và quà tặng để dụ dỗ dân nghèo. Sau khi cải đạo, người tín đồ Kitô tân tòng phải đi phá hủy tượng Phật hay thần Ấn độ giáo, hay đốt kinh điển Phật giáo hay Ấn độ giáo để chứng minh là đã hoàn toàn theo Kitô giáo (Cuồng Tín của Kitô Giáo tại Sri LankaChristian Fanatism in Sri Lanka, Meredith De Silva, 08/08/2007, http://www.christianaggression.org/item_display.php?type=ARTICLES&id=1186632721

Ờ Hàn quốc, nhiều chùa và tượng Phật đã bị phá hủy bởi các tín đồ cuồng tín Tin lành vì họ cho đó là thờ ma quỷ (Bài học từ cải đạo qua đốt chùa, chặt đầu tượng Phật ở Hàn Quốc, Minh Thạnh, 25/01/2011,

http://www.giaodiemonline.info/noidung_detail.php?newsid=5424

18. Lợi dụng cứu trợ thiên tai

 

Thiên tai được xem cơ hội tốt mà Chúa đã ban cho các người truyền đạo. Họ lợi dụng các thảm họa theo hai cách:

1)     Cứu trợ thiên tai: “Sóng thần là một trong những cơ hội lớn nhất mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta” theo lời ông KP Yohannan, Chủ tịch Hội Tin Mừng cho châu Á. Nhiều người như ông đã không phản đối việc lợi dụng các người bị tổn thương và đau khổ. Nhân danh cứu trợ thiên tai, các nhu cầu căn bản như thực phẩm, quần áo, nhà ở, nhu cầu y tế được cung cấp với điều kiện là nạn nhân phải chuyển sang đạo Kitô. Sau vụ sóng thần năm 2004, một số tổ chức phi chính phủ đã đến Sri Lanka và hiện nay vẫn chưa rời đất nước này. Việc cải đạo vẫn đang diễn ra một cách tích cực. Quốc gia duy nhất đang chống lại sự tấn công của Kitô giáo là Myanmar, và nước này đang bị lên án nặng nề. Myanmar đã nhìn thấy tình cảnh của Sri Lanka.
 
2) Tuyên truyền về Satan: Các nhà truyền giáo cho rằng thiên tai xãy ra trong vùng hoặc làng của họ, vì Thiên Chúa tức giận họ. Chúa tức giận vì các ngoại đạo thờ cúng ma quỷ và đang bị ảnh hưởng của Satan. Hầu hết các nạn nhân bị yếu tâm lý và ở trong tình trạng dễ bị lợi dụng vì họ bị mất người thân, tài sản và đang bị trầm cảm.  

19. Chia để trị

 

Đây là một trong những kỹ thuật lừa đảo phổ biến nhất được sử dụng trong suốt lịch sử truyền giáo. Sự khác biệt hay hận thù được tạo ra hoặc khai thác bằng cách dùng nhóm này chống lại nhóm kia. Điều này rất thông thường giữa các bộ lạc, vì rất dễ dàng tạo ra hận thù giữa hai bộ tộc. Các nhà truyền giáo người Anh và người Mỹ đã sử dụng thành công kỹ thuật này ở Ấn Độ bằng cách phân chia xã hội Ấn Độ ra hạng quý tộc da trắng Aryans và da đen Dravidians, người hạ tiện Dalits và không phải Dalits. Các học giả truyền giáo đã tạo các lý thuyết (không có bằng chứng) để hỗ trợ phân chia giai cấp này với sự giúp đỡ của một số người Ấn phản bội.  [Việt Nam] Các dân tộc thiểu số đã nổi loạn ở Tây Nguyên đòi tự trị: phong trào FULRO vào năm 1964 tại Buôn Ma Thuột và các người Dega theo đạo Tin lành năm 2001 tại Kontum.

 

20. Giáo dục / Trường học

 

Giáo dục là một chiến lược lớn đã được chứng minh với nhiều thành công  ở nhiều quốc gia nghèo như châu Phi, Nam Mỹ trong khi đó đã thành công một phần tại Ấn Độ, Sri Lanka và Pakistan. Truyền giáo qua giáo dục có nhiều hình dạng và kích cỡ. Các trường tiểu học, dạy nghề, đào tạo y tá, dạy nhạc, là nổi bật nhất. Trong nhiều vùng như Afghanistan và nhiều nước Hồi giáo, giáo dục đã không giúp nhiều cho việc truyền giáo trực tiếp nhưng đã giúp các người truyền giáo đặt chân vào các khu vực chưa được tiếp cận và thiết lập liên hệ với người bản xứ. Trường học là một mặt nạ tuyệt vời cho các hoạt động truyền giáo.

21. Trẻ em thành quân cuồng tín của Thiên Chúa

 

Nhiều gia đình đạo Kitô nuôi dưỡng các con em theo cách của các giáo phái cuồng tín. Những đứa trẻ này lớn lên trong môi trường hạn chế được huấn luyện để tiếp nối và áp đặt cung cách mà họ đã được nuôi dưỡng. Các mục sư hay linh mục, bà Sơ  kiểm soát mọi thứ liên quan đến sự giáo dục của trẻ em ngay cả việc chọn màu móng tay mà các em có thể dùng.

22. Trừ tà

 

Nhà thờ Công giáo khuyến khích các quan điểm cho rằng các xu hướng tiêu cực trên thế giới là do ma quỷ. Làm thế nào để thoát khỏi quỷ?  Nhà thờ Công giáo dùng một phương pháp thời Trung cổ gọi là trừ tà (exorcism). Khi một người bình thường bị bệnh, nhà thờ địa phương bí mật tuyên truyền rằng ma quỷ là nguồn gốc của bệnh tật và họ có cách trừ tà để thoát khỏi ma quỷ. Người thường đang bị bệnh tật dễ dàng rơi vào cái bẫy này. Theo CNN, bà Teresa đã bị trừ tà vào những năm cuối đời (Archbishop: Mother Teresa underwent exorcism, 09/07/2001, http://archives.cnn.com/2001/WORLD/asi-apcf/south-/09/04/mother.theresa.exorcism/ ) 

23. Khai thác các tù nhân

 

Tù nhân thường bị các quan chức nhà tù lợi dụng. Các người truyền đạo thường hay làm việc trong các nhà tù hoặc kết bạn với các quan chức nhà tù.

24. Sợ ngày tận thế

 

Các nhà truyền giáo thường tuyên truyền và gây nỗi sợ hãi vì ngày tận thế sắp xãy ra (ví dụ năm 2000, năm 2012!!!!). Họ ‘bảo lãnh’ lên thiên đường (giống như họ làm chủ) cho các người cải đạo và những người không cải đạo sẽ chìm trong biển lửa. Người mù chữ, người yếu tâm lý dễ bị thuyết phục và do đó cải đạo. Động đất và sóng thần Ấn Độ Dương gần đây đã được tất cả các nhà truyền giáo tuyên truyền là cơn thịnh nộ và cảnh báo từ Thiên Chúa cho những người không cải đạo.

25. Lừa người ngoại đạo để làm công việc truyền giáo

 

Các nhà truyền giáo đã lợi dụng người nhẹ dạ đi phát tờ rơi. Họ bị dọa là nếu không đi phát sẽ bị tai họa.

26. Lừa người dân với trò ảo thuật

 

Hảng Yigal Mesika chế tạo các sản phẩm như “Electric Touch” (Chạm Điện) cho các nhà ảo thuật. Kitô có nguồn gốc phản tự nhiên lại dựa vào các phép lạ và dân chúng ở các nước đang phát triển dễ bị lừa với những vật này. Ở các quốc gia đang phát triển như châu Phi, Ấn Độ, Nepal, người dân chưa bao giờ nghe nói hay thấy những sản phẩm này. Người truyền giáo dùng các vật này và đánh lừa mọi người khi nghĩ rằng chúng có năng lực siêu nhiên để cải đạo.

 

27. Nhà ở, đất nông nghiệp miễn phí

 

Các người truyền giáo thường mua linh hồn bằng cách hứa hẹn và đôi khi cung cấp nhà ở miễn phí hoặc đất nông nghiệp cho người nghèo. Trong nhiều trường hợp các mục sư hay linh mục đã gian lận bằng cách hứa hẹn nhà miễn phí nhưng đã không giữ lời.

28. Nạn diệt chủng

 

Chế độ Ustashe ở Croatia với sự tài trợ của Vatican đã nổi tiếng với các trại tử thần (death camp) trong nạn diệt chủng của Đức Quốc xã. Các bộ lạc da Đỏ ở Mỹ, Canada đã không nhận được một thông cảm nào khi bị thãm sát. Người dân Wiccans, thổ dân châu Mỹ, người bản địa của Nam Mỹ là một vài ví dụ của nạn diệt chủng.

29. Hỗ trợ của chính quyền

 

Nhiều nước trên thế giới bắt người dân lựa chọn các tôn giáo được chính quyền chấp nhận. Hàn Quốc, Trung Quốc, Indonesia và Nga là những quốc gia như vậy. Trước đây người cầm quyền sau khi cải đạo đã dùng quyền lực để buộc người dân thay đổi tôn giáo, ủng hộ tôn giáo của mình hoặc kỳ thị các tôn giáo khác. Chính quyền của Tổng thống Lee Myung-bak, một người theo đạo Tin lành, đã có nhiều biện pháp chống Phật giáo tại Hàn quốc như ngược đãi tăng ni, khám xét chùa chiền… Khi còn là thị trưởng Hán Thành (Seoul), ông Lee đã dâng hiến thành phố này cho Chúa Giêsu!

30. Chữa bệnh bằng phép lạ

 

Đây là một gian lận lớn được dùng với các người yếu tâm lý. Benny Hinn là một lãnh đạo hiện đại trong lĩnh vực này. Ông này làm phép lạ để chữa bịnh và các chương trình của ông (Miracle Crusades) được chiếu trên truyền hình ở nhiều nơi trên thế giới.

31. Thu hút sinh viên với các chương trình ở trường  

 

Nhiều nhóm truyền đạo như “Campus Crusade “ tổ chức các trận đấu thể thao, các chương trình học tập, du học nước ngoài, sách miễn phí, vv… để cải đạo. Người cải đạo nhận được nhiều lợi ích như làm điều phối viên, học bổng vv… những điều rất hấp dẫn đối với sinh viên nghèo.

 

32. Hôn nhân / Áp lực gia đình

 

Đây là một kỹ thuật rất phổ biến trong các gia đình trung lưu. Trong một cuộc hôn nhân liên quan đến một cô dâu không có đạo (thường chống lại nguyện vọng của gia đình), gia đình đạo Kitô đảm bảo rằng họ không phản đối tôn giáo của cô gái. Trong vòng vài tuần sau hôn lễ, gia đình đạo Kitô tuyên bố rằng họ không thể chấp nhận tôn giáo của cô gái được và họ cho cô gái mới cưới hai lựa chọn tức là, cải đạo sang đạo Kitô hoặc ly dị. Để cứu vãn cuộc hôn nhân, cô gái thường cải đạo. Nhiều cố vấn hôn nhân đã báo cáo sự gia tăng đáng kể của nhiều trường hợp như vậy. Ở Ấn Độ, nhiều người chồng đã đánh đập người vợ vì không chịu cải đạo. Không thể chịu đựng sự tra tấn nhiều cô gái đã tự tử.  

33. Y tế / Bệnh viện

 

Truyền bá Phúc âm trong các bệnh viện và nhân viên y tế là một phương pháp rất phổ biến ở các nước kém phát triển hoặc đang phát triển. Thông thường bệnh nhân và gia đình của họ đang ở trong trạng thái đau khổ và sẵn sàng làm bất cứ điều gì để được lành bệnh. Các nhà truyền đạo khai thác điểm yếu này để cải đạo lúc người bệnh hấp hối hay đánh lừa họ rằng cải đạo sẽ giúp họ hồi phục sức khỏe.   [Việt Nam] Có nhiều người bị chứng bịnh nan y như ung thư đã bị dụ dỗ vào đạo. Ớ các bệnh viện thường có các nữ tu Kitô nói với người bệnh là nên cải đạo và cầu nguyện Chúa và Đức Mẹ sẽ có phép lạ. Gần đây, các trang web Kitô đã loan tin thất thiệt về một sư cô bỏ Phật giáo theo đạo Kitô ở Bình Chánh. Lợi dụng lúc người bệnh hôn mê, họ đã làm phép cải đạo và đây là một hành vi phi đạo đức (“Sư Cô trụ trì” chùa Quan Âm cải đạo theo Chúa: Bóc trần sự thật, Thích Thanh Thắng, 17/02/2011,

 http://www.phattuvietnam.net/3/13389.html )   

34. Cho vay nhỏ

 

Một kỹ thuật rất phổ biến ở các vùng quê:  Các nhà truyền đạo cho vay một số tiền nhỏ.  Người bản xứ thường được yêu cầu hoàn trả khi không thể nào trả lại (ví dụ: mất mùa, giá rẻ v.v…). Lựa chọn còn lại cho người nông dân chính là cải đạo để được xóa nợ!.  

35. Hộp phép lạ

 

“Hãy đến với nhà thờ và nhận được những phép lạ mà bạn cần” là khẩu hiệu tiêu biểu cho trò chơi truyền thống này. Hiện nay các trò chơi phép lạ rất phổ biến ở các nước thế giới thứ ba và các vùng bộ tộc. Điều kiện chính cho Vatican phong thánh một ai đó là “Bằng chứng phép lạ”. Tại các vùng nghèo, các nhà truyền đạo yêu cầu mọi người viết ra những mong muốn của họ như xe đạp, máy nghe nhạc … trong một mảnh giấy và đặt trong hộp mong ước. Một tuần sau Giáo hội từ phương Tây với nhiều kinh phí đã thực hiện các phép lạ đó. Những người trí thức và người có lý trí và giáo dục ở phương Tây đang bỏ nhà thờ một phần vì các trò rẻ tiền này.  

[Việt Nam] Từ năm 1999,  Mission Vietnam (Sứ Mạng Việt Nam) của Tin lành đã phát xe đạp cho các học sinh theo học các lớp Kinh Thánh và các gia đình nghèo. Họ đã in và phát 100.000 cuốn Thánh Kinh cho người lớn và 100.000 cuốn Thánh Kinh cho trẻ em mà họ gọi là Cuốn sách Hy vọng (Book of Hope)

http://missionvietnam.org/projects/bicycle_ministry.html 

36. Âm nhạc

 

Nhà hiền triết Plato đã nói “Hãy cho tôi âm nhạc của một quốc gia, và tôi sẽ thay đổi tâm trí của quốc gia ấy”. Hầu như tất cả mọi người trên thế giới đều thưởng thức một loại âm nhạc nào đó. Các nhà truyền đạo rất thành công khi họ  “Truyền bá Phúc âm qua Âm Nhạc” bằng cách cung cấp các bài học guitar miễn phí và chỉ dạy các vũ điệu phương Tây và âm nhạc. Các học sinh và sinh viên dễ bị cải đạo với chiến lược này.

[Việt Nam]Blastoff Music Ministries đang truyền bá Phúc âm qua âm nhạc và một hội viên đã nói: Tôi đã mang một {khẩu súng} M-16 sang Việt Nam và bây giờ chúng ta trở về với {đoạn Thánh Kinh} John 3:16 –  “I took an M-16 over to Vietnam and now we return with a John 3:16.”

(http://www.blastoffmusic.org/mission-vietnam.php ) 

37. Trò bị đàn áp

 

Các người truyền giáo luôn luôn cho rằng các tín đồ Kitô trên thế giới đang bị đàn áp vì niềm tin của họ. Thực sự là Kitô giáo có bị ngược đãi không?  Bị đàn áp là cớ để đạt được sự cảm thông, nhận được nhiều đô la từ phương Tây và tránh bất kỳ phản đối nào về các hoạt động đen tối của họ. Một phần của trò này là tạo ra Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế (US Commision for International Religious Freedom) với nhiệm vụ chính là giám sát sự đàn áp của tín đồ Kitô trên khắp thế giới nhưng ủy ban này lại không nhìn nhận những tội ác ghê tởm của người theo đạo Kitô trên thế giới.

38. Cảnh sát và công an  

Cảnh sát và công an ở các trạm nhanh chóng trở thành những người đi cải đạo. Họ đe dọa người dân buộc phải cải đạo hoặc nhận các hình phạt của họ.
 

39. Hoạt động chính trị

 

Các nhà truyền đạo thành lập các nhóm hay đảng phái chính trị. Các nhóm  này được hỗ trợ bởi các cường quốc phương Tây. Nhận thấy sức mạnh của các nhóm này nên có nhiều người đã cải đạo vì quyền lợi cá nhân và chính trị. Nam Hàn là một thí dụ tiêu biểu cho phương pháp này. Tổng thống Lee Myung-bak là một tín đồ Tin lành và đa số các bộ trưởng trong Nội các của ông đều theo đạo Tin lành. Chính quyền của ông đã nhiều lần bị buộc tội là kỳ thị Phật giáo và ưu đãi Tin lành.
 

40. Quan hệ với quần chúng

 

Nếu có ai trên thế giới này rành về nghệ thuật quan hệ quần chúng (public relations), đó chính là Giáo hội phương Tây. Họ vẫn không bị tổn thương chút nào dù các tội phạm và nạn diệt chủng mà họ đã làm. Cơ quan quan hệ với công chúng của họ làm việc suốt cả ngày. Nhờ chiến dịch này, rất nhiều người đã khâm phục đời sống của các nhà truyền giáo và trở thành con mồi cho các hoạt động bất chính của họ.

41. Các nhà bị ma ám và địa ngục  

 

Các nhà bị ma ám hay nhà địa ngục rất phổ biến ở Mỹ. Theo một ước tính có ít nhất 1000 nhà như vậy ở Mỹ. Các nhà này thường có âm thanh đáng sợ vang dội giống như địa ngục. Những ngôi nhà này có hai mục đích: tạo thu nhập qua bán vé và làm nhiều người cải đạo vì sợ hãi.
 

42. Thay đổi Kinh điển

 
Các nhà truyền đạo là bậc thầy trong việc thay đổi kinh điển của họ cũng như kinh điển của các tôn giáo khác. Họ đang thúc đẩy và tài trợ  các lý thuyết cho rằng Ấn Độ giáo (mặc dù hơn 5000 năm) đã tiến hóa từ Thiên Chúa giáo, hay Phật giáo trở thành văn minh bằng cách thích ứng với các ý tưởng Kitô giáo và Hồi giáo được tạo ra bởi Giáo hội Vatican để bảo vệ quyền lợi của họ.
 

43. Khủng bố và hiếu chiến

Đông Bắc Ấn Độ là một ví dụ sống động của nạn khủng bố do Giáo hội bảo trợ. Các bộ lạc sau khi từ chối cải đạo đã bị tàn sát. Nhà thờ Baptist ở Nagaland là trung tâm chỉ huy của nhóm khủng bố ở Nagalim với khẩu hiệu “Nagaland cho Chúa Kitô”.

  

Kết Luận :

 

Bài này đã tóm lược 43 phương pháp đang được các giáo phái Tin lành và Công giáo dùng như các chiêu thức để cải đạo ở các nước Á châu Phật giáo như Việt Nam. Chúng ta có thể nhận thấy là các phương pháp của Thiên chúa giáo và Tin Lành rất tân tiến, khoa học, bài bản và hiệu quả. Hơn thế nữa, các người truyền giáo không chối từ một phương pháp, âm mưu, thủ đoạn nào, dầu là vô đạo đức, vi phạm pháp luật, để “gặt linh hồn về cho Chúa”.  Theo họ, “mục đích biện hộ cho phương tiện”. Vì làm việc cho Chúa nên họ nghĩ họ có quyền coi thường tất cả, kể cả luật pháp và chính quyền địa phương. Trong khi đó, Phật giáo Việt Nam vẫn còn thụ động, cổ hủ, “mũ ni che tai”, “quý hồ tinh bất quý hồ đa”.  Nếu tình trạng này còn tiếp diễn, chỉ trong một thời gian ngắn (10-20 năm) đa số người Việt Nam sẽ bị cải đạo và Phật giáo sẽ trở thành một tôn giáo thiểu số như ở Hàn Quốc. Cầu mong Chư Tôn Đức và quý Phật tử, trong nước cũng như ở hải ngoại, phát tâm cùng nhau Chấn hưng Phật giáo để cho cái gọi là “ngày tàn của Phật giáo” sẽ không bao giờ xãy ra trên đất nước Việt Nam.
Minh Kiến

Tháng 3, 2011

http://giaodiemonline.com/2011/03/caidao.htm

http://www.mediafire.com/?ajuoac7q12j3r6a