RSS

Category Archives: Quan điểm

Những điều giản dị

School-12-56d6d
Những điều giản dị
May 14, 2012 By Guest 2 Comments
Blog của Ngô Văn Thích ngày thứ hai 14/05/2012
1. Nổi giận là trạng thái cái lưỡi làm việc nhanh hơn cái đầu.
2. Bạn không thể thay đổi quá khứ, nhưng có thể phá huỷ hiện tại bằng cách quá lo lắng cho tương lai.
3. Hãy yêu thương đi… rồi bạn chắc chắn sẽ được đáp lại.
4. Cuộc sống luôn ban tặng những điều tốt đẹp nhất cho những ai biết nhẫn nhịn.
5. Tất cả nụ cười đều có chung một ngôn ngữ.
6. Cái ôm là món quà lớn… Có thể cho đi mọi lúc và dễ dàng được đáp lại.
7. Mọi người cần được yêu thương… nhất là khi họ không xứng đáng điều đó.
8. Thước đo của cải của một người là những gì anh ta đã cống hiến cho đời.
9. Tiếng cười là mặt trời của cuộc sống.
10. Ai ai cũng đẹp, có điều không phải ai cũng nhận ra nó.
11. Điều quan trọng cho cha mẹ là sống theo những gì họ dạy.
12. Cảm ơn cuộc sống về những gì bạn có, tin cuộc sống về những gì bạn cần.
13. Nếu bạn tiếc nuối ngày hôm qua và lo lắng ngày mai, bạn sẽ không có ngày hôm nay để cảm tạ.
14. Người bình thường nhìn hình thức, người thông thái nhìn nội tâm.
15. Sự lựa chọn của bạn ngày hôm nay sẽ có tác động đến ngày mai
16. Dành thời gian để cười, bởi đó chính là điệu nhạc của tâm hồn.
17. Nếu có ai nói xấu bạn, hãy sống làm sao để không ai tin điều đó.
18. Kiên nhẫn là khả năng bạn hãm phanh khi bạn có cảm giác như đang tăng tốc.
19. Tình yêu thương vững chắc sau khi trải qua những xung đột.
20. Điều tốt nhất cha mẹ có thể làm cho con cái là yêu thương nhau.
21. Những lời nói không tốt không làm gãy xương, nhưng có thể làm vỡ trái tim ta.
22. Để thoát khỏi gian nan, chỉ có cách đi xuyên qua nó.
23. Yêu thương là từ duy nhất có thể chia mà không bị giảm.
24. Hạnh phúc được tăng lên nhờ những người xung quanh, nhưng không phù thuộc vào họ.
25. Với mỗi phút bạn nổi giận, bạn mất đi 60 giây hạnh phúc mà không thể nào lấy lại được.
26. Làm bất cứ việc gì với hết khả năng, cho những ai bạn có thể, với những gì bạn có, và ở nơi nào bạn đang đứng.
http://www.gocnhinalan.com/blog-cua-alan-va-bca/blog-ca-ng-vn-thch-ngy-hai-14052012.html

Advertisements
 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Ba 23, 2013 in Quan điểm

 

Hịch tướng sĩ 2013

Hịch tướng sĩ 2013
ChuaLangQue
March 22, 2013 By Guest 19 Comments
Ta cùng các ngươi sinh ra phải thời bao cấp, lớn lên gặp buổi thị trường.
Trông thấy:
Mỹ phóng Con thoi lên vũ trụ chín tầng
Nga lặn tàu ngầm xuống đại dương nghìn thước
Nhật đưa rô bốt na nô vào thám hiểm lòng người Pháp
Anh dùng công nghệ gen chế ra cừu nhân tạo…
Thật khác nào:
Đem cổ tích biến thành hiện thực
Dùng đầu óc con người mà thay đổi thiên nhiên!
Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa.
Chỉ giận chưa thể đuổi kịp nước Nga, vượt qua nước Mỹ,
mà vẫn chỉ hơn Lào, hao hao Băng la đét.
Dẫu cho trăm thân này phơi trên sao Hỏa, nghìn xác này bọc trong tàu ngầm nguyên tử, ta cũng cam lòng.
Các ngươi ở cùng ta,
Học vị đã cao, học hàm không thấp
Ăn thì chọn cá nước, chim trời
Mặc thì lựa May Mười, Việt Tiến
Chức nhỏ thì ta… quy hoạch
Lương ít thì có lộc nhiều.
Đi bộ A tít, Cam ry
Hàng không Elai, Xi pic.
Vào hội thảo thì cùng nhau tranh luận
Lúc tiệc tùng thì cùng nhau “dô dô”.
Lại còn đãi sỹ chiêu hiền
Giáo sư, tiến sỹ, thạc sỹ, cử nhân, ai cũng có phần, không nhiều thì ít.
Lại còn chính sách khuyến khoa Doanh nghiệp, giáo viên, trí thức, nông dân nhận cúp, nhận bằng còn thêm tiền thưởng.
Thật là so với:
Thời Tam quốc bên Tàu, Lưu Bị đãi Khổng Minh, Buổi hiện đại bên Nga, Pu tin dùng Mét vê đép, Ta nào có kém gì?
Thế mà, nay các ngươi:
Nhìn khoa học chậm tiến mà không biết lo
Thấy công nghệ thụt lùi mà không biết thẹn
Giáo sư ư? Biết “Thần đèn” chuyển nhà mà chẳng chạnh lòng
Tiến sỹ a? Nghe “Hai lúa” chế tạo máy bay sao không tự ái?
Có người lấy nhậu nhẹt làm vui
Có kẻ lấy bạc cờ làm thích
Ham mát xa giống nghiện “u ét đê”
Ghét ngoại ngữ như chán phòng thí nghiệm
Chỉ lo kiếm dự án để mánh mánh mung mung
Không thích chọn đề tài mà nghiên nghiên cứu cứu
Ra nước ngoài toàn muốn đi chơi
Vào hội thảo chỉ lo ngủ gật
Bệnh háo danh lây tựa vi rút com pu tơ
Dịch thành tích nhiễm như cúm gà H5N1
Mua bằng giả để tiến sỹ, tiến sy
Đạo văn người mà giáo sư, giáo sãi.
Thử hỏi học hành như rứa, bằng cấp như rứa, thì mần răng hiểu được chuyện na niếc na nô?
Lại còn nhân cách đến vậy, đạo đức đến vậy, thì có ham gì bút bút nghiên nghiên.
Cho nên:
“Tạp chí hay” mà bán chẳng ai mua “Công nghệ tốt” mà không người áp dụng.
Đề tài đóng gáy cứng, chữ vàng, mọt kêu trong tủ sắt
Mô hình xây tường gạch, biển xanh, chó ị giữa đồng hoang.
Hội nhập chi, mà ngoại ngữ khi điếc, khi câm?
Toàn cầu chi, mà kiến thức khi mờ, khi tỏ?
Hiện đại hóa ư? vẫn bám đít con trâu
Công nghiệp hóa ư? toàn bán thô khoáng sản
Biển bạc ở đâu, để Vi na shin nổi nổi chìm chìm, lưỡi bò liếm liếm
Rừng vàng ở đâu, khi bô xít đen đen đỏ đỏ
Thật là:
“Dân gần trăm triệu ai người lớn Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con”!
Nay nước ta:
Đổi mới đã lâu, hội nhập đã sâu
Nội lực cũng nhiều, đầu tư cũng mạnh
Khu vực có hòa bình, nước ta càng ổn định
Nhân tâm giàu nhiệt huyết, pháp luật rộng hành lang
Thách thức không ít, nhưng cơ hội là vàng!
Chỉ e:
Bệnh háo danh không mua nổi trí khôn
Dịch thành tích chẳng làm nên thương hiệu.
Giỏi mánh mung không lừa nổi đối tác nước ngoài
Tài cờ bạc không địch nổi hắc cơ quốc tế.
Cặp chân dài mà nghiêng ngả giáo sư
Phong bì mỏng cũng đảo điên tiến sỹ.
Hỡi ôi,
Biển bạc rừng vàng, mà nghìn năm vẫn mang ách đói nghèo
Tài giỏi thông minh, mà vạn kiếp chưa thoát vòng lạc hậu.
Nay ta bảo thật các ngươi:
Nên lấy việc đặt mồi lửa dưới ngòi pháo làm nguy
Nên lấy điều để nghìn cân treo sợi tóc làm sợ
Phải xem đói nghèo là nỗi nhục quốc gia
Phải lấy lạc hậu là nỗi đau thời đại
Mà lo học tập chuyên môn
Mà lo luyện rèn nhân cách
Xê mi na khách đến như mưa
Vào thư viện người đông như hội
Già mẫu mực phanh thây Gan ruột, Tôn Thất Tùng chẳng phải là to
Trẻ xông pha mổ thịt Bổ đề, Ngô Bảo Châu chỉ là chuyện nhỏ
Được thế thì:
Kiếm giải thưởng “Phiu” cũng chẳng khó gì
Đoạt Nô ben không là chuyện lạ
Không chỉ các ngươi mở mặt mở mày, lên Lơ xút, xuống Rôn roi
Mà dân ta cũng hưng sản, hưng tâm, vào Vi la, ra Rì sọt.
Chẳng những tông miếu ta được hương khói nghìn thu
Mà tổ tiên các ngươi cũng được bốn mùa thờ cúng,
Chẳng những thân ta kiếp này thỏa chí,
Mà đến các ngươi, trăm đời sau còn để tiếng thơm.
Chẳng những tên tuổi ta không hề mai một,
Mà thương hiệu các ngươi cũng sử sách lưu truyền.
Trí tuệ Việt Nam thành danh, thành tiếng
Đất nước Việt Nam hóa hổ, hóa rồng
Lúc bấy giờ các ngươi không muốn nhận huân chương, phỏng có được không?
Nay ta chọn lọc tinh hoa bốn biển năm châu hợp thành một tuyển, gọi là Chiến lược
Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này theo lời ta dạy bảo thì suốt đời là nhà khoa học chính danh.
Nhược bằng không tu thân tích trí, trái lời ta khuyên răn thì muôn kiếp là phường phàm phu tục tử.
Vì:
Lạc hậu, đói nghèo với ta là kẻ thù không đội trời chung
Mà các ngươi cứ điềm nhiên không muốn trừ hung, không lo rửa nhục
Giữ một ngọn cỏ, cành cây, giọt nước của giang sơn cũng làm ta quên ăn mất ngủ
Mà các ngươi cứ điềm nhiên lo tranh quyền đoạt lợi
Chẳng khác nào quay mũi giáo mà đầu hàng, giơ tay không mà thua giặc.
Nếu vậy rồi đây không biết dân Việt ta đi về đâu nữa, ta cùng các ngươi há còn mặt mũi nào đứng trong trời đất này nữa?
Trí thức là nguyên khí quốc gia Cho nên ta mới thảo Hịch này Xa gần nghiên cứu Trên dưới đều theo!
(Một bạn tên là “Vô Danh” gởi đến GNA)
http://www.gocnhinalan.com/bai-cua-khach/hch-tng-2013.html

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Ba 23, 2013 in Quan điểm

 

Góp Ý Trong Vấn Đề Sửa Đổi Hiến Pháp -Nguyễn Mạnh Quang

ScreenHunter_01 Mar. 15 16.11
Thomas Jefferson
Góp Ý Trong Vấn Đề Sửa Đổi Hiến Pháp
Nguyễn Mạnh Quang
http://sachhiem.net/NMQ/NMQ038.php
13-Mar-2013

Hiểu đại cương, hiến pháp của một chế độ chính trị đều có các mục đích là (1) đem lại dân chủ, tự do, công bằng, bác ái, (2) ổn định trật tự xã hội, an ninh cho đất nước, đem lại hạnh phúc cho toàn dân.
Tùy theo bối cảnh lịch sử của mỗi quốc gia hay hoàn cảnh đương thời của đất nước mà ngoài những phần mục thông lệ, các nhà biên soạn hiến pháp thường thường còn
thêm vào những điều khoản nhằm loại bỏ mọi nguy cơ có thể làm nguy hại đến
(a) chủ quyền độc lập của tổ quốc, (b) sự toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, và (c) sự tồn vong của dân tộc. Đây là trường hợp của các nước Anh, Pháp, Ý, Nga, Hoa Kỳ, Mễ Tây Cơ, v.v….
Điển hình là Hiến Pháp Hoa Kỳ: Ngay sau khi bản hiến pháp vừa được ban hành, ông Thomas Jefferson

(lúc đó đang giữ nhiệm vu Đại Sứ Hoa Kỳ tại Paris Pháp) liền đề nghị thêm vào 10 điều khoản gọi là 10 Tu Chính Hiến đầu tiên, trong đó điều đầu tiên khẳng định rằng phải tách rời tôn giáo (ngầm hiểu rằng nhắm vào Giáo Hội La Mã) ra khỏi chính quyền. Sau này, thấy rằng điều khoản này chưa đủ mạnh, họ lại đưa ra khẩu hiệu WASP (một loại luật bất thành văn để chọn những người da trắng, gốc Anglo Saxon và theo đạo Tin Lành, chứ không phải Catholic). Tới năm 1867, sau khi đã khám phá ra chuyện Vatican xúi giục các nhà chính khách các tiểu bang miền Nam nổi loạn chống lại chính quyền Liên Bang, Hoa Kỳ lại quyết định cắt đứt quan hệ ngoại giao với Vatican.
A.- Tình Trạng Những Quốc Gia Nạn Nhân Của Giáo Hội La Mã
Các quốc gia nạn nhân của Giáo Hội La Mã phải trải qua nhiều thế kỷ tranh đấu để chống lại sự lấn lướt của đạo Ca-tô, và chống lại việc Vatican thọc sâu vào các công việc nội chính:
(1) mưu đồ đem đất nước dâng hiến cho Vatican của họ,
(2) chống lại các thế lực ngoại thù liên minh với Vatican đem quân đến tấn công và cướp nước, và
(3) chống lại sách lược Vatican dùng tín đồ bản đia gây loạn để chống và cướp chính quyền.
Việt Nam là một trong các quốc gia nạn nhân lâu dài nhất của Vatican cũng ở trong trường hợp này. Hậu quả của thời gian nô lệ Vatican là những thảm họa cho dân tộc về mặt văn hóa và xã hội, khó mà đo lường, nhưng có thể nhìn thấy qua một số dữ kiện sau đây.
1.- Hệ thống tín lý Ki-tô dựa trên những lời phán dạy ghi trong Cựu Ước và Tân Ước có quá nhiều (a) chuyện hoang đường, nhảm nhí với chủ tâm mê hoặc người đời để thủ lợi, (b) chuyện loạn luân, phi luân, phi nhân, phi nghĩa, và (c) nhiều hành động nặng tính cách ganh ghét đố ki, gian tham, bạo ngược và dã man.
Những lời phán dạy này đều được ghi trong các sách gọi là thánh kinh. Tiêu biểu có thể đọc trong Holy Bible – the New King James Verson, (New York: American Society, 1982 của Thomas Nelson, Inc.); tiếng Việt: Kinh Thánh: Cựu Ước Và Tân Ước (United Bible Societies, Vietnamese 53V – UBS – 1983 – 4M)
a.- Cựu Ước, nơi các sách Deuteronomy (19:21), Exodus (21: 23-25), Dân Số (25:3-5, 31:1-54), Leviticus (20:6, 24:19-20, 26: 1-43), Phục Luật (6:14), (7:1- 2, và 16); (12: 2-3), (13:6-9), (18: 4 và 20), (20:14-16), (22: 13-21 và 23), Xuất Hành (13:12),( 20 11), và ( 22: 18 và 20.)
b.- Tân Ước, nơi sách Matthew (10: 21, 33-37), John (15: 16). Rõ ràng nhất là những lời phán dạy trong Matthew (10: 33:33) :
“Ta đến đây không phải mang lại sự bình an, mà là mang gươm dáo. Ta đến để con trai chống lại cha, con gái chống lại mẹ, con dâu chống lại mẹ chồng và làm cho người trong nhà trở thành thù địch chống lại nhau. Kẻ nào yêu kính cha mẹ hơn ta thì không đáng gì đối với Ta, và kẻ nào yêu thương con cái hơn Ta cũng không đáng gì đối với Ta. ” (Anh ngữ)
Những lời dạy này hoàn toàn trái ngược với truyền thống sống văn hóa bất kỳ quốc gia nào trên thế giới từ ngày có chữ viết cho đến ngày nay, đặc biệt là không thể nào có thể tồn tại trong các dân tộc có văn hiến như các dân tộc Đông Phương.
Cũng vì thế mà trong nhiều thế kỷ vừa qua, nhất từ khi bước vào Thời Đại Khoa Học Và Lý Trí từ đầu thế kỷ 16, các nhà trí thức và nhân dân của nhiều quốc gia trên thế giới, (nhất là ở Âu Châu và Mỹ Châu) đã giã từ Giáo Hội La Mã và vứt bỏ cái hệ thống tín lý Ki-tô quái đản này vào sọt rác.
2.- Lời tuyên bố của Giáo Hòang Paul IV (1555-1559) “Nếu bố tôi là dị giáo đồ, tôi cũng sẽ chụm củi thiêu sống ông ta luôn..”(1) đã rèn luyên tín đồ thành hạng người vô gia đình và sẵn sàng làm những chuyện đại nghịch bất đạo.
3.- Giáo Hội La Mã đã liên tục rèn luyện tín đồ làm điệp viên rình râp theo dõi những người thân thương trong gia đình và báo cáo cho nhà thờ hay để sơm có biện pháp trừng phạt thích thời. Làm như vậy, tín đồ trở thành hạng người vô gia đình, chỉ biết đặt tình yêu đối với giáo hội trên hết. Rõ ràng như vậy là rất phù hợp với lời phán dạy của Jesus trong Matthew (10: 33:33.) như đã trình bày ở trên.
4.- Việc những thanh niên nam nữ trong giáo hội đòi những người yêu thuộc các tín ngưỡng phải theo học giáo lý Ki-tô, phải làm lễ “rửa tội” theo đạo rồi mớii được tiến hành làm lễ thành hôn là “phản tiến hóa, vi phạm nhân quyền, phản tự do, phản dân chủ”.
5.- Giáo hội đã huấn luyện các con chiên những điều thiếu lý trí, phản nhân luân, phản tổ quốc và phi pháp, tiêu biểu như:
a.- Niềm tin tôn giáo không cần đến lý trí.”
b.-Phúc cho ai không thấy mà tin.”
c.-Chỉ cần có một niềm tin bằng hạt cải thì có thể bê cả trái núi quăng xuống biển.
d.- Phải tuyệt đối tin tưởng và trung thành với Tòa Thánh Vatican.
e.-Phải triệt để vâng lời và tuân hành lệnh truyền của các đấng bề trên.
f.-“Phải giấu kín những chuyện tội lỗi, dù có thật, xẩy ra trong giáo xứ, không nên để cho người ngoại đạo được biết.”
Nguyễn Ngọc Ngạn, Xóm Đạo (Đông Kinh, Nhật Bản: Tân Văn, 29003), tr 320.
Lời phán dạy này chứng tỏ Giáo Hội La Mã rèn luyện tín đồ bao che những hành động tội ác chống lại xã hội, chống lại những người khác tôn giáo, chống lại chính quyền sở tại nếu chính quyền đó không thỏa mãn yêu sách bất chính của giáo hội).
g.-Cha (linh mục) là đại diện của Chúa. Phải coi Cha như Chúa. Những gì Cha nói và hành động là nói và hành động theo ý Chúa. Nếu các Cha có làm gì sai trái, thì đã có Chúa phán xét”, là giáo dân ngoan đạo, không được bàn tán và nói hành nói tỏi các Cha.“
h.-Dạy người Công Giáo Việt Nam “Giáo Hoàng ở La Mã (Rome) mới là vị vua tối cao duy nhất của họ. Chỉ tuân phục quyền lực của Tòa Thánh Vatican. (2) không thừa nhận quyền lực nhà Vua và luật pháp nước họ. Lời phán dạy này làm cho tín đồ chỉ biết đến giáo hội mà thôi, nên họ luôn chống tất cả chính quyền nào không chịu dưới quyền của họ.
6.- Ngoài những lời dạy như đã nói ở trên, tu sĩ của giáo hội còn hô hào những khẩu hiệu “thà mất nước, chứ không thà mất Chúa”,”giữ đạo, chứ không giữ nước”, “nhất Chúa, nhi cha, thứ ba Ngô Tổng Thống”, v.v.. Đây cũng là những lời dạy hoàn toàn trái ngược với nếp sống văn hóa cổ truyền của dân tộc: “quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”, “việc nước trước việc nhà”. Kết quả là tín đồ Ca-tô trở thành hạng người vong thân, vong bản, phản dân tộc, phản tổ quốc. Lịch sử đã chứng minh đúng như vậy!
7.- Hành động của Vatican phong thánh cho 117 tên tội đồ bị các chính quyền ta xử tử trong hai thế kỷ 18 và 19 về tội phản quốc là có mục đích thôi thúc và khuyến khích giới tu sĩ và con chiên người Việt hăng say tiếp tục làm tay sai cho Vatican trong mưu đồ cướp đoạt chính quyền tại Việt Nam.
8.- Từ thập niên 1620, Giáo Hội La Mã đã liên tục tìm đủ mọi cách để đánh phá Việt Nam bằng (1) những hành động phỉ báng và nhục mạ các tôn giáo cổ truyền của dân ta (trong cuốn Phép Giảng Tám Ngày do Bộ Truyền Giáo do giáo triều Vatican in và phát hành vào năm 1651), (2) vận động Pháp liến kết với giáo hội và xuất quân đánh chiếm Việt Nam ,(3) dạy dỗ tín đồ bản địa phải chống lại dân tộc và tổ quốc Việt Nam bằng cách tiếp tay với các thế lực ngoại cường liên minh với giáo hội đánh chiếm Việt Nam và thống trị Việt Nam từ giữa thế kỷ 19 cho đến ngày 30/4/1975, tiếp tục đánh phá chính quyền và nhân dân ta từ năm 1976 cho đến ngày nay.
Như vậy,tính từ cuối thế kỷ 18 cho đến ngày nay, nếu so với các ngoại cường đã từng đem quân tấn công và thống trị nước ta như Trung Quốc, Pháp, Nhật Và Hoa Kỳ, thì Vatican hay Giáo Hội Lã Mã là kẻ thù nguy hiểm nhất, thâm độc nhất, tham tàn nhất, dã man nhất và bám chặt lấy thân xác Việt Nam lâu dài nhất.
9.- Trong gần hai ngàn năm qua, Giáo Hội La Mã đã phạm những rặng núi tội ác cao vời vợi . Sách sử ghi nhận rằng giáo hội có liên hê đến cái chết đau thương của gần 300 triệu lương dân vô tội. (3) .Vì thế nhân dân thế giới căm thù giáo hội đến đỗi chính Giáo Hoàng Benedict XVI (2005-2013) cũng đã phải công nhận như vậy:
“Ngày 30/1/2010 vừa qua, các cơ quan truyền thông trên thế giới loan tin rằng, “Giáo Hoàng Benedict XVI lên án cái mà ông gọi là “mối ác cảm của nhân dân ở nhiều nơi trên thế giới đối với đạo Kitô ngày càng trở nên mãnh liệt.” (Pope Benedict XVI is condemning what he called “growing aversion” to the Christian faith in the world.)” (4)
10.- Giới tu sĩ Ki-tô (từ giáo hoàng xuống tới cấp thấp nhất là linh mục, sư huynh và nữ tu) đều bị các bậc thức giả, và các danh nhân lên án nặng nề:
(a) Hoàng Đế Napoléon I (1769-1821) của nước Pháp đã lớn tiếng tuyên bố rằng, “Hiệp Hội Giêsu (Dòng Tên ?) là hội nguy hiểm nhất, và đã gây nên nhiều tổn hại hơn tất cả những hội tôn giáo khác.” The (Society of Jesus is the most dangerous of orders, and has done more mischief than all the others.) và ”Ở mọi nơi và mọi thời, linh mục đã đưa vào sự gian dối và sai lầm.” (Priests have everywhen and everywhere introduced fraud and falsehood),
(b) Nhà ái quốc Ý Đại Lợi Giuseppe Garibaldi (1807-1882) nói rằng, “Linh muc là hiện thân của sự gian trá”. (The priest is the personification of falsehood),
(c) Tổng Thống Hoa Kỳ Thomas Jefferson (1743-1826) khẳng định “Trong mọi quốc gia và trong mọi thời đại, linh mục đã thù nghịch đối với tự do.” (In every country and in every age, the priest has been hostile to liberty.) (5)

11.- Một khi con chiên của Giáo Hội La Mã còn “tuyệt đối tin tưởng vào Vatican” thì họ sẽ phản tổ quốc.
Sau khi truất phế Bảo Đại (hành động phản phúc), con chiên Ngô Đình Diệm dâng nước Việt Nam cho Đức Mẹ Vô Nhiễm (tức Giáo Hôi La Mã hay Vatican). Buổi lế này cử hành vô cùng trọng thể vào tháng 2/1959 tại Sàigòn, và viên Khâm Sứ đại diện Vatican ở Sàigon là Hồng Y Agagianian đến làm chủ tế. Trần Tam Tình, Thập Giá Và Lưỡi Gươm (TP Hồ Chíi Minh: Nhà Xuất Bản Trẻ, 1978) tr 126-127.
12.- Sau khi ban hành một sắc lệnh vào năm 1449, Giáo Hội La Mã tuyên bố rằng, “sắc lệnh phát xuất từ nguyên lý rằng trái đất thuộc về Chúa Ki-tô và người đại diện cúa Chúa có quyền sử dụng tất cả những gì không do tín đồ của Chúa chiếm hữu, những người kẻ ngoại đạo không thể là những kẻ họp lý bất cứ mảnh đất nào…” Cao Hiuy Thuần, Đao Thiên Chúa và Chủ Nghĩa Thực Dân Tại Việt Nam (Los Angeles, CA: Hương Quê, 1998, tr 7) sau khi bàn hành Sắc Chỉ Romanus Pontifex vào ngày 8 tháng 1 năm 1454 và nhiều sắc lịnh hay thánh lệnh khác trong thế kỷ 15 (có nội dung tương tự), Giáo Hội La Mã đã:
a.- Gửi hàng binh đoàn điệp viên với danh nghĩa là các giáo-sĩ truyền giáo đến Việt Nam để dụ khị dân ta vào đạo rồi cùng với các con chiên thu thập tin tức tình báo chiến lược gửi về Vatican để điều nghiên kế hoạch đánh chiếm Việt Nam làm thuộc địa.
b.- Ba lần gửi các nhà thuyết khách đến kinh thành Paris để uốn lưỡi Tô Tần thuyết phục các chính quyền thời Vua Louis XIV, thời Vua Louis XVI và thời Hoàng Đế Napoléon III liên kết với Vatican xuất quân đánh chiếm Việt Nam làm thuộc địa để cùng cướp đoat tài nguyên của đất nước ta, cưỡng bách nhân dân ta làm nô lê, và bóc lột dân ta đến tận xương tận tủy. Kinh hoàng nhất là chỉ trong mấy tháng đầu mùa xuân năm Ất Dậu 1945, con số người Việt chết đói lên đến 2 triệu người.
13.- Tại Pháp, trong những năm từ 1945, chính Giáo Hội La Mã đứng sau hậu trường điều khiển Đảng Thiên Chúa Giáo có danh xưng là Mouvement Républicain Populaire (MRP) mà đảng trưởng là con chiên Georges Bidault. Ông Bidault toa rập với chính quyền Charles de Gaulle bổ nhậm cựu Linh-mục Georges Thierry d’ Argenlieu làm Cao Ủy Đông Dương đem quân tái chiếm Đông Dương, gây nên cuộc chiến mà nhân dân Pháp gọi là “cuộc chiến tranh bẩn thỉu” (la sale guerre). Cuộc chiến này kéo dài gần chín năm trời, khiến cho nhân dân ta phải khốn khổ điêu linh vì đã làm thiệt hại không biết bao nhiêu là của cải, tài sản và sinh mạng của dân Việt.
14.- Theo kế hoạch Ki-tô hóa dân miền Nam thì toàn thể dân miền Nam phải theo “cái tôn giáo ác ôn” này với chỉ tiêu mười năm. Giáo Hội La Mã là kẻ thù bất cộng đái thiên của dân tộc Việt Nam. Dưới đây là nguyên văn lời tuyên bố của con chiên Ngô Đình Nhu nói lên:
“Tôi có cả một chương trình, đã bàn tính kỹ với Đức Cha (Ngô Đình Thục) sẽ lần hồi tiến tới chỗ mà Hội Truyền Giáo hoạt động một thế kỷ mới đạt tới, còn chúng ta chỉ cầm quyền mười năm thôi là cả miền Nam sẽ theo Công Giáo hết.” (7)
Dã tâm này đã làm cho con số người miền Nam bị sát hại lên tới hơn 300 ngàn người, gần một triệu người bị bắt giam, bị cầm tù, bị hành hạ và bị tra tấn vô cùng dã man khiến cho rất nhiều người trờ thành tàn phế (Xin xem sách Nói Chuyện Với Tổ Chức Việt Nam Cộng Hòa Foundation (Houston, TX: Đa Nguyên, 2004) nơi các trang 127-131 và các trang 213-264, và khiến cho nhân dân ta lại phải lao vào cuộc chiến Giải Phóng Miền Nam để hoàn thành nhiệm vụ lịch sử, đòi lại miền Nam cho tổ quốc và đem giang sơn về một mối.
15.- Từ thế kỷ 16 cho đến ngày nay, tập thể tu sĩ và con chiên người Việt đã:
a.- Liên tục làm tay sai vô điều kiện cho Vatican: Các con chiên như Tạ Văn Phụng, Trần Bá Lộc, Lê Phảt Đạt (Huyện Sĩ), Petrus Ký, Nguyễn Trường Tộ, Ngô Đình Khả, Lê Hoan, Nguyễn Hữu Bài, Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Huân, Ngô Đình Diệm, Lê Hoan, GM Nguyễn Bá Tòng, GM Lê Hữu Từ, GM Phạm Ngọc Chi, LM Trần Lục, LM Ân (trong vụ Hà Thành Đầu Độc và năm 1908), LM Hoàng Quỳnh, LM Mai Ngọc Khuê, LM Nguyễn Quang Ân, LM Vũ Đức Khâm, LM Nguyễn Kim Điện, LM Lương Huy Hân, LM Mai Đức Tín, Vũ Đức Luật, LM Nguyễn Quang Ân, LM Nguyễn Lạc Hóa, v.v… là những bằng chứng rất hiển nhiên.
b.- Liên tục làm tay sai cho các thế lực ngoai thù như Pháp, Tây Ban Nha, Nhật (các con chiên Cường Để, Ngô Đình Huân, Ngô Đình Diệm, Trần Văn Lý và rất nhiều con chiên khác trong cái gọi là “Việt Nam Quang Phục Đảng”) (8)
c.- Gục mặt cúi đầu làm tay sai vô điều kiện cho Liên Minh xâm Lược Mỹ Vatican trong những năm 1954-1975 tại miền Nam Việt Nam. Thí dụ:
– Linh-mục Hoàng Quỳnh đã trâng tráo hô khẩu hiệu “Thà mất nuớc, chứ không thà mất Chúa” khi chỉ huy đám giáo dân biểu tình ở ngoài hàng rào Bộ Tổng Tham Mưu. Việc này xảy ra vào ngày 27/8/1954 để làm áp lực với chính quyền của Tướng Nguyễn Khánh phải phục hồi quyền lực và quyền lợi cho Đảng Cần Lao Công Giáo và chế độ đạo phiệt Ca-tô Ngô Đình Diệm. Chu Văn Trình, Văn Sử Địa (Tavares, Florida: Ban Tu Thư Tự Lực, 1989), tr. 80.
– Linh-mục Nguyễn Quang Minh (quản nhiệm nhà thờ Vinh Sơn), Linh-mục Nguyễn Hữu Nghi (quản nhiệm nhà thờ An Lạc), cùng với các con chiên Nguyễn Việt Hưng, Nguyễn Xuân Hùng (cựu sĩ quân quân đội miền Nam (1954-1975) chủ mưu. Vụ nổi loạn ở nhà thờ Vinh Sơn (Sàigòn) xẩy ra vào năm 1976.
d. Ngay cả từ sau 1975 cho đến nay, con chiên người Việt vẫn tiếp tục nổi loạn phá rối trị an quốc gia và xem thường kỷ cương đất nước. Điển hình như:
– Linh-mục Nguyễn Văn Lý nổi loạn ở giáo xứ Nguyệt Biều (Huế). Trong phiên tòa xử lý ông ta vào ngày 30/3/2007, ông Lý tỏ ra xấc xược, ngược ngạo và thiếu văn hóa trước vành móng ngựa.
– Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt xúi giục con chiên nổi loạn đánh phá tòa nhà công quyền tại số 142 Phố Nhà Chung, Hà Nội trong thời gian từ 18/12/2007 cho đến ngày 30/1/2008 với chiều bài đòi chiếm lại khu đất này cho Vatican,
– Viên tổng giám mục này cùng với các Linh-mục Vũ Khởi Phụng, Nguyễn Văn Khải, Nguyễn Ngọc Nam Phong, Nguyễn Văn Thật, Nguyễn Hữu Vinh xúi giục một số giáo dân cuồng tín gây bạo loạn phá tường tràn vào chiếm đóng Công Ty May Chiến Thắng tại số 178 Đường Nguyễn Lương Bằng (Phường Đống Đa, Hà Nội) từ ngày 18/8/2008 cho đến ngày 22/9/2008.
– Các linh mục tỉnh Dòng Cứu Thế dùng lời lẽ ngang ngược (coi giáo luật đứng trên luật pháp Việt Nam) khi viết trong lá thư phúc đáp gửi ông Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hà Nội đề ngày 19/12/2008.
– Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Nhơn (chủ tịch Hồi Đồng Giám Mục Việt Nam) sử dụng những lời lẽ ngang ngược, coi giáo luật đứng trên luật pháp Việt Nam khi viết văn thư số 10/GHVN đề ngày 25/9/2008 để trả lời bản văn thư số 1437/UBND-NC ngày 23/9/2008 của ông Nguyễn Thế Thảo, chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hà Nội.
– Giáo dân ở xã An Bằng, Huế, lấn đất, lập bàn thờ cầu nguyện trái phép ở nhiều nơi ngoài khuôn viên Nhà Thờ, kéo dài từ đầu năm 2008 cho đến ngày nay (tháng 1/2009).
– Rất nhiều vụ nổi loạn khác như Loan Lý, Tam Tòa, Đồng Chiêm, Cồn Dầu, v.v.. đều do các tu sĩ và con chiên chủ mưu và khởi động.
e.- Hành động Lê Chiêu Thống của các con chiên người Việt trong việc thành lập cái gọi là “Việt Nam Cộng Hòa Foundation” kéo nhau đến họp ở tòa nhà Civic Center tại thành phố Westminster (California) vào tháng 7 năm 2003 để, biên soạn một lá thư gửi Liên Hiệp Quốc thỉnh cầu cơ quan này cưỡng bách chính quyền Việt Nam phải thi hành Hiệp Đinh Paris 1973. (9)
g.- Hành động Lê Chiêu Thống của những tên đầu nậu của Trung Tâm Sản Xuất Băng Nhạc ASIA: con chiên Trúc Hồ, Nam Lộc, Việt Dũng,.. trong việc gom góp và ngụy tạo chữ ký của người Việt hải ngoại trong cái gọi là “thỉnh nguyện thư”, đòi chính quyền Hoa Kỳ trực tiếp can thiệp với chính quyền Việt Nam phải thỏa mãn những yêu sách ngược ngạo của họ.
h.- Những việc làm phản quốc và ác tâm của giáo dân và những người đồng minh chống Cộng của họ ở Hoa Kỳ trong nỗ lực vận động với Quốc Hội Hoa Kỳ trong những ngày đầu năm 2009 để đưa Việt Nam vào danh sách CPC (Countries particular concerned), nhưng thất bại.
Tất cả những hành động phản quốc nêu trên cho thấy giới tu sĩ Ca-tô và tín đồ Ki-tô người Việt là những tội đồ phản quốc thuộc loại thâm niên cố đế truyền tử lưu tôn bất khả trị.
16.- Các quốc gia nạn nhân của Giáo Hội La Mã nói riêng và đạo Ki-tô nói chung ở khắp mọi nơi trên thế giới đều: hoặc là có những điều khoản ghi trong hiến pháp, hoặc là ban hành một đạo luật với nội dung nói rõ các biện pháp đối phó với những loại người có bản chất phản quốc. Ngoài ra, họ còn có một số đạo luật (thành văn) như Tu Chính Hiên 1 trong Hiến Pháp Hoa Kỳ và quyết định cấm bang giao với Vatican được ban hành vào năm 1867, và một số tập tục (luật bất thành văn) như WASP (White- Anglo Sxaon-Protesstant) với chủ đích loại bỏ Giáo Hội La Mã và tín đồ của cái “đạo bịp” này ra khỏi nếp sống sinh hoạt chính trị trong xã hội Hoa Kỳ. Nhờ vậy, từ ngày lập quốc đến nay Hoa Kỳ đã có thể ngăn chặn, không để cho Vatican có thể sử dụng con chiên bản địa để đánh phá chính quyền, gây bất ổn trong xã hội, làm nguy hai đến nền an ninh và sự tồn vong của đất nước.
*
* *
Cũng vì kinh nghiệm đau thương với những tai hoa và nguy hiểm cho sự tồn vong của dân tộc và tổ quốc do Giáo Hội La Mã gây ra, cho nên các quốc gia đã từng là nạn nhân của Giáo Hội La Mã nói riêng, và đạo Ki-tô nói chung, đều có những biện pháp cứng rắn vô cùng nghiêm khắc đối với Vatican và tín đồ Ki-tô. Phương cách thông thường nhất của biện pháp này là đưa vào hiến pháp một số điều khoản cũng như ban hành các đạo luật (1) giới hạn quyền công dân và quyền lợi của những người còn tự nhận là con chiên của Vatican (như Anh quốc), (2) đòi hỏi tín đồ Ki-tô phải đặt quyền lợi của đất nước lên trên hết, (3) phải cắt đứt quan hệ với Vatican (như Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác như các nước mà đạo Hồi là tôn giáo chính), (4) đặt Giáo Hội La Ma Mã ra ngoài lề xã hôi và cấm con chiên của Giáo Hội không được tham chính (như ở Anh Quốc,và nhiều quốc gia khác ở vùng Trung Đông), v.v…

B.- Hiến Pháp Của Các Quốc Gia Nạn Nhân Của Giáo Hội La Mã
1. Nước Anh
Nước Anh đã phải trải qua nhiều thế kỷ tranh đấu (1) chống lại sự lấn lướt của đạo Ca-tô và bàn tay của Vatican thọc sâu vào các công việc nội chính mưu đồ cướp đoạt chính quyền, (2) chống lại thế lực ngoại thù liên minh với Vatican đem quân đến tấn công nước Anh (chính quyền Pháp thời Vua Louis XIV) cho nên:
1.- Vào đầu thập niên 1530 trong thời Anh Hoàng Henry VIII (1491-1547), nước Anh đã ly khai, tách rời khỏi Vatican, thành lập Anh Giáo, tịch thu (quốc hữu hóa) toàn bộ của nổii của chìm, động sản và bất động sản của Giáo Hội La Mã.
2.- Ấy thế mà Vatican vẫn có thể sử dụng tín đồ bản địa để đánh phá nhân dân và chính quyền Anh để thiết lập một chế độ đạo phiệt thần phục Vatican tại quốc gia này. Để đối phó với tình trạng chia rẽ tôn giáo do đạo Ca-tô gây ra, năm 1559, chính quyền Anh đưa ra biện pháp “Ổn định tôn giáo thời Nữ Hoàng Elizabeth ” (1558-1603).
Theo luật này, mọi người được bổ nhậm làm công nhân viên nhà nước (công chức) hay trong các nhà thờ đều phải tuyên thệ trung thành với nhà vua, (ngườii vừa là quốc trưởng của đất nước, vừa là giáo chủ của Giáo Hội Anh.) Kẻ nào từ chối không tuân hành luật này sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc và những kẻ không chịu tham dự vào các buổi lễ lạc của Anh giáo cũng bị phạt một khoản tiền. Những kẻ tái phạm những luật trên đây sẽ bị phạt tù và có thể bị tử hình. Đạo Ca-tô bị đặt ra ngoài lề xã hội….” (Nguyên văn tiếng Anh) (10)
3.- Năm 1606: Chính quyền trong thời Vua James (1603-1626) phải dùng biện pháp cứng rắn hơn đối với tín đồ Ca-tô, trừng phạt nghiêm khắc tín đô Ca-tô nào không chịu tuân hành luật pháp, ban hành luật đòi hỏi mọi người dân Anh phải tuyên thệ trung thành với nhà vua và phải phủ nhận “ý niệm quyền lực của giáo hoàng phải đứng trên quyền lực của nhà vua”. Luật này được ban hành vào tháng 5 năm 1606’
4.- Năm 1673: Quốc Hội Anh ban hành một đạo luật gọi là “Test Act” (Luật Thử Nghiệm). Theo đạo luật này, tất cả các viên chức chính quyền và sĩ quan quân đội đều phải tuyên thệ rằng (1) phải từ bỏ tín điều hóa thể (transubstantiatiion) [bánh thánh là mình hay thân xác Chúa và rượu lễ là máu Chúa], (2) phải lên án và tố cáo một số tín điều bị coi như là mê tín và sùng bái các tượng thần, và (3) chỉ được rước lễ theo nghi thức của Giáo Hội Anh thôi. (nguồn tham khảo) (11)
5.- Năm 1691: Quốc Hội Anh lại ban hành một biện pháp khác nữa nghiêm khắc hơn đối với Vatican. Đó là Đạo Luật Ổn Định vào năm 1691. Đạo luật này cấm không cho người Anh là tín đồ Ca-tô của Giáo Hội La Mã lên cầm quyền. Dưới đây là đoạn văn quan trọng của đạo luật này:
“Không có một tín đồ Ki-tô La Mã nào có thể trở thành nhà lãnh đạo nước Anh. Như vậy là luật này loại hẳn tất cả những người con và cháu của vua James Đệ Nhị với người vợ thứ hai của nhà vua, không cho họ lên cầm quyền.” (12)
Kể từ đây, nước Anh thực sự (1) theo chế độ quân chủ lập hiến, quyền cai trị đất nước được trao cho vị thủ tướng do Quốc Hội tuyển chọn, và (2) không có một người Anh nào là tín đồ Ca-tô được đưa lên ngai vàng. Cũng từ đó, ảnh hưởng Giáo Hội La Mã được coi như là bị tiêu diệt hoàn toàn ở Anh quốc, mặc dù quốc gia này là một nước dân chủ tự do và tôn trọng quyền tự do tôn giáo của tất cả mọi người dân. Cũng từ đó nước Anh không còn bị Vatican dùng tín đồ để đánh phá chính quyền và gây rối loạn trong xã hội nữa.
2. Nước Pháp:
Tương tự như nước Anh, bối cảnh nước Pháp cũng đã phải trải qua nhiều thế kỷ tranh đấu (1) chống lại sự lấn lướt của đạo Ca-tô và bàn tay của Vatican thọc sâu vào các công việc nội chính mưu đồ cướp đoạt chính quyền, (2) chống lại thế lực ngoại thù là các nước Áo, Phổ, Nga và Anh do Vatican vận động đem quân đến tấn công nước Pháp vào giữa thập niên 1790 và nhiều lần khác nữa cho đến khi chính quyền của Hoàng Đế Napoléon I bị lật đổ vào năm 1814, và (3) chống lại sách lược Vatican dùng tín đồ bản ụia để gây loạn và cướp chính quyền.
Kinh nghiệm đau thương của nước Pháp do Giáo Hội La Mã hay đạo Ki-tô gây ra còn trầm trọng hơn rất nhiều so với nước Anh, nhất là từ thời nữ bạo chúa Catherine Medici (1519-1589) trở thành hoàng hậu của vua Henry II (1519-1559), rồi nắm quyền nhiếp chính kể từ năm 1559 trong các triều Vua Francis II (1560), Vua Charles X (1560-1574), và Vua Henry III (1551- 1589), cho đến ngày tháng chót của cuộc đời của bà vào tháng 1/1589). Những hành động tham tàn, bạo ngược và dã man của chính quyền trong thời bà nhiếp chính còn ghê gớm gấp ngàn lần nữ bao Chúa Từ Hi Thái Hậu (1835-1908) thời nhà Thanh (1644-1912) ở Trung Quốc’. Sách sử gọi những năm bà nắm thực quyền là “thời đại Catherrine de Medicci” và ghi nhận bà là “một trong số 100 bạo chúa ác độc nhất trong lịch sử nhân loại”.
Các đời vua kế tiếp cũng tham tàn, bạo ngược và dã man không kém gì “thời đại Catherrine de Medicci”. Cho rằng Vua Henry IV (1559-1610) không thể khuất phục đươc, cho nên Vatican mới cho một tín đồ cuồng tín tên là François Ravaillac (1578-1610) ám sát nhà vua vào ngày 14/10/1610 để đưa vị hoàng tử còn nhỏ tuổi mới có 10 tuổi (sinh ngày 27/9/1601) lên ngai vàng với vương hiệu là Louis XIII (1610-1643), rồi đưa Hồng Y Richelieu (1585-1642) lên nắm thực quyền trong vai trò thủ tướng để thao túng việc triều cương phục vụ cho quyền lợi của Vatican và vua Louis XIV (1638-1715). Hồng Y Richelieu qua đời vào năm 1642, thì chức vụ thủ tướng lại được trao cho Hồng Y Mazarin (1602-1661) với cùng nhiệm vụ thao túng việc triều cương để phục vụ quyền lợi của Vatican. Năm 1643, Vua Louis XIII qua đời, Louis XIV (1638-1715) mới có 5 tuổi lên nối ngôi, Hồng Y Mazarin được Vatican giao cho thêm một trách nhiệm nữa là phải rèn luyện tân vương trở thành một bạo chúa Ca-tô, và Hồng Y Mazarin đã làm tròn trách nhiệm này. Kết quả là Vua Louis XIV trở thành một bạo quân lừng danh của nước Pháp với lời tuyên bố để đời “L’ État, c’ est moi” (I am the state).
Thực trạng này khiến cho nhân dân Pháp rơi vào thảm cảnh khốn cùng, cơ cực, điêu linh và đói khổ triền miên. Vì thế, họ mới thù ghét cái chế độ đạo phiệt Da-tô này và Giáo Hội La Mã đến tận xương tận tủy. Văn hào Voltarie gọi đạo Ki-tô là “cái tôn giáo ác ôn”, học giả Henry Guillemin gọi Giáo Hội La Mã là “cái giáo hội khốn nạn”, người dân Pháp gọi giới tu sĩ Ki-tô là “lũ quạ đen” (Les corbeaux noirs). Lời tuyên bố dưới đâycúa nhà báo Jacques René Hebert (Nov. 15, 1757- March 24, 1794) cho chúng ta thấy rõ sự kiện này:
“Các bạn người Pháp, các bạn hãy nói cho tôi nghe xem có được không? Nếu cái người mà các bạn gọi là Đức Thánh Cha cương quyết chống lại luật pháp của các bạn, các bạn có ngu xuẩn và hèn hạ đến độ phải từ bỏ luật pháp của các bạn. Các bạn hy vọng gì ở một ông Giáo Hoàng. Đ.M Giáo Hoàng, hãy tin ở tôi đi, bây giờ là đến lượt các bạn; cả trong mười thế kỷ qua, Giáo Hoàng đã áp bức các bạn quá nhiều rồi.”. (Anh ngữ) (13)
Chính vì thế mà khi Cách Mạng 1789 thành công, tân chính quyền liền ban hành những biện pháp mạnh để vừa loại hết mọi ảnh hưởng của Giáo Hội là Mã ra khỏi chính quyền và xã hội, vừa phòng ngừa và ngăn chặn mọi thủ đoạn mà Vatican có thể sử dụng để lấn lướt, len lỏi hoặc lặn sâu và trèo cao vào chính quyền từ địa phương đến trung ương để đục khoét phá nát chính quyền trong mưu đồ tái lập quyền lực và quyền lợi cho Giáo Hội La Mã. Một số những biện pháp đã thi hành như sau:
Thứ nhất: Ngày 4/8/1789, một đại biểu tu sĩ đảo ngũ về với hàng ngũ thứ dân là Tổng Giám Mục Talleyrand đề nghị phải tịch thu toàn bộ tài sản của giáo hội (tại Pháp) thì mới có thể giải quyết được vấn đề khủng hoảng tài chánh (lúc bấy giờ)… . Được đại đa số tán thành, Quốc Hội tiến hành làm thủ tục ban hành quyết định:
a.- Tịch thu toàn bộ tài sản của Giáo Hội La Mã.
b.- Bãi bỏ hết tất cả những đặc quyền đặc lợi (trong đó có thuế thập phân) mà chế độ cũ đã dành cho Giáo Hội, tu sĩ và giới quý tộc.
c.- Tách rời tôn giáo ra khỏi chính quyền.
d.- Ban Bản Hiến Chương Dân Sự của Giới Tu Sĩ (The Civil Constitution Of The Clergy).
e.- Biên soạn một Hiến Pháp cho chế độ mới.
Theo Hiến Chế Dân Sự của Giới Tu Sĩ (the Civil Constitution of the Clergy), Giáo Hội Pháp nằm trong Quốc Gia, chứ không còn nằm trong Giáo Hội La Mã nữa. Mục đích của hiến chế này là tách rời Giáo Hội Pháp ra khỏi Giáo Hội La Mã, biến giáo hội này thành một tổ chức tôn giáo nằm dưới quyền kiểm soát của chính quyền, và trong vòng ba năm Giáo Hội Ca-tô Pháp sẽ bị tước bỏ hết tất cả những nguồn tài chánh.
Thứ hai: Ngày 23 August 1789, tân chính quyền cho công bố Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền – Việc cấp thiết là Quốc Hội phải bàn thảo, biên soạn bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền (The Declaration of the Rights of Man and of the Citizen) và tìm phương cách giải quyết cấp thiết nạn khủng hoảng tài chánh đang làm cho nước Pháp lâm vào tình trạng phá sản, rồi tiến tới việc soạn thảo hiến pháp làm cơ cấu cho tổ chức tân chính quyền.
Thư ba: Ngày 26/8/1789 Quốc Hội công bố bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền xác nhận rằng:
a.- Quyền lực của nhà nước vì nhân dân mà có (The authority of a government is derived from the people).
b.- Mọi người dân phải bình đẳng trước pháp luật (All citizens should be equal before the law).
c.- Tất cả mọi người dân đều có quyền ảnh hưởng vào việc làm luật (All citizens should have the right to influence the making of the law).
d.- Mục đích của chính quyền là để bảo vệ những quyền tự nhiên của con người. Đó là quyền tự do, quyền có tài sản, quyền sống trong an ninh và quyền chống lại áp bức (The purpose of government should be the preservation of the natural rights of men to “liberty, property, security, and resistance to oppression” ).
e.- Quyền tự do tư tưởng và tự do hành xử tín ngưỡng của mọi người phải được bảo đảm (Freedom ò thought and religion should be guaranteed.)” (14)
Tuy rằng đã đưa ra những biện pháp trên đây để phòng ngừa Vatican có thể sử dụng nhóm thiểu số tín đồ ngu dốt để đánh phá chính quyền và hủy bỏ tất cả mọi công trình cách mạng trên đây. Ấy thế mà dân tộc Pháp cũng vẫn còn phải vật lộn gay go cực kỳ gian khổ với Vatican kể từ đó cho đến năm 1905 Vatican mới phải chấp nhận việc ghi vào trong hiến pháp điểu khoản tách rời tôn giáo ra khỏi chính quyền, và tuân hành tất cả điều khoản ghi trong luật quốc hữu hóa toàn bộ tài sản động sản và bất động sản của giáo hội trong nước, công nhận tu sĩ cũng phải tuân hành luật pháp quốc gia cũng như phải trung thành với hiến pháp thay vì trung thành với giáo hoàng hay giáo hội.
Dù vậy, trong những năm 1945-1954, Vatican và tín đồ Ca-tô người Pháp vẫn có thể lợi dụng những sơ hở của hiến pháp, lợi dụng quyền tự do thành lập chính đảng để lập ra Đảng Ca-tô ngụy danh là Mouvement Republicain Popularire (MRP). Đảng này dùng đủ mọi thủ đoan để làm mưa làm gió trên sân khấu chính trịi Pháp, đem quân sang tái chiếm Đông Dương khiến cho nước Pháp suy yếu và nhân dân Pháp điêu đứng, lầm than, khốn khổ và nhục nhã vì “cuộc chiến tranh bẩn thỉu” này.
3. Nước Mê Tây Cơ
Theo Gương Các Nước Anh, Pháp, Mỹ, Nga, dù rằng có tới 89% dân số Mễ Tây Cơ là tín đồ của Giáo Hội La Mã, vào năm 1857, nhân dân quốc gia này cũng vẫn theo gương các nước Anh, Pháp, cương quyết vùng lên làm Cách Mạng chống Vatican, đạp đổ bạo quyền đạo phiệt Ca-tô, rồi soạn thảo hiến pháp làm căn bản pháp lý cho tân chính quyền với những điều khoản đối phó với Nhà Thờ Vatican một cách thẳng tay.
Nhưng rồi Cách Mạng bị phản bội giống như Cách Mạng Pháp 1789. Cuối cùng đến năm 1917, nhân dân Mễ Tây Cơ lại một lần nữa quyết tâm làm cách mạng, tái sử dụng bản hiến Pháp 1857 và bổ túc thêm một số điều khoản để đối phó thẳng thừng với Vatican một cách cứng rắn hơn. Sự kiện này được sách Thực Chất Đạo Công Giáo Và Các Đạo Chúa (cùng tác giả) ghi lại như sau:
“Từ Hiến Pháp 1857 đến Hiến Pháp 1917 của Mexico: Mexico cũng như các quốc gia khác ở Trung và Nam Mỹ Châu đều có đại đa số dân theo đạo Công Giáo. Dân số Mexico hiện nay lên tới trên 100 triệu người. Mặc dầu đa số dân là những tín đồ đạo Công Giáo ngoan đạo nhưng đã hơn một thế kỷ qua chính quyền Mexico đến nay vẫn tuyệt giao với Vatican.
Năm 1857, quốc hội và chính phủ Mexico đã đưa ra một bản hiến pháp mang tính chất cách mạng quyết liệt chống lại Giáo Hội Công Giáo La Mã:
1.- Giải tán tất cả các tu viện nam cũng như nữ.
2.- Các nam tu sĩ bị cấm mặc áo dòng khi xuất hiện ở nơi công cộng.
3.- Tịch thu toàn bộ tài sản của Giáo Hội Công Giáo.
Tinh thần bản Hiến Pháp 1857 của Mexico được nhiều nước Châu Mỹ La Tinh noi theo. Năm 1917, Mexico sửa lại hiến pháp, nhưng các biện pháp đối với Giáo Hội Công Giáo vẫn không thay đổi.” (15)
Sử gia thân Giáo Hội là Linh-mục Sahnnon M. Collins ghi nhận Cách Mạng Mễ Tây Cơ 1917 như sau:
“Các cuộc cách mạng thời hiện đại đã lật đổ các chế độ quân chủ (ngai vàng) và nghiền nát tôn giáo (bàn thờ). Năm 1917, những cách mạng Cộng Sản Bôn-sê-vích đã lật đổ chế độ Nga hòang, hoàng đế Nga và cả gia đình ông đều bị sát hại. Mấy tháng trước thảm kịch này, một cuộc cách mạng bùng nổ ở Mễ Tây Cơ. Cuộc Cách Mạng Mễ Tây Cơ 1917 thi hành bản hiến pháp xã hội đầu tiên ở trên thế giới và Giáo Hội Mẹ (Giáo Hội La Mã) bị thiệt hại nặng nề. Chính quyền chiếm giữ nhà thờ và các cơ sở khác của giáo hội. Trong một cuộc nổi loạn của ác quỷ, những người cách mạng hủy hoại các chén thánh, những đồ tế lễ và các tác phẩm nghệ thuật về đạo Da-tô. Tu sĩ và giáo dân Da-tô ngoan đạo bị hành hạ và bị sát hại. Trong tỉnh Tobasco, mọi sự đều khó khăn. Viên thống đốc xã hội của tỉnh này đặt tên con là Lenin, Satan và Lucifer. Ông ta phá hủy tất cả nhà thờ, cưỡng bách các tu sĩ phải lập gia đình và hành hạ các tín đồ Da-tô ngoan đạo.” (16)
Sách Việt Nam Với Cuộc Dấy Loạn Hòa Bình của Giáo Chủ John Paul II ghi lại những điều khoản trừng phạt Giáo Hội La Mã với nguyên văn như sau:
“Hiến Pháp Mexico năm 1917 có điều khoản cấm chính quyền đặt quan hệ ngoại giao với Vatican, tu sĩ Gia-tô không được phép hoạt động chính trị hay mặc áo tu sĩ nơi công cộng, không được phép mở trường học hay làm chủ bất động sản.” (17)
Phần trình bày trên đây cho chúng ta thấy rõ lòng căm thù của nhân dân Mễ Tây Cơ đối với Giáo Hội La Mã hết sức mãnh liệt. Họ cương quyết loại bỏ mọi ảnh hưởng của Vatican ra khỏi chính quyền cũng như trong các phạm vi hoạt động trong ngành giáo dục và trong lãnh vực kinh tế (không được làm chủ bất động sản.)
4. Nước Ý
Tương tự như hai nước Anh và nước Pháp, Ý Đại Lợi cũng phải trải qua nhiều thế kỷ tranh đấu (1) chống lại sự lấn lướt của đạo Ca-tô và bàn tay của Vatican thọc sâu vào các công việc nội chính mưu đồ cướp đoạt chính quyền, (2) chống lại các thế lực ngoại thù liên minh với Vatican là Pháp và Áo, và (3) chống lại sách lược Vatican dùng tín đồ bản đia để gây loạn và cướp chính quyền. Nước Ý cũng là một trong các nước Nam Âu mà sách sử đã ghi nhận rằng họ quy tội cho Giáo Hội La Mã đã làm cho đất nước họ nghèo đói, chậm tiến, dân trí thấp kém so với các nước Tấy Âu và Bắc Âu. (18)
Cũng vì thế mà dù rằng gần như toàn dân là tín đồ của Vatican nhân dân quốc gia này lại nhiệt liệt ủng hộ chính quyền Cách Mạng Ý chống lại Giáo Hội La Mã. Nhờ vậy mà ngày 20/9/1870, nhà ái quốc Giuseppe Garibaldi có thể đem quân Cách Mạng bao vây và nã đại pháo vào Tòa Thánh Vatican, buộc Giáo Hoàng Pius IX (1846-1878) phải kéo cờ trắng đầu hàng vô điều kiện. (19)
Chuyện nhân dân Ý nhiệt liệt ủng hộ quân Cách Mạng tiến đánh và đập tan “chế độ giáo hoàng” (the papacy) tại Ý cũng là lời giải đáp cho câu hỏi trên một diễn đàn thư tín như sau:
“Đúng là Nguyễn Văn Thiêu là tay sai của MỸ và ngay tới Cựu HOÀNG BẢO ĐẠI hay Tổng Thống Ngô đinh Diệm hay Nguyen Van Thiệu hay VNCH đều do Pháp và Mỹ dựng nên, không sai, như Nam Hàn, Đài Loan, Phi Luật Tân,, Thái Lan, Singapore, kể cả Nhật có khác gì đâu???? Cũng năm trong quỹ đạo, cũng gần như một số phận con đẻ của đế quốc Mỹ thôi???? Tại sao các nước kia lại thành công giầu mạnh từ một nước nghèo đói sau chiến tranh lệ thuộc hoàn toàn Mỹ, làm tay sai cho Mỹ mà trở thành tự lập, thành giầu mạnh từ chối luôn cả viện trợ Mỹ như Đài Loan để trở thành đồng minh của Mỹ cho đến ngày nay…”
Cũng nên biết là ngoại trừ miền Nam Việt Nam, (1) không có nhà lãnh đạo của các nước trên đây là con chiên của Vatican hay có mối liên hệ chặt chẽ với Vatican, (2) không có người nào trong các nhà lãnh đạo của các nước trên đây được Vatican cho người dẫn sang Mỹ rồi vận động với chính quyền Mỹ đưa về Việt Nam cầm quyền như trường hợp con chiên Ngô Đình Diệm (3) không có nhà lãnh đạo nào của các quốc gia trên đây lại ngu xuẩn như con chiên Ngô Đình Diệm đã tuyên bố với các nhà chính khách Mỹ rằng, ông ta “ tuyệt đối tin tưởng và quyền lực của Vatican…”, (4) không có một nhà lãnh đạo nào của các nước trên đây tổ chức dâng đất nước của họ cho Vatican được ngụy trang là “Dâng Nước Việt Nam cho Đức Mẹ Vô Nhiễm” như con chiên Ngô Đình Diệm đã làm, và (5) cũng không có một nhà lãnh đạo nào của các quốc gia này lại theo đuổi kế hoạch Ki-tô hóa dân chúng của họ một cách dã man như chính quyền Ngô Đình Diệm.
Một sự kiện khác nữa cũng hết sức quan trọng là Mỹ và Vatican làm áp lực với cả Pháp và Bảo Đại bổ nhậm con chiên Ngô Đình Diệm (tay sai của Vatican) làm thủ tướng thay thế Thủ Tướng Bửu Lộc “ với “toàn quyền về dân sự lẫn quân sự” để về cầm quyền ở miền Nam Việt Nam. Kế hoạch sau đó là Mỹ sẽ ra lệnh cho Ngô Đình Diệm truất phế Bảo Đại và Mỹ sẽ viện trợ cho Pháp 100 triêu Mỹ kim để tăng cường khả năng quân sự hầu có thể đương đầu với phong trào kháng chiến chống Pháp của nhân dân Algeria lúc bấy giờ. (20)
ĐỀ NGHỊ
Phần trình bày trên đây cho thấy rõ là hầu hết các quốc gia nạn nhân của Giáo Hội La Mã khi vừa mới tranh đấu thoát ra khỏi nanh vuốt của Vatican đều có những kế sách giống nhau. Từ thế kỷ 17 cho đến ngày nay, bối cảnh nước ta (đang còn phải tranh đấu để thoát ra khỏi nanh vuốt của Giáo Hội La Mã) cũng không khác gì hoàn cảnh các quốc gia nạn nhân mà chúng tôi đã trình bày ở trên.
Người viết xin thành khẩn đề nghị lên các nhà hữu trách trong Quốc Hội Lập Hiến hay Hội Nghi Lập Hiến sắp tới cần thêm những điều khoản để ngăn chận và loại trừ bất cứ thành phần, cá nhân, nhóm, đoàn, đảng phái nào liên hệ đến Giáo Hội La Mã ra khỏi những cơ quan quyền lực. Họ luôn luôn có thể làm nguy hại cho sự tồn vong của tổ quốc. Phần phụ trang dưới đây tóm tắt đề nghị một số điều theo gương những biện pháp của các quốc gia nạn nhân nói trên để ngăn chặn âm mưu của Vatican dùng các thủ đoạn lấn lướt rồi cướp chính quyền.
Là con dân của dân tộc Việt Nam luôn hướng nhìn về Tổ Quốc, dù sống tha hương, chúng tôi vẫn hằng mong mỏi đất nước được an bình và phồn thịnh. Ước mong được các bậc thức giả ở trong nước cũng như ở ngoài nước cùng quan tâm và lên tiếng để làm sáng tỏ vấn đề quan trọng này. Mong lắm thay!

Trân trọng,
Nguyễn Mạnh Quang
California Ngày 21/2/2012

CHÚ THÍCH
(1) Phan Đình Diệm, “Kiến Nghị 6.” Ngày 15/6/1999. Tanvien@kitohoc.com .
Nguyễn Xuân Thọ, Bước Mở Đầu Của Sự Thiết Lập Hệ Thống Thuộc Địa Pháp Ở Việt Nam 1858-1897 (Saint Raphael, Pháp: TXB, 1005), tr. 17.
(3) Graham, Lloyd M., Deceptions and Myths of the Bible (New York: Bell Publishing Company, 1975), p. 463
Nguyễn Mạnh Quang, Mối Ác Cảm Của Nhân Dân Thế Giới Đối Với Giáo Hội La Mã”” Ngày 02 thấng 04 năm 2010. http://sachhiem.net/NMQ/MOIACCAM/NMQ_01.php
Nguyễn Mạnh Quang, Thư Gửi Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt, Tổng Giám Mục Giáo Phận Hà Nôi”, ngày 25/9/2006: Nguồn: http://sachhiem.net/NMQ/NMQ009.php
(6) Peter Tatchell (Special to CNN). “Why I oppose the pope.” September 16, 2010: Source: http://www.cnn.com/2010/OPINION/09/16/opinion.tatchell.pope/index.html
Hoàng Trọng Miên, Đệ Nhất Phu Nhân – Tập I (Los Alamitos, CA: Nhà Xuất Bản Việt Nam 1989, tr. 428.
(8) Nguồn: http://sachhiem.net/NMQ/ChanDungVNCH/QMN05.php ) và Mỹ.
Nguyễn Mạnj Quang, Nói Chuyện Với Tổ Chức Việt Nam Cộng Hòa Foundation (Houston, TX: Đa Nguyên, 2004), tr. 9.
From Wikipedia, the free encyclopedia
(11) Wikipedia, the free encyclopedia. “Charles II of England – Conflict with Parliament.” )
(12) Arnold Schrier & T. Walter Wallbank, Ibid.,p. 398. Nguyên văn: “A third measure, the Act of Settlement of 1691, provided that no Roman Catholic could be ruler of England, automatically excluding the descendants of James II by his second wife.”
J.E. Boshier, The French Revolution (New York: W. W Norton & Company, 1988), p 155.
(4) Carton J. H. Hayes, Modern Times – The French Revolution to the Present (New York: Macmillan Publishing Company, 1983), p. 35.
(15) Charlie Nguyễn, Thực Chất Đạo Công Giáo Và Các Đạo Chúa (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2003), tr 159.
(16) Trần Chung Ngọc, Mối Họa Cải Đạo” Ngày 18/2/2011. Sachhien.net: http://sachhiem.net/TCN/TCNtg/TCN109.php. Nguyên văn: “The modern has been especially revolutionary toppling kings from their thrones and smashing altars. In the year 1917, for example, the Bolsheviks, the Communist revolutionries in Russia overthrrew and assassinated the Czar and his royal family. But months before this tragedy, a revolution occurred in Mexico. Yes, the 1917 revolution in Mexico established the world’s first socialist constitution and Holy Morther Church suffered greatly. Authoirities demolished, desecrated, and seized Catholic Churches and religious houses. In a satanic rebellion, revolutionaires destroyed sacred vessels, sacramentals, and sacred works of art. Priests, religious and Catholic laity were persecuted and killed. In the Mexican province of Tobasco things were especially difficult. The socialist governor of Tobasco named his children Lenin, Satan, and Lucifer. He destroyed all churches, forced priests to marry, and persecuted any true Christian…” “BI. Miguel Agustin Pro –23 November 2004.”
(17) Chu Văn Trình, Thái Vân, Trần Quang Anh, Việt Nam Với Cuộc Dấy Lọan Hòa Bình của Giáo Chủ John Paul II (Dora, FL: Văn Sử Địa, 1994), tr 68.
(18) Malachi Martin, Rich Church Poor Church (New York: G.P. Putnam’s Sons, 1984), pp 155-156. Sự kiện này được sách sử ghi lại rõ ràng như sau:
“Sự trái ngược giữa các nước nghèo khó ở Nam Âu và sự phồn thịnh của các nước ở Bắc Âu thật là quá rõ ràng. Nước Anh Tin Lành đã trở thành một cường quốc trên thế giới và đang trên đường trở thành một trong các đại đế quốc thương mại; nước Phổ Tin Lành giầu có và hùng mạnh; nước Hòa Lan Tin Lành đã khởi tiến việc ngoại thương và xứng đáng được mang tước hiệu đế quốc. Một du khách đi từ Bắc và Trung Âu tới nước Pháp và bán đảo Tây Ban Nha rồi qua Ý Đại Lợi sẽ thấy sự tương phản về kinh tế, mức sống và trình độ học vấn tổng quát của người dân trong các quốc gia này. Ở Bắc và Trung Âu, phần lớn là Tin Lành, không có quốc gia nào rơi vào tình trạng chết đói và nghèo khổ triền miên như các nước ở miền Nam Âu. Chủ nghĩa tư bản cổ điển đã lỗi thời và các quốc gia theo đạo Tin Lành cũng đã thức thời và sẵn sàng từ bỏ nó để làm lợi cho đất nước. Các nhà chính khách và vua chúa ở các quốc gia Nam Âu cho rằng Tòa Thánh La Mã và chế độ giáo hoàng phải chịu trách nhiệm về sự suy thoái và thua kém của nước họ so với các nước theo đạo Tin Lành.” Nguyên văn: “The contrast between the impoverished southern European countries and the flourishing northern European states at this time was a glaring one. Already Protestant England had become a world power and was on its way to founding one of the great commercial empires; Protestant Prussia was prosperous and powerful; Protestant Holland was already starting the overseas trade that in time would offer it the title of empire. A traveller from northern and central Europe down into France, the Iberian peninsula, and Italy would be struck by the contrast in economic welll-being, standard of living, and general education of the people. The northern and the central nations, predominantly Protestant, had none of the starvation and endemic poverty exhibit down south. Classical capitalism was off on its first flight and the Protestant nations were ready to take advantage of it. The statesmen and kings in southern Europe held Rome and the papacy primarily responsible for that degrading difference them and their Protestant counterparts.”
(19) Malachi Martin, Rich Church Poor Church (New York: Putnam’ s, 1984), p. 170.. :
“Ngày 19 tháng 8 năm 1870, quân đội Pháp lo bảo Vệ Tòa Thánh Vatican thực sự rút lui vĩnh viễn. Trận đánh Sedan vào ngày 2 tháng 9 năm đó đã làm cho đế quốc của Hoàng Đế Nã Phá Luân Đệ Tam hoàn toàn sụp đổ. Tòa Thánh Vatican mất đi một thế lực bảo vệ cuối cùng, và nước Pháp, “người trưởng nữ của Giáo Hội La Mã” kể từ năm 1871 đến năm 1940 đã phải thay đổi đến 99 nội các. Quân Pháp vừa mới rút lui, tức thì, ngày 19 tháng 9, quân đội quốc gia Ý tiến vào kinh thành La Mã và đóng quân ở ngay chung quanh cổ thành Leonine nằm trong Kinh Thành La Mã. Ngày hôm sau (20/9), sau khoảng ba tiếng đồng hồ nã đại pháo và cận chiến lẻ tẻ, vào lúc 9:30 sáng, Giáo Hoàng ra lệnh kéo cờ trắng ở trên nóc nhà thờ St. Peter. Mười phút sau đó, không còn nghe thấy tiếng súng nữa. Quân đội Ý tiến vào phía trong kinh thành và chiếm đoạt hết tất cả của cải trong đó, chỉ có Ngọn Đồi Vatican là họ không rớ tới. Quốc Gia của Giáo Hoàng không còn tồn tại nữa. Diện tích của quốc gia này từ 16 ngàn dặm vuông bị cắt xén, còn lại chỉ có 480 ngàn mét vuông kể cả ngọn Đồi Vatican và xung quanh ngọn đồi này trong đó có nhà thờ St. Peter, các tòa nhà phụ cận và các khu vườn Vatican ở gần đó. Hôm sau, ngày 21 tháng 9, Giáo Hoàng Pius IX (1846-1878) viết một lá thư ngắn ngủi cho người cháu: “Cháu yêu quý: Tất cả đã hết rồi. Không có tự do, không thể nào quản lý được Giáo Hội. Hãy cầu nguyện cho ta và cho tất cả các con. Ta chúc phúc cho các con.”(Anh ngữ)
(20) Lương Minh Sơn, “Bài Học Nhìn Từ Hậu Trường Chính Trị Hoa Kỳ”, đăng trong tờ Sự Thật – Đặc San Xuân Đinh Sửu 1997 (Fremont, CA 1997) tr 26-27 do ông Lê Hữu Dản làm chủ biên:
“Ngày 19/06/1954, Vua Bảo Đại ký sắc lệnh 38/QT chuyển giao toàn quyền quyền dân sự lẫn quân sự cho Ngô Đình Diệm. Một tuần sau, ngày 26/06/1954, ông Diệm nắm chức thủ tướng. Ngày 07/07/1954, ông ra mắt Hội Đồng Nội Các gồm 16 tổng bộ trưởng. Vài năm sau, 14 trong 16 vị tổng bộ trưởng đó đã đứng qua tư thê đối lập joawjc trở thành kẻ thù của ông Diệm.
Đầu năm 1955, trong một cuộc tranh chấp quyền lực với Trung Tướng Nguyễn Văn Hinh, Tổng Tham Trưởng Quân Đội Miền Nam, một sĩ quan của Pháp đưa về để bảo vệ Bảo Đại, ông Diệm bị Bảo Đại cách chức vì lý do không còn được tín nhiệm .Tuy nhiên, Hoa Kỳ đồng ý trả 100 triệu đô la bằng viện trợ quân sự cho quân đội viễn chinh để Pháp chấm dứt ủng hộ Bảo Đại nên ông Diệm có tư thế không tuân hành lệnh giải nhiệm. Ngày23/19/1955, qua sự vận động của tình báo Hoa Kỳ và một số văn bút (văn nô) , ông Diệm tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý. Trước khi trở về Hoa Kỳ để lánh mặt trong cuộc bầu cử (trưng cầu dân ý truất phế Bảo Đại) , Đại Tá Edwward Lansldale căn dặn ông Diệm , “Trong lúc vắng mặt, tôi không muốn bỗng nhiên nhận được tin ông đắc cử với tỉ số 99.99 phần trăm số phiếu,”[MCC, trg 62]. Ông Diệm đắc của với tỉ lệ 98.2% và kết quả này cho phép ông chính thức truất phế Bảo Đại…”

Phụ Trang:
Dưới đây là tóm tắt một số đề nghị của chúng tôi đã được chúng tôi trình bày trong các Chương 15, 16, 17, 18, 19, 20 và 21 trong tập sách Tâm Thư Gửi Nhà Nước Việt Nam (đã đăng trên http://sachhiem.net/index.php?content=showrecipe&id=139) :
1.- Theo gương nước Anh bằng cách ghi vào trong hiến pháp hay bàn hành luật :
a.- Đặt Vatican hay Giáo Hội La Mã ra ngoài lề xã hội,
b.- Đòi hỏi tu sĩ và tín đồ Ki-tô muốn xin làm công nhân viên nhà nước hay tình nguyện gia nhâp quân đội hay bất kỳ cơ quan nào của nhà nước đều phải tuyên thệ (1) trung thành với hiến pháp, (2) từ bỏ đạo Ki-tô, và (3) dứt khoát cắt đứt mọi liên hệ với Giáo Hội La Mã. Nếu vi phạm sẽ bị trừng phạt (tùy theo mức độ nghiêm trọng) từ án tù đến tử hình, đúng như Luật Elizathe Religious Settlement của nước Anh ban hành vào năm 1559.
2.- Theo gương Trung Quốc:
a.- Cương quyết không thiết lập bang giao với Vatican: Lý do đã được trình bày đầy đủ trong Chương 2, sách Tâm Thư Gửi Nhà Nước. Chương sách này có thể đọc online ne http://sachhiem.net/NMQ/TAMTHU/NMQtt_Ma.
b.- Tiến hành thành lập một Giáo Hội Ki-tô Việt Nam độc lập, tách khỏi Giáo Hội La Mã, và đồng thời (a) kiểm soát chặt chẽ những người hành nghề tu sĩ Ca-tô, (b) sử dụng những biện pháp cứng rắn để đối phó với những tu sĩ và giáo dân vẫn còn ngoan cố tiếp tục thần phục Tòa Thánh Vatican.
c.- Cương quyết không để cho Giáo Hội La Mã hay các nhà thờ Ki-tô mở trường học tại bất cứ nơi nào trên lãnh thổ Việt Nam để tránh cho con em chúng ta không bị chính sách ngu dân và nhồi sọ của “cái đạo bịp” này biến thành hạng người vong bản, phản quốc, phi luân và loạn luân giống như những chuyện trong kinh thánh cũng như trong cuộc sống hoàng đàng loạn luân và phi luân của các giáo hoàng cũng các giáo sĩ Ki-tô như đã nói ở trên.
d.- Cương quyết không cho Giáo Hội La Mã thiết lâp bất kỳ một viện mồ côi hay cô nhi viện nào trên lãnh thổ Việt Nam. Lý do: Nếu để cho “đạo bịp” này thiết lập các cô nhi viện thì các trẻ em cô nhi này sẽ bị họ nhào nặn thành hạng người mất gốc chỉ biết trung thành với Tòa Thánh Vatican hay Giáo hội La Mã và sau này chúng sẽ trở thành những tên lính xung kích nội trùng của Vatican nằm tiềm phục trong nhân dân và sẽ liều chết chiến đấu chống lại tổ quốc và dân tộc ta.
e.- Tuyệt đối không trả lại cho Vatican một khỏan bất động sản nào mà trước đó đã được thâu hồi.
f.- Tuyệt đối không để cho Vatican tự ý bổ nhậm các linh mục và giám mục mà không có sự chấp thuận của chính quyền ta.
3.- Theo gương chính quyền Cách Mạng Pháp 1789:
a.- Quốc hữu hóa toàn bộ bất động sản của Vatican kể cả các trường học, nhà thương, tu viện, chủng viện và tất cả các cơ sở khác, chỉ để lại cho mỗi họ đạo (xóm đạo hay làng đạo) một ngôi nhà thờ, sân trước (giới hạn) và 1 căn nhà cho lịnh mục hay giám mục quản nhiệm cư trú.
b.- Ban hành một hiến chế dân sự cho giới tu sĩ Ca-tô với nội dung giống như bản hiến chế mà chính quyền Cách Mạng Pháp 1789 đã ban hành, trong đó tu sĩ được coi như là bình đẳng trước pháp- luật giống như tất cả người dân khác và phải có nghĩa vụ đối với đất nước, phải trung thành với hiến pháp và nước Việt Nam, chứ không phải trung thành với Tòa Thánh Vatican hay Giáo Hội La Mã.
4.- Theo gương Nhật Bản trong thế kỷ 17:
a.- Trừng trị nghiêm khắc những kẻ lợi dụng chiêu bài tôn giáo để gây bạo loạn, mưu đồ lật đổ chính quyền và rước con voi Vatican về giầy mả tổ Việt Nam.
b.- Ban hành một đạo luật cấm, không cho tuyển dụng tín đồ của Vatican vào các chức vụ trong các cơ quan công quyền, không tuyển mộ họ vào làm việc bất kỳ cơ quan nào trong chính quyền cũng như trong quân đội.
5.- Theo gương nước Mễ Tây Cơ: Ban hành một đạo luật cấm các tu sĩ của Vatican, không cho hành nghề dạy học và không được mặc áo tu sĩ ở ngoài Nhà Thờ.
6.- Theo gương Hoa Kỳ:
a.- Thi hành chính sách giáo dục tự do và khai phóng, cổ võ, giúp đỡ khích lệ việc in ấn, phát hành và phổ biến rộng rãi những sách báo và tài liệu văn học, khoa học, lịch sử, đặc biệt là lịch sử thế giới, lịch sử Giáo Hội La Mã (miễn là không chống chính quyền).
b.- Đưa vào chương trình học ở bậc trung học môn học quốc sử và lịch sử thế giới, nâng cao thời lượng và nâng cao môn học này lên thành môn học chính, ngang hàng với các môn Quốc Văn, Toán và Khoa Học, giống như ở các trường trung học tại Hoa Kỳ. Vấn đề này đã được chúng tôi trình bày khá đầy đủ trong Chương 8, sac Tâm Thư Gửi Nhà Nước Việt Nam. Chương sách này có thể đọc online trên sachhiem.net: http://sachhiem.net/NMQ/TAMTHU/NMQtt_Main.php.
7.- Theo gương nước Nga và nhiều nước khác: Ban hành một đạo luật công nhân đạo Phật và các tôn giáo khác được tự do họat động ở Việt Nam, ngọai trừ đạo Ki-tô La Mã và đạo Tin Lành.
8.- Nâng cao phẩm chất các giáo viên phụ trách dạy môn sử bằng cách:
a.- Mở các khóa học bổ túc hay tu nghiệp để cho họ có cơ hội học hỏi mở rộng kiến thức về lịch sử, đặc biệt về lịch sử thế giới, lịch sử Giáo Hội La Mã, và lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại.
b.- Cung ứng đầy đủ và phổ biến rộng rãi các tài liệu lịch sử thế giới, lịch sử Việt Nam thời cận và hiện đại, và các tài liệu lịch sử có liên hệ đến vai trò hay những hành động của Vatican trong những cố gắng ngăn chặn những bước tiến hóa của nhân lọai trong gần hai ngàn năm qua, giống như các thư viện tại Hoa Kỳ và các nước khác trên thế giới.
c.- Đặt ra giải thưởng hàng năm về các tác phẩm biên khảo lịch sử với những đề tài về những cuộc tranh đấu của nhân Âu Châu và nhân dân thế giới chống lại Giáo Hội La Mã hay Vatican để đòi lại quyền làm người và bảo vệ chủ quyền của đất nước cùng sự sinh tồn của dân tộc.
Người viết có thể cung cấp cho thư viện của Ban Sử tại Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội các sách và tài lỉệu lịch sử thế giới và tài liệu lịch sử có liên hệ đến Giáo Hội La Mã mà người viết hiện có và đang dùng để biên soạn tập sách này cũng như bộ sách Lịch Sử Và Hồ Sơ Tội Ác Của Giáo Hội và các tập sách khác (đã và đang tiếp tục đưa lên sachhiem.net) để cho các anh chị em sinh viên Ban Sử và mọi người ham đọc sử có tài liệu sử dụng.

 
 

Ngày Tận Thế Sắp Đến/Apocalypse Fairly Soon

ScreenHunter_05 Jan. 15 21.55
Ngày Tận Thế Sắp Đến/Apocalypse Fairly Soon
May 20, 2012 By Alan Phan

Paul Krugman, Nhà Kinh Tế Gia đã đoạt giải Nobel, nói về “Ngày Tận Thế Sắp Đến”; dĩ nhiên là về tài chánh và rõ hơn là về Liên Âu và đồng Euro. Không có gì mới lạ vì tôi đã đoán về khả năng không trả nợ công của Hy Lạp, Tây Ban Nha 2 năm về trước (xin lỗi, cho Alan nổ 1 chút, ở VN mấy tuần qua nên bị nhiễm virus này) và sự giải thể sẽ đến của Liên Âu (Alan đã viết 6 tháng trước). Nhưng lưu ý về những hệ quả mà Krugman cảnh báo khi khủng hoảng Euro xẩy đến, nhất là với hệ thống tài chánh toàn cầu và với các quốc gia đang làm ăn nhiều với Liên Âu. Có thể nói trận bão năm Thìn sắp đổ bộ ở VN sẽ kéo thêm vài cơn gió chướng, trái mùa…
“Ngày Tận Thế Sắp Đến”
Apocalypse Fairly Soon
Bỗng nhiên, ta thấy dễ dàng hơn trong việc nhìn nhận đồng euro, thử nghiệm lớn đầy thiếu sót về một liên minh tiền tệ mà không đòi hỏi sự hợp nhất về chính trị, sẽ đổ vỡ ra sao, bắt đầu từ những mắt xích yếu. Đây không phải là một viễn cảnh xa xôi. Mọi thứ có thể xảy ra với tốc độ chóng mặt, trong khoảng thời gian tính bằng tháng, chứ không phải bằng năm. Cái giá phải trả, dưới góc độ kinh tế và quan trọng hơn là góc độ chính trị sẽ vô cùng lớn.

Điều này không nhất thiết sẽ xảy ra. Liên minh châu Âu (hay ít nhất phần lớn trong số đó), có thể được cứu vãn. Nhưng nó yêu cầu các nhà lãnh đạo châu Âu, đặc biệt là ở Đức và Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB), phải bắt đầu hành động theo một cách khác với những gì họ đã làm những năm vừa qua. Họ phải chấm dứt việc giảng bài đạo đức và đối mặt với thực tế. Họ phải chấm dứt trần trừ. Hãy một lần đi trước và lãnh đạo.

Tôi ước rằng tôi đã lạc quan.

Câu chuyện cho đến lúc này: Đồng euro ra đời trong niềm lạc quan ở khắp châu Âu – thứ, hóa ra , lại là điều tồi tệ nhất. Tiền được rót vào Tây Ban Nha và những quốc gia khác, bấy giờ được coi là những khoản đầu tư an toàn, Dòng vốn này đã tài trợ cho bong bóng bất động sản và những thâm hụt thương mại khủng lồ. Rồi khủng hoảng tài chính 2008 đến làm cho dòng vốn cạn kiệt, kéo theo sụt giảm tồi tệ ở những quốc gia đã bùng nổ trước đó.

Vào thời điểm đó, việc thiếu một sự đoàn kết chính trị của châu Âu trở thành thứ nặng nợ. Florida và Tây Ban Nha đều cùng có bong bóng bất động sản. Nhưng khi bong bóng ở Florida vỡ, người về hưu vẫn có thể dựa vào những tấm séc An sinh xã hội và Bảo hiểm y tế từ Washington. Tây Ban Nha không hề có hỗ trợ nào tương tự. Thế nên, bong bóng vỡ ở Tây Ban Nha còn kéo theo khủng hoảng tài khóa.

Câu trả lời của châu Âu trước tới giờ là thắt lưng buộc bụng: cắt giảm những chi tiêu hoang phí trong nỗ lực nhằm trấn an thị trường trái phiếu. Tuy nhiên, như bất kỳ nhà kinh tế học nào có thể đã nói với bạn (và chúng tôi đã lên tiếng) rằng những cắt giảm này đồng nghĩa với việc làm lún sâu thêm suy thoái của nền kinh tế vốn đã gặp khó khăn ở châu Âu. Điều này càng làm suy yếu lòng tin của các nhà đầu tư cũng như dẫn đến những bất ổn chính trị.

Và giờ là thời khắc của sự thật.

Hy Lạp, cho đến thời điểm này, là đầu mối. Tức giận với các chính sách đã làm gia tăng 20% thất nghiệp – 50% trong đó là lao động trẻ, cử tri quay sang ủng hộ các phe cánh quan nào tâm đến vấn đề của họ. Và bởi toàn bộ sự hình thành bộ máy chính trị Hy Lạp, như một hệ quả, miễn cưỡng thừa nhận thảm họa của kinh tế học chính thống, sự thay đổi của cử chi càng tiếp sức mạnh cho những kẻ cực đoan. Ngay cả khi kết quả cuộc trưng cầu dân ý là sai, và liên minh cầm quyền bằng cách nào đó chiếm được đa số tại vòng bỏ phiếu tới thì tương lai vẫn sẽ là: Hy Lạp sẽ không thể theo đuổi những chính sách mà Đức và ECB yêu cầu.

Giờ thì sao? Hy Lạp đang trải qua cái gọi là “bank jog” – khi mà ngân hàng cứ càng ngày càng bị vắt kiệt bởi người gửi đua nhau tới rút tiền của họ như một phản ứng trước sự tiên liệu về việc Hy Lạp sẽ từ bỏ đồng euro. ECB, theo đó, sẽ phải tài trợ cho cuộc đua này bằng cách cung cấp lượng tiền cần thiết. Nếu và rất có khả năng khi ECB quyết định không thể cho vay thêm được nữa, Hy Lạp sẽ bị buộc phải từ bỏ đồng euro và phát hành lại đồng tiền riêng.

Đây là minh họa về một quá trình đảo ngược của đồng euro có thể sẽ lần lượt diễn ra với các ngân hang Ý và Tây Ban Nha. Một lần nữa, ECB phải đứng trước quyết định về chuyện tài chính mở. Và nó họ định nói không, toàn bộ khối euro nói chung sẽ tan tành.

Tuy nhiên, chỉ tài chính thôi là không đủ. Chúng ta phải cầu cho Ý và Tây Ban Nha một môi trường kinh tế mà trong đó có vài viễn cảnh sáng sủa về sự đi lên sau những chính sách thắt lưng buộc bụng và suy thoái. Thực tế mà nói, cách duy nhất để có một môi trường như thế là ECB phải bỏ đi ám ảnh của họ về chuyện ổn định giá cả để chấp nhận và thực sự khuyến khích mức lạm phát 3-4% (và cao hơn ở Đức) trong vài năm.

Cả ECB lẫn Đức đều ghét giả thiết này, nhưng nó là cách hợp lý duy nhất để cứu đồng euro. Trong hơn hai năm rưỡi vừa qua, các nhà lãnh đạo châu Âu đã phản ứng một cách nửa vời, mất thời gian và chẳng giải quyết được việc gì. Giờ thì thời gian đã hết.

Liệu châu Âu cuối cùng có giải quyết được vấn đề này? Hãy hy vọng là thế. Không chỉ bời sự tan giã của đồng euro sẽ có tác động tiêu cực toàn cầu. Vấn đề chính trị mới là cái giá đắt hơn của sự thất bại.

Hãy nghĩ thế này: Thất bại của đồng euro sẽ dẫn đến thất bại của những chương trình lớn hơn tại châu Âu, những nỗ lực đem đến hòa bình, thịnh vượng và dân chủ ở lục địa vốn có một lịch sử tồi tệ. Nó sẽ có tác hệ lụy tự như việc thất bại của chính sách thắt lưng buộc bụng ở Hy Lạp làm mất uy tín của chính trị chính thống và tạo điều kiện cho những kẻ cực đoan.

Tất cả chúng ta đều sẽ được lợi từ thành công của châu Âu – nhưng có được thành công đó hay không hoàn toàn phụ thuộc vào họ. Thế giới đang trông chờ xem liệu họ có hoàn thành được sứ mệnh này?
Nguyễn Minh Quang lược dịch
Suddenly, it has become easy to see how the euro — that grand, flawed experiment in monetary union without political union — could come apart at the seams. We’re not talking about a distant prospect, either. Things could fall apart with stunning speed, in a matter of months, not years. And the costs — both economic and, arguably even more important, political — could be huge.

This doesn’t have to happen; the euro (or at least most of it) could still be saved. But this will require that European leaders, especially in Germany and at the European Central Bank, start acting very differently from the way they’ve acted these past few years. They need to stop moralizing and deal with reality; they need to stop temporizing and, for once, get ahead of the curve.
I wish I could say that I was optimistic.
The story so far: When the euro came into existence, there was a great wave of optimism in Europe — and that, it turned out, was the worst thing that could have happened. Money poured into Spain and other nations, which were now seen as safe investments; this flood of capital fueled huge housing bubbles and huge trade deficits. Then, with the financial crisis of 2008, the flood dried up, causing severe slumps in the very nations that had boomed before.
At that point, Europe’s lack of political union became a severe liability. Florida and Spain both had housing bubbles, but when Florida’s bubble burst, retirees could still count on getting their Social Security and Medicare checks from Washington. Spain receives no comparable support. So the burst bubble turned into a fiscal crisis, too.
Europe’s answer has been austerity: savage spending cuts in an attempt to reassure bond markets. Yet as any sensible economist could have told you (and we did, we did), these cuts deepened the depression in Europe’s troubled economies, which both further undermined investor confidence and led to growing political instability.
And now comes the moment of truth.
Greece is, for the moment, the focal point. Voters who are understandably angry at policies that have produced 22 percent unemployment — more than 50 percent among the young — turned on the parties enforcing those policies. And because the entire Greek political establishment was, in effect, bullied into endorsing a doomed economic orthodoxy, the result of voter revulsion has been rising power for extremists. Even if the polls are wrong and the governing coalition somehow ekes out a majority in the next round of voting, this game is basically up: Greece won’t, can’t pursue the policies that Germany and the European Central Bank are demanding.
So now what? Right now, Greece is experiencing what’s being called a “bank jog” — a somewhat slow-motion bank run, as more and more depositors pull out their cash in anticipation of a possible Greek exit from the euro. Europe’s central bank is, in effect, financing this bank run by lending Greece the necessary euros; if and (probably) when the central bank decides it can lend no more, Greece will be forced to abandon the euro and issue its own currency again.
This demonstration that the euro is, in fact, reversible would lead, in turn, to runs on Spanish and Italian banks. Once again the European Central Bank would have to choose whether to provide open-ended financing; if it were to say no, the euro as a whole would blow up.
Yet financing isn’t enough. Italy and, in particular, Spain must be offered hope — an economic environment in which they have some reasonable prospect of emerging from austerity and depression. Realistically, the only way to provide such an environment would be for the central bank to drop its obsession with price stability, to accept and indeed encourage several years of 3 percent or 4 percent inflation in Europe (and more than that in Germany).
Both the central bankers and the Germans hate this idea, but it’s the only plausible way the euro might be saved. For the past two-and-a-half years, European leaders have responded to crisis with half-measures that buy time, yet they have made no use of that time. Now time has run out.
So will Europe finally rise to the occasion? Let’s hope so — and not just because a euro breakup would have negative ripple effects throughout the world. For the biggest costs of European policy failure would probably be political.
Think of it this way: Failure of the euro would amount to a huge defeat for the broader European project, the attempt to bring peace, prosperity and democracy to a continent with a terrible history. It would also have much the same effect that the failure of austerity is having in Greece, discrediting the political mainstream and empowering extremists.
All of us, then, have a big stake in European success — yet it’s up to the Europeans themselves to deliver that success. The whole world is waiting to see whether they’re up to the task.
http://www.gocnhinalan.com/

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Một 15, 2013 in Quan điểm

 

Tư duy Việt có đang lạc điệu?

ScreenHunter_02 Jan. 15 21.45ScreenHunter_03 Jan. 15 21.45ScreenHunter_04 Jan. 15 21.46
Tư duy Việt có đang lạc điệu?
December 4, 2012

Lòng dũng cảm của Malala thắp lên một phong trào dân sự
Điểm qua 100 người được trang Foreign Policy chọn làm ‘những khối óc toàn cầu’ năm 2012 điều đầu tiên tôi nhận thấy là không có ai từ Việt Nam.
Các tên tuổi người Việt hoặc gốc Việt ở nước ngoài mà báo chí trong nước nhắc đến như gương sáng trong nhiều lĩnh vực cũng không lọt vào danh sách ‘100 global thinkers’.
Không thể nói 90 triệu người Việt Nam trên toàn cầu thuộc nhóm không suy nghĩ gì.
Nhưng có vẻ như các bộ óc Việt trong và ngoài nước đang lo những chuyện khác, không ‘cộng hưởng’ cùng nhân loại.
Hoặc chúng ta cũng nặng lòng ưu tư về các việc riêng, việc chung và có nhiều hoạt động nhưng vì tiếng nói quá yếu nên thế giới không biết đến.
Ta cũng có thể bác bỏ ‘bảng phong thần’ của Foreign Policy và cho rằng họ thiên vị.
Thế giới nghĩ gì?
Nhưng kể cả như vậy có lẽ cũng cần biết họ đang ‘thiên vị’ với những ai và xu hướng gì trên thế giới.
Trước hết, nếu ai bảo Foreign Policy nghiêng về các nhân vật Phương Tây thì sẽ sai lầm.
Vì con số các gương mặt châu Á (Miến Điện, Trung Quốc), hoặc từ Thế giới Ả Rập và Hồi giáo năm nay chiếm con số đông đảo.
Các tên tuổi từ Châu Phi, Nga, Đông Âu, vùng Balkan cũng không ít.
Foreign Policy xác nhận hai nhân vật cùng đứng số một là bà Aung San Suu Kyi và tổng thống Thein Sein của Miến Điện:

Tướng Thein Sein nhờ dũng khí cải tổ mà được cả ngợi là người ‘buông dao thành Phật’
“Tạo cảm hứng đặc biệt nhất là hai nhân vật hàng đầu anh hùng và hiếm có được vinh danh: bà Aung San Suu Kyi, nhà bất đồng chính kiến từng bị tù, và ông Thein Sein, vị tướng lâu năm. Họ cùng nắm tay để mở lối cho một trong số chế độ độc tài tàn tệ nhất thế giới.”
Tuy nêu tên nhiều nhân vật đấu tranh, các văn nghệ sỹ và các blogger có tác động chính trị từ Trung Quốc, Nga đến Pakistan, Foreign Policy cũng không coi nhẹ vai trò của những người giàu có và các chính khách.
Tổng thống Malawi, bà Joyce Banda được ca ngợi nhờ ý tưởng về một châu Phi ‘sạch sẽ’, ít tham nhũng, hay cựu ứng viên Phó Tổng thống Mỹ, Paul Ryan về ý tưởng cho ngân sách tiết kiệm công quỹ.
Cả hai ông bà Bill và Melinda Gates, tỷ phú làm từ thiện, đều đứng tên trong danh sách năm nay.
Như thế, làm chính trị hay có nhiều tiền tự nó không có gì là xấu, thậm chí còn rất tốt nếu họ thực sự muốn thúc đẩy xã hội tiến lên.
Tổng thống Tunisia, ông Moncef Marzouki đứng thứ hai vì là người “nuôi dưỡng tinh thần Mùa Xuân Ả Rập”.
“Họ cùng nắm tay để mở lối cho một trong số chế độ độc tài tàn tệ nhất thế giới”
Foreign Policy viết về Aung San Suu Kyi và Thein Sein
Với báo chí ở Việt Nam, chắc sự vinh danh này sẽ giúp điều chỉnh lại quan niệm rằng Mùa Xuân Ả Rập là điều gì đó xấu xa, mang tính ‘phản loạn’.
Vì khi chính tổng thống của Tunesia ủng hộ Mùa Xuân Ả Rập thì đây đã là một phong trào ‘chính thống’ của một khu vực thế giới có nền văn minh lâu đời, dân số trẻ, năng động, bản sắc tôn giáo mãnh liệt.
Dân chủ trẻ tuổi
Ngoài ra, không thể phủ nhận tinh thần “dân chủ bình dân” mà Foreign Policy đề cao.
Cũng vì thế, họ để thiếu nữ Pakistan 15 tuổi, Malala Yousafzai, (thứ 6), trên cả Tổng thống Barack Obama (thứ 7).
Blogger trẻ tuổi này, xuất phát từ ham muốn được đi học, đã thành người anh hùng dám đứng lên chống lại Taliban và tất cả những ý thức hệ cổ hủ của họ.
Malala bị phe Taliban bắn trọng thương nhưng được cứu thoát và được đề cử dự giải Nobel không phải chỉ vì ngòi bút sắc bén (viết blog từ năm 12 tuổi) mà vì lòng dũng cảm của cô đã tạo ra một phong trào xã hội rộng khắp.
Nhưng Foreign Policy đề cao cả các sáng kiến công nghệ và các nhân vật có tư duy phát kiến mở đường cho nhân loại hoặc đang vận dụng công nghệ vào kinh doanh có tầm ảnh hưởng sâu rộng.

Mùa Xuân Ả Rập đang thành trào lưu biến đổi thế giới
Đó là lý do các nhân vật như Sebastian Thrun, Andrew Ng, Sheryl Sandberg (Facebook), Marissa Mayer (Yahoo), Eugene Karspersky…có tên trong danh sách.
Nhìn vào châu Á, ngoài Miến Điện như đã nêu, sự có mặt của các nhân vật Trung Quốc cũng là một bài học cho Việt Nam để dự đoán quốc tế mong đợi gì từ một quốc gia Đông Nam Á.
Từ Trung Quốc có nghệ sĩ độc lập Ngải Vị Vị, nhà đấu tranh Trần Quang Thành, nhà vận động môi sinh Mã Quân thuộc nhóm nổi bật nhờ các hoạt động vì cộng đồng, hay triệu phú Lý Khai Phục người Mỹ gốc Đài Loan từng lãnh đạo Google China.
Nhưng Foreign Policy cũng nêu tên Giáo sư Vương Tập Tư (Wang Jisi), học giả giảng tại Trường Đảng ở Bắc Kinh vì ông liên tục “nói thẳng cho người Mỹ biết Trung Quốc nghĩ gì về Hoa Kỳ”.
Như thế, để được nêu danh là nhà tư tưởng toàn cầu không cứ phải là tiếng nói đối lập với chính quyền nhưng nhất thiết phải là tiếng nói thẳng và thật.
Nhìn lại danh sách ‘100 global thinkers’ của Foreign Policy, có thể thấy ba xu hướng lớn:
Dân quyền lan rộng với các tác nhân tham gia đòi tạo thay đổi ngày càng rộng và tuổi càng trẻ.
Trào lưu toàn cầu
• Dân quyền lan rộng với lứa tuổi ngày càng trẻ
• Công nghệ lan tỏa tăng đối thoại công khai
• Hợp tác gia tăng xuyên qua mọi lĩnh vực
• Lòng dũng cảm tạo đà cho tiếng nói công dân
Nỗ lực hợp tác gia tăng từ cả khu vực công, tư và doanh nghiệp để tìm giải pháp toàn cầu cả về kinh tế, chính trị, xã hội và môi trường.
Công nghệ mới mở rộng không gian đối thoại và lan tỏa của thông tin, thách thức sự chần chừ, chậm trễ hoặc bất minh trong mọi lĩnh vực.
Nhưng quan trọng hơn cả là lòng dũng cảm và tinh thần dám làm, dám chịu.
Như ví dụ của Yevgenia Chirikova, nhà vận động môi sinh từ Nga.
Vốn là một nữ doanh nhân thành công, bà chỉ bắt đầu hoạt động xã hội khi đứng ra vận động cứu khu rừng Khimki gần Moscow khỏi một dự án xây đường cao tốc.
Cuộc đấu tranh đã khiến bà bị cảnh sát Nga bắt giam nhiều lần nhưng bà vẫn tiếp tục theo đuổi lý tưởng ‘mỗi người cứu một cây xanh’ mà bà cho là cần thiết cho đất nước.
Việt Nam và người Việt toàn cầu chắc chắn cũng đang tham gia và chịu tác động của những làn sóng này trên mọi lĩnh vực kể trên nhưng đáng tiếc rằng chúng ta hiện tạm thuộc nhóm đi theo, nghĩ theo, ít ra là theo cách nhìn của một tạp chí quốc tế.
Hy vọng sang năm tình hình sẽ khác.
Nguyễn Giang
bbcvietnamese.com

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Một 15, 2013 in Quan điểm

 

9 tiên đoán cho năm 2013

ScreenHunter_01 Jan. 15 21.429 tiên đoán cho năm 2013
January 1, 2013

Tình hình kinh tế bất ổn, xung đột gia tăng ở khu vực Trung Đông, thiên tai, hạn hán, nắng nóng… là những dự báo đáng chú ý trong năm 2013.
1. Thị trường chứng khoán suy giảm: Có nhiều lý do sai số cho dự đoán này, song một lần nữa, giới chuyên gia lại dự đoán thị trường chứng khoán sẽ tụt dốc trong năm 2013. Doanh số sụt giảm, các món nợ cá nhân gia tăng, tỉ lệ phần trăm số người lao động rơi xuống mức thấp nhất, gánh nặng xã hội tăng vọt và nhiều hệ lụy khác hoàn toàn có thể xảy ra trong năm 2013.

2. Kim loại quý tăng hơn 50%. Dự đoán vàng và bạc trong năm 2013 sẽ tăng ít nhất 50%. NH trung ương nhiều nước đang thâu tóm và tích trữ vàng, ngay cả những nhà đầu tư khổng lồ như George Soros cũng ngày càng củng cố vị thế của mình ở những lĩnh vực mà trước kia họ từng lên án vàng là một món đầu tư khả thi.
3. Liên minh Châu Âu thành lập Kho bạc Trung ương. EU nhiều lần nhấn mạnh sự cần thiết phải thành lập một Kho bạc Trung ương, đủ quyền lực để thu thuế trực tiếp từ tất cả các nước thành viên. Hãy chờ dự định này trở thành hiện thực trong năm 2013 và chờ vị tổng thống EU đầu tiên được bầu cử.

4. Hợp pháp hóa cần sa ở Mỹ và thế giới. Sau khi cử tri Colorado và Washington chứng minh có thể hợp pháp hóa cần sa thì ý tưởng này cuối cùng sẽ trở thành hiện thực. Trước đó đã có 15 tiểu bang của Mỹ hợp pháp hóa quyền sở hữu cần sa, 18 tiểu bang hợp pháp hóa dùng cần sa cho mục đích y tế. Mexico cũng đang xem xét lại cuộc chiến cần ca, còn Uruguay đã bắt đầu định chế các nguyên tắc để trở thành nước đầu tiên hợp pháp hóa hoàn toàn cần sa.
5. Tấn công mạng lớn nhằm vào Mỹ. Tất cả các chính phủ và nhiều tập đoàn lớn ngày càng muốn kiểm soát Internet nhiều hơn. Tuy nhiên đại đa số người dân không muốn nhìn thấy Internet bị thay đổi.
Đây không chỉ là các cuộc tấn công nhỏ lẻ nhằm vào một số lĩnh vực kinh doanh nhỏ, mà nhiều chuyên gia đã dự đoán một cuộc “tấn công mạng 11.9” hoặc trận “Trân Châu cảng” trong năm 2013. Nhiều công ty sản xuất phần mềm diệt virus như McAfee cũng cảnh báo những sự cố như vậy trong năm tới.

6. Tổng thống Syria Bashar al-Assad bị lật đổ. Hiện tình thế ở Syria vẫn trong giai đoạn giằng co. Tuy nhiên, khi NATO có cam kết đầy đủ, việc Tổng thống al-Assad bị lật đổ sẽ chỉ là vấn đề thời gian và hoàn toàn có thể xảy ra trong năm 2013.

7. Phương Tây tấn công Iran. Về mặt kỹ thuật, cuộc chiến giữa phương Tây với Iran đã bắt đầu từ nhiều năm nay. Câu hỏi còn lại đặt ra là liệu các cường quốc như Trung Quốc và Nga sẽ phản ứng lại với động thái của phương Tây như thế nào?
8. Giá dầu, lương thực đạt kỷ lục. Điều này hoàn toàn có thể xảy ra trong năm 2013 bởi tình hình bất ổn thế giới, xung đột ở các khu vực giàu dầu mỏ và khí hậu khắc nghiệt ở những nơi sản xuất lương thực.

9. Thời tiết khắc nghiệt và trái đất thay đổi. Thời tiết khắc nghiệt có thể biến thể sang một hình thái mới. Cơ quan Khí tượng Thủy văn Nga đưa ra dự báo nhiệt độ trong năm 2013 vượt quá mức trung bình hằng năm hơn 0,5°C, khiến 2013 sẽ nóng nhất trong vòng 160 năm trở lại đây.
Cũng trong năm tới, dự báo sẽ có nhiều trận siêu bão và động đất với sức tàn phá khủng khiếp nhất trong lịch sử.
Theo Vân Anh
Lao động

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Một 15, 2013 in Quan điểm

 

Hãi hùng cà phê ‘đểu’ – Cà phê ‘đểu’ rất độc hại!-Khủng khiếp công nghệ chế biến cà phê giả

Hãi hùng cà phê ‘đểu’ – Kỳ 4:

17/7/2012

Cà phê ‘đểu’ rất độc hại!

> Hãi hùng cà phê ‘đểu’
> Đậu nành + 15 hóa chất = cà phê
> Quy mô cà phê ‘đểu’ khổng lồ

Các chuyên gia đã chỉ rõ, những hóa chất độc hại mà bọn làm cà phê “đểu” sử dụng chứa rất nhiều tạp chất, các kim loại nặng như thủy ngân, chì, asen… Nếu dùng lâu dài, các độc chất này tích tụ sẽ giết dần mòn cơ thể và hậu quả cuối cùng là gây ung thư.

 
Hỗn hợp các hóa chất sau khi trộn. Ảnh: Thanh Tùng.

Như đã đề cập ở các bài trước, khi cận cảnh quy trình sản xuất cà phê “đểu” tại cơ sở Thông Phát (số 108 Tô Hiệu, P.Hiệp Tân, Q.Tân Phú, TP.HCM) chúng tôi ghi nhận bên cạnh nguyên liệu chính là đậu nành, còn vô số những hóa chất độc hại không rõ nguồn gốc. Đặc biệt trong đó có những loại đường cấm (Sodium Cyclamate).

Chủ cơ sở Thông Phát cũng khai, mỗi mẻ 100 kg đậu nành chỉ cần bỏ vào khoảng 50 gr đường hóa học là đủ.

“Đậu nành rang cháy đã có màu giống cà phê thật rồi, cần gì phải cho màu nữa?”, chúng tôi đặt câu hỏi thì ông chủ cơ sở Thông Phát đáp tỉnh rụi: “Cho màu để đẹp hơn. Với 100 kg đậu nành chỉ cần cho từ 50-100 gr phẩm màu”.

Hại gan, suy tủy, ảnh hưởng thận…

 Ngoài những hóa chất, phụ gia, phẩm màu độc hại, thì việc rang cháy đậu nành để cho giống cà phê thật sẽ làm phân hủy các thành phần dinh dưỡng và nó sẽ sản sinh ra các chất rất độc hại cho người sử dụng 

Giáo sư Chu Phạm Ngọc Sơn – Chủ tịch Hội Hóa học TP.HCM

Giáo sư Chu Phạm Ngọc Sơn – Chủ tịch Hội Hóa học TP.HCM phân tích, tinh cà phê chế biến sẵn là tinh tổng hợp, chủ yếu làm từ hóa chất. Cho dù có cùng một công thức, nhưng phẩm màu công nghiệp khác xa phẩm màu thực phẩm, bởi nó chứa nhiều tạp chất, kim loại nặng độc hại. Còn kháng sinh chloramphenicol cũng bị cấm dùng cho cả việc nuôi hải sản. Đường Cyclamate thì tuyệt đối không được dùng.

“Ngoài những hóa chất, phụ gia, phẩm màu độc hại, thì việc rang cháy đậu nành để cho giống cà phê thật sẽ làm phân hủy các thành phần dinh dưỡng và nó sẽ sản sinh ra các chất rất độc hại cho người sử dụng”.

Bác sĩ Trần Văn Ký – Hội Khoa học kỹ thuật an toàn vệ sinh thực phẩm VN cũng nhìn nhận, tình trạng sử dụng phụ gia, phẩm màu độc hại, trôi nổi hiện nay là rất phổ biến, cơ quan chức năng không quản lý hết được.

Các cơ sở sản xuất, chế biến thực phẩm thường dùng phụ gia, phẩm màu công nghiệp để cho vào thực phẩm bởi nó rẻ hơn nhiều lần so với cùng loại nhưng dùng trong thực phẩm.

“Đáng sợ nhất của phẩm màu, phụ gia công nghiệp vì nó chứa rất nhiều tạp chất, các kim loại nặng như thủy ngân, chì, asen…

Nếu dùng lâu dài, các độc chất này tích tụ sẽ giết dần mòn cơ thể và chúng có nguy cơ gây ung thư. Riêng kháng sinh chloramphenicol nếu dùng không đúng thì không đơn giản làm lờn thuốc mà nó còn độc cho gan và làm suy tủy, ảnh hưởng lên thận.

Với đường hóa học Sodium Cyclamate, loại đường có độ ngọt gấp 50 lần so với đường mía thông thường, bị cấm sử dụng trong thực phẩm vì nó có nguy cơ gây ung thư cho người sử dụng; có nguy cơ gây hội chứng Down, ảnh hưởng trên thai phụ; thử nghiệm ở chuột, người ta nhận thấy đường Cyclamate còn gây cao huyết áp và làm teo tinh hoàn…”, bác sĩ Ký nói rõ.

Ông T.H, một chuyên gia về hóa thực phẩm có thâm niên tại TP.HCM từng chia sẻ với Thanh Niên: “Nếu anh uống cà phê vài ngàn đồng một ly ở thành phố này thì sẽ không uống được cà phê làm từ hạt cà phê”.

Ông T.H dẫn chứng, tất cả những cơ sở rang, xay cà phê “đểu” đều dùng đậu nành hoặc bắp thay hạt cà phê, nhưng phần lớn là dùng đậu nành vì giá rẻ.

Theo chuyên gia này, khi sản xuất cà phê “đểu”, nếu không cho hương vào thì đậu nành, bột bắp sẽ hút hết tinh cà phê tổng hợp. Còn chất tạo bọt thường dùng là Sodium lauryl sunlfate, loại làm nước rửa chén, dầu gội đầu… Còn phẩm màu đa phần là loại công nghiệp, giá chỉ 40.000 – 45.000 đồng/kg, rẻ hơn từ 3-4 lần so với phẩm màu dùng cho thực phẩm nhưng cho màu sắc tươi, bền.

“Chất tạo bọt Sodium lauryl sunlfate chỉ dùng trong công nghiệp, không được dùng cho thực phẩm bởi nó độc hại và có nguy cơ gây ung thư. Tương tự, chất tạo sánh CMC (Carboxymethyl Cellulose) nếu dạng công nghiệp cũng chứa tạp chất, các kim loại nặng làm vô sinh và có nguy cơ gây ung thư”, ông T.H nhấn mạnh.

Lọt lưới kiểm tra

PV phát hiện, chỉ mới đây (ngày 29-6) một đoàn kiểm tra của Ban Thanh tra liên ngành về an toàn vệ sinh thực phẩm Q.Tân Phú (gồm Phòng Y tế quận; Y tế dự phòng; Công an; Thú y) đã đến kiểm tra cơ sở Thông Phát. Nhưng biên bản làm việc thể hiện các nội dung “quá tốt”.

Cụ thể: vệ sinh cá nhân đạt; nhà vệ sinh đạt; thao tác công nhân trong sản xuất, chế biến: đạt…

Trong khi tất cả những tiêu chí này, ngay sau đó, đoàn Thanh tra Sở Y tế TP qua kiểm tra (vào ngày 16-7) kết luận đều sai phạm.

<> 

 

 
Các thùng đựng phụ gia rất dơ bẩn.

 

 
Đậu nành rang cháy đen sẽ sinh ra độc chất gây hại.

 

 
Đường hóa học cấm sử dụng trong thực phẩm.

Theo Thanh Tùng
Thanh Niên

http://www.tienphong.vn/xa-hoi/585352/Ca-phe-deu-rat-doc-hai-tpol.html

 

Kinh tế

11:59 | 16/05/2005

 

Khủng khiếp công nghệ chế biến cà phê giả

Thật lạnh cả người nếu biết rằng phần lớn lượng cà phê bột được bán hàng ngày tại nhiều quán cà phê không phải là cà phê mà là… đậu nành, bắp, đường và… hóa chất.

 
Đổ đậu nành ra sàn nhà bẩn

Đó cũng chính là lý do vì sao ai đó có ngày lỡ uống đến 4, 5 ly cà phê hay nhiều hơn nữa mà đêm về vẫn ngủ ngon.

Công nghệ chế biến “cà phê ngõ hẻm”

Anh T.B, chủ một cơ sở rang xay cà phê bỏ mối ở Q.12, cho biết thị trường TP.HCM đang có đến gần 2.000 thương hiệu cà phê bột đóng gói, từ những cơ sở có vốn chỉ vài trăm ngàn đồng cho đến các công ty với hàng trăm công nhân làm việc.

Các cơ sở này kinh doanh theo kiểu đến các lò rang mua cà phê về xay, đóng gói với một nhãn hiệu “mạnh ai nấy nghĩ” rồi mang đi bỏ mối cho các quán cà phê lớn nhỏ, nhiều nhất là các quán cà phê “cóc” lề đường.

Quy trình chế biến cà phê ở một lò rang cà phê trong một con hẻm thuộc tổ 44, phường Tân Chánh Hiệp, Q.12 như thế này:

Sau khi khiêng hai bao đậu nành loại “cực đẹp” đổ vào lò, anh thợ phụ cắm điện, mồi củi, vài phút sau lửa cháy phừng phực, chảo rang quay nhịp nhàng giống như một cái máy trộn bê tông. T. – chủ lò – đi đâu đó thồ về thêm 2 bao đậu nành nữa, mỗi bao là 60 kg, tổng cộng hôm nay T. rang hai tạ tư đậu nành.

Anh ta cho biết: “Mọi khi rang gấp ba như thế”. Nói đoạn T. loay hoay lấy ra 50 kg đường bánh, cho khoảng 10 lít rượu vào khuấy lên rồi đổ vào chảo nấu. Khi chảo đường sôi sùng sục, đen xì trông giống như nhựa đường, T. cho vào đó khoảng hơn 10 loại hóa chất và bắt đầu từ đây mùi cà phê tỏa ra ngào ngạt. Đó là công đoạn “tẩm”.

Nấu chảo đường khoảng hơn một tiếng, T. nếm thử đường và gật gù: “OK”. Lúc này, đậu nành đã “tới”. Hai thợ phụ khác đưa xe đẩy vào gầm lò rang, rồi mở lò chuyển đậu ra. Đậu nành cháy đen đổ đầy ra nền xi măng, hai chiếc quạt công nghiệp mở hết cỡ để thổi cho mất mùi đậu nành.

 
Dẫm cả dép vào đống “cà phê”

Khi đã bớt khói, thợ lấy đường từ chảo đang sôi sùng sục đổ vào đậu rồi ra sức đảo (theo T., đường và đậu được trộn đều khi còn nóng sẽ chỉ còn lại mùi cà phê mà thôi). Công đoạn này kết thúc, đậu chuyển sang màu đen nhánh trông giống hệt như cà phê, dính vào nhau thành từng bánh.

Hai thợ phụ dùng cào cào đậu rộng ra rồi tăng tốc quạt. Đậu nguội, một thợ phụ để nguyên cả dép nhảy vào, dùng xẻng, bàn cào và dùng cả chân đạp cho đậu tơi ra. Sau đó đậu nguội được đóng bao, giao cho chủ cơ sở xay đóng gói chở về. Toàn bộ quy trình chế biến “cà phê” kết thúc!

Bí quyết làm giàu của các ông chủ lò

Sáng ngày 3/5, theo chân chủ lò dẫn lên chợ Kim Biên mua hàng. Ghé vào tiệm N.S, Chủ lò hỏi mua hai loại hóa chất được ký hiệu gì đó rất khó nhớ (mỗi loại 1 lạng), một nhân viên của tiệm xách ra 2 can nhựa loại 5 lít có màu sậm chiết ra giao hàng.

Rời tiệm N.S, sang tiệm T.N, chủ lò mua 1/2 kg sữa Úc (150.000đ/kg), 1 kg ca cao (40.000đ/kg). Sau đó về tiệm H.L trên đường Nguyễn Trãi. Chủ lò đưa cho ông chủ tiệm người Hoa một danh sách gồm 9 loại hóa chất, trong đó ghi 200g ĐĐ1 (đây là hương cà phê Đông Đức loại 1), 200g HK (Hồng Kông), 200g MOP (Môca Pháp) và một số loại hóa chất khác. Liếc qua một lần, ông chủ tiệm gọi nhân viên lấy hàng, cho vào bịch xốp. Số tiền phải trả là 769 ngàn đồng. Tất cả 14 loại hương liệu, hóa chất được mua trong buổi sáng hôm đó hết hơn một triệu đồng.

 
Những hoá chất chế biến cà phê

Qua tìm hiểu được biết, chủ lò muốn “cà phê” có mùi gì, vị gì cũng được. Tất cả đều có thể mua được ở chợ Kim Biên. Ghê nhất là một loại hóa chất “tạo bọt” nhìn gần giống như nước rửa chén, ly cà phê sẽ nhanh chóng nổi lên một lớp bọt hấp dẫn ngay khi người uống khuấy nhẹ muỗng.

Một người tên H., làm nghề bỏ mối cà phê cho biết: muốn chế biến cà phê bằng đậu nành hay bắp đều được. Cà phê kiểu này khi giao cho các quán giá khoảng 30.000 đồng/kg, lời gấp 5 lần so với chế biến bằng cà phê thật. Lợi nhuận quá cao nên sau 5 năm làm ăn, H. tậu một hơi 3 miếng đất, nhà, xe ô tô, xe Honda @ mà vẫn chỉ coi là… “chuyện nhỏ”.

Nhiều chủ lò còn lái cả ô tô để đi giao hàng. Mỗi chủ lò loại vừa có khoảng trên một trăm quán “ruột” ở khắp địa bàn TP.HCM và các tỉnh lân cận như: Long An, Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai… Nhiều chủ lò sẵn sàng đầu tư cho những quán cà phê mới mở toàn bộ đầu máy, ti vi cho đến bàn ghế. Chủ quán chỉ cần nhận hàng đều đều, đủ 500 kg cà phê thì toàn bộ những gì được đầu tư sẽ thuộc về chủ quán.

Theo Thanh Niên

 

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Bảy 23, 2012 in Quan điểm