RSS

Category Archives: Phật Giáo

Bài Giảng Các Kinh trong Trung A Hàm (MP3)

Bài Giảng Các Kinh trong Trung A Hàm (MP3)

tại Chùa Già Lam (Quảng Hương Già Lam)

đường Lê Quang Định, P11, Q. Bình Thạnh

(2013 – 2014)

 

Giảng Sư: Hòa Thượng Thích Nguyên Giác

( GS thỉnh giảng tại Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại TP Hồ Chí Minh)

 

KINH TRUNG A-HÀM (I)

Hán dịch: Phật Đà Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú: Thích Tuệ Sỹ
Sài gòn 2002

 Image

PHẨM THỨ 1: PHẨM BẢY PHÁP

MỤC LỤC PHẨM THỨ 01

 

(1) 11-11-13 Kinh Thiện Pháp – Trung A Hàm – MP3

http://www.mediafire.com/listen/zc7chmt2hja6p2l/11-11-13_kinh_thien_phap_(1_)Trung_A_Ham.MP3

 

(2) 11-11-20 Kinh Trú Đạc Thọ – Trung A Hàm – MP3(_2_)

http://www.mediafire.com/listen/z221lntppv695j8/11-11-20_kinh_tru_do_tho_(_2_)_Trung_A_Ham.MP3

 

(3) 11-11-27 Kinh Thành Dụ – Trung A Hàm – MP3(3)

http://www.mediafire.com/listen/51rf5u09h22028f/11-11-27_kinh_thanh_du_(3)_Trung_A_Ham.MP3

 

(4) 11-12-04 Kinh Thủy Dụ (4_)_trung_a_ham.MP3

http://www.mediafire.com/listen/zdfu82de68uauzp/11-12-04_kinh_thuy_du_(4_)_trung_a_ham.MP3

 

(5) 11-12-11 Kinh Một Tích Dụ (_5)_trung_A_Ham.MP3

http://www.mediafire.com/listen/uiq4bdh8r8ykxot/11-12-11_kinh_moc_tich_du_(_5)_trung_A_Ham.MP3

 

(6) 11-12-17 Kinh Thiện Nhân Vãng – Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/4sra7crpsy916g5/11-12-17_kinh_thien_nhan_vang_(6_)_trung_ham.MP3

(6) 11-12-1817 Kinh Thiện Nhân Vãng (tt) (6) – Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/9s6zln2vs4bpcu5/11-12-18_kinh_thien_nhan_(6_)_tt.MP3

 

(7) 11-12-31(7). KINH THẾ GIAN PHƯỚC
(8). KINH THẤT NHẬT(8)– Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/o0a7b4cc6znxtp8/11-12-31_the_gian_phuoc_kinh(7)_+kinh_that_nhat_(8).MP3

 

(9) 12-02-18 KINH THẤT XA(9)– Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/ux14slc9925imok/12-02-18_Kinh_that_xa_(9)_TAH.MP3

 

(10) KINH LẬU TẬN (10)– Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/z9ff482ea959r2o/12-02-19_Kinh_lau_tan_(10_)TAH.MP3

 

PHẨM THỨ 2: PHẨM NGHIỆP TƯƠNG ƯNG

MỤC LỤC PHẨM THỨ 02

11. KINH DIÊM DỤ(11)– Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/f6sr2arjsr75vp7/12-02-26_kinh_diem_du_(11_)_TAH.MP3

 

12. KINH HÒA-PHÁ(12) – Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/bi13qyp68k0etlf/12-03-03_Hoa_pha_kinh_(12_)_TAH.MP3

 

13. KINH ĐỘ– Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/s3eh64860wqbbkw/12-03-04_do_kinh_(13_)_TAH.MP3

 

14. KINH LA-VÂN– Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/g99xng8r5oadn9d/12-03-10_kinh_La_Hau_La_(14_)TAH.MP3

 

15. KINH TƯ– Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/lq8etsndje5jqd6/12-03-11_kinh_tu_(15_)_TAH.MP3

 

16. KINH GIÀ-LAM– Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/1irjr19djlm3yge/12-03-17_kinh_gia_lam_(16_)_TAH.MP3

 

17. KINH GIÀ-DI-NI– Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/j1w1tetk0nyfqcv/12-03-18_kinh_Gia_di_Ni_(_17_)_TAH.MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/89rt886swrc85jd/12-03-19_Kinh_di_ni_(17)_tt.MP3

 

18. KINH SƯ TỬ– Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/5fwtwdhw4pmgd9q/12-03-24_Kinh_su_tu_(18_)_TAH.MP3

 

19. KINH NI-KIỀN– Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/8xb57jjlu5je8d8/12-03-25_kinh_ni_kien_tu_(19_)TAH.MP3

 

20. KINH BA-LA-LAO– Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/cuchmd4mmtdaybq/12-03-31_kinh_ba_la_lao_(_19_+20_).MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/askm08sueyrqv9l/12-04-01_kinh_ba_la_lao_(_20_)_TAH.MP3

 

Tóm tắt kinh về nghiệp từ bài 10 – 20

http://www.mediafire.com/listen/wf47tzzuv7sqy5g/12-04-07_Tom_tat_kinh_ve_nghiep_tu_bai_10-_20.MP3

 

PHẨM THỨ 3: PHẨM XÁ-LÊ TỬ TƯƠNG ƯNG

MỤC LỤC PHẨM THỨ 03

21. KINH ĐẲNG TÂM– Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/5v91of9vr4n859x/12-04-08_kinh_dang_tam_(21_)_TAH.MP3

 

22. KINH THÀNH TỰU GIỚI– Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/dvrk3dy06m855i5/12-04-14_kinh_thanh_tuu_gioi_(_22_).MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/17iw20793w8fp61/12-04-15_tom_tac_bai_22.MP3

 

23. KINH TRÍ– Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/32dcb54cyi47v31/12-04-21_kinh_Tri_(23_)TAH.MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/x3s0k4rmlgx0yv2/12-04-22_kinh_tri_(23_)_tt.MP3

 

24. KINH SƯ TỬ HỐNG

http://www.mediafire.com/listen/6kiv1k1olkywdqg/12-04-29__kinh_su_tu_hong_(24_)TAH.MP3

 

25. KINH THỦY DỤ

http://www.mediafire.com/listen/dyiq6lc1wdkn349/12-05-06_kinh_thuy_du_(_25_)_TAH.MP3

 

26. KINH CÙ-NI-SƯ

http://www.mediafire.com/listen/kjuc9yo5mmfaya1/12-05-12_kinh_Cu_Ni_Su_(26_)TAH.MP3

 

27. KINH PHẠM CHÍ ĐÀ-NHIÊN

http://www.mediafire.com/listen/v9ab5pnvsj4nvnp/12-05-13_Kinh_Pham_chi_Da_Thien_(27_)TAH.MP3

 

28. KINH GIÁO HÓA BỊNH

http://www.mediafire.com/listen/sxaspqmftd7ah2t/12-05-19_kinh_giao_hoa_benh_(28_)TAH.MP3

 

29. KINH ĐẠI CÂU-HI-LA

http://www.mediafire.com/listen/hned08pu4cpjb2g/12-05-20_kinh_dai_cau_hi_la_(29_)_TAH.MP3

 

30. KINH TƯỢNG TÍCH DỤ

http://www.mediafire.com/listen/j8bawv1cb3u1bwi/12-05-26_kinh_tich_du_(_30)_TAH.MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/box9z7ofhiaq8or/12-05-27_kinh_tich_du_(30_)tt_TAH.MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/j6l3hrwnpjsr8e0/12-06-02_kinh_tich_du_(_30_)_tt_TAH.MP3

 

31. KINH PHÂN BIỆT THÁNH ĐẾ

http://www.mediafire.com/listen/t4dpk4odbuap8oo/12-06-03_kinh_phan_biet_thanh_de_(31_)_TAH.MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/h9eexgbsg4wpsx1/12-06-10_kinh_phan_biet_thanh_de_(31_)tt_(1).MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/zmhz8b358e0i29i/12-06-10_kinh_phan_biet_thanh_de_(31_)tt_(2).MP3

 

 

PHẨM THỨ 4: PHẨM VỊ TẰNG HỮU PHÁP

MỤC LỤC PHẨM THỨ 04

32. KINH VỊ TẰNG HỮU PHÁP

http://www.mediafire.com/listen/c1fj6av4nv6gq1u/12-06-17_tom_tat_tu_bai_21-31_&_bai_(_32_)_TAH.MP3

 

33. KINH THỊ GIẢ

http://www.mediafire.com/listen/8ckoo5pfcugy3y6/12-06-23_Kinh_thi_gia_(_33_)_TAH.MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/qhgyjf5s1jxzt5x/12-06-24_Kinh_thi_gia_(_33_)_tt_TAH.MP3

 

34. KINH BẠC-CÂU-LA

35. KINH A-TU-LA

http://www.mediafire.com/listen/gm0l7zdcjw0bf10/12-06-30_kinh_bac_cau_La_(34_)kinh_A_Tu_La_(35_)TAH.MP3

 

36. KINH ĐỊA ĐỘNG

http://www.mediafire.com/listen/q8cd2e8l4z585md/12-07-01_kinh__Dong_Dat_(36_)TAH.MP3

 

37. KINH CHIÊM-BA
38. KINH ÚC-GIÀ TRƯỞNG GIẢ (I)

http://www.mediafire.com/listen/7zra3rqi30llm0r/12-07-07_kinh_chiem_Ba_(37_)_&_(38_)kinh_uc_gia_truong_gia.MP3

 

39. KINH ÚC-GIÀ TRƯỞNG GIẢ (II)

http://www.mediafire.com/listen/9fr35q3ohb390zq/12-07-08_kinh_Uc_Gia_Truong_Gia_(_39_).MP3

 

40. KINH THỦ TRƯỞNG GIẢ (I)
41. KINH THỦ TRƯỞNG GIẢ (II)

http://www.mediafire.com/listen/8vtojnskn4onvwa/12-07-14_kinh_thu_truong_Gia_I_+II_(_40+41_).MP3

 

 

 

PHẨM THỨ 5: PHẨM TẬP TƯƠNG ƯNG

MỤC LỤC PHẨM THỨ 05

42. KINH HÀ NGHĨA

http://www.mediafire.com/listen/a08oxm6jv0vpw49/12-07-15_Tom_tat_tu_bai_(30-41)_&_42.MP3

 

43. KINH BẤT TƯ

http://www.mediafire.com/listen/18s8bxc5b7qlnh0/12-07-21_kinh_bat_tu_(_43_)_TAH.MP3

 

44. KINH NIỆM

 

45. KINH TÀM QUÝ (I)
46. KINH TÀM QUÝ (II)
47. KINH GIỚI (I)
48. KINH GIỚI (II)
49. KINH CUNG KÍNH (I)
50. KINH CUNG KÍNH (II)

http://www.mediafire.com/listen/xxoinhy7sgmcih3/12-07-22_kinh_tam_quy_(45_+46+47+48+49+50_).MP3

 

 

51. KINH BỔN TẾ
52. KINH THỰC (I)
53. KINH THỰC (II)
54. KINH TẬN TRÍ

http://www.mediafire.com/listen/aly2yuhnlhy0cdo/12-07-29_kinh_51_,52,_53_,_54.MP3

 

54. KINH TẬN TRÍ

55. KINH NIẾT-BÀN
56. KINH DI-HÊ

http://www.mediafire.com/listen/vmys0ciqhh4h5x5/12-08-04_(_54_+_55_+56_)_TAH_(_Nguyen_Giac_).MP3

 

57. KINH TỨC VỊ TỲ-KHEO THUYẾT

 

PHẨM THỨ 6: PHẨM VƯƠNG TƯƠNG ƯNG

MỤC LỤC PHẨM THỨ 06

58. KINH THẤT BẢO
59. KINH TAM THẬP NHỊ TƯỚNG
60. KINH TỨ CHÂU

http://www.mediafire.com/listen/ndgdqgh6sg1b783/12-08-05__(_58_+_59_+_60_)_TAH_(Nguen_Giac).MP3

 

61. KINH NGƯU PHẤN DỤ
62. KINH TẦN-BỆ-SA-LA VƯƠNG NGHINH PHẬT

http://www.mediafire.com/listen/s21erbony0v897i/12-08-11__(61_&_62_)TAH_(_Nguen_Giac).MP3

 

63. KINH BỆ-BÀ-LĂNG-KỲ

http://www.mediafire.com/listen/25959ikvpift5gj/12-08-12_kinh_ty_ba_lang_ky_(_63_)_TAH_(_Nguyen_Giac_).MP3

 

64. KINH THIÊN SỨ

http://www.mediafire.com/listen/2gz79usa1927dsz/12-08-18_kinh_thien_su_(64_)_TAH_(_Nguyen_Giac).MP3

 

65. KINH Ô ĐIỂU DỤ

http://www.mediafire.com/listen/ladbpopwi7b6nb4/12-08-19__kinh_O_dieu_du_(_65_)_TAH_(_Nguyen_Giac_).MP3

 

66. KINH THUYẾT BỔN

http://www.mediafire.com/listen/t67idsfb8gh69ft/12-08-25_kinh_thuyet_ban_(66_)TAH_(Nguen_Giac_).MP3

 

67. KINH ĐẠI THIÊN NẠI LÂM

http://www.mediafire.com/listen/nv7wgleogerxdpv/12-08-26_kinh_Dai_thien_nai_lam_(67_)_TAH_(_Nguyen_Giac_).MP3

 

68. KINH ĐẠI THIỆN KIẾN VƯƠNG

http://www.mediafire.com/listen/16xy60dyg09ibjt/12-09-17_dai_thien_kien_kinh_(68_)TAH.MP3

 

69. KINH TAM THẬP DỤ

http://www.mediafire.com/listen/hsiv2chkvwv3qmt/12-11-10_kinh_tam_thap_du__69_(_TAH_).MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/0ahb2c03kln8s8w/12-11-11_kinh_tam_thap_du_69_(TT)_TAH.MP3

 

70. KINH CHUYỂN LUÂN VƯƠNG

http://www.mediafire.com/listen/olb2pj2bntn6blh/12-09-22_kinh_chuyen_luan_vuong_(_70_)_TAH.MP3

 

71. KINH BỆ-TỨ

http://www.mediafire.com/listen/ph57r08cnc4qr03/12-11-17_Kinh_Ty_Tu_71_(TAH_).MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/4oe2bu7qf8oare8/12-11-18_kinh_ty_tu_71_(TT)_TAH.MP3

 

PHẨM THỨ 7: PHẨM TRƯỜNG THỌ VƯƠNG

MỤC LỤC PHẨM THỨ 07

72. KINH TRƯỜNG THỌ VƯƠNG BỔN KHỞI

http://www.mediafire.com/listen/hv7fgvtl8d8pmmp/12-11-24_kinh_truong_tho_72_(_TAH.MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/l1hq129q1zqh9qq/12-12-01_kinh_truong_tho__72_(_tt_).MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/ll72cf249dltvca/12-11-25_kinh_truong_tho_72_(_tt_)_TAH.MP3

 

73. KINH THIÊN

http://www.mediafire.com/listen/7xyiogjd7ym1y8d/12-12-08_kinh_thien_73_(TAH_).MP3

 

74. KINH BÁT NIỆM

http://www.mediafire.com/listen/g1fcfbvks8h78ix/12-12-09_Kinh_bat_niem_74_(_TAH_).MP3

 

75. KINH TỊNH BẤT ĐỘNG ĐẠO

http://www.mediafire.com/listen/j0apppoqppms475/12-12-15_kinh_tinh_bat_dong_75_(_TAH_).MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/gz1iq92tci4960g/12-12-22_Kinh_tinh_bat_dong_75_(_tt_).MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/i1q34dgsvea2nbh/12-12-23_Kinh_tinh_bat_dong_75_(tt_).MP3

 

76. KINH ÚC-GIÀ-CHI-LA

http://www.mediafire.com/listen/u1ye5mruvdl2evc/12-12-29_kinh_Uc_gia_chi_la_76_TAH.MP3

 

77. KINH SA-KÊ-ĐẾ TAM TỘC TÁNH TỬ

http://www.mediafire.com/listen/qa0y342ioq091jv/12-12-30_sa_ke_de_tam_doc_tu_77_TAH.MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/pdduzlqu8vwlcvq/13-01-05_sa_ke_de_tam_doc_tu_77_(_tt_)_TAH.MP3

78. KINH PHẠM THIÊN THỈNH PHẬT

http://www.mediafire.com/listen/o4ymcqsndaqctlz/13-01-06_Kinh_Pham_thien_thinh_Phat_78_TAH.MP3

 

79. KINH HỮU THẮNG THIÊN

http://www.mediafire.com/listen/dop4juu7tgvmu2d/13-01-12_Kinh_huu_thang_thien_79_TAH.MP3

 

80. KINH CA-HI-NA

http://www.mediafire.com/listen/joc02qave3u0vcf/13-01-13_Kinh_ca_hi_na_80_TAH.MP3

 

81. KINH NIỆM THÂN

http://www.mediafire.com/listen/30p6ceqhnla9ife/13-03-17_Niem_than_81_TAH.MP3

 

82. KINH CHI-LY-DI-LÊ
83. KINH TRƯỞNG LÃO THƯỢNG TÔN THỤY MIÊN
84. KINH VÔ THÍCH
85. KINH CHÂN NHÂN
86. KINH THUYẾT XỨ

PHẨM THỨ 8: PHẨM UẾ

MỤC LỤC PHẨM THỨ 08

87. KINH UẾ PHẨM
88. KINH CẦU PHÁP

89. KINH TỲ-KHEO THỈNH

http://www.mediafire.com/listen/ik7itum2yicoli6/13-05-12_ty_Kheo_thinh_kinh__89_TAH.MP3

 

90. KINH TRI PHÁP
91. KINH CHU-NA VẤN KIẾN

http://www.mediafire.com/listen/f2e2rsvzd2ye6y8/13-05-19_kinh_tri_phap_90_&_Chu_la_van_kien_91.MP3

 

92. KINH THANH BẠCH LIÊN HOA DỤ
93. KINH THỦY TỊNH PHẠM CHÍ

http://www.mediafire.com/listen/5a1g5m7854psnb8/13-05-26_TAH_bai_92_&_93.MP3

 

94. KINH HẮC TỲ-KHEO

http://www.mediafire.com/listen/51j0ljz9t4urmu5/13-06-09_hac_Ty_Kheo_bai_94.MP3

 

95. KINH TRỤ PHÁP
96. KINH VÔ

http://www.mediafire.com/listen/8w45s5pfdzka7be/13-06-16_kinh_tru_phap_95_&_kinh_vo_96.MP3

 

 

PHẨM THỨ 9: PHẨM NHÂN

MỤC LỤC PHẨM THỨ 09

97. KINH ĐẠI NHÂN

http://www.mediafire.com/listen/zuear43b0y7l7yc/13-06-30_kinh_Dai_nhan__97.MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/wnhnfkzzchrk0xi/13-07-14_kinh_dai_nhan_97_(_tt_).MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/6lukbiwuj5gcql9/13-07-07_kinh_dai_nhan_97_(_TT).MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/wt10xhwcdebkln8/13-07-21_kinh_dai_nhan_97_(_tt_).MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/m3w7c911ymowk5r/13-08-04_kinh_dai_nhan__97_(_tt_).MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/dp8lsijxmzu5dgl/13-07-28_kinh_dai_nhan_97_(_tt_).MP3

 

98. KINH NIỆM XỨ

http://www.mediafire.com/listen/goldd5dbmao9aj6/13-08-11_kinh_tu_niem_xu__98.MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/ys0ujeynrjjjxdy/13-08-12_kinh_niem_xu_98_(_tt_).MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/fb42qavnri6wbz5/13-09-22_kinh_niem_xu_98_(_tt_).MP3

 

99. KINH KHỔ ẤM (I)
100. KINH KHỔ ẤM (II)

http://www.mediafire.com/listen/7dpazomkd7sbb62/13-09-29_Kinh_kho_am__99.MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/ocrjravmdw3z1hp/13-10-06_kinh_kho_am__100.MP3

 

101. KINH TĂNG THƯỢNG TÂM

http://www.mediafire.com/listen/2ozsmkm3kmfjd77/13-10-13_kinh_tang_thuong_tam_101.MP3

 

102. KINH NIỆM

http://www.mediafire.com/listen/hdgkz83uztkh8vx/13-10-20_kinh_niem_102.MP3

 

103. KINH SƯ TỬ HỐNG

http://www.mediafire.com/listen/eqc6byos488sji4/13-10-27_kinh_su_tu_hong_103.MP3

 

104. KINH ƯU-ĐÀM-BÀ-LA

http://www.mediafire.com/listen/p01fqd3s3gce5sc/13-11-03_kinh_uu_Dam_Ba_La_104.MP3

 

105. KINH NGUYỆN

http://www.mediafire.com/listen/6mk1qarrcjkihdz/13-12-01_kinh_uoc_nguyen_105_TAH.MP3

 

106. KINH TƯỞNG

http://www.mediafire.com/listen/ay2yyhr13l4yp9q/13-12-08_kinh_tuong_106.MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/n8zl02b3q895ez9/13-12-22_On_bai_Kinh_tuong_106.MP3

 

 

PHẨM THỨ 10: PHẨM LÂM

MỤC LỤC PHẨM THỨ 10

107. KINH LÂM (I)
108. KINH LÂM (II)
109. KINH TỰ QUÁN TÂM (I)

http://www.mediafire.com/listen/y33pq6d9tzbud23/13-12-29_kinhlam_–107-108-109_-TAH.MP3

 

110. KINH TỰ QUÁN TÂM (II)

http://www.mediafire.com/listen/k88fle436lcsvym/14-01-05_bai_110-_va_Bat_nha_tam_kinh.MP3

 

111. KINH ĐẠT PHẠM HẠNH

http://www.mediafire.com/listen/vm87ye571qry7oc/14-01-12_kinh_dai_pham_hanh_-111_TAH.MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/b2tdcv9ykk1ebc8/14-03-02_Kinh_dai_pham_hanh_-111_TAH.MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/d5lq16a515jg93x/14-01-19_kinh_dai_pham_-111_TAH.MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/mk3mjp97rpp6so9/14-01-19_kinh_dai_pham_-111_(tt)_TAH.MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/5q7i9qct7b2v4il/14-02-28_nhin_DK_qua_than_phan_Thuy_Kieu.MP3

 

 

 
 

Quan Điểm Của Đạo Phật Về Đấng Sáng Thế – Thích Nữ Tịnh Quang

Quan Điểm Của Đạo Phật Về Đấng Sáng Thế – Thích Nữ Tịnh Quang
http://sachhiem.net/TONGIAO/tgTH/Thuvienhs.php
buddha1
19-Feb-2013
…Phật giáo đặt con người làm mục tiêu thể nghiệm sự khổ đau và sự giải thoát khổ đau ngay trong đời sống thay vì khái niệm hão huyền về một đấng Sáng thế toàn năng và vĩnh cửu. Vì vậy, Phật giáo có thể dung nhiếp với các tôn giáo khác, tuy nhiên các tôn giáo khác không thể hợp nhất với Phật giáo; đó là một thực tế không thể tranh cãi…

Quan điểm phủ nhận về một đấng toàn năng và vĩnh cửu đã được thể hiện trong kinh tạng Phật giáo Pàli cũng như kinh tạng Phật giáo Mahayana. Thái độ của Phật giáo đối với các khái niệm và ý tưởng về đấng sáng thế được cho là ý niệm hão huyền, không mang lại hạnh phúc thực sự cho con người, không phù hợp với giáo lý của Đức Phật vốn lấy con người làm đối tượng cao nhất trong việc giải quyết những nỗi khổ đau đang hiện hữu.
Trong văn học Phật giáo, xuyên qua giáo lý Vô ngã, không có một thực thể cố định (unsubstantiality) thì hẳn nhiên niềm tin vào một vị thần sáng tạo luôn luôn bị phản bác và từ chối, bởi vì Phật giáo là sự phủ định về sự vĩnh hằng và bất biến đối với việc giải thích nguồn gốc của thế giới như vũ trụ, linh hồn, thời gian vv.. Niềm tin về một đấng Sáng thế được đặt trong cùng thể loại như những quan điểm sai lầm về mặt đạo đức, đặt thân phận con người dưới sự an bài của đấng vô hình như là định mệnh tuyệt đối và không thể thay đổi, và dẫn đến sự nguy hại lâu dài cho nền móng xã hội do tác động đến những giá trị nhân bản của đạo đức.
Vì tin tưởng vào một đấng Sáng thế Brahma mà hằng nghìn năm xã hội Ấn Độ đã duy trì sự phân chia bốn giai cấp, gây nên sự chia rẽ trầm trọng, mỗi giai cấp đều tùy thuộc vào ý chí của đấng Phạm thiên, cố định vị trí ở body của Phạm Thiên: giai cấp Bà La Môn (Brahman) được cho là con chính thống của Phạm thiên, sinh ra từ miệng Phạm thiên là chủng tánh tối thượng an hưởng cuộc đời sung sướng. Giai cấp Sát Đế Lỵ (Kshastriya) sinh ra từ cánh tay Phạm thiên là giai cấp hoàng tộc, thay mặt cho Phạm thiên nắm giữ quyền hành thống trị. Giai cấp Vệ Xá (Vaisya) được cho là sinh ra từ bắp vế Phạm thiên, là giai cấp thương gia, nông phu và thợ thuyền phụ trách về kinh tế. Giai cấp Thủ Đà La (Sùdra) được cho là sinh ra từ gót chân của Phạm thiên được cho là hạng bần cùng hạ tiện, và chỉ làm nô lệ suốt đời cho các giai cấp trên.
Sự thị hiện của Đức Phật đã làm đảo lộn mọi giá trị cố hữu, thay vào đó Ngài mở ra cánh cửa cửa mới của sự nhận thức khi Ngài chối từ về sự tồn tại của Brahma; điều này được bàn bạc trong nhiều kinh văn Phật giáo. Đoạn kinh Tevijja sau đây là cuộc đối thoại giữa Đức Phật và Bà -la-môn Vàsettha về đấng Phạm thiên:
“…Này Vàsettha, như vậy ngươi nói không có một Bà-la-môn nào trong những vị tinh thông ba tập Vedà đã tận mặt thấy Phạm thiên – không có một tôn sư nào của các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà đã tận mặt thấy Phạm thiên, không có một đại tôn sư nào của các Bà-la-môn tinh thông ba tập và đã tận mặt thấy Phạm thiên – không có một Bà-la-môn nào cho đến bảy đời đại tôn sư, tôn sư của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà đã tận mắt thấy Phạm thiên, trong những tu sĩ thời cổ, trong các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, những vị sáng tác các thần chú, những vi trì tụng thần chú mà xưa kia những thần chú được hát lên, được trì tụng, được ngâm vịnh và ngày nay những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà cũng hát lên, trì tụng và giảng dạy như các vị Atthaka, Vàmaka… không có một vị nào đã nói: ‘Chúng tôi biết, chúng tôi thấy Phạm thiên ở đâu, Phạm thiên từ đâu đến, Phạm thiên sẽ đi đâu’. Như vậy các bà Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà đã nói: ‘Chúng tôi không biết, chúng tôi không thấy con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên, nhưng chúng tôi thuyết dạy con đường ấy: ‘Đây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo’. Này Vàsettha, Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy thời có phải lời nói của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là không chánh xác, hợp lý…”
Với sự tin tưởng hão huyền này đã gây nên sự cuồng tín, không khoan dung, nâng cao tự ngã; thông thường hay gây ra sự căm thù và những bạo lực khi người khác không có cùng niềm tin và quan điểm với mình.
Xuyên qua nhiều thế kỷ, triết học Phật giáo đã trình bày các lập luận chi tiết bác bỏ học thuyết của một vị thần sáng thế. Nó sẽ được quan tâm để so sánh những việc này với những cách mà các triết gia phương Tây đã bác bỏ các thông tin chứng minh thần học về sự tồn tại của Đấng Sáng tạo..
Đối với một vài người tin tưởng một cách nghiêm túc hơn thì ý tưởng về một đấng tạo hóa chỉ là một lập trường chỉ để giải thích các sự kiện bên ngoài như nguồn gốc của thế giới mà họ không thể hiểu thấu. Đối với y, nó là một đối tượng của đức tin có thể tạo ra cho một cảm giác mạnh mẽ bên cạnh sự hiện diện an ủi của đấng tạo hóa và sự gần gũi với chính mình, chẳng hạn như ấn tượng thời thơ ấu, hình ảnh huyền thoại như những ông Bụt và cô Tiên đi vào truyền thống, học đường, và môi trường xã hội đã tác động vào bề mặt của vỏ não và tạo nên những những hình ảnh của tư tưởng mà tín đồ của các tôn giáo đã có một lề lối khái niệm chân thành nhất; một phân tích phát hiện gần đây đã hiển thị rằng “kinh nghiệm về Đấng sáng thế ” đã không có nội dung cụ thể hơn điều này.
Tuy nhiên cuộc sống và tác phẩm của các nhà thần bí của tất cả các tôn giáo lớn đã chứng minh cho kinh nghiệm của họ có ảnh hưởng lớn, trong đó việc thay đổi đáng kể được thực hiện ở chất lượng của ý thức, sự cảm thụ sâu xa trong lời cầu nguyện hay thiền định có thể đánh động đến chiều sâu và ảnh hưởng trên mặt rộng ý thức xuyên qua cảm hứng truyền trao của sự hân hoan và hạnh phúc đi từ họ. Với cảm thụ tuyệt vời như vậy, các nhà thần bí tin rằng kinh nghiệm của mình là biểu hiện của thần thánh, là hiệp thông với đấng tạo hóa, nhiệm vụ của họ là trung gian giữa thượng đế và con người… với những ấn tượng sâu sắc được xem như là thần bí và họ đã gõ cửa thần học đề xác định sự “hiệp thông” đặc biệt của mình. Giả định này là khá dễ hiểu, kinh nghiệm huyền bí cũng chỉ là những đặc trưng tăng, giảm hoặc loại trừ tạm thời, biểu hiện làn sóng đa phương trình của ý thức, nhận thức và suy nghĩ không ngừng nghỉ trong những tầng số rung động của tâm. Thật là thú vị cần lưu ý, tuy nhiên, các nỗ lực của hầu hết các nhà thần bí lớn phương Tây liên quan đến kinh nghiệm thần bí của mình để các tín đồ chính thức của các nhà thờ công nhận kết quả của họ trong giáo lý thường được xem xét và nghi ngờ đối với chính thống, nếu không được coi là hết sức dị giáo.
Xuyên qua Phật giáo, những hành giả khi đã thâm sâu trong thiền định họ nhận diện các yếu tố thể chất và tinh thần cấu thành kinh nghiệm của mình trong ánh sáng của mọi hiện hữu qua ba đặc điểm, đó là vô thường, đau khổ, và sự vắng mặt của một cái tôi (vô ngã); điều này được thực hiện chủ yếu để sử dụng độ tinh khiết thiền định và sức mạnh của ý thức cho mục đích cao nhất: giải phóng bản ngã từ cái thấy sâu sắc; việc này giúp hành giả thoát khỏi sự tràn ngập ảo giác bởi bất kỳ những cảm xúc và ý nghĩ không kiểm soát được đi từ bởi kinh nghiệm của họ, và do đó sẽ có thể tránh đi sự lừa dối của kinh nghiệm ý thức.
Một thiền giả tốt trong phật giáo, thông qua những trải nghiệm thiền định mà những gì y có là cái thấy không tùy thuộc, không có vị trí cố định để xác lập, như thác nước trôi chảy không ngừng, không có đối tượng hoặc chủ thể định vị, do đó trạng thái thần bí cao nhất của thiền giả không cung cấp cho sự tồn tai của một đấng tạo hóa duy nhất hay một vị thần khách quan điều động và chi phối cá nhân.
Do vậy, Phật giáo được xem như là “chủ nghĩa vô thần” đối với những người có tư tưởng độc lập hay những nhà Hữu thần, chỉ vì Phật giáo không tin tưởng vào một đấng sáng tạo, toàn năng và vĩnh cửu, đúng hơn đó là sự sáng tạo từ ý tưởng con người. Tuy nhiên quan niệm về “vô thần” trong Phật giáo không đồng với “vô thần” của những nhà thuần túy Duy vật hay Duy vật biện chứng. Học thuyết Phật giáo là sự hòa hợp giữa tâm và vật. Phật giáo không tán thành triết lý vật chất hủy diệt thuần túy (annihilationism-ucchedavata), đúng hơn nó là một lý thuyết sai lầm. Sáu cõi luân hồi và các cảnh giới Thánh hiền thanh tịnh đủ để chứng minh rằng quan điểm của Phật giáo không phải là sự hủy diệt hoàn toàn sau khi chết, mà là sự thay đổi không ngừng. Mỗi chúng sinh là một đấng sáng tạo muôn vẻ cho chính mình xuyên qua sự vô hạn của kiếp luân hồi. Học thuyết về “nghiệp” (karma) là chu kỳ của sự tạo tác và hình thành của tâm và vật đặt căn bản trên giáo lý nhân quả, tác động và chi phối sự hiện hữu của chúng sinh. Đức Phật không cung cấp một chủ nghĩa Hư vô, đồng nghĩa với đau khổ và không còn có con đường hy vọng. Chủ thuyết “không” (empty) trong đạo Phật chỉ là sự từ chối của bản ngã bất biến đã gây nên đau khổ cho con người. Ngược lại, nó là một giáo lý cứu rỗi (1) (Niyyanika-Dharmma), giải thoát (vimutti), hoặc Niết bàn (Nirvana), là trạng thái hủy diệt hoàn toàn của tham, sân, si, những khổ đau của ngọn lửa dục vọng điên cuồng đang thiêu đốt chúng sinh. Tuy nhiên Niết bàn không phải là cảnh giới có chủ thể và đối tượng, vì vậy nó không đồng với hình thức và ý tưởng tạo lập của một đấng vĩnh hằng.
Phật giáo không phải là một kẻ thù của tôn giáo như là chủ nghĩa vô thần được thấy. Phật giáo, thực sự là kẻ thù của “không” (sự hủy diệt hoàn toàn). Người Phật tử là những người đại diện cho kiểu mẫu về các gía trị đạo đức, tinh thần và văn hóa trong các quốc gia châu Á. Tuy nhiên, chúng ta không thể nhắm kín đôi mắt của mình với các khái niệm vế đấng sáng tạo-đã xử dụng quá thường xuyên thông qua với những con người quyền lực, tàn nhẫn…nhân danh tình yêu của đấng toàn năng đã gây nên sự chia rẽ, hận thù và tiêu hủy văn hóa bản địa. Những nghiên cứu và thể hiện quan điểm bất đồng chính kiến đã bị cản trở và dập tắt trong danh xưng và tham vọng điên rồ cho sự phục vụ đấng tối cao đã và đang gây đau thương không ngừng cho nền hòa bình thế giới.
Không cần sự thưởng phạt của một đấng tối cao, giá trị đạo đức của Phật giáo trên căn bản năm giới cấm và mười điều thiện đã cung ứng cho quốc gia và xã hôi một nền tảng đạo đức viên mãn. Không mù quáng và ảo tưởng trong niềm tin, dựa trên triết thuyết hợp lý sâu sắc và thí nghiệm từ sự thực hành mang tính khoa học, Phật tử tôn thờ đức phật là bậc thầy (Bổn sư) giác ngộ, một vị Thượng đế của lòng từ bi và trí tuệ. Họ nhìn nhận đức Phật như bản chất tiềm ẩn trong chính mình, đó là điểm khác biệt giữa Phật giáo và các tôn giáo khác.
Mặc dù Phật giáo được xem như là một tôn giáo, tuy nhiên lý thuyết, triết học và sự thực hành của nó vượt ra ngoài phạm vi tôn giáo; Phật giáo đặt con người làm mục tiêu thể nghiệm sự khổ đau và sự giải thoát khổ đau ngay trong đời sống thay vì khái niệm hão huyền về một đấng Sáng thế toàn năng và vĩnh cửu. Vì vậy, Phật giáo có thể dung nhiếp với các tôn giáo khác, tuy nhiên các tôn giáo khác không thể hợp nhất với Phật giáo; đó là một thực tế không thể tranh cãi.
Thích Nữ Tịnh Quang
Nguồn : http://issuu.com/thuvienhoasen/docs/suquyenrucuadaophattrongthegioimoi
Thư Viện Hoa Sen Trích từ: E Book 3D (dạng sách đọc): Sự Quyến Rũ Của Đạo Phật Trong Thế Giới Mới – Thích nữ Tịnh Quang &
Bản PDF: Sự Quyến Rũ Của Đạo Phật Trong Thế Giới Mới – Thích nữ Tịnh Quang

Chú thích của sachhiem.net:
(1) Ở đây, tác giả có lẽ muốn nói “Cứu Độ” thì đúng hơn. Từ “cứu rỗi” là quan niệm đặc thù của Ki Tô Giáo (cứu rỗi phần hồn) còn “cứu độ” là giúp đưa con người đến bờ giác ngộ (đáo bỉ ngạn). Người Ki-tô giáo nay đang cố đổi từ “cứu rỗi” thành “cứu độ” để kiếm thêm tín đồ và chúng ta đã có bài phản bác sự nhập nhằng từ ngữ này trên sachhiem.net:
Xin đọc “Quan Niệm Giải Thoát Trong Phật Giáo Và Ca-Tô Rô-Ma Giáo” của GS Trần Chung Ngọc (http://sachhiem. net/TCN/TCNtg/TCN120.php)
http://sachhiem.net/index.php?content=showrecipe&id=5548

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Ba 13, 2013 in Phật Giáo

 

GS Trịnh Xuân Thuận và Thiền Sư Nhất Hạnh – Albert Einstein với Thượng đế và Phật giáo – GS. Ngô Bảo Châu nói chuyện về Phật giáo và cuộc sống

Tôn giáo – Thời đại

08:17 11/06/2012

GS Trịnh Xuân Thuận và Thiền Sư Nhất Hạnh

Giáo sư Trịnh Xuân Thuận thuyết trình trong khóa tu tại Làng Mai, Pháp Quốc, về Khoa học và Phật giáo; và sau đó một ngày, với tư cách một nhà khoa học, ông đã đặt một số câu hỏi với Thiền sư Nhất Hạnh về cách nhìn của đạo Phật đối với một số vấn đề căn bản trong khoa học hiện đại.

Trong bài thuyết trình ngày 3 Tháng Sáu, 2012 tại Xóm Hạ, Làng Mai, Giáo Sư Trịnh Xuân Thuận nêu ra một số lý thuyết trong môn vật lý học hiện tại để so sánh với những quan điểm trong truyền thống Phật giáo.

 

 

Là một nhà vật lý học chuyên khảo về vũ trụ, Giáo sư Trịnh Xuân Thuận cho biết Vật lý học đã nhận thấy một số điểm tương đồng giữa Phật giáo và khoa học. Những điểm “hội tụ” (convergence) mà ông nhìn ra là tính tương quan và tùy thuộc vào nhau của mọi hiện tượng vật lý; tính trống rỗng (vacuity, emptiness) của vạn pháp; và tính vô thường (impermanence). Nhiều khám phá trong khoa học trong một thế kỷ gần đây đã đưa tới những cách nhìn giống như quan điểm của đạo Phật từ nhiều ngàn năm qua. Chẳng hạn, tính bất khả phân (non-seperability) của mọi vật; mối liên quan không thể tránh giữa chủ thể quan sát và đối tượng được khảo sát (tương tức, tương nhập); vân vân.

 

 

Trong khi khoa học sử dụng lý trí và các phương pháp phân tích để gia tăng hiểu biết có tính chất khách quan và định lượng của con người về vũ trụ chung quanh mình, Phật giáo là một truyền thống với cách nhìn toàn diện với mục tiêu trị liệu, đưa tới giác ngộ toàn diện (enlightment). Phật giáo không nhìn thế giới theo lối lưỡng nguyên (tâm và vật) nhưng cũng không cố chấp vào cách nhìn phi lưỡng nguyên. Từ nhận định về tính tương lập (interdependence) của mọi vật và mọi người, Phật giáo đã dẫn tới đức từ bi như một cách biểu hiện khác của trí tuệ.

 

 

Một ngày sau cuộc thuyết trình, Giáo sư Trịnh Xuân Thuận đã đặt với Thiền sư Thích Nhất Hạnh một số thắc mắc của một nhà khoa học để tìm hiểu cách giải đáp của Phật Giáo.

 

 

Thứ nhất, Phật giáo yêu cầu phải vượt qua những chướng ngại do sự hiểu biết gây ra, một điều khác với khảo hướng của khoa học là luôn dựa trên những hiểu biết đã có để đi tìm các hiểu biết mới.

Thứ hai, quan điểm Phật giáo về trình độ ý thức (consciousness) của loài người so sánh với các sinh vật khác, với vật chất vô sinh, cho tới các hạt nhân. Khoa học, kể từ Einstein, đã nhìn ra thời gian chỉ là một kích thước mới của không gian, điều này tư tưởng Phật Giáo đã nhận định ra sao. Ðiểm sau cùng là theo quan điểm Phật giáo, mọi vật đều là do biểu hiện của tâm thức, thì như vậy có một thế giới hoàn toàn vật chất ở ngoài hay không?

 Thiền sư Nhất Hạnh đã trình bày cách nhìn của Phật giáo trước các vấn đề trên, dựa trên sự phân biệt “sự thật tương đối” (tục đế) và “sự thật tuyệt đối” (chân đế) trong truyền thống Phật giáo.

 

 

Ðộc giả quan tâm có thể tìm đọc trong website của Làng Mai trong thời gian sắp tới.

 

 

Giáo sư Trịnh Xuân Thuận là tác giả nhiều cuốn sách được phổ biến rộng khắp thế giới về đề tài vũ trụ học. Ông cũng là đồng tác giả với một tăng sĩ người Pháp về tương quan giữa khoa học và đạo Phật. Khóa tu tại Làng Mai, vùng tây nam nước Pháp, được tổ chức trong 21 ngày, kể từ ngày 1 Tháng Sáu năm 2012, quy tụ gần một ngàn thiền sinh đến từ gần 30 quốc gia. Ngôn ngữ chính được sử dụng là tiếng Anh, với tám nhóm thông dịch đồng thời sang tiếng Tây Ban Nha, Bồ Ðào Nha, Ý, Thái, Nhật, Trung Hoa cho nhiều người đến từ Singapore, Hồng Kong, Mã Lai, Ðài Loan, vân vân; đông nhất là nhóm những người nghe tiếng Việt và tiếng Pháp.

 

NV

 

Nguồn link: http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=150007&zoneid=3

 

 

 

Albert Einstein với Thượng đế và Phật giáo

  06/09/2010 21:23:00 Tuệ Uyển dịch Việt

Đã đọc: 3768 Cỡ chữ:

 

Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo vũ trụ.  Tôn giáo ấy phải vươt lên Thượng đế của cá nhân và tránh giáo điều cùng lý thuyết thần học.  Bao trùm cả tự nhiên và tâm linh, nó phải được căn cứ trên cảm nhận phát sinh từ kinh nghiệm của tất cả mọi thứ tự nhiên và tâm linh như một sự hợp nhất đầy đủ ý nghĩa.  Đạo Phật trả lời cho những sự mô tả này.  Nếu có một tôn giáo mà có thể đương đầu với những nhu cầu của khoa học hiện đại đấy sẽ là Đạo Phật.( Albert Einstein)

 

Dĩ nhiên, đấy sẽ là một sự dối trá  với những gì quý vị đọc về nhận thức tội lỗi của tôi, một sự lừa bịp đang được lập đi lập lại một cách có hệ thống.  Tôi không tin tưởng một Thượng đế và tôi chưa bao giờ phủ nhận điều ấy mà đã từng tuyên bố một cách rõ ràng.  Nếu có điều gì ấy trong tôi có thể được gọi là tôn giáo thế thì đấy sẽ là niềm ngưỡng mộ vô biên đối với cấu trúc của thế giới đến tận cùng những gì khoa học chúng ta có thể khám phá nó.  (Albert Einstein, 1954) From Albert Einstein:The Human Side, edited by Helen Dukas and Banesh Hoffman, Princeton University Press

 

Sự nghiên cứu của khoa học căn cứ trên ý tưởng rằng mọi thứ hiện hữu được quyết định bởi những định luật tự nhiên, và do thế điều này có nghĩa là vì những hành động của con người.  Vì lý do này, một nhà nghiên cứu khoa học sẽ khó mà có khuynh hướng tin tưởng những sự kiện có thể bị ảnh  hưởng bởi một sự cầu nguyện. (Albert Einstein, 1936) Trả lời cho một thiếu niên hỏi về việc nhà khoa học có cầu nguyện không. Source:Albert Einstein: The Human Side, Edited by Helen Dukas and Banesh Hoffmann

 

Thái độ của một người nên được căn cứ một cách có hiệu quả trên những mối liên hệ và nhu cầu thông cảm, học vấn, và xã hội; không có căn bản tôn giáo nào là cần thiết. Con người quả thực sẽ ở trong một cung cách nghèo nàn nếu người ta phải bị hạn chế bởi sợ hãi của sự trừng phạt và hy vọng tưởng thưởng sau khi chết. (Albert Einstein,”Religion and Science”, New York Times Magazine, 9 November 1930

 

Tôi không thể tưởng tượng một Thượng đế, kẻ tưởng thưởng và trừng phạt những tạo vật của mình, hay có môt ý chí mà chúng ta trãi nghiệm với chính mình.  Tôi cũng không có thể  cũng không muốn nghĩ đến  việc một con người tồn tại sau cái chết thân thể của mình; hãy để những linh hồn yếu đuối, từ sự sợ hãi hay tự ngã ngớ ngẫn, yêu mến tư tưởng ấy.  Tôi hài lòng với sự huyền bí của đời sống vô tận và với sự tỉnh thức và đại cương cấu trúc diệu kỳ của thế giới hiện hữu. cùng với sự cố gắng cống hiến để lĩnh hội phần mình, bởi vì nó mãi mãi là quá bé nhỏ, của Chân Lý  đã  tự biểu hiện trong thiên nhiên. (Albert Einstein, The World as I See It)

 

Albert Einstein on God and Buddhism

 

Tuệ Uyển chuyển ngữ – 24/08/2010

 

http://www.scribd.com/doc/12636779/Albert-Einstein-on-Buddhism

 

 

GS. Ngô Bảo Châu nói chuyện về Phật giáo và cuộc sống

  15/09/2011 22:36:00 Thích Nhật Từ

 

Tạp chí Đạo Phật Ngày Nay số 9

Là nhà toán học tổi tiếng thế giới với công trình chứng minh Bổ đề cơ bản Langlands, GS. Ngô Bảo Châu là người Việt Nam đầu tiên giành được Huy chương Fields, giải thưởng toán học cao quý nhất ghế giới, đưa Việt Nam trở thành quốc gia châu Á thứ hai sau Nhật có nhà toán học đoạt giải Fields. Với công trình đặc biệt vốn được Tạp chí Times liệt vào vị trí thứ 7 trong số 10 sự kiện khoa học nổi bật trên thế giới năm 2009, GS. Ngô Bảo Châu đã làm rạng danh người Việt trên khắp thế giới. Nhân chuyến về thăm Việt Nam vào tháng 7-2011, GS đã dành cho ĐPNN những chia sẽ sau đây:

ĐPNN: Sau khi được bổ nhiệm là giám đốc khoa học của Viện nghiên cứu cao cấp về Toán từ ngày 9-3-2011, được biết đây là mùa hè đầu tiên, GS làm việc tại Việt Nam. Với cương vị này, trách nhiệm và chiến lược của GS trong việc phát triển toán học tại nước nhà ra sao? Những khó khăn nếu có?

NBC: Chào thầy Thích Nhật Từ. Vâng thưa thầy, hè năm nay Viện nghiên cứu cao cấp về Toán (VIASM) đã có những hoạt động khoa học đầu tiên. Bên cạnh việc cùng nhau tìm hiểu một số vấn đề toán học ít được nghiên cứu ở Việt Nam, chúng tôi cố gắng tạo ra một nếp làm việc cho những hoạt động khoa học khác của VIASM sau này. Tất nhiên là vạn sự khởi đầu nan, nhưng tôi rất hy vọng VIASM sẽ là một nguồn sức sống mới cho toán học Việt Nam.

ĐPNN: GS có phải là Phật tử? Việc tìm hiểu về đạo Phật của GS thế nào?

NBC: Gia đình tôi theo Phật nhưng tôi không phải là phật tử theo nghĩa toàn vẹn nhất, mặc dù có lẽ văn hóa Phật giáo có thấm sâu vào con người tôi như nhiều người Việt nam khác.

ĐPNN: Đạo Phật đã ảnh hưởng thế nào đối với cuộc sống của GS?

NBC: Có lẽ đó là sự nhận thức sâu sắc về giá trị của cuộc sống của con người cũng như của mọi sinh linh từ đó dẫn đến sự trân trọng cuộc sống của người khác và của chính mình.

Có lẽ đó còn là một thái độ tương đối bình thản trước mọi biến cố của cuộc sống. Thường thì người ta đạt được sự bình thản này sau khi một phần lớn của đời mình đã trôi qua, văn hóa Phật giáo có thể giúp ta bình thản ngay cả khi một phần lớn của cuộc đời có lẽ còn ở phía trước.

Có lẽ sự nhận thức về tính vô thường của thế giới và của cả con người đã giúp tôi rất nhiều để có một sự cân bằng trong cuộc sống. Một bên ta không thể buông xuôi trách nhiệm với xã hội, với những người thân thiết, với bản thân mình, một bên ta vẫn hiểu rằng cái quan trọng ngày hôm nay, ngày mai có thể sẽ không còn quan trọng nữa.

ĐPNN: Giáo sư đã từng đọc kinh Phật? Nếu có thì đó là kinh gì? Ảnh hưởng của bài kinh đó đối với cuộc sống của giáo sư thế nào?

NBC: Tôi được đọc kinh phật mỗi lần đến thăm bà ngoại tôi. Ngoại tôi tụng kinh hàng ngày. Khi còn là sinh viên tôi có đọc một số sách về lịch sử Phật giáo.

Trải nghiệm quan trọng nhất của tôi với Phật giáo là lần đi thăm di tích Ajanta bên Ấn độ. Đó là những hang đá nơi những người tu hành đã sống từ thế kỷ thứ sáu. Những bức bích họa rất lớn trên vách hang miêu tả cuộc đời của Thích Ca Mầu Ni đã làm tôi xúc động đến ứa nước mắt.

ĐPNN: Là một nhà khoa học toán, giáo sư đánh giá thế nào về các điều minh triết Phật dạy về con người và vũ trụ?

NBC: Triết lý Phật giáo cho con người một nhân sinh quan rộng rãi, giải phóng nhiều định kiến. Đấy là một tố chất cơ bản của nhà khoa học.

Có những nhà khoa học có uy tín đi tìm những điểm chung giữa triết lý tôn giáo trong đó có Phật giáo và Cơ đốc giáo và khoa học hiện đại. Cá nhân tôi thấy những cố gắng này có phần khiên cưỡng.

ĐPNN: Khi tự đặt cho mình biệt hiệu “Hòa thượng Thích Học Toán” hẳn giáo sư đã thể hiện phần nào thiện cảm với Phật giáo, cụ thể hơn là tu sĩ Phật giáo? Ý tưởng của việc chơi chữ này là gì?

NBC: Công việc nghiên cứu khoa học có nhiều điểm chung với cuộc sống của những nhà tu hành. Nghiên cứu khoa học cơ bản cũng có tính thoát ly khỏi cuộc sống trần tục. Tôi chọn biệt danh “Hòa thượng Thích Học Toán” để cho trò chuyện toán học trên blog được thân thiện hơn, để câu chuyện toán học thoát ra khỏi hình thức phổ biến khoa học. Sau khi một số Phật tử có nhắn với tôi không nên đùa với chức danh Hòa thượng, tôi cũng không dùng nó nữa. Tôi cũng không có ý tạo thêm những sự bực bội không cần thiết.

ĐPNN: Gần đây, Giáo sư đặt trang blog cá nhân (thichhoctoan.wordpress.com) ở chế độ riêng tư, một hình thức của đóng cửa đối với độc giả quý mến giáo sư? Đâu là lý do cho việc này?

NBC: Sau sự kiện giải thưởng Fields, blog của tôi có khá nhiều người đọc. Tôi nhận ra rằng cách viết hài hước mà tôi chọn cho blog cũ nay không còn phù hợp nữa. Tôi vẫn giữ ý định mở lại một trang blog mới và viết lại nhiều bài theo một phong cách nghiêm túc và có hệ thống hơn.

ĐPNN: Là người sống và làm việc tại Pháp, trung tâm của văn minh châu Âu và hiện nay giảng dạy tại đại học Chicago, Hoa Kỳ, giáo sư có suy nghĩ gì về mô hình giáo dục đại học Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa?

NBC: Có một khoảng cách khá lớn về chất lượng giữa giáo dục đại học ở Việt Nam và ở các nước phát triển. Vì dư luận xã hội đã quá tiêu cực với chất lượng giáo dục cho nên tôi thấy không cần phân tích thêm. Cái cần và khó hơn nhiều là tìm ra giải pháp. Có lẽ giải pháp tốt nhất là để cho mỗi ngôi trường, mỗi người thầy tìm ra giải pháp riêng cho mình. Nói cách khác là trường đại học và các giáo sư đại học cần được chủ động hơn trong chương trình và qui chế tuyển sinh. Bên cạnh đó, cơ quan quản lý cần làm thêm nhiều điều tra để so sách chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học giữa các trường để dựa vào đó mà có chính sách đầu tư hỗ trợ. Những thông tin này cũng cần được công bố rộng rãi để học sinh sinh viên cũng như phụ huynh có thông tin chính xác hơn cho việc chọn trường học. Việc nới quản lý từ trung ương để tăng tính chủ động cho những người trực tiếp làm công việc đào tạo và nghien cứu có thể dẫn đến bất cập ở chỗ này chỗ khác, nhưng tôi tin vào khả năng tự điều chỉnh của cuộc sống. Sự tự điều chỉnh sẽ nhanh hơn nếu thông tin được rộng đường.

ĐPNN: Toán học có thể giúp gì cho việc quy hoạch đô thị Việt Nam? Kinh nghiệm của Pháp và Mỹ trong lãnh vực này thế nào?

NBC: Ở nước ta, việc quy hoạch giao thông trong các đô thị vẫn dựa nhiều vào cảm tính, nên hay thay đổi. Những hệ thống có độ phức tạp cao như giao thông đô thị thực ra rất cần được thử nghiệm và thiết kế dựa trên những mô hình toán học.

ĐPNN: Là người lập gia đình và có con ở tuổi đôi mươi, đâu là bí quyết duy trì “hạnh phúc gia đình” của giáo sư sau gần 20 năm chung sống?

NBC: Thưa thầy, cuộc sống gia đình nào cũng có lúc sóng gió. Để sống với nhau, mỗi người cần hiểu những người mình yêu để mà sống vui với chính con người họ. Mỗi gia đình còn có một động lực rất lớn để tồn tại đó là con cái và việc nuôi dưỡng, giáo dục con cái.

ĐPNN: Tháng bảy trong Phật giáo là mùa báo hiếu công ân sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ như hai vị Phật trong nhà, Gs có thể chia sẻ vài kỷ niệm đẹp mà hai đấng sinh thành đã giành cho Gs thời trẻ?

NBC: Cha mẹ tôi luôn dành hết cho tôi mọi sự yêu thương, ưu tiên việc nuôi dưỡng giáo tục tôi hơn tất cả. Vợ chồng tôi cũng cố gắng làm như vậy với các con, nhưng chắc chắn là không thể được như ông bà.

Khi còn nhỏ, mẹ tôi dậy tôi rằng xấu nhất là nói dối. Bây giờ tôi vẫn tin và cũng dậy các con tôi như thế.

ĐPNN: Với vai trò làm cha của ba đứa con hiếu thảo và thành công, xin GS chia sẻ kinh nghiệm làm cha của mình?

NBC: Tôi không nghĩ các con tôi đặc biệt thành công hoặc là mình là một người bố kiểu mẫu để có thể tự tin chia sẻ kinh nghiệm với người khác. Công việc bận rộn không cho tôi có nhiều thời gian để gần gũi với con cái như tôi mong muốn mà thời gian là cái mà trẻ nhỏ cần nhất ở cha mẹ. Có lẽ người lớn nên bớt thời gian xem TV, lướt web, tụ tập bạn bè để có thêm thời gian chơi với con, học với con, cùng đọc sách với con. Những cái đó có ích cho trẻ hơn là việc bỏ tiền ra cho con đi học thêm hay những khóa rèn luyện “kỹ năng sống”.

ĐPNN: Theo GS, hạnh phúc là gì? Và đâu là cách thức giáo sư giữ gìn và phát triển hạnh phúc có được?

NBC: Đối với tôi, cái hạnh phúc lớn nhất là cảm giác mình đang sống. Cảm giác đó bao gồm cả vị ngọt và vị đắng. Nó xuất phát quan hệ với những người thân thiết, bạn bè, công việc và xã hội, từ miếng cơm ta ăn, từ miếng nước ta uống, từ không khí ta đang thở.

Để có hạnh phúc, có lẽ không có cách nào khác là yêu cuộc sống như chính nó. Để bất hạnh, có lẽ không có cách nào tốt hơn là đi đuổi theo những ảo ảnh.

ĐPNN: Theo GS, “để sống một cuộc sống có ý nghĩa,” người ta phải làm gì?

NBC: Tôi e mình không đủ thông tuệ để trả lời câu hỏi này của thầy một cách đầy đủ.  Phần nhỏ của câu trả lời mà tôi biết là để sống một cuộc sống có ý nghĩa, ta nên tránh làm những việc vô nghĩa

http://www.daophatngaynay.com/vn/Tap-chi-Dao-Phat-Ngay-Nay/Bai-viet-chon-loc/8873-GS-Ngo-Bao-Chau-noi-chuyen-ve-Phat-giao-va-cuoc-song.html

 

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Bảy 23, 2012 in Phật Giáo

 

10 vấn đề cấp thiết của Phật giáo dân tộc

12:42 02/04/2011

10 vấn đề cấp thiết của Phật giáo dân tộc

 (TG&DT) – Thật là một hân hạnh lớn lao cho chúng tôi hôm nay được về tham dự Đại hội kỳ V của Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức tại thủ đô Hà Nội. Từ ngàn dặm xa xôi mà được về thăm quê hương đã là một điều hạnh phúc

VÀI NÉT VỀ PHẬT GIÁO TÂY PHƯƠNG ĐỂ SUY NGHĨ VỀ

MƯỜI VẤN ĐỀ CẤP THIẾT CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM


           

            Kính bạch chư Tôn đức Tăng Ni,

            Kính thưa quí vị Đại biểu và Quí khách  

        Thật là một hân hạnh lớn lao cho chúng tôi hôm nay được về tham dự Đại hội kỳ V của Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức tại thủ đô Hà Nội. Thật vậy, từ ngàn dặm xa xôi mà được về thăm quê hương đã là một điều hạnh phúc, lại được phép trình bày một số thao thức của một người con Phật trước những người đồng đạo mà cũng là đồng bào cùng chung một ước mơ, thì thật là một cơ duyên hiếm có.

       Do đó, chúng tôi xin mạo muội góp ý với Đại hội về hai chủ đề: Phần thứ nhất sẽ đề cập đếnvài  nét đặc thù trong quá trình phát triển Phật giáo Tây phương, đặc biệt là tại Mỹ, để nhận diện những yếu tố nào đã làm cho Phật-Giáo nở rộ, cả phẩm lẫn lượng, trên các mảnh đất Kitô giáo và những thành trì của nền văn minh vật chất, duy lý và duy lợi nầy. Phần thứ hai, chúng tôi sẽ xin gợi ý về mười vấn đề vừa cụ thể vừa cấp thiết, vừa cho bây giờ vừa cho tương lai, mà tôi nghĩ Giáo hội Phật giáo Việt Nam cần đặc biệt quan tâm.

       Dĩ nhiên ý kiến của chúng tôi thì chủ quan và còn nhiều giới hạn, nhưng chắc chắn chân thành và thiện chí, nên có điều gì sơ suất và khó nghe, xin Đại Hội niệm tình tha thứ.

 

PHẦN MỘT VÀI NÉT ĐẶC THÙ TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN PHẬT GIÁO TẠI TÂY PHƯƠNG      

 

         Như chúng ta đều biết, từ quê hương của đức Phật, giáo lý của Ngài đã tỏa ra bốn hướng chính. Trong cuốn The Buddhist Handbook: The Complete Guide to Buddhist Schools, Teaching, Practice and History, 1999, USA, John Snelling, một nhà sử-học Phật-giáo Mỹ, đã dùng hai tiêu chuẩn không-thời gian và sự hình thành các tông phái để xác định quá trình phát triển Phật-Giáo trên toàn thế giới, đã mô tả bốn hướng chính đó như sau:

–           Về phương Nam, Phật Pháp thấm sâu vào Sri Lanka, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cam Bốt và Indonesia.

–           Về phương Bắc, Phật Pháp xuyên rặng Hy Mã Lạp Sơn qua Tây Tạng, Mông Cổ và Nga.

–           Về phương Đông, Phật Pháp được truyền vào Việt-Nam,Trung Quốc rồi tỏa hai nhánh lên Đại Hàn, Nhật Bản và Đài Loan.

–           Về phương Tây, theo con đường Tơ lụa, Phật-Pháp được truyền vào Trung Đông, các nước ven Địa Trung-Hải, và từ sau Đệ-nhất Thế-chiến, thì bắt đầu bắt rễ tại Âu-Châu.

           Tuy nhiên, phải đợi đến cuối thế kỷ thứ 19, khi Phật -Giáo theo hai ngã đường tràn vào Mỹ thì quá trình phát triển của đạo Phật mới có những chuyển biến ngoạn mục và sâu sắc. Đó là khi từ lục địa châu Âu, những hiệp hội Phật-Giáo năng động như Buddhist Society of Great Britan and Ireland, Old Buddhist Community, Buddhist Publication Society, … bắt đầu phát hành những ấn phẩm diễn giảng kinh sách Phật-Giáo xuyên Đại Tây dương để xâm nhập vào miền Đông nước Mỹ. Và từ châu Á, những đợt sóng di dân từ Trung Quốc và Nhật Bản cập vào miền Tây nước Mỹ để, theo đúng truyền thống Đông Phương, lấy chính cuộc sống của mình làm chứng thực lời dạy của đức Phật, thì dân tộc Mỹ mới khám phá ra và hân hoan chào mừng Phật Pháp tuyệt vời của đấng Từ Phụ.

          Tại Anh-quốc ngày nay chỉ còn 7.5 % đi lễ nhà thờ, nhưng tại Mỹ người  Công-giáo và Tin-lành chiếm 56%, trong đó phần lớn bao gồm các sắc dân Châu-Á, Châu-Phi, Châu Mỹ La-tinh, giới lao-động và thợ thuyền. Tuy vậy, sau Đệ Nhị Thế Chiến và cuộc Chiến Tranh Lạnh giữa các Đại-cường, thì những tác phẩm viết về tôn giáo Đông-Phương như cuốn  Anh Sáng Á-châu Về Cuộc Đời Và Lời Dạy Của Đức Phật”(The Light of Asia on the Light and Teaching of Buddha) của đại thi sĩ Edwin Arnold, cuốn Khoa Học Tối Thượng Của Đức Phật (Supreme Science of the Buddha) của Egerton C. Baptist, cuốn Đạo Vật Lý (The Tao of Physics) của khoa-học gia Fritjof Capra, bộ Thiền-Luận của Suzuki, v. v. đã thấm vào tim óc của giới trí thức Tây-phương.

          Phong trào nghiên cứu về tôn giáo và tín ngưỡng Á-châu nở rộ thành những đợt sóng người đến với đạo Phật, lan tràn khắp thế giới, đặc biệt là tại các nước tiên tiến như Đức, Anh, Pháp và Hoa-kỳ. Từ giới văn nghệ sĩ đến quân nhân, từ học đường đến kinh doanh. Số trí thức người Mỹ theo Phật-Giáo trong thập niên 1980 là 7 triệu, và năm 2000 là 10 triệu. Trong số những trí thức nỗi tiếng trở thành Phật-Tử có ứng cử viên tổng thống Jerry Brown, ông cũng từng là Thống-Đốc bang California, tài tử nỗi tiếng Richard Gere, Steve Seagal, danh ca Tina Turner, nhà văn Jack Kerovac, thi sĩ Allen Ginsberg. Ngay tại bộ Quốc-phòng cũng có Câu-lạc Bộ Thiền (The Pentagon Meditation Club) được thành lập từ 1976 qui tụ nhiều sĩ quan cao cấp và tướng lãnh. Theo báo Tricycle: The Buddhist Review, số mùa hè năm 1997, người sáng lập câu lạc bộ nầy là ông Ed. Winchester cho biết: câu lạc bộ có 16 vị tướng và đô-đốc hải-quân là những thiền sinh (The fact is at one point I think there were about sixteen generals and admirals who were  meditators).

          Tại Mỹ, năm 1966 chỉ có 3 đại-học mở phân khoa Phật Học, nhưng sau 30 năm, 1996, có đến 145 đại học, và ngày nay thì có nhiều hơn nữa. Môn sử Phật-Giáo khái quát cũng được giảng dạy trong nhiều trường Trung và Tiểu-học. Trong thập niên cuối cùng của thế kỷ thứ 20, tại Mỹ, có trên 1.500 cơ sở hoằng-pháp. Quần thể tu viện The Odiyan Monastery được xây cất trên một vùng đất rộng hơn một nghìn mẫu tây tại bang California, được xem là cơ sở vĩ đại nhất của Phật-Giáo Mỹ trong thập niên qua. Trong cuốn Sự Thức Tỉnh Của Tây Phương (The Awakening of the West), xuất bản năm 1994, tác giả Stephen Batchelor viết: Ngày nay Phật Giáo được coi như là một tôn giáo phát triển nhanh nhất và là một trong những phong trào tâm linh có ảnh hưởng nhiều nhất ở Tây Phương (Buddhism is said to be the fastest growing religion and one of the most influential spiritual movement in the West).

          Tạp chí Time là một trong những tuần báo giá trị nhất của Mỹ, số ra ngày 13.10.1997, trang bìa đăng hình tài tử điện ảnh chính, Brad Pitt, đóng phim Bảy năm ở Tây Tạng”(Seven years in Tibet) với hàng tít lớn: Sự hấp dẫn của Phật-Giáo đối với Mỹ” (America’s  Fascination With Buddhism). Số báo nầy có viết một bài dài 11 trang về sự phát triển Phật-Giáo tại Mỹ. Trong nhật báo Chicago Tribune, số ra ngày 16. 6. 2000, ký giả Karen Mellen tường trình về chủ đề Người Tây-phương đến với tín ngưỡng Á-châu nhiều hơn”(More Westeners are Drawn to Asian Faith), trong đó có đoạn tác giả đã mô tả: Không cần phải tìm cách thu phục hay tích cực kiếm thêm tín đồ, Phật-Giáo đang nở rộ tại tiểu bang Illinois và các tiểu bang lân cận. Trong 5 năm qua, số tín đồ Phật-Giáo tăng thêm 25 %, và mỗi năm có thêm 4 hay 5 chùa mới (Without proselytizing or actively seeking members. Buddhism is flourishing in Illinois and nearby states. Over the last five years the number of Buddhists has risen 25 percent, and four or five new temples open each year). Những buổi thuyết pháp của Đức Đạt-Lai Lạt-Ma ngày nay không còn được tổ chức trong các hội trường nhỏ hẹp từ  3 đến 5 ngàn người, mà mỗi lần thuyết pháp phải được tổ chức ở các sân vận động thể thao để có thể chứa được cả trăm ngàn thính giả.

         Sở dĩ người Tây-phương, nhất là người Mỹ, ngày càng theo Phật-Giáo nhiều, trước hết vì họ bị khủng khoảng niềm tin nơi những tôn giáo lâu đời của xứ sở họ. Thứ hai là với đầu óc thực nghiệm sẵn có trong nền giáo dục duy lý thực dụng và khoa học, họ khám phá thấy Phật Giáo là tôn-giáo của từ bi hỷ xả, tôn-giáo của trí-tuệ và khoa-học, một tôn giáo giải đáp được những băn khoăn thao thức của họ về con người, vũ trụ và cuộc sống trong một xã hội đầy duy lý, máy móc, bạo động và bấn loạn tâm linh mà họ phải đối diện hàng ngày. Vì thế, thiên tài khoa học Albert Einstein, người Mỹ gốc Do-thái, sinh tại Đức, được giải thưởng Nobel vật lý học năm 1921, phát biểu về Phật-Giáo như sau:

     “Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo hoàn vũ. Tôn giáo này phải vươn lên khỏi một Thượng Đế cá thể và tránh các giáo điều và một nền Thần Học. Tôn giáo này phải bao gồm cả thiên nhiên giới và tâm linh giới, và phải dựa vào một ý thức tín ngưỡng phát xuất từ kinh nghiệm của cả vật chất lẫn tinh thần, và dựa trên một thế hợp nhất có ý nghĩa. Phật Giáo chính là tôn giáo đáp ứng được với những mô tả vừa kể.

      “Nếu có một tôn giáo nào ứng phó được với các nhu cầu của nền khoa học hiện đại, thì đó chính là Phật Giáo. Phật Giáo không cần phải tu chính để chối bỏ những quan điểm của mình mà theo khoa học, vì Phật Giáo vừa bao gồm khoa học vừa vượt xa quá khoa học nữa”.”

          (The religion of the future will be a cosmic religion.  It should transcend a personal god and avoid dogmas and theology.  Covering both the natural and the spiritual, it should be based on a religious sense arising from the experience of all things, natural and spiritual and a meaningful unity.  Buddhism answers this description…

 If there is any religion that would cope with modern scientific needs, it would be Buddhism. Buddhism requires no revision to surrender its views to science, because it embraces science as well as goes beyond science).

 

       Kính thưa quý vị,

          Dưới con mắt của thiên tài vật lý gia Albert Einstein, Phật Giáo quả thật là một bảo vật vô giá, vượt thời gian và không gian. Nhưng theo thiển ý của chúng tôi thì Phật Giáo Việt-Nam chúng ta chưa nỗ lực đúng mức để truyền trì món bảo vật ấy. Nói một cách mộc mạc, Phật-Giáo có một món hàng vô giá nhưng các ban tiếp thị đã thiếu khả năng để bán món hàng ấy.

         Nói vậy không có nghĩa là chúng tôi không thấy được bao nhiêu tâm lực, bao nhiêu hy sinh của chư tôn đức và hàng Phật Tử tại gia đã và đang kiên trì hoạt động Phật sự để cho mạng mạch Phật Giáo luôn luôn là một dòng suối tươi mát, là một đại dương cam lồ tưới tẩm dân tộc qua nhiều thế hệ thăng trầm biến đổi, nhất là trong thời gian nước nhà gặp biết bao khó khăn sau những năm dài chinh chiến. Phật tử Việt Nam và Phật tử thế giới luôn luôn ghi nhớ công đức hành thiện đó.

          Lịch sử đã chứng minh thành qui luật rằng lúc nào Phật Giáo hưng thịnh thì quốc gia phú cường, lúc nào Phật Giáo trì trệ thì dân tộc cũng nguy khốn. Vì thế, học giả Phan Khôi đã rất đúng khi nhận định: “…thuở nhà Lý nhà Trần đạo Phật tràn ngập cả nước. Chùa chiền khắp nơi, thầy tu làm dân tráng, nhưng nước nhà chưa hề có cái vẻ tích nhược như thời Lê Trung Hưng hay Nguyễn Thống Nhất là hai thời đại Nho học thịnh hành. Trái lại nhà Lý nhà Trần mạnh lắm… mấy phen giặc Tàu sang chúng ta đuổi đi như đuổi vịt”. (Nguyễn Lang, Phật-giáo sử luận, tập 3, Lá-bối, Paris 1985, tr.29).

          Lý Trần là thời kỳ đạo Phật thịnh, kéo theo thế hưng thịnh của quốc gia. Quân Nguyên Mông chiến thắng cả thiên hạ. Nhưng lúc sang chiếm Việt Nam, đạo quân bách chiến bách thắng nầy không những đã thua trận một lần mà thua đến ba lần. Nước nhà có được những nét vàng son ấy là nhờ tinh thần TỪ BI, TRÍ TUỆ và DŨNG MÃNH được vua quan và dân chúng áp dụng một cách nhuần nhuyễn tích cực vào trong tất cả các hành động và cuộc sống hằng ngày. Vua Trần Nhân Tông xuất gia lìa bỏ ngai vàng như bỏ đôi dép rách là một bài học sống động và vô giá cho tất cả chúng ta. Sự hi hiến phi thường nầy cũng giống như hơn 2500 năm trước, Thái Tử Tất đạt Đa bỏ ngai vàng điện ngọc cao sang để tìm phương cách giải khổ đem vui cho con người.

     

          Chỉ hơn mười năm sau khi nhân loại thoát khỏi ác mộng Chiến Tranh Lạnh thì thế giới ngày nay đang bước vào một khúc quanh lịch sử mới với viễn ảnh của một cuộc chiến không phải giữa Ý Thức Hệ Độc Thần với Ý Thức Hệ Vô Thần như trước, nhưng là giữa Ý Thức Hệ Độc Thần Da Trắng với Ý Thức Hệ Độc Thần Da Nâu, giữa những người cùng thờ một Chúa, cùng tin một một Thánh Thư, cùng phát xuất từ một suối nguồn tín ngưỡng.

       Cuộc chiến hôm nay là một cuộc chiến giữa ‘người uy hiếp và người bị uy hiếp’, chứ không hẳn là ‘giữa kẻ ăn không hết và người mần không ra’. Thực trạng hôm nay, một lần nữa, làm chứng cho chân lý đơn giản của Phật Giáo đó là đem hận thù chống hận thù thì cũng giống như đem dầu xăng mà chữa lửa. Chỉ có tình thương, chỉ có từ bi mới xóa bỏ được hận thù và nghèo đói.

         Thế giới đang lên cơn sốt trầm trọng, nhất là đối với những dân tộc đau thương đói khổ dài ngày. Điều nguy hại là đôi lúc một vài tổ chức phản động, độc tôn, quá khích đã và đang lăm le lợi dụng tình trạng thiếu thốn đói khổ và lòng ưa muốn ăn no mặc ấm để gieo rắc những mầm phân hóa, bất ổn, sa đọa, phi dân tộc, phản cách mạng dưới chiêu bài Nhân Quyền, Tự Do Tôn giáo, Hiện Đại, Tiên Tiến.

         Không có quyền nào cao quý bằng quyền tự chủ để độc lập và tự cường để tồn tại. Nhân quyền là quyền mà mỗi người quyết định lấy số phận của mình nhưng phải đặt nó trong mối tương quan hòa ái với dân tộc và nhân loại. Không có tự do nào bằng tự do vượt ra khỏi sức ép của ngoại nhân. Không có cái gì hiện đại bằng người Việt Nam vào thế kỷ 21 phải tự mình vững bước hai chân trên các ngành khoa học kỷ thuật để phú cường, và về mặt tâm linh thì dựa vào cái triết lý vượt lên trên khoa học để làm ngọn đuốc soi đường cho các phương châm hành động.

          Không có cái gì tiên tiến bằng người Việt Nam hôm nay có thể nhìn vào đồng loại năm châu để nói rằng chúng tôi đã dứt được quá khứ nhục nhả vì bị trị. Chúng tôi tự hào một cách có thực là dân tộc chúng tôi đã thắng 3 cường quốc vĩ đại của thế giới để dành lại độc lập cho con cháu Tiên Rồng và tương lai đang ở trong tay chúng tôi. Chúng tôi đang đứng hàng thứ nhì trong việc xuất cảng gạo, hàng thứ ba xuất cảng cao-su. Vài vùng trước đây đồng khô cỏ cháy, nay lúa xanh ngắt một mầu nhờ hệ thống thủy lợi thuận tiện. Và điện thoại, tivi, fax, máy vi tính, hệ thống internet đã hiện diện tại nhiều nơi ở vùng xa, vùng sâu. Nhưng quan trọng hơn cả, Việt-nam là một quốc gia ổn định và an ninh nhất vùng Đông-Nam Á, và dân tộc chúng ta hôm nay có thể hãnh diện và tự hào về những thành quả vàng son vừa kể. Vấn đề chỉ là gìn giữ, phát triển và noi gương các bậc tiền bối nhiều hơn nữa trong quốc sách Đói cho sạch rách cho thơm. Nạn tham nhũng là một điều nhục quốc thể và làm cho thế giới khinh rẻ một dân tộc vốn đã có những nét vàng son vừa kể, cần phải được chấm dứt. Và đây chính là lúc Phật giáo Việt Nam phải nỗ lực nhiều hơn để gánh phần trách nhiệm của mình.

      

         Đạo Phật là đạo của từ bi, đạo của tri túc tiện túc, đạo của những kẻ trượng phu Thà làm quỷ nước Nam …, những kẻ sống chết với nguyên tắc “Tiên thiên hạ chi ưu hậu thiên hạ chi lạc”, những kẻ vừa thấy được cái tốt của người để bắt chước, vừa biết rõ cái xấu của mình để sửa sai. Đạo Phật cũng là đạo “Thương người như thể thương thân”, Áo rách phải giữ lấy lề, chứ không phải là đạo của sống chết mặc bây, hoặc đói mà muốn nhận loong gạo hoặc lảnh ổ bánh mì thì phải nhận phép rữa tẩy.

        Quyển Thánh Thư và cây chữ thập từng là lá cờ tiên phong cho những đạo quân thực dân xâm chiếm bóc lột và diệt chủng ở Phi Châu, Á Châu, Nam Mỹ. Bi kịch lịch sử đó đang được một số người lăm le tái diễn ở Trung Đông. Bi kịch đó đã và đang có người âm mưu tái diễn ở miền cao nguyên và sơn cước Việt Nam hiện nay.

        Hơn bao giờ hết, người Phật tử, trong cũng như ngoài nước, có lẽ nên dựa vào nguyên tắc khế lý, khế cơ và khế thời như lời Phật dạy để áp dụng một cách uyển chuyển và linh động vào tình trạng bấn loạn của thế giới và vào hoàn cảnh của quốc gia đang trên đà phát triển hiện nay, để kiện toàn đường lối sinh hoạt Phật sự trong mục tiêu góp phần làm cho dân tộc an lạc, quốc gia giàu mạnh và thế giới hòa bình.

 

 

PHẦN HAI MƯỜI VẤN ĐỀ CẤP THIẾT CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM

 

      Trước những chuyển đổi sâu rộng của thời đại trên thế giới cũng như đặc biệt trên quê hương, và quan sát những kinh nghiệm thành công của Phật Giáo ở các nước Tây-phương, chúng tôi ý thức được rằng Việt Nam có những vấn đề đặc thù của Việt Nam, và Giáo Hội ta có những vấn nạn của riêng chúng ta. Do đó, chúng tôi chỉ xin đề cập đến những vấn đề thật cấp bách không thể nào bỏ qua được, lại có tính phổ quát mà Giáo Hội nước nào cũng phải kinh qua, và có tính khả thi mà Giáo hội Việt Nam không đối trị bây giờ thì cũng phải đối diện trong một tương lai gần.

       Mười chủ điểm mà chúng tôi đặc biệt thao thức thì có quan hệ hữu cơ và nhân quả đến:

–           Hai vấn đề nhân sự của Giáo hội vì con người bao giờ cũng là trục vận hành của mọi tổ chức

–           Bốn vấn đề tổ chức vì đó là công cụ vận hành và phương tiện thiện thừa của Giáo hội

–           Hai vấn đề giáo dục đào tạo vì đó là đội ngũ kế thừa của mọi nỗ lực phát triển

–           Hai vấn đề văn hóa vì đó là thành tố bất khả phân ly giữa đạo và đời.

           Dĩ nhiên, những đề nghị của chúng tôi sẽ không giải quyết được tận gốc những khó khăn to lớn mà chúng ta đang nỗ lực vượt qua, lại càng chưa chắc đã nằm trong ưu tiên hàng đầu mà Giáo hội đang quan tâm, tuy nhiên chúng quả thật đang là những hòn đá tảng, sừng sững nằm chắn lối trên con đường hoằng dương Phật Pháp. Do đó mà chúng tôi xin trình bày với tất cả khiêm cung nhưng cũng rất triệt để, đó là:

1.  Trẻ trung nhân sự:

         Cơ thể con người là một vi trần của vạn hữu, biến thái theo chu kỳ thành trụ hoại không. Vì thế, ngày nay hầu như quốc gia nào trên thế giới cũng định tuổi về hưu của công tư chức là 60 đến 65 tuổi, cái tuổi mà sinh lực như một ngọn đèn dầu đang cạn, cái tuổi mà trí tuệ cũng không còn minh mẫn và nhạy bén như buổi thiếu thời. Tình trạng lão hoá nầy không miễn trừ cho bất cứ một ai, do đó, những vị cao niên cần được nghỉ ngơi tĩnh dưỡng sau bao năm hi hiến cuộc đời của mình cho đại sự. Hơn nữa phục vụ Giáo Hội là một sự hy sinh chứ không phải là một công chức hoặc tư chức có lương bổng để bồi dưỡng, nên lại càng phải đòi hỏi một sự tĩnh dưỡng nhiều hơn.

         Quy luật tâm sinh lý nầy mang tính phổ quát, không phải chỉ đúng cho giai tầng lãnh đạo, mà ở mọi vị trí, mọi nhiệm vụ và mọi lãnh vực, một khi đã tuổi cao trí kém thì không những sẽ làm trì trệ tổ chức mà còn là những phản động lực cản đường phát triển của định chế mình phục vụ. Vì thế, tất cả nhân sự hành chánh của Giáo Hội từ trung-ương đến địa phương nên được chọn lựa trên tiêu chuẩn đức, tài, khoẻ và không quá 70 tuổi. Những vị đạo cao đức trọng trên 70 tuổi nên được cung thỉnh vào Hội đồng Chứng minh để làm biểu tượng đạo đức và trang nghiêm cho Giáo Hội, không nên đòi hỏi quí ngài phải nhọc nhằn lận đận với những công việc nặng nhọc hằng ngày của Hội Đồng Trị Sự hay Hội Đồng Điều Hành, mà nhiều lúc và nhiều nơi còn ép quí ngài phải kiêm nhiệm đến 3 hoặc 4 chức.

       Một điểm khác về nhân sự là phẩm hơi thấp nhưng lượng cao. Nhiều tỉnh xa những trung tâm thị tứ thì thiếu Tăng Ni nhất là các vùng quê và miền cao nguyên, nhưng tại thành phố Hồ Chí Minh và các vùng phụ cận thì hầu như Tăng Ni bị lạm phát, phẩm hình như còn thấp nhưng lượng quá cao là một tai hại cho tiền đồ Phật-giáo.

         Một minh chứng điển hình là hiện nay, tại Hoa Kỳ, hàng giáo sĩ từ 200 năm qua vốn là biểu tượng của đạo đức xã hội, nhưng từ hơn nửa năm nay, hình ảnh đó đã hoàn toàn sụp đổ và sẽ kéo theo sự suy tàn của các giáo hội Công giáo La Mã khi báo chí, đài truyền thanh truyền hình phát hiện và phổ biến rộng rãi những vụ linh mục, giám mục cưỡng dâm trẻ em, mà có kẻ lại hiếp dâm trên cả trăm trẻ em trong nhiều năm, rồi họ lại được chính các giáo hội đó bảo bọc che đậy. Hàng tỉ  Mỹ-kim đã và đang chi phí để bồi thường cho các nạn nhân, nhưng quan trọng hơn, niềm kính trọng và tin tưởng vào các Giáo Hội đã hoàn toàn bị lung lay và có nguy cơ sụp đổ trong lòng các tín đồ.

        Giáo Hội và quí vị Trú-trì dày công đào luyện cho Tăng Ni và đệ tử một mớ hành trang để lên đường hành đạo, thì cũng nên tạo dư luận và tạo một số hành trang cần thiết để cho đệ tử nào muốn hoàn tục nếu cơ duyên chưa trọn, còn hơn là chấp chứa một số sư tử trùng mà thân còn ở trong nhưng tâm thì đã rong ruổi bên ngoài từ lâu rồi.

        Tình trạng phẩm thấp lượng cao trong một số ít Tăng Ni sinh trẻ hiện nay, ở một vài vùng tại Việt Nam, là một điều đáng ngại mà Giáo Hội cần có biện pháp ngay từ bây giờ. Hành động phá giới phạm trai của một vài Tăng Ni trẻ, nếu có, là những ngọn lửa đốt cháy niềm tin của hàng triệu tín đồ.

          2. Cái ghế một chân:

        Ngày nay, trong xu thế toàn cầu hóa thế giới, điều hành một tổ chức trở nên cực kỳ phức tạp. Hơn thế nữa, cuộc cách mạng thông tin đã nâng mọi hoạt động, mọi sự cố lên trình độ đa khoa (interdisciplinary) và đa tầng (multilayer), khiến cho không một người nào hay một nhóm nhỏ nào có thể quản lý một tổ chức mà không huy động nhiều nguồn nhân lực và tri thức khác nhau.

            Giáo Hội Phật Giáo lại càng cần sự huy động tổng hợp đó vì tính chất nhập thế rốt ráo và vì khả năng tiếp cận đầy tính dung hóa của đạo Phật. Đội ngũ đông đảo các cư sĩ, với chức năng hộ Pháp, và với khả năng và cơ hội được thật sự dùi mài trong cuộc sống thật, sẽ là nhân tố quan trọng phải được huy động tham gia vào việc phát triển đạo Phật.

          Tại các nước Tây-phương, vốn là thành trì của chủ nghĩa vật chất và căn cứ địa của các tôn giáo độc thần, nhưng cuối cùng  cũng đã phải mở cữa trân trọng đón chào đạo Phật như một viên thuốc thần tiên vô giá. Nhưng quá trình đón chào đó không phải tự nhiên mà có, mà chủ yếu là nhờ một đội ngũ cư sĩ biết vận dụng đạo Phật vào cuộc sống và hình thành một hệ thống tổ chức đặc thù theo lối hiện đại cho người Tây-phương. Không những họ nghiên cứu Kinh, thuyết giảng Luật, phổ biến Luận, mà họ còn cụ thể tham gia vào công tác định hướng chính sách, tổ chức các khóa tu Bát Quan Trai, xây cất chùa, quản lý tài chánh, đối thoại về các chủ đề thần học với các tôn giáo khác, v.v…

          Ngài Suzuki là  một nhân vật Nhật Bản nỗi tiếng đã đem đạo Phật đến cho người Tây-phương trong nhiều thập niên qua là một cư-sĩ có gia đình. Ngài Tarthang Tulku, một vị sư Tây Tạng có vợ là một người Ai-Cập lai Pháp, xây dựng một cảnh chùa trị giá trên 100 triệu Mỹ-kim tại miền bắc California, Hoa-kỳ, mà nguồn tịnh tài có được, một phần nhỏ do việc phát hành sách mà ngài viết, số còn lại và nhân công xây cất là do cư sĩ Phật-tử  Mỹ đóng góp.  

         Nhưng đối với Phật Giáo Việt-Nam qua nhiều năm gần đây, trong cũng như ngoài nước, chúng ta có một cấu trúc nhân sự Giáo Hội rất lạ, rất thiếu quân bằng. Bốn chúng đệ tử Phật là Tăng, Ni, Nam cư-sĩ và Nữ cư-sĩ, nhưng nay chỉ còn hơn một chúng trong hầu hết các tổ chức lớn nhỏ của Giáo Hội. Thật vậy, cứ nhìn vào nhân sự của Giáo-Hội thì sẽ thấy, tất cả các chức vụ hầu như do chư tăng phụ trách cả. Lác đác chỉ thấy vài vị Ni và vài cư sĩ với những phần vụ phụ thuộc hoặc trang trí mà thôi. Theo thống kê của nhà nước về phân bố giới tính, thì số lượng nữ giới của dân số nước ta tăng nhanh hơn nam giới. Nhưng nhìn vào nhân sự điều hành của Giáo Hội thì Ni giới chỉ có một vai trò rất hạn hẹp và quá thiểu số so với tăng giới. Còn thành phần cư sĩ, họ ít được Giáo-Hội quan tâm, ngoại trừ các chương trình cần đóng góp tịnh tài. Một số khác thì chỉ được dùng vào việc làm hàng rào danh dự, nghênh tiếp chư tôn đức và sai vặt. Có lẽ đây là một trong số những lý do chính mà phần lớn hàng trí thức cư-sĩ  ít đến chùa và họ đã phải tổ chức những đạo tràng riêng từng nhóm để tu học.

          Qua những kinh nghiệm và thực trạng nêu trên, chúng ta thấy nếu Phật Giáo Việt Nam muốn phát triển thì các tổ chức giáo-hội cần phải có 4 chúng như cái ghế có 4 chân. Đối với hai chúng Phật-tử tại gia, cần dành một chức năng và một chỗ đứng cho cư sĩ trong cả ba vai trò hoạch định chính sách, trợ lý tổ chức và điều hành nhiều Phật sự thì mới tạo thêm được những thuận lợi cho việc hoằng dương Phật-Pháp. Ngược lại, cái ghế chỉ còn một hoặc hai chân đứng còn chưa vững nói gì đến phát triển.

        Ngoài ra, trong hàng Phật tử tại gia chúng ta nên đặc biệt quan tâm đến một thành phần trẻ trung khác đó là Gia Đình Phật Tử chủ yếu vì hai lý do chính:

a.         Tre già măng mọc:  Đây là thành phần kế thừa và tiếp nối các công trình mà thế hệ phụ huynh để lại. Họ sẽ không thể gánh vác mà thậm chí còn có thể phá hoại những di sản quí báu của tiền  nhân nếu không được hướng dẫn và đào tạo ngay từ lúc còn thơ những giá trị đạo đức và những kiến thức Phật-Học. Do đó Giáo Hội nên trang bị cho thành phần con cháu chúng ta một hành trang đạo lực và trí lực để bước đi trên con đường phụng sự  Giáo-Hội, phụng sự quốc gia, phụng sự nhân loại và phụng sự chúng sanh tức là phụng sự chư Phật.

b.         Tránh phạm pháp và trở thành người tốt: Nếu những câu châm ngôn của Gia Đình Phật Tử như “Em tưởng nhớ Phật. Em kính mến cha mẹ và thuận thảo với anh chị em. Em thương người và vật” và “ Phật-tử qui-y Phật, Pháp, Tăng và giữ giới đã phát nguyện, Phật tử  mở rộng lòng thương và tôn trong sự sống, Phật-tử  trau dồi trí tuệ và tôn trọng sự thật, Phật-tử trong sạch từ thể chất đến tinh thần, từ lời nói đến việc làm..” được thật sự thể hiện thành hành động cụ thể trong cuộc sống đời thường thì cá nhân các em, gia đình của các em, trường học của các em, Giáo Hội và dân tộc của chúng ta sẽ an lành biết mấy. Một đoàn thể với chủ trương đào luyện những con người trẻ như thế tại sao chúng ta lại thiếu quan tâm. Về phương diện tâm lý, những điều mà con người học được từ lúc còn nhỏ sẽ ở lại trong tâm họ lâu hơn là những điều học được lúc đã trưởng thành. Thống kê cho thấy những sa ngã của tuổi trẻ và những vụ tự tử thường xẩy ra vào ngày Chủ-nhật hơn là những ngày khác trong tuần. Do đó ngày Chủ-nhật con em chúng ta có môi trường không những để rèn luyện bản lĩnh mà còn để vui đùa và học hỏi thêm các điều thiện mà bậc phụ huynh vì sinh kế nên thiếu chu toàn.

           Gia Đình Phật Tử đúng là nơi, phải là nơi, đáng tin cậy nhất để gởi con em đến. Nhưng rất tiếc, trong nhiều năm qua, vì một số hệ lụy của các vị tôn trưởng, vì thời cuộc và tâm tình chưa thông thoáng, nên đã có một số Gia Đình Phật Tử  không thể sinh hoạt bình thường được. Một vài nơi họ bị đuổi ra khỏi chùa và hành lễ ngoài sân trong cảnh trời mưa lạnh như có lần tôi thấy tại một chùa ở Đà-lạt. Một số khác thì không được đến sinh hoạt tại chùa vì có người gán cho họ là có liên hệ với người nước ngoài. Tại hải ngoại, một vài Gia Đình Phật Tử  không sinh hoạt dưới nhãn hiệu của Giáo-Hội nầy hay Giáo-Hội khác thì họ bị gán cho là “thân Cọng”.

         Kính thưa quí vị, những đứa con ngoan, những người dân tốt, sẵn sàng phụng sự cha mẹ và noi gương các bậc tiền bối để kế thừa sự nghiệp của chúng ta và họ sẽ hy sinh tánh mạng lúc nước nhà nguy biến để đuổi ngoại xâm như đuổi vịt chính là con em của chúng ta hôm nay. Họ sẽ là thế hệ tiếp nối công trình mà chúng ta và tổ tiên đã dày công xây dựng. Xin tất cả chúng ta và mỗi một tự viện hãy mở vòng tay chào đón và giáo dưỡng Gia Đình Phật Tử  để tòa nhà Phật Giáo không những có đủ 4 chân mà còn là 4 chân khoẻ mạnh, vẹn toàn và có tiềm năng tăng trưởng.

3. Phật Vô Nam Bắc:

          Lục tổ Huệ Năng thì dạy “Phật Vô Nam Bắc”, nhưng trong nhiều năm qua chúng ta hình như chỉ chú trọng đến những Phật tử tại thị thành mà lãng quên những người ở thôn quê, chỉ chú trọng đến những Phật tử tại miền xuôi mà lãng quên người mạn ngược, nhất là các vùng dân tộc thiểu số. Đồng bào sống ở miền Rẻo cao là một thành phần trong đại khối dân tộc. Nhưng thực dân Pháp, sau 1884, đã chia Việt Nam thành nhiều miền: Bắc Kỳ (Tonkin), Trung Kỳ (Annam), Nam Kỳ (Cochinchine) và miền cao nguyên như  Kông-tum, Plei-ku, Đắc Lắc, Lâm Đồng, Di-linh, Đà Lạt họ đặt tên là Hoàng Triều Cương Thổ. Còn vùng giữa biên giới Việt-nam và Trung-hoa, Giám-mục Puginier và Hội Truyền-Giáo cũng thành lập một khu vực tự trị khác để giúp chính phủ thực dân dễ biến Bắc-kỳ trở thành một nước Pháp nhỏ ở Viễn-đông. Chính sách thâm độc nầy là nhằm thiết lập nhiều quốc gia nhỏ trong một quốc gia lớn, chặt đứt tình đồng bào và dứt nghĩa tình đồng hương. Họ tạo cho dân chúng trong các vùng nầy có óc địa phương cát cứ chống đối lẫn nhau, đòi độc lập tự trị và theo ngoại bang.

        Trong các cuốn sách viết về Linh-mục A. de Rhodes, Nguyễn Trường Tộ, Trương Vĩnh Ký và Linh-mục Trần Lục, không những chúng tôi đã tiên đoán và báo động tình trạng nêu trên mà còn nói rõ 6 kế hoạch mà tôn giáo Tây Phương áp dụng tại đất nước ta. Chính phủ và nhân dân toàn nước đã có phản ứng, riêng Phật Giáo cũng phải tiến hành những chương trình huấn luyện để phân phối một số Tăng Ni thông thạo tiếng Trung-Hoa và tiếng các sắc dân khác để thuyết phục anh em đồng bào chúng ta biết thờ cúng tổ tiên, đừng bỏ tôn giáo dân tộc hay tín ngưỡng vật linh truyền thống của họ, và có trí tuệ sáng suốt để thấy được âm mưu xúi dục bạo loạn. Chương trình nầy trước kia được cố Hòa Thượng Thích Thiện Châu và Hòa Thượng Thích Thiện Siêu tích cực quan tâm. Ngay từ những năm trước 1975, Hòa Thượng Thiện Siêu đã từng phái những đệ tử của ngài lên truyền đạo trên đó.

       Những Phật tử yêu nước đã gọi Phật là Phật Tổ Hồng Bàng Thị cũng chỉ vì mối liên hệ khắng-khít giữa đạo Phật và Nước nhà. Đạo Phật yếu thì tổ quốc cũng lâm nguy, và Tổ quốc nghiêng ngửa thì đạo Phật cũng ngửa nghiêng theo. Bài học lịch sử gần gũi nhất là thời nhà Nguyễn, Nho giáo thịnh hành rồi kỳ thị Phật Giáo, thêm vào đó là âm mưu diệt Phật giáo của các giáo sĩ Tây phương, (nhất là Giám Mục Bá Đa Lộc, cố vấn đặc biệt và là cánh tay phải của vua Gia-Long) nên Việt Nam đã bị Tây Phương xâm chiếm và bị đô hộ gần cả trăm năm dưới bóng thập ác và lá cờ Tam-tài.

        Tại Ấn Độ, thời vua A-dục, Phật Giáo được thịnh hành thì quốc gia Ấn Độ cũng trải qua một triều đại huy hoàng chưa từng có trong lịch sử Aán. Nhưng các triều đại tiếp theo, Phật Giáo suy vi vì không được các triều vua quan tâm nên sau đó, Hồi Giáo đã có thể xâm lăng và thẳng tay phá chùa giết tăng chúng, đẩy Ấn-Độ vào trạng huống từ bất ổn đến nghèo đói từ đó cho đến nay.

     Tại Trung-Hoa thời nhà Đường, Phật-Giáo rất thịnh hành và cũng mang theo sự thịnh hành của đất nước. Nhưng về sau bị Nho giáo lấn át rồi bị Tây-Phương xâu xé.

      Ba biến cố lịch sử kể trên đã xác nhận một quy luật: Phật giáo và Dân tộc thì không thể phân ly. Giáo Hội Phật-Giáo và Nhà nước Việt Nam nên rút tỉa bài học vừa vinh quang vừa tủi nhục của ba biến cố ấy.

 

4. Tánh, Tướng, Chấp, Danh:

        Trước năm 1975, Phật Giáo tại miền Nam đã bị lũng đoạn phân hóa thành hai tổ chức là Việt Nam Quốc Tự và Ấn Quang. Đó là điều đau lòng cho Phật Tử. Phật Tử chúng ta được chư tôn đức dạy phép Lục Hòa thì chính một vài vị lại không sống với lời dạy đó. Nước nhà hòa bình thống nhất, ai cũng cứ tưởng rằng vết thương đau nhức ấy chắc sẽ lành và không bao giờ còn tiếp diễn nữa. Nhưng niềm hy vọng ấy dần dà bay theo gió núi mây ngàn.

    Từ  năm 1992,  Phật Giáo Việt Nam lại có hai danh xưng là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam và Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Đâu là những trở ngại do những danh xưng đó có thể gây ra? Chúng tôi sẽ không đào sâu vì quý vị có lẽ cũng đã biết rồi, mà chỉ xin kể hai chuyện đau lòng để quý vị suy ngẫm:

–           Năm 1993, tôi đi xe đò từ Đà Nẵng ra Huế, bác tài xế trên xe là một Phật tử và vì biết tôi cũng là một người đồng đạo từ xa về nên bác tâm sự rằng: “Mấy năm trước, địa phương Đà Nẳng chúng tôi tổ chức Phật Đản rất vui. Chỉ cần một phiên họp, quí thầy cắt đặt đạo hữu chúng tôi mỗi người lo một việc thế là xong. Năm nay đã 3 đêm họp liên tiếp rồi nhưng chưa có kết quả. Vì trong buổi họp có hai ý kiến khác biệt nhau. Một số thì đề nghị làm dưới danh xưng của giáo hội có chữ thống nhất, số khác thì bác bỏ. Chỉ vì mấy chữ “thống nhất” và “không thống nhất” mà không khí buổi họp trở nên rất căng thẳng và Đà Nẵêng năm nay sợ e sẽ không có lễ Phật Đản…”

–           Mấy năm sau đó, tôi đến thăm một ngôi chùa tại vùng cao nguyên. Tuy là ngày Chủ nhật nhưng tôi chẳng thấy bóng dáng những em Gia Đình Phật Tử đến sinh hoạt như trước năm 1975. Sau đó, tôi bèn hỏi một số cựu huynh trưởng thì được mấy vị đó trả lời là “Chúng tôi đợi lúc nào Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất được phục họat rồi chúng tôi mới sinh hoạt trở lại”. Tôi than thở, liệu 50 hoặc 70 năm nữa Giáo Hội Thống Nhất mới tái sinh hoạt thì sao, mấy vị đó yên lặng không trả lời.

         Người Phật tử được dạy phải bỏ tánh, bỏ tướng, bỏ chấp, bỏ danh. Nhưng nay chỉ vì có hay không hai chữ  “Thống Nhất” mà một số sinh hoạt Phật Sự bị ngưng trệ.

       Danh xưng hầu như không có ảnh hưởng trong những sinh hoạt của Phật Giáo trong mấy năm qua tại hải ngoại. Thật vậy, từ hơn hai mươi năm qua, người Phật Tử Việt-nam nước ngoài tha hồ truyền đạo và hành đạo với bất cứ danh xưng nào, thành lập bất cứ giáo hội nào mà mình muốn. Nhưng bình tâm nhìn lại thành quả thì có lẽ phải nhận rằng phần lớn tâm sức và tiền tài đều hoặc dồn vào việc thi đua làm chùa, hoặc tiến hành những hoạt động chống đối mà phần lớn là phe ta chống phá phe mình, hoặc trúng kế xui Nguyên dục Bị chỉ làm lợi cho các thế lực đã và sẽ thù nghịch với cả Phật Giáo lẫn Tổ Quốc Việt Nam.

             Nhiều nơi trong nước mà tôi có dịp biết qua, chỉ vì bị “trói” bởi hai chữ  “Thống Nhất” mà một số nhân sự Phật Giáo nằm chờ thời chứ không chịu làm việc. Số khác thì chủ yếu tập trung vào các đô thị, còn vùng quê và nhiều nơi nghèo đói thì khoán trắng cho Công giáo. Riêng tại Cao nguyên thì hoàn toàn bỏ ngỏ cho Tin Lành, mà hậu quả hiện nay như thế nào thì mọi người đã biết. Chúng ta có thể tóm lược sự tai hại nầy bằng 4 câu thơ chữ Nho của ngài Qui-Thiện như sau:

     Do lai duật bạng cửu tương trì,

     Để sự tang thương vị liễu tri.

     Bán chẩm hoàng lương kinh mộng hậu,

     Tiền trần hội thủ sự giai phi.

                       (Có nghĩa: Nghêu cò kém trí, thợ săn thậm mừng).

 

5. Thi Đua Làm Chùa:

         Tại các nước Tây Phương, việc quy định vị trí và công tác xây cất nhà thờ đều căn cứ trên nhu cầu tôn giáo và tỷ lệ phân bố số lượng tín hữu của từng địa phương. Một vùng phải có bao nhiêu tín đồ thì mới được phép dựng một ngôi nhà thờ. Tại Việt Nam, nguyên tắc nầy hầu như không được cả nhà nước lẫn các Giáo Hôi áp dụng. Vì vậy mà có nhiều vùng nhà thờ đồ sộ mọc lên quá loạn trước sự nghèo đói của dân chúng. Riêng đối với Phật Giáo, một số ít Tăng Ni trẻ cũng bắt chước tôn giáo khác trong việc lạm phát xây chùa ở những nơi đã có nhiều chùa rồi. Tình trạng phân bố bất hợp lý nầy không những làm cho chính sách hoằng dương Phật Pháp thiếu hiệu năng, mà còn bất chấp cả lời dạy từ bi của Đức Phật là mang đại sự nhân duyên đến cho tất cả chúng sinh.

         Thêm vào đó, làm nhà thờ và làm chùa đôi lúc rất bừa bãi, không xin phép, không theo một nguyên tắc kỷ thuật và mỹ thuật tối thiểu nào cả nên bị chính quyền bắt phải tự tháo gở hoặc bị tháo gở. Nếu sự việc nầy xẩy ra thì họ lại hô hoán là “không có tự do tôn giáo” và “vi phạm nhân quyền” ! Tại chính các nước Tây Phương như Hoa Kỳ, việc làm chùa, làm nhà thờ hoặc xây cất mà không có giấy phép và không đủ tiêu chuẩn an toàn cũng sẽ bị đình chỉ, thậm chí còn phá đi và chủ xây cất phải chịu trả tiền phạt. Nhưng không thấy ai hô hoán là thiếu tự do tôn giáo và thiếu nhân quyền bao giờ. Do đó, thay vì thi đua làm chùa ở một vài nơi tại Việt-nam và nhiều nơi khác ở hải-ngoại mà xem ra có nhiều vùng không cần thiết, chúng ta nên thi đua tu học và đóng góp vào các công trình văn hoá và công tác từ thiện xã hội v.v.

        Để đối phó với tình trạng hết lạm phát Tăng Ni ở vài đô thị lớn lại đến nạn lạm phát chùa ở một số vùng, Giáo Hội nên điều hướng việc trùng tu và xây dựng hệ thống chùa vào những vùng sâu, vùng xa, vùng cao nguyên, vùng quê hẻo lánh và đặc biệt là nên trùng tu các chùa làng; những di tích văn hóa bị bỏ quên, Giáo Hội nên ban hành các nguyên tắc hướng dẫn và qui-định tối thiểu để tránh sự phí phạm tịnh tài của Phật tử đóng góp và tránh nạn tăng ly chúng tăng tàn.

6. Đưa Phật Sự Vào Xa Lộ Công Nghệ Thông Tin:

       Trên cả hai lãnh vực điều hành Giáo Hội và tiếp cận/xử lý thông tin của nhân loại, các phương tiện hiện nay mà Giáo Hội đang sử dụng thì không phù hợp nữa, thậm chí không tương dụng với các đối tác của Giáo hội vốn là Phật Tử và các định chế tôn giáo trên thế giới. Thật ra, sản phẩm của công nghệ thông tin đã phổ quát và đơn giản đến độ không hiểu vẫn dùng được (như  khách sử dụng máy bay mà không cần biết máy bay đã được thiết kế và gia công như thế nào).

       Thiết lập một hệ thống mạng lưới tin học cho Giáo Hội không phải là chuyện khó, lại cũng chẳng phải là chuyện cần vốn đầu tư lớn, mà hiệu quả sẽ tăng lên cả ngàn lần và ứng dụng của nó thì vô cùng. Từ tích lũy tài liệu đến phân bố kinh sách, từ điều hành nhân sự đến phổ biến thông tin, từ kiểm tra tài chánh đến xử lý công tác. Hai điều lợi nhất của hệ thống nầy là làm chủ thời gian thật, và khống chế không gian theo ý muốn: Một vị Trụ trì ở Cao Bằng có thể biết ngay tức khắc có bao nhiêu phái đoàn tham dự một Đại hội Phật giáo tại Paris, một Ủy viên trung ương của Giáo Hội ở Hà Nội có thể biết được và xử lý kịp thời một nhu cầu tài chánh của một ngôi chùa tại Sóc Trăng, một nhà nghiên cứu Phật Học của một viện đại học Mỹ có thể đọc được thơ của Vua Trần Nhân Tôn, …

       Từng bước đầu tư có hệ thống vào hệ thống công nghệ thông tin của Giáo Hội là tăng tốc phát triển một cách an toàn và hiện đại. Và quan trọng hơn, là không bị thời đại và nhân loại bỏ lại đàng sau.      

 

7.Chương Trình Giáo Dục Tăng Ni Tại Các Trường Cơ Bản Và Cao Cấp:

        Như chúng ta đã biết, đạo Phật không phải là những giáo điều cứng nhắc và xa vời với thực tế. Đạo Phật không nói chuyện trên trời mà nói chuyện con người. Mục tiêu chính của độc thần giáo là phụng sự Chúa, còn đạo Phật thì phụng sự chúng sanh. Giáo lý của Phật  là cái gì có thể nắm bắt và thực chứng. Do đó, chương trình giáo dục Tăng Ni trong các trường cơ bản và cao cấp Phật-Học phải được hoạch định để giá trị bằng cấp của các trường Phật Giáo phải được chính thức thừa nhận, nếu không cao hơn thì cũng có giá trị tương đương với các trường khác hầu giúp cho Tăng Ni sinh không cần phải theo đuổi một lúc 2 chương trình là chương trình cao đẳng của trường Phật Học và chương trình của một đại học ngoại điển khác ở bên ngoài.

         Muốn giỏi thì sinh viên nên được hướng dẫn và khuyến khích chọn những môn học mà mình thực sự có năng khiếu, chứ không nên một lúc ôm đồm học nhiều môn thì sẽ không học được gì cả.

         Để có thể đạt được mục đích nâng cấp giá trị văn bằng của các trường Phật Giáo, uỷ viên giáo dục của Giáo-Hội nên có một chương trình giáo-dục tốt, tổ chức và tạo điều kiện cho ban giảng huấn tham gia các chương-trình tu nghiệp và hội thảo về giáo-dục, trong đó quy tụ nhiều chuyên viên và các nhà giáo dục có tiếng trong nước và nước ngoài để tạo cơ hội cho ban giảng huấn trao đổi và học hỏi thêm kinh nghiệm giảng dạy.

 

8. Học Hàm Thụ:

         Mấy năm gần đây H. T. Thích Trí Quảng và báo Giác Ngộ có tổ chức chương trình học hàm thụ, đó là một trong những điểm son cần được tán thán công đức. Giáo-Pháp của Phật là một món hàng vô giá, nhiều Phật tử không đủ phương tiện và điều kiện để đến trường Phật Học thì chương trình hàm thụ là một đáp ứng cần thiết. Những người hiểu và thực hành lời dạy của Phật sẽ trở thành những công dân tốt góp phần dựng nước và giử nước. Thời Lý Trần, vịêc dựng nước và giữ nước đều dựa trên căn bản học đạo và hành đạo từ vua quan đến dân chúng, vì thế mà quân Nguyên Mông bị đuổi đi như đuổi vịt. Đó là một trong những nét vàng son cần được duy trì và phổ triển. Các lớp học hàm thụ không những chỉ được tổ chức tại các thành thị mà nên mở rộng khắp các tỉnh, thành và  làng mạc để mỗi người Phật Tử luôn luôn vẫn là những con người có đạo lực cao trong việc hộ quốc an dân cho mọi thời đại.

9. Hiện Đại Hóa Danh Từ Phật Học:

         Phật là gương sáng trong việc thích ứng phương thức quãng diễn chánh pháp. Ngôn từ và cách thế thuyết pháp của Đức Phật đổi thay tùy theo hoàn cảnh và căn cơ người thọ nhận. Chúng ta đã bỏ chữ Hán sang chữ Nôm, rồi bỏ chữ Nôm sang mẫu tự La-Tinh. Ngoài ra, một điều đáng lo cho những người Việt lưu vong, và nhất là con em người Việt lưu vong, là chúng ta đang bỏ tiếng Việt để dùng tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Nga… Phật Giáo Việt Nam – ở hải ngoại cũng như trong nước – phải đối phó với hiện tượng đa ngôn ngữ  ấy như thế nào? Những kinh văn nặng nề Hán Việt như chú Vãng-sanh, Tiêu Tai Cát Tường Thần chú, chú Đại Bi và ngay cả kinh Nhật-Tụng cũng thiếu sự thống nhất. Có rất nhiều cuốn kinh tụng hằng ngày được lưu hành, mỗi chùa dùng một bản khác nhau, đã tạo rất nhiều trở ngại cho việc đọc tụng của tín đồ.

       Ngoài ra nhà Phật chủ trương như thế nào và Phật-Tử phải có thái độ như thế nào về quản lý kinh tế thị trường và tự do mậu dịch, về môi sinh, về nền văn hóa thụ hưởng chết bỏ, về những hậu quả của văn minh dot.com đối với tâm linh, về thực phẩm cải biến, về gene, về cloning, về phá thai, về trợ tử. Dĩ nhiên, người Phật-Tử tin tưởng mình thuộc vào một tôn giáo vượt lên trên khoa-học và đạo pháp vi diệu miên viễn sẵn có những câu trả lời thích đáng cho từng câu hỏi đó, bởi lẽ thời nào đi nữa thì thế giới cũng không thể vận hành ra ngoài vòng Sinh-Trụ-Dị-Diệt, cũng như con người không thể thoát khỏi con đường cong một chiều Sinh-Lão-Bệnh-Tử. Nhưng ngôn từ của trăm năm trước, của mười năm trước và bây giờ đã khác nhau. Cho nên, không trả lời – hay không nghĩ đến cách trả lời – cho những câu hỏi đó thì văn học Phật Giáo không khéo sẽ trở thành văn chương không phải của Nguyễn Du, Phạm Thiên Thư, Trịnh Công Sơn, mà là văn chương của Nhị Độ Mai, Cung Oán Ngâm Khúc, hay của Nguyễn đình Chiểu chỉ gần gũi với những chuyên viên Hán-Nôm mà không gần gũi với đại chúng.

 

10.  Trung Tâm Văn Hóa  Có Tầm cỡ

       Thư khố trung ương và viện bảo tàng Phật Giáo –  Dưới danh xưng nào thì ngày 30.4.1975 cũng là cơ may cho Phật Giáo thống nhất thật sự. Mọi ý thức phân rẽ cục bộ sẽ bị hồn thiêng sông núi và đạo lực của truyền thống Phật Giáo Việt Nam hóa giải.

        Nhiều ngàn năm qua Phật Giáo Việt-Nam đã xây dựng được những ngôi chùa nguy nga đồ sộ, nhưng kiểu đồ sộ xưa tuy có giá trị lịch sử và văn hóa cao nhưng lại thiếu tiện dụng cho các hoạt động hôm nay. Nếu có một cuộc đại hội Phật-Giáo toàn quốc hay đại hội Phật-Giáo thế giới với số lượng khoảng một ngàn người ngay cả chỉ có 500 người, chúng ta cũng thấy trở ngại về phòng họp, phòng ăn, phòng vệ sinh, về tổ chức, về kiểm soát, về điều hành. Do đó, thay vì thi đua làm các ngôi chùa nhỏ, mà nhiều nơi lại không cần thiết, Giáo-Hội nên nghiên cứu chương trình xây cất một cơ sở Phật-Giáo có tầm cở của Thế-kỷ 21 trên một khoảng đất rộng tối thiểu vài chục mẫu.

        Trong đó gồm một thư khố Phật-học, một viện bảo tàng Phật giáo, một phòng họp hiện đại, phòng ngồi thiền có thể chứa đựng vài ngàn người cùng một lúc, phòng ẩm thực, công viên, thiền cảnh… Chia ra khu tĩnh, khu động. Ngay cả trong công trình nầy cũng nên nghiên cứu xây cất một khách sạn hay lưu xá vài trăm phòng để làm nguồn lợi tức cho việc hoằng dương Phật Pháp thay vì nhất nhất mọi việc đều kêu gọi vào sự đóng góp của tín đồ. Mỗi Phật Tử hay mỗi gia đình Phật Giáo trong và ngoài nước có thể được mời vào ban sáng lập bằng sự cúng dường một khoản tiền nào đó cho việc xây cất cơ sở nầy. Phải chăng đây là thời gian đúng lúc, đúng thời để đại hội thảo luận thêm vấn đề này?   

 

       Kính thưa quý vị, thời vua A-Dục tại Aán-Độ, thời nhà Đường tại Trung-Hoa, thời Lý-Trần tại Việt-Nam, hộ trì chánh pháp là công việc của các vua quan và đại thần với sự đồng thuận của mọi giai tầng xã hội, nhờ thế mà dân giàu nước mạnh, xã hội thái bình. Những bài học lịch sử đó phải chăng cần được tất cả người dân Việt ý thức và chiêm nghiệm để phụng sự tổ quốc tốt đẹp hơn, và lúc sơn hà nguy biến thì có thể đuổi kẻ xâm lăng như đuổi vịt.

           

       Chúng ta đang ở trong những ngày cuối cùng của năm 2002. Chỉ còn mấy tuần nữa là đến năm 2003. Một số ý kiến thô thiển của chúng tôi hôm nay xin được trình lên chư Tôn-Túc, quí đại biểu, quí vị khách quí và chư Phật tư,û trong truyền thống “phục vụ Dân Tộc trong ánh sáng của Đạo Pháp và phục vụ Đạo Pháp trong hoàn cảnh cụ thể của Dân Tộc.

       Ai rồi cũng phải ra đi, không thể ở mãi trên thế gian nầy. Vậy thì xin gởi lại những gì đẹp cho nhân thế. Vâng chúng ta nên cố gắng.

 

       Xin cám ơn và trân trọng kính chào liệt quí vị.                                              

                  Cư sĩ Hồng Quang

                     29-11-2002

http://tongiaovadantoc.com/c1038/20110317164933225/10-van-de-cap-thiet-cua-phat-giao-dan-toc.htm

 

 

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Bảy 23, 2012 in Phật Giáo

 

Hiểu Biết Về Tâm Năng Dưỡng Sinh Và Đạo Phật – Lê văn Cường

Hiu Biết V Tâm Năng Dưỡng Sinh Và Đo Pht

Lê văn Cường

http://sachhiem.net/KHOAHOC/L/Levc_4.php

  24-Apr-2012

Nghiên cứu về phương pháp giải bệnh không phải dùng thuốc thuộc bộ môn tâm năng dưỡng sinh – phục hồi sức khỏe đòi hỏi phải nghiên cứu sâu không những về khoa học tự nhiên thuộc các lĩnh vực vật lý, y khoa, giải phẫu cơ thể con người… mà còn cần phải hiểu rộng thêm về khoa học xã hội, các lý thuyết triết học âm dương ngũ hành, tâm lý học, tâm linh học và tôn giáo cụ thể như Đạo Phật.

Càng nghiên cứu, tác giả bài viết này lại càng thấy nhận thức của con người nói chung còn hạn hẹp. Có những điều rất đơn giản, có ích lợi thiết thực trong cuộc sống nhưng vì chưa hiểu, chưa nhận thức ra nên đã làm phức tạp hóa thành ra khó hiểu. Thậm chí có thể vì lợi ích của bản thân hay của một nhóm người, người ta lại quy định ra những luật lệ, nguyên lý theo ý nghĩ chủ quan của mình. Ý nghĩ chủ quan đó nhầm tưởng là chân lý, nhưng thực ra không phải. Ví dụ như cộng đồng xã hội chẳng mấy ai hiểu gì về Đạo Phật, không hiểu gì về sự phát hiện vĩ đại của thái tử Tất Đạt Đa khi ngài phát hiện ra các quy luật tiến hóa trong thế giới tự nhiên nên đã quy định, xếp loại sự phát hiện đó là tôn giáo, không mang tính khoa học! Với tầm hiểu biết còn hạn chế, không nhận thức và chứng minh được sự tồn tại của thế giới tự nhiên siêu vi mô, nên đã khởi xướng “sáng tạo” ra đủ mọi học thuyết, đủ mọi chủ nghĩa… nào là chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa duy tâm… Tinh vi hơn, còn phân loại đặt ra cái gọi là chủ nghĩa duy vật biện chứng khoa học để rồi lấy đó làm nền tảng, làm “cơ sở khoa học”, ai không theo quỹ đạo đó thì không phải là khoa học, là thuộc dạng lạc hậu, “mê tín”, tôn giáo. Ngược lại, những người theo đạo có cảm nhận và có “niềm tin tôn giáo” về hiện thực có tồn tại các “thế giới siêu hình” lại không đủ trình độ làm bậc thầy của “đạo” khoa học để chứng minh nhận thức của “đạo” khoa học cần phải xem lại, định nghĩa lại để nhận thức của con người được gần với chân lý hơn, được tiến hóa cao hơn đúng với quy luật của thế giới tự nhiên hơn.

Không loại trừ có nhiều nhóm người vì sự tham vọng danh lợi của bản thân, có thể có chút hiểu biết về “tâm linh”, nắm bắt được sự nhận thức còn hạn hẹp, có niềm tin mơ hồ của nhiều người tin vào “tâm linh”, “tôn giáo” để kiếm tiền, xã hội thường gọi là loại đồng cốt, xem bói… Cao cấp hơn có nhóm người lại lợi dụng “tôn giáo” để làm cái gọi là chính trị mong cầu sự sùng bái danh lợi bản thân, mong được làm “lãnh tụ”, “giáo chủ”. Do đó xã hội loài người càng trở nên phức tạp, đồng thau lẫn lộn không biết thế nào là phải, là đúng để có hướng vươn lên. Viết đến đây, tác giả bỗng hiểu thế nào cũng có người cho “ý kiến”: Cái ông này theo chủ nghĩa đảng phái, tôn giáo nào? nói ra những suy tư của mình nhằm mục đích gì?

Xin trả lời ngay rằng tác giả không theo bất cứ một thứ chủ nghĩa hay đảng phái, tôn giáo nào. Chỉ là một con người bằng xương bằng thịt như những người bình thường khác, chỉ có mắc một bệnh không giống ai đó là bệnh lãnh cảm với danh lợi của bản thân nên thực sự cuộc sống có hoàn cảnh đúng nghĩa là con người thuộc loại vô sản. Vì có chút hiểu biết cả khoa học lẫn tôn giáo mà cộng đồng xã hội đã quy định phân loại như vậy nên viết ra để mọi người tham khảo, ai thấy có lợi cho bản thân mình thì thử ứng dụng, không thấy có lợi thì thôi chứ không phải vì thuộc loại vô sản nên tự quảng cáo “đánh bóng tên tuổi” để mong kiếm chút tài sản hoặc chút hư danh trên cõi đời này cũng như để quảng bá cho một đạo giáo nào.

Nguyên nhân tác giả hiểu biết về các loại “đạo” là do bà Phạm Thị Mai Cương, nguyên thứ trưởng Bộ tài chính, hiện đang là Giám đốc Trung tâm Tâm năng dưỡng sinh – phục hồi sức khỏe khuyến nghị nên tham gia vào Hội đồng khoa học của Trung tâm để nghiên cứu phương pháp giải bệnh không phải dùng tới thuốc có thực là khoa học hay không? Vì đây là một bộ môn mới phát triển, nhận thức của con người còn chưa rõ, có thể dễ có sự lập lờ danh giới giữa khoa học và niềm tin tôn giáo.

Thấy đây là việc có ích cần phải tham gia nghiên cứu để hiểu thực chất của phương pháp chữa bệnh không mất tiền nên đã nhận lời. Quả thật, càng nghiên cứu về bộ môn TNDS này lại càng thấy đó là bộ môn thật sự khoa học rất có ích lợi cho con người cũng như cộng đồng xã hội. Không những thế lại càng nhận thấy quan niệm nhận thức về Đạo Phật là tôn giáo tín ngưỡng từ xưa đến nay của cộng đồng xã hội cần phải định hướng lại cho đúng. Sự phát hiện và tư tưởng của thái tử Tất Đạt Đa, (xưa nay mọi người thường tôn kính gọi là Đức Phật Thích Ca), là biện chứng khoa học rất cần thiết và rất có lợi cho con người cũng như cộng đồng xã hội chứ không phải là thứ tôn giáo, tín ngưỡng ai “có duyên thì nghe, không có duyên thì không nghe”. “Có duyên thì nghe...” nhưng nghe mà không hiểu sẽ lại trở thành “mê tín” có hại cho xã hội.

Xuất phát từ phương pháp luyện tập TNDS, người luyện tập thu được kết quả có sức khỏe, giải được các bệnh tật mà không phải tốn tiền mua thuốc có những nét giống như sự “Thiền” của Đạo Phật. Có người đã đặt vấn đề vậy chăng phương pháp luyện tập TNDS mang hình thức tôn giáo?  Có thể nói chính xác và đúng đắn rằng ông Nguyễn Văn Chiều người đã khởi xướng ra môn luyện tập TNDS này do bị tai nạn điện giật “chết lâm sàng”, (nguồn điện cao thế 600KV) đã tình cờ khai thác được tiềm năng của bản thân và tiếp cận hiểu được quy luật của tự nhiên, giải bệnh không cần dùng thuốc mà thái tử Tất Đạt Đa đã phát hiện ra cách đây hơn 2500 năm. Và sự phát hiện ra quy luật ứng dụng khai thác tiềm năng đang có sẵn trong con người của thái tử Tất Đạt Đa, (từ nay nói ngắn gọn là Đức Phật), bằng việc “Thiền định” là sự phát hiện khoa học chứ không phải là  “mê tín”, tôn giáo. Đức Phật đã ứng dụng việc khai thác tiềm năng bằng sự “Thiền định” trong vòng 49 ngày dưới gốc cây bồ đề nơi rừng sâu yên tĩnh, nên trí tuệ của một con người bình thường như những người khác, trí tuệ ngài đã trở nên uyên bác, siêu phàm. Ngài đã khám phá ra nhiều quy luật của thế giới tự nhiên mà sau này các nhà khoa học lỗi lạc được cả thế giới ca tụng mới nhận thức khám phá ra.

–o0o–

Phát hiện khoa học đầu tiên của Đức Phật cần nói đó là tính tương đối của không gian và thời gian trong vũ trụ.

Năm 1905, ngài Einstein, nhà bác học được cả thế giới, nhất là giới khoa học vật lý tôn vinh là nhà khoa học vĩ đại của mọi thời đại vì đã phát hiện và chứng minh được không gian, thời gian mang tính tương đối chứ không phải là tuyệt đối không thay đổi như nhận thức của nhà bác học Newton trước đó. Thế nhưng có lẽ bị sự nhận thức Đạo Phật là tôn giáo nên mọi người trong cộng đồng xã hội không để ý tới nên không biết rằng điều đó Đức phật đã phát hiện ra trước tới hơn 2400 năm. Điều này được thể hiện ở kinh sách “Diệu pháp liên hoa”, ngài đã mô tả thời gian tại các cảnh giới (nói theo ngôn ngữ khoa học đó là các hệ quy chiếu khác nhau) trong vũ trụ là khác nhau. Ví dụ 1 ngày trên cõi cung trời đạo lợi tương đương với 1 thế kỷ đã trôi tại trần gian, tại trái đất nơi cộng đồng xã hội con người đang sinh sống. Không tin cứ ra các hiệu sách Phật giáo mua quyển “Diệu pháp liên hoa” đó về mà xem. Nếu là những người có lương tri khoa học và muốn có sự công bằng xã hội thì tại sao cộng đồng xã hội tôn vinh Einstein là nhà khoa học có trí tuệ lỗi lạc lại không tôn vinh Đức phật cũng là nhà khoa học có trí tuệ lỗi lạc?


Albert Einstein

Vấn đề thứ hai cần phải kể đến tính khoa học về nhận thức vũ trụ của Đức Phật. Theo Đức Phật thì vũ trụ là “vô thỉ vô chung”, nghĩa là không biết được điểm đầu xuất phát từ đâu cũng như điểm kết thúc của vũ trụ vào thời gian nào. Nói chính xác khoa học là vũ trụ rộng mênh mông, không có giới hạn và nhất là  không thể tính tuổi của vũ trụ. Khoa học vật lý vũ trụ hiện đại ngày nay trên thế giới lại “phát hiện” ra học thuyết vũ trụ được hình thành từ vụ nổ BigBang, và khoa học đã công bố tuổi của vũ trụ vào cỡ 13,7 tỷ năm, (từ khi vũ trụ co về một điểm kỳ dị không có kích thước và bùng nổ lan rộng ra, nhiệt độ nguội dần đã tạo ra mọi ngân hà, thiên hà, thế giới vật chất trong vũ trụ như trái đất hiện nay). Nhưng thời gian trôi tại các Hố đen rất chậm (xem bài “Vận Tốc Ánh Sáng Trong Không Gian Của Hố Đen“, cùng tác giả), và mới đây, các nhà khoa học Tây Ban Nha khẳng định, vũ trụ sẽ ngừng giãn nở vào một ngày nào đó trong tương lai và khi ấy thời gian cũng ngừng trôi. Nếu vậy thì đâu là điêm kết thúc? Dù sao đây cũng còn là lý thuyết cho đến khi nào có một lý thuyết khoa học khác chứng minh điều mới lạ.

Thuyết tương đối của Einstein về phương diện không gian và thời gian chỉ là tương đối trùng hợp với sự phát hiện của Đức Phật từ hơn 2500 trước đã được chính khoa học chứng minh là đúng. Qua đó mới thấy tầm hiểu biết và nhận thức của Đức Phật về vũ trụ rất khoa học đáng phải học tập. Ngài đã hiểu rõ sẽ có tình huống “ếch ngồi đáy giếng” nếu nói về tuổi của vũ trụ nên đã lịch sự nói vũ trụ là “vô thỉ vô chung”.

Điều phát hiện khoa học thứ ba của Đức Phật, rất hiện thực khách quan, nên hiểu biết nhất là đối với những người muốn luyện tập TNDS để có sức khỏe tốt cả thân lẫn tâm cũng nên nghe để có niềm tin khoa học trong việc tu dưỡng.

Trong kinh sách, Đức Phật nói ai cũng là phật, phật chưa thành, nhưng vì còn mắc nghiệp chướng, nghiệp chướng gây nên sự vô minh nên chưa hiểu, chưa nhận thức được ra. Nhưng con người qua tiến hóa, chăm chỉ tu dưỡng thân-tâm rồi cũng sẽ nhận thức, ngộ ra thành phật. Trong kinh sách, Ngài dành hẳn 1 chương nói về ông lão “thường bất khinh” để nói điều đó. Chương sách đó mô tả một ông lão như người “lẩn thẩn” gặp ai dù là người sang trọng quyền quý hay là kẻ ăn mày, ăn xin, “khố rách áo ôm”, ông lão “thường bất khinh” cũng tôn trọng, kính cẩn chào lạy: “Xin kính chào vị phật chưa thành”.

Với cái trí bình thường thì cho hiện tượng ông lão “thường bất khinh” đó là điên rồ, lẩn thần, vô lý… Tại sao lại “kính trọng tất cả các loại người” một cách “vớ vẩn” thế? Phải hiểu sâu xa rằng: ý Đức Phật muốn nói trong mỗi một con người, ai cũng như ai đều có trong Tâm một tiềm năng rất lớn, một kho tàng tri thức khổng lồ nhưng chưa ai biết cách để khai thác. Ai khai thác được cái tiềm năng đang sẵn có của mình thì sẽ có trí tuệ, tri thức như Đức Phật. Vì thế ai cũng là Phật nên cần phải tôn trọng.

Ngày nay, nền khoa học kỹ thuật thế giới đã phát triển tương đối cao và có bằng chứng để chứng minh sự phát hiện khoa học: Ai cũng là Phật, vì tạo hóa đã sinh ra ai cũng có những tiềm năng vô cùng to lớn trong cơ thể con người, nhưng chẳng ai biết mình có cái tiềm năng, kho tàng tri thức khổng lồ, to lớn đó nên vẫn là “Phật chưa thành” của Đức Phật.

Cập nhật thông tin khoa học thế giới, được biết các nhà khoa học nghiên cứu về bộ não con người đã phát hiện ra bộ não con người có khoảng 100 tỷ tế bào nơ-ron thần kinh, nhưng đáng tiếc là thông thường cả một đời người, số lượng tế bào nơ-ron thần kinh chỉ sử dụng liên kết hoạt động chưa đến 1% tổng số lượng tế bào thần kinh của não bộ. Nếu số lượng tế bào nơ-ron liên kết sử dụng lớn hơn 1% , giả dụ ai đó liên kết sử dụng vào khoảng 10% trong tổng số hay nhiều hơn nữa thì người đó sẽ trở thành thiên tài, có thể nói là phi thường, có trí tuệ khoa học phát triển vượt xa các nhà bác học hiện đang là thần tượng của cả thế giới như ông Newton hay Einstein. (Xem tham khảo đoạn trích thông tin theo  www.dacbietthuvi.net :

 

Não Người có số Nơ-ron nhiều hơn tổng số phân tử trong Vũ Trụ
… những nghiên cứu về não bộ của con người cho thấy: trong suốt cuộc đời chúng ta chỉ sử dụng chưa tới 1% tổng số liên kết thần kinh. Mỗi tế bào có thể liên kết với hơn 20.000 tế bào khác. Và bạn biết đó, với hơn 100 tỉ tế bào thì số liên kết được tạo ra thật “siêu khổng lồ” thậm chí nhiều hơn tổng số phân tử trong vũ trụ này. Hay nói cách khác, không có việc gì mà con người không thể làm được, với điều kiện là phải được kích thích đúng phương pháp. .
”)

(SH chú thích: mời xem video http://www.brainhealthhacks.com/2010/12/01/how-many-neurons-does-a-human-brain-have-and-more-importantly-how-many-connections/ giải thích bằng Anh ngữ)

Như vậy, chính khoa học hiện đại đang thừa nhận trong con người đang có một tiềm năng vô cùng to lớn nhưng chưa được khai thác, ai cũng có thể trở thành vĩ nhân, bác học, thiên tài, có sức thông tuệ như Phật, nói ngắn gọn là trở thành Phật hiểu biết mọi quy luật của thế giới tự nhiên hữu hình cũng như vô hình nếu khai thác được tiềm năng to lớn mình đang có, tức là số lượng tế bào nơ-ron thần kinh được liên kết sử dụng lớn hơn 1% tổng số đang có trong bộ não. Mặc nhiên câu chuyện ông lão “thường bất khinh” trong kinh Phật đã chứng minh Đức Phật đã phát hiện về điều mà khoa học hiện đại ngày nay mới khám phá về tiềm năng còn lãng phí trong bộ não con người.

Những điều phát hiện khoa học của Đức Phật nêu trên, khiến chúng ta phải suy nghĩ học tập và nhận thức Đức Phật là nhà bác học vĩ đại, đừng nên xếp ngài vào hàng “tôn giáo”. Những gì ngài nói và thể hiện bằng việc làm cụ thể chẳng hạn như việc “thiền định” đều có ý nghĩa và là khoa học phản ánh quy luật đúng đắn của thế giới tự nhiên. Chúng ta những con người cụ thể sẽ mãi mãi là “phật chưa thành” nếu như không hiểu và không biết cách ứng dụng những phát hiện khoa học về phương pháp khai thác tiềm năng con người của Đức Phật. Và sự “Thiền định” chính là phương pháp khai thác tiềm năng con người mà Đức Phật đã phát hiện ra.

Lý giải chứng minh việc thiền định là phương pháp khai thác tiềm năng con người, ứng dụng làm tăng số lượng tế bào nơ-ron thần kinh liên kết sử dụng lớn hơn 1% tổng số tế bào trong não, không cần phải dài dòng, bất cứ ai là phật tử hoặc nghiên cứu về đạo phật cũng đều biết lịch sử quá trình đi đến giác ngộ thành Đạo của Đức Phật. Trước khi giác ngộ thành Đạo, Đức Phật đã theo học đủ các môn phái, các loại đạo đang hiện hành tại thời của ngài, kể cả cái đạo khổ hạnh, hành hạ cái thân xác bản thân nhưng cũng chẳng thu được kết quả gì. Cuối cùng, ngài phải đi một mình vào rừng sâu, tìm nơi yên tĩnh chẳng ai quấy rối để dễ bề “thiền định”, tức ngồi “luyện thân bất động, tĩnh tâm vô thức”. Trong vòng 49 ngày cực kỳ gian khổ cuối cùng tiềm năng trong cơ thể con người của ngài được khai mở, ngài đã chứng ngộ thấy được toàn bộ các cảnh giới và các quy luật của thế giới tự nhiên.

Từ chỗ theo học đủ các môn phái, các loại Đạo đều không có kết quả, cuối cùng ứng dụng ngồi “luyện thân bất động, tĩnh tâm vô thức”, trong đạo Phật gọi là ngồi “thiền” lại có kết quả trí tuệ được mở mang, khai sáng thấy và hiểu được các quy luật của thế giới tự nhiên, của trời đất, vũ trụ thì rõ ràng phương pháp “thiền”, ngồi “luyện thân bất động, tĩnh tâm vô thức” là phương pháp khai thác tiềm năng đang tiềm ẩn trong con người.

Phương pháp “thiền” trong Đạo Phật và phương pháp ngồi “luyện thân bất động, tĩnh tâm vô thức” trong Tâm năng dưỡng sinh giống nhau về bản chất đó là phương pháp ứng dụng khai thác tiềm năng trong cơ thể con người. Nhưng phương pháp “thiền” trong Đạo Phật khác với phương pháp luyện tập “luyện thân bất động, tĩnh tâm vô thức” trong bộ môn TNDS ở chỗ:

Thứ nhất, sự “thiền” trong Đạo Phật có nhiều loại theo các môn phái khác nhau. Ví dụ sự thiền định theo môn phái Bắc tông khác với sự thiền định theo môn phái Nam tông hoặc môn phái mật tông hay phổ độ chúng sinh. Khi các môn đồ thực hành “thiền” phải quán tưởng niệm các câu kinh, câu mật chú theo các thày đã thành đạo thuộc các môn phái đó hướng dẫn để lại nên có lẽ không còn nguyên bản chính gốc của Đức Phật Thích Ca, người đã phát hiện ra sự “thiền”.

Ứng dụng “thiền” theo môn phái nào mới đúng? Khó quá, vì đó là cái đúng tương đối, môn phái nào cũng nhận thức môn phái của mình mới là đúng theo tinh thần của Đạo Phật và các trưởng môn cũng ứng dụng có hiệu quả nhất định trên thực tế. Có điều dễ thấy là môn phái nào sự ứng dụng có thể hợp với người này nhưng không hợp với người kia. Điều đó nói lên sự khác nhau về nội dung một đằng “thiền” quán tưởng niệm chú để kêu gọi mong cầu sự gia trì của các “đức phật đã thành” khai thông trí tuệ, một đằng “tĩnh tâm vô thức” quán tưởng đơn giản chỉ để thu năng lượng trực tiếp vào cơ thể mình mà không phải  qua khâu trung gian gia trì hộ niệm của các “đức phật đã thành”.

Thứ hai, mục đích của sự “thiền” trong Đạo Phật rất rộng, đỉnh cao nhất là tiến tới sự giác ngộ có trí tuệ phật để không bị nghiệp lực níu kéo không cho giải thoát khỏi quy luật luân hồi. Trong khi đó mục đích của phương pháp luyện tập TNDS chỉ giản đơn thiết thực giới hạn ở mức cân bằng năng lượng trong cơ thể của bản thân để giải bệnh phục hồi sức khỏe trong cuộc sống hiện tại.

Thứ ba, Vì mục đích của sự “thiền” trong đạo phật là tiến tới đỉnh cao để thấy được bản thể vũ trụ, “thấy được chính mình” và trở thành Phật, nên rất khó có thể có thành tựu đạt hiệu quả ngay trong một kiếp người hiện tại. Đức Phật cũng đã từng nói để đạt được thành tựu trở thành Phật có thể phải tu dưỡng trong nhiều kiếp. Nghĩa là để khai thác được toàn bộ tiềm năng to lớn trong con người, đòi hỏi phải rất kiên trì, công phu tu dưỡng, không dễ gì đạt được hiệu quả ngay trong một thời gian ngắn, một kiếp người. Cũng là khai thác tiềm năng trong cơ thể con người, nhưng luyện tập TNDS chỉ tập trung khai thác trong phạm vi nhỏ, mục đích không cao siêu mà chỉ phục vụ cho việc có sức khỏe, giải được các bệnh trên cơ thể nên dễ đạt được hiệu quả trong thời gian ngắn và có ý nghĩa thiết thực ngay trong cuộc sống của kiếp người hiện tại.

Thực tế cũng đã chỉ cho chúng ta thấy, sự khai thác được tiềm năng trong con người để có công năng trông thấy các cảnh giới khác, trông thấy “ma”, (người đã khuất) như những người gọi là nhà “ngoại cảm” là việc khá khó khăn. Chẳng thế mà hầu như các nhà “ngoại cảm” trước khi có công năng khác thường, tức khai thác được tiềm năng của bản thân, (tăng được mối liên kết của nhiều tế bào nơ-ron thần kinh còn chưa được sử dụng trong não bộ) cũng phải xẩy ra những biến cố, những cú sốc mạnh hệ thần kinh trong não như bị “điên khùng”, hoặc “chết lâm sàng”. Không trải qua các cú sốc, chỉ dựa vào sự “thiền” để khai thác tiềm năng trong con người để trông thấy các các trường năng lượng siêu hình trong không gian như các nhà “ngoại cảm” lại càng khó. Để khai thác tiềm năng tới mức đó đòi hỏi, người tu “thiền” phải dành nhiều thời gian để chỉ có chuyên tu “thiền”, tức là phải thoát tục, không sống cuộc sống của người bình thường, ngả hẳn theo đúng nghĩa là “thầy tăng” đi tu trong chùa theo đạo Phật, không theo đạo làm Người.

Cần hiểu một thực tế logic khoa học rằng: Tạo hóa đã sinh làm con người, không ai tránh khỏi phải ăn uống để có sức khỏe duy trì sự tồn tại, phải mặc quần áo để bảo vệ thân thể, phải có quan hệ gia đình, xã hội…vì ai cũng có cha mẹ, hoặc vợ hay chồng, con cái, bè bạn… Đó là cái “duyên” cái đạo làm người  nên khó có nhiều thời gian và điều kiện để thoát tục dứt bỏ mọi “duyên nợ” vào chùa thực hành chuyên tu “thiền” thành phật.

Cách tốt nhất là hiểu đúng và tin vào sự phát hiện khoa học: Sự “thiền” hay “tĩnh tâm vô thức” là phương pháp khai thác tiềm năng đang ẩn chứa trong cơ thể con người của Đức Phật. Không có điều kiện tu dưỡng khai thác tiềm năng của bản thân để trở thành phật, có trí tuệ phật ngay trong kiếp này, thì rất nên khai thác tiềm năng dần dần trong phạm vi điều kiện có thể, như luyện tập TNDS để có sức khỏe tốt cả thân lẫn tâm phục vụ cái đạo đang làm Người hiện tại. Đã có sức khỏe tốt cả thân lẫn tâm thì cuộc sống sẽ hạnh phúc, tâm hồn luôn luôn thanh thản, an vui. Người luyện tập TNDS theo đạo làm Người tưởng như không phải là phật tử theo Đạo Phật, nhưng suy cho cùng lại chính là “phật tử” hiểu và ứng dụng sự phát kiến và lời dạy của Đức Phật có hiệu quả và khoa học nhất.

Tại sao thực hành “thiền”, hay “tĩnh tâm vô thức”, sức khỏe của con người mau chóng phục hồi và có thể giải được bệnh tật? Quan sát cuộc sống xung quanh, chúng ta thấy có những quy luật rất giản đơn nhưng chẳng ai để ý đến để tìm hiểu xem tại sao nó thế. Ví dụ như tại sao trong vòng một ngày đêm, chu trình sống của con người phải chia làm hai giai đoạn thức và ngủ? Nếu cuộc sống của con người chỉ có thức, không có ngủ hoặc ngược lại, liệu có được không? Hiển nhiên khoa học y sinh học trả lời rằng: không thể được! Nếu chỉ có thức không có ngủ mỗi ngày vài tiếng đồng hồ thì sau một thời gian nhất định con người sẽ bị suy nhược hệ thần kinh dẫn đến ốm đau, bệnh tật, cơ thể héo mòn. Vậy sự ngủ có tác dụng gì? Ngủ thì bộ não con người tạm dừng mọi suy nghĩ, ý thức nhận biết để “bộ máy” cơ thể tự hồi phục, cân bằng lại những năng lượng đã bị tiêu hao trong lúc ý thức hoạt động. Để ý thêm sẽ thấy những người bị mệt mỏi, hay ốm đau bệnh tật thường hay ngủ li bì, nếu bệnh nặng thì hay mê man bất tỉnh, thời gian ngủ sẽ kéo dài nhiều hơn thức.

Có thể kết luận là sự ngủ, tức ý thức không khởi lên bất cứ một ý nghĩ nào trong não bộ thì bộ phận tự điều chỉnh cơ thể cân bằng lại những năng lượng đã bị tiêu hao mới hoạt động. Đó là quy luật khách quan phản ánh thực tế sự sống của con người. Một nhận xét khách quan nữa là tục ngữ có câu: “…giận đến bầm gan, tím ruột”, nghĩa là sự “sân hận” quá mức, tức sự hoạt động của tư duy, ý thức quá mạnh (cái tâm không yên ổn, bị loạn động) sẽ ảnh hưởng tới nội tạng. Thực tế cũng thấy ai có tâm trạng hồi hộp, bồn chồn lo lắng thì nhịp tim sẽ tăng nhanh. Không chỉ sân hận hay hồi hộp mà mừng vui quá mức cũng gây sốc, ảnh hưởng tới các bộ phận của cơ thể. Có trường hợp, có người nhận được tin vui, tâm trạng mừng vui quá mức đến nỗi đứt cả dây thần kinh liên quan tới mắt thành ra mù lòa. Chẳng thế mà trong đạo phật, Đức Phật đã khuyên nên tránh mọi sự “tham, sân, si, hỷ, ái…” thái quá. Điều đó phản ánh cái tâm hồn con người phải thư thái, thanh thản thì bộ máy cơ thể con người mới bình yên không bị ảnh hưởng gây ra sự trục trặc.

Sự “thiền” hay “tĩnh tâm vô thức” là sự dừng mọi ý nghĩ trong đầu, giống như trạng thái con người lúc ngủ cũng dừng mọi ý nghĩ để tâm hồn được tĩnh lặng, vì thế hệ thống tự điều chỉnh cơ thể trong con người mới được khởi động hoạt động. Sự “thiền” hay “tĩnh tâm vô thức” khác với trạng thái ngủ ở chỗ khi ngủ thì hệ thống tự điều chỉnh cơ thể ở thể bị động và hoạt động mạnh yếu tùy theo cơ địa của mỗi con người, còn sự “thiền”, hay “tĩnh tâm vô thức” ở thể chủ động kích hoạt hệ thống tự điều chỉnh cơ thể hoạt động không phải đợi đến lúc ở trạng thái ngủ mới có thể hoạt động.

Ai đã từng trải qua thời học sinh, sinh viên có thể sẽ biết tại những kỳ thi chuyển cấp, quan trọng dễ gây ra tâm lý căng thẳng, hồi hộp lo lắng đối với học sinh. Nếu học sinh nào lúc bước vào phòng thi trong tâm trạng lo lắng, hồi hộp (tâm lý mất bình tĩnh) thì sẽ rối trí chẳng thể nhớ được kiến thức đã học để làm bài thi. Nhưng khi thi xong, tâm lý bình tĩnh trở lại, lại nhớ rất rõ những kiến thức đã học mà khi tại phòng thi mất bình tĩnh không thể nhớ được. Do vậy sự làm chủ tinh thần của bản thân muốn bình tĩnh là bình tĩnh được ngay rất cần thiết trong cuộc sống. Việc luyện tập TNDS, trong đó sự “luyện thân bất động, tĩnh tâm vô thức” chính là phương pháp luyện tập làm chủ được tinh thần của bản thân để lúc nào cũng tỉnh táo, thanh thản, bình tĩnh giữ thăng bằng cho tâm hồn không bị những nghịch cảnh bên ngoài tác động khiến cho sóng não tăng mạnh, đột biến bất ngờ ảnh hưởng tới hệ thần kinh liên quan tới các bộ phận trong cơ thể cũng như không có được trạng thái tinh thần sáng suốt để giải quyết các công việc.

Luyện tập để làm chủ tinh thần của bản thân là một việc tưởng như dễ, nhưng thực tế lại rất khó. Cứ thử ngồi “luyện thân bất động, tĩnh tâm vô thức” sẽ thấy chỉ sau một thời gian rất ngắn, chừng 5 đến 7 phút sẽ có bao nhiêu ý nghĩ ập đến mà ý nghĩ nào cũng “quan trọng” cần phải nghĩ khiến người luyện tập thấy sốt ruột. Không có nghị lực, tính kiên trì và sự hiểu rõ tác dụng rất tốt của việc luyện “tĩnh tâm vô thức” người luyện tập sẽ thấy nghi ngờ và bỏ cuộc. Do khó như vậy, mới phải rèn luyện, luyện “thiền” thường xuyên, kiên trì mỗi ngày. Hôm nay chỉ “tĩnh tâm vô thức” được có 5 phút, ngày mai cố gắng nâng lên 7 phút…cứ như vậy sau một thời gian mới có hiệu quả đúng nghĩa của sự “tĩnh tâm vô thức” liên tục trong vòng 60 phút của buổi tập. Lúc đó mới thực sự làm chủ được tinh thần của bản thân mình.

Làm chủ được tinh thần của bản thân rất có lợi, ví dụ nếu bị bệnh mất ngủ, đêm cứ thao thức nghĩ vẩn vơ không sao chợp mắt được, muốn ngủ chỉ cần “tĩnh tâm vô thức” khoảng 5 ÷ 10 phút rồi quán tưởng: Giấc ngủ đã đến để cơ thể khỏe mạnh, thì giấc ngủ đến ngay.   

Đức Phật thực tế đã trải nghiệm việc “thiền” hay “tĩnh tâm vô thức” nên hiểu rất rõ sự khó khăn khi thực hành. Ngài coi đó là cái nghiệp của từng con người, có người luyện tập dễ “thiền định” đúng nghĩa với trạng thái “trong lìa niệm, ngoài lìa cảnh” nhưng có người mặc dù ngồi “thiền” cả buổi, nhưng thực chất việc “tĩnh tâm vô thức”, “trong lìa niệm, ngoài lìa cảnh” đúng nghĩa chưa chắc đã được 10 phút liên tục. Ngài hiểu cái tính tham lam, ích kỷ hay sự sân, si, ái thường dễ  tạo ra các luồng ý nghĩ trong đầu con người, hình tượng hóa đó là những “con ma”, “cái quỷ” nó đến quấy rối, phá không cho người “thiền” được khai thác tiềm năng của bản thân, đi đúng đường chính đạo để được gặp “phật” tại tâm của chính mình.

Thế nào là chính đạo? Chính đạo đó là con đường, là quy luật đúng đắn của tự nhiên dẫn con người gặp được “phật” tại tâm của chính mình. Gặp được phật tại tâm của chính mình, nghĩa là đã khai thác được tiềm năng, kho tàng trí tuệ to lớn đang ẩn chứa có sẵn trong tâm con người thì đương nhiên trí tuệ của con người sẽ là trí tuệ “phật”. Nói cách khác con người đã trở thành phật. Đó là lý do vì sao Đức phật khuyên con người theo đạo phật phải sống lương thiện, không làm điều độc ác hại người và tránh mọi sự “tham, sân, si…” Lý do đó rất logic khoa học, nếu trong bộ não của con người còn có ý nghĩ tham lam, ích kỷ hay si ái quá thì không thể luyện “thiền” để bộ não được tĩnh lặng không khởi lên bất cứ một ý nghĩ nào, không thể “trong lìa niệm, ngoài lìa cảnh” được. Muốn có sự “thiền”, tâm hồn yên tĩnh đúng với trạng thái “trong lìa niệm, ngoài lìa cảnh” để khai thác tiềm năng, kho tàng tri thức khổng lồ đang có sẵn trong tâm của mình thì điều kiện đầu tiên bắt buộc phải có đó là phải sống lương thiện, không được có trong đầu những ý nghĩ tham lam ích kỷ, mưu mô hại người…  Tiếp thu được điều đó từ Phật trong tâm, nên ông Chiều nhà “ngoại cảm” do đã bị chết lâm sàng, người sáng lập ra phương pháp luyện tập TNDS cũng đã khuyến cáo người luyện tập TNDS phải sống thiện, thực hiện 6 điều nên làm và 6 điều không được làm để việc luyện tập TNDS cho con người có được sức khỏe, giải trừ tối đa bệnh tật trong người  mới có hiệu quả.

Tóm lại, luyện tập TNDS cũng như sự “thiền” trong Đạo phật là phương pháp khai thác tiềm năng trong cơ thể con người đúng quy luật khách quan của thế giới tự nhiên. Không có một vĩ nhân nào có thể ép buộc, uốn nắn được quy luật đó cũng như có thể “thiền” hay “tĩnh tâm vô thức” hộ cho mỗi cá nhân con người được. Tự mỗi một cá nhân con người phải tu dưỡng, phấn đấu nếu muốn khai thác tiềm năng của chính mình để có sức khỏe tốt, cuộc sống hạnh phúc cả thân lẫn tâm hay cao hơn là trở thành “Phật đã thành”. Sự “thiền” trong đạo phật là sự khai thác tiềm năng của con người ở mức cao, mong cầu đến mức “giác ngộ”, hiểu và thấy được các các “cảnh giới”, mọi quy luật của thế giới tự nhiên hữu hình cũng như vô hình thuộc về Đạo Phật. Còn luyện tập TNDS là khai thác tiềm năng của chính mình phục vụ cho con người có sức khỏe tốt, sống an vui cùng cộng đồng xã hội nên thuộc về đạo làm Người.

Luyện “thiền” hay luyện tập TNDS là phương pháp khoa học có lợi ích không những đối với riêng cá nhân mỗi con người mà còn đối với cộng đồng xã hội con người. Bởi lẽ giản đơn rằng người luyện “thiền” hay luyện tập TNDS phải là người đã xác định suộc sống lương thiện, có đạo đức tình thương yêu con  người thì mới có hiệu quả khai thác được tiềm năng trong cơ thể con người của mình, mới thu được năng lượng để có sức khỏe tốt cả thân lẫn tâm. Trong cộng đồng xã hội hầu hết mọi người tham gia luyện tập TNDS, tức là hầu hết con người sống trong cộng đồng xã hội đó đều có tâm, có đức, hướng thiện, biết thương yêu giúp đỡ lẫn nhau. Hầu hết con người trong cộng đồng xã hội đều có tâm, đức tốt đẹp như thế thì làm sao có chỗ đứng của sự tham lam, nhũng nhiễu, ác độc, ích kỷ sống với phương châm lẽ sống “mọi người vì mình”? Đương nhiên lẽ sống “mình vì mọi người” sẽ là lẽ sống chung của xã hội nếu xã hội đó có đa số, đông đảo người tham gia vào luyện “thiền”, tham gia vào phong trào luyện tập TNDS-PHSK.

Hà nội, ngày 18/4/2012

Lê văn Cường

http://sachhiem.net/index.php?content=showrecipe&id=5347

 

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Bảy 23, 2012 in Phật Giáo

 

Duy Tuệ: Mượn đạo lập đời!

21:12 29/03/2012

Duy Tuệ: Mượn đạo lập đời!

Như nội dung bài viết “Cái kim bọc trong giỏ lâu ngày cũng lòi ra”, thì con đường ông Duy Tuệ đang theo là “lập hội, lập giáo phái, lập pháp môn”. Thực vậy, Đại Gia đình Minh Triết là một kiểu giáo hội trá hình, một tổ chức tập họp tín đồ tôn giáo mới. Ông Duy Tuệ đã đi được một phần trên con đường mượn đạo lập đời.

Vấn đề Duy Tuệ đã trở nên quá rõ ràng, sau một loạt bài viết của nhiều tác giả, đặc biệt là bài viết có tính chất tổng kết và đề xuất của tác giả Thái Nam Thắng đăng trên báo Giác Ngộ ấn bản giấy số 632, nhan đề “Cái kim bọc trong giỏ lâu ngày cũng lòi ra”.

 

Tuy nhiên, sách của Duy Tuệ có nội dung phỉ báng Phật giáo, lăng mạ Tam Bảo vẫn được trưng bày hàng hàng lớp lớp trên các kệ sách ở các nhà sách lớn TPHCM. Nghe đâu, công ty Minh Triết còn dự tính mở một đợt quảng bá cho loại sách vừa “thiền”, vừa động loạn đạp đổ truyền thống này tại Hội sách, sự kiện quảng bá văn hóa quan trọng ở TPHCM, dịp để các công ty văn hóa giáo dục, các nhà xuất bản tiếp cận với bạn đọc.

 

Trong bối cảnh đó, chúng tôi thấy rằng người Phật tử vẫn cần thiết tiếp tục đánh động, thu hút quan tâm của dư luận đối với hiện tượng “ma ma Phật Phật, Phật Phật ma ma” này, cho đến khi, những quyển sách có nội dung công kích Phật giáo một cách manh động, cuồng điên được rút ra khỏi kệ của các nhà sách, chấm dứt cuộc đánh lừa và đầu độc bạn đọc Phật tử, những người yêu đạo Phật Việt Nam và tất cả bạn đọc.

 

Qua các bài viết ý kiến trên các phương tiện truyền thông Phật giáo khác nhau, chúng ta cũng thấy còn có nhiều nhận định đánh giá khác nhau về Duy Tuệ qua những tác phẩm của ông. Đầu mút của một phía vẫn coi Duy Tuệ là người có tu, có ngộ, nhưng tu sai, nên lạc lối, tương tự Osho, Thanh Hải.

 

Đầu mút phía ngược lại coi Duy Tuệ không khác gì một kẻ lưu manh, một tác giả mang tính côn đồ, vung tán tàn chửi Phật, phá đạo. Còn ở giữa là một số nhận định khác, thí dụ, coi đó là một kiểu cải đạo tinh vi từ một tôn giáo độc thần nào đó…

 

Trên tinh thần là người Phật tử, chúng tôi tán thành với việc trước hết, khi chưa đi đến một kết luận thống nhất, thì hãy nghĩ tốt cho người. Vì vậy, nhận định tác giả Duy Tuệ là một người tu sai cũng là điều đáng quan tâm.

 

Nhưng là Phật tử, theo cách tư duy của Phật giáo, chúng ta cần nhìn vấn đề một cách “thắng tri”, “tuệ tri”, mà trước hết là cần quán sát toàn diện sự việc, thấy được tất cả các khả năng từ tất cả những nguyên nhân có thể.

 

Vì vậy, dưới đây, chúng tôi xin tiếp tục tìm hiểu Duy Tuệ theo nhận định đây là một người mượn đạo lập đời, thu hút, tập họp, lôi kéo quần chúng bằng cách “đốt đền”, tạo phản, động loạn, “nã pháo” vào truyền thống, kiểu Hồng Vệ binh (1).

 

Nếu Duy Tuệ chỉ là một kẻ lưu manh tín ngưỡng, một kiểu chửi thần báng thánh để lập bàn thờ cho mình, hỗn xược, xuẩn động, liều lĩnh, kích thích thần kinh, thì suy cho cùng cũng chưa là nguy hiểm. Vì một tác giả như vậy sẽ sớm bị công chúng nhận mặt, xa lánh, khinh miệt, vì bản chất của nó.

 

Nhưng nếu tác giả Duy Tuệ là người đóng một màn kịch theo đạo Phật, bằng hình tướng tăng sĩ Phật giáo, bằng đoạn đường đầu tạm nói chuyện tu hành, rồi sau đó, tự “khai mở”, “tỉnh ngộ”, tạo phản, động loạn để thu hút quần chúng cực đoan về với tổ chức của mình. Để sau đó, làm cái kiểu xưng là hậu duệ của nhà Đường (“Tân Đường triều”) như giáo chủ của Pháp luân công, mơ tưởng tới ngôi hoàng đế mới, hay trở thành nhà lãnh đạo tâm linh thế giới can thiệp vào chính sự từ Trung Đông đến Nam Mỹ, kéo cờ logo Supreme Master Ching Hai như một kiểu quốc kỳ của một vương quốc được “cõi trên” gầy dựng, thì điều này mới thực đáng ngại.

 

Như nội dung bài viết “Cái kim bọc trong giỏ lâu ngày cũng lòi ra”, thì con đường ông Duy Tuệ đang theo là “lập hội, lập giáo phái, lập pháp môn”. Thực vậy, Đại Gia đình Minh Triết là một kiểu giáo hội trá hình, một tổ chức tập họp tín đồ tôn giáo mới. Ông Duy Tuệ đã đi được một phần trên con đường mượn đạo lập đời.

 

Ông cần phải mặc áo Phật giáo để đến gần Tăng Ni Phật tử, áo vàng, áo nâu, rồi áo đỏ theo kiểu thầy Tàu. Đây không chỉ là một kiểu “lập lờ đánh lận”, mà còn là một bước cần thiết cho việc tạo phản, một cách tập họp quần chúng theo kiểu Đại Cách mạng Văn hóa, kích thích thần kinh đặc biệt giới trẻ. Vì có là một “đạo sư” Phật giáo, một nhà tu Phật, một học giả tu Phật, thì sao đó mới diễn tiến mà phản tỉnh tạo phản, động loạn được. Người chính từ trong đạo Phật ra mà đả kích đạo Phật thì mới tác dụng.

 

Để sớm chói sáng, sớm trở thành sao, thì cần scandal. Đó là lẽ bình thường. Vì vậy, người làm theo cách này cần một đối tượng để tạo phản, để đả kích một cách cuồng nộ, kích thích. Đối tượng đó là Đức Phật, là Tam Bảo, là Phật giáo. Thế là “scandal”, có đại nhảy vọt, có động loạn thu hút một số người hiếu kỳ bu lại: Lạ quá! Mới quá! Độc đáo quá! Xì tin quá! (tức có phong cách riêng). Nói như một bạn đọc, nó cùng làm như ca sĩ khoe hàng, tự tử vì tình, hay tung những lời phát biểu giựt gân.

 

Chói sáng, thu hút, leo lên ngôi giáo chủ, có giáo hội rồi, thì sau đó sẽ là gì? Lý Hồng Chí (Pháp Luân công) hay Thanh Hải. Ông Duy Tuệ đang tính đến một kênh TV riêng, nhưng hiện giờ chỉ mới đủ khả năng phát qua mạng. Nếu dưới trướng có được một số tín đồ đông đảo trong và ngoài nước, quyên góp được một ngân quỹ dồi dào, thì khắc sẽ có Tân Đường triều điện thị (Đài Truyền hình của giáo phái Pháp Luân công) hay Supreme Master TV mới. Một người lập ngôn theo cách “thuyết pháp” “nã pháo” (từ Hồng Vệ binh trong Đại Cách mạng Văn hóa thường dùng), chắc chắn không thể tĩnh lặng để thiền. Thiền Minh Triết chẳng qua là một thứ “Sì cọt” mà những thanh niên bốc đồng nốc vào phê quên mình đi, mà bước vào cuộc đua xe kích thích bán mạng.

 

Vì vậy, bên cạnh việc hình dung Duy Tuệ như là một ông đạo tu sai đường, chúng ta cũng không thể bỏ qua việc hình dung như là một người có mưu tính đường dài, mà tu hành chỉ là màn mở đầu cho thắt nút tạo phản của màn kịch dựng lên từ giấc mơ siêu quyền lực, của một người bước lên vũ đài bằng lãnh vực tâm linh.

 

Nghe các bài nói của Duy Tuệ trên trang web của ông ta mà chúng tôi đã nhắc đến trong bài viết trước, chúng ta sẽ thấy cái phong cách Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên (những người lãnh đạo Đại Cách mạng Văn hóa Trung Quốc) rất rõ. Nói gì, thì rồi ông Duy Tuệ cũng quay về công kích Đạo Phật, Đức Phật, Tam Bảo. Vì cũng như Trương Xuân Kiều hay Diêu Văn Nguyên, Duy Tuệ cần phải có đối tượng để “phê đấu”, để “nã pháo”, để “đạp đổ”, để “đập tan” có như thế ngôi mới được lập, mới tập họp về được người mang não trạng “tạo phản”, nắm lấy họ, để ném vào những bước phiêu lưu “lập đời” tiếp theo.

MT
Nguồn link: http://www.phattuvietnam.net/diendan/67/18367.html

 

 

(1) Từ “nã pháo” là từ thường được dùng trong Đại Cách mạng Văn hóa ở Trung Quốc, là đả kích cực điểm, mãnh liệt vào một đối tượng nào đó, trong mọi hoàn cảnh có thể, và thường là để mở đầu cho những hành vi bạo động tiếp theo. Cái cách đả kích của Duy Tuệ vào Phật giáo cùng một dạng như “nã pháo” của Hồng Vệ binh, chỉ có khác là ông ta chưa kích động được việc đập tương Phật, mà ông ta gọi là những cục xi măng dùng để tu tiền, như trong một bài nói.

 

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Bảy 23, 2012 in Phật Giáo

 

Phương pháp Hoằng hóa trong thời đại mới (Hồng Quang)

16:13 31/07

Phương pháp Hoằng hóa trong thời đại mới (Hồng Quang)

 (TG&DT) – Lúc con người có được niềm vui, có được sự an lạc, có được nụ cười; chính đó là Thiền, là Tịnh là Mật. Trong trạng thái nầy, não bộ sẽ tái tạo, bạch huyết cầu gia tăng, hệ thống miễn nhiễm mạnh hơn, nên có khả năng chống lại vi khuẩn và vi trùng giúp bệnh nhân hồi phục sức khỏe, cũng như làn da sẽ đẹp hơn, thông minh hơn, sống lâu hơn.

                     PHƯƠNG PHÁP HOẰNG HÓA TRONG THỜI ĐẠI MỚI
                 (Tham luận đọc tại buổi hội thảo ngày 29/07/2011 tại chùa Từ Đàm Huế)

Kính bạch chư Tôn Đức Tăng Ni
Kinh thưa quý vị khách quý
Quý Đại biểu và Phật Tử

Để giữ gìn và phát triển văn hóa dân tộc, để góp phần vào việc hộ quốc an dân mà trong quá trình lịch sử hơn 2000 năm qua Phật Giáo Việt Nam đã thể hiện, chúng tôi thiết nghĩ cần phải đem đạo vào đời càng nhanh càng tốt; nếu để đồng trống lâu ngày thì cỏ dại sẽ mọc. Chúng ta hầu như có tất cả, chỉ thiếu phương pháp và tập huấn nhân sự mà thôi.

Quần chúng thời nào cũng vậy, nhất là hiện nay, cần phải đối diện với sự thiếu ăn thiếu mặc và bệnh tật. Do vậy, chương trình hoằng pháp nên mang tính thiết thực hơn mới thu phục được nhân tâm.

 Phật giáo không có khả năng dồi dào để giúp gạo, giúp tiền và y dược để thể hiện chương trình ban vui cứu khổ, độ sinh mà Đức Như Lai đã từng tuyên thuyết. Giả thiết Giáo hội có thể cung ứng cho dân chúng được phần nào các nhu yếu vừa nêu trên, nhưng đó cũng mới biếu con cá chứ chưa phải giúp cái cần câu.

Sức khỏe là vàng. Không có sức khỏe, con người không thể làm bất cứ một điều gì, kể cả việc có nhiều vàng hoặc kim cương cũng không thể sử dụng được. Không có sức khỏe, tiền rừng bạc bể rồi cũng sẽ dần dà ra đi không hẹn ngày về.

Để hoằng pháp nhanh và hiệu quả tốt chúng tôi nghĩ Thiền-Tịnh-Mật là phương tiện hữu hiệu nhất vì cả ba pháp môn nầy “Có thể làm cho con người đẹp, thông minh, mạnh khỏe hơn, chống bệnh tật và lão hóa”.

Dưới đây là một số dẫn chứng cho thấy công dụng của Thiền như vừa nói:

50 năm qua y giới và khoa học gia của các nước tân tiến đã áp dùng Thiền của Phật Giáo để cải tiến sắc đẹp, làm gia tăng chất xám, hồi phục sức khỏe, ngừa bệnh và chống lão hóa (xin xem “Thiền, Sức khỏe và những lợi ích thiết thực, Hồng Quang).

Thật vậy, bà Sugandha Indulkar, một thiền gia lão luyện nhận định:

 “Thiền mang đến một sức mạnh tiềm ẩn vô biên. Ngoại hình, làm tăng sắc đẹp, nội tạng thì khỏe mạnh hơn. Thân thể trẻ trung và tinh thần an lạc có thể đạt được bằng cách hành thiền mỗi ngày” (*) (mỗi lần từ 10 đến 20 phút, ngày hai lần).

Đó cũng là một trong những lý do mà các hoa hậu thế giới ngồi thiền để duy trì sắc đẹp.

Nhiều thí nghiệm cũng cho thấy, thiền làm cho chất xám gia tăng. Khoa học gia đã dùng máy chụp hình cọng hưởng từ (MRI) để ghi lại sự khám phá của mình.

           
Bác sĩ Herbert Benson sau nhiều năm nghiên cứu, ông cho thấy có trên 60% bệnh tật do tình trạng căng thẳng (stress), và Thiền có khả năng làm giảm căng thẳng nên chữa được bệnh.

Một khám phá khác của Giáo sư Sonja Lyubomirsky cho thấy, con người có thể hoàn thiện do tính di truyền của cha mẹ đến 50%, tự tạo 40%, và hoàn cảnh chỉ chi phối có 10%.

 

Do đó, nếu cuộc sống của một cặp vợ chồng an lạc vui vẻ, có ăn chay, niệm Phật, quán (nhìn chăm chú) hình tượng Bồ Tát Quán Thế Âm, ngồi thiền (ngày 2 lần, mỗi lần tối thiểu 10 phút) thì đứa con sinh ra có thể sẽ đẹp và thông minh; vì do tính di truyền từ cha mẹ.

Lúc biết được tính di truyền như vậy, các bạn trẻ hôm nay có thể cung ứng cho dân tộc một thế hệ kế thừa đẹp và thông thái hơn. Nói rõ, Thiền có thể làm cho con người của thế hệ nầy đẹp, thông minh, khỏe mạnh hơn. Và tính di truyền 50% và luyện tập thêm 40% nữa sẽ làm cho thế hệ kế tiếp được tăng gia tốt đẹp hơn nữa; có thể đến cả 90% theo mô hình trên. Có tôn giáo nào mang tính khoa học và hữu dụng đến như thế chăng? E rằng chỉ có Phật Giáo.
Thiền sẽ giúp cho nhiễm sắc thể (chromosomes) trong tế bào dài hơn và vì thế mà tuổi thọ con người được gia tăng.

Đức Phật đã để lại một hành trang vô giá. Chúng ta làm thế nào để sử dụng chúng trong việc hoằng hóa độ sinh trong thời đại mới, không những chỉ có vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa mà toàn diện từ thành thị đến thôn quê?

Một Tăng Ni được đào luyện từ năm đến mười năm chưa chắc đã đi thuyết pháp được, vì ngoài kiến thức Phật học, cần phải có tài biện thuyết, nghệ thuật diễn giảng và đề tài phải đáp ứng nhu cầu của thính chúng.

Nếu một vị giảng sư cứ đem Bát chánh đạo, Nhân quả luân hồi, Tứ diệu đế, Thập nhị nhân duyên và Giải thoát Giác ngộ ra thuyết giảng theo lối “cổ điển”, quần chúng có thể chưa muốn nghe vì họ đang băn khoăn về thiếu ăn thiếu mặc và làm thế nào để đối trị bệnh tật.

Nhưng nếu cũng các đề tài đó mà trình bày dưới cái khung của Thiền Sức Khỏe thì tuyệt hảo; không cần phải có nhiều tài biện thuyết và nghệ thuật diễn giảng cũng có thể làm cho thính chúng rất hoan hỷ.

Thật vậy, cá nhân tôi, nói năng vụng về, lại thêm dọng Quảng trị chay, khó nghe và khó hiểu, khuôn mặt ít lúc có được một nụ cười duyên dáng. Thật là tệ, biết vậy mà không thay đổi được. Nhưng qua trên 30 lần thuyết trình Thiền Sức Khỏe từ Bắc chí Nam, thính chúng rất hoan hỷ. Có người được nghe, muốn nghe thêm và thực tập. Người chưa nghe thì khao khát. Sở dĩ có được sự mến mộ ấy vì đề tài mà tôi trình bày là thiết dụng, bổ ích cho cuộc đời. Nói rõ hơn, tôi đã sử dụng những khám phá mới của khoa học về lợi ích của Thiền vào việc diễn giảng, nên hấp dẫn được quần chúng.

Nhìn vào hình của “Chiếc bánh hạnh phúc” nêu trên, chẳng hạn, lúc dự một đám cưới, chúng ta có thể chúc hoặc khuyên cô dâu chú rễ nên tạo cho mình có những đứa con khôi ngô tuấn tú.

Cũng với hình chiếc bánh hạnh phúc ấy, chúng ta khuyên tuổi trẻ xây dựng cuộc đời và hạnh phúc gia đình như thế nào, và góp phần xây dựng tổ quốc ra sao, vì hạnh phúc của mỗi cá nhân do di truyền 50%, tự tạo 40%. Mà thiền lại có khả năng làm cho con người đẹp, thông minh và mạnh khỏe hơn. Do đó, nếu bậc cha mẹ biết thực hành Thiền Tịnh Mật thì đứa con sinh ra có thể được như ý muốn. Một xã hội, một tầng lớp dân chúng sử dụng Thiền-Tịnh-Mật thì lớp kế thừa của dân tộc sẽ tốt đẹp hơn, thông minh và manh khỏe hơn.

Muốn biết cách áp dụng Thiền-Tịnh-Mật vào việc hoằng pháp thì chỉ cần tham dự một khóa tập huấn khoảng 3 tiếng đồng hồ là có thể thực hiện được.
Để Giáo hội tỉnh nhà (và các tỉnh khác) có một đội ngũ giảng sư hùng hậu hoằng pháp hữu hiệu thích ứng với thời đại hội nhập, chúng tôi mạo muội đề nghị Giáo Hội Phật Giáo tỉnh Thừa Thiên và thanh phố Huế, nơi đã từng được tiếng là cái nôi của Phật Giáo, tiên phong thí nghiệm một chương trình giản dị. Xin được đề nghị như sau:

1.     Ban Tổ chức:

 Ban Tri sự tỉnh TTH cùng với Ban Tri sự tỉnh Giáo Hội Quảng Nam Đà Nẵng và Quảng Trị, nếu được, tổ chức một khóa huấn luyện nhân sự hoằng pháp theo phương pháp mới bằng cách sử dụng Thiền-Tịnh-Mật như là phương tiện.

2.       Chương trình gồm có:

a.) Đào luyện hướng dẫn viên Tu sĩ: Ban tổ chức mời quý vị Giảng sư và Trú Trì các chùa trong tỉnh dự khóa tập huấn Thiền Sức khỏe. Sau khi tập huấn vừa lý thuyết và thực hành khoảng 3 giờ. Học viên tham dự hai buổi giao lưu Thiền và hướng dẫn một buổi thuyết trình cho bổn đạo của một ngôi chùa. Nếu nhận thấy học viên nào hội đủ khả năng, đề nghị ban Tổ chức cấp chứng chỉ (certificate) có Giáo Hội Trung Ương chứng minh, để quý vị đó có pháp lý và uy tín để hoằng pháp bằng phương tiện Thiền-Tịnh-Mật cũng như điều hành các trung tâm Thiền sức khỏe cho quần chúng.

Thừa thiên Huế và Đà Nẵng thuận lợi hơn vì có thể tập huấn cho các Tăng Ni sinh tại học viện. Sau khi tập huấn 3 giờ, ban Tổ chức hoặc quý vị giáo thọ hướng dẫn học chúng đến một số chùa trong thành phố thực tập. Một số TN sinh có thể về thăm quê và tổ chức những buổi thuyết trình và hướng dân làng về Thiền sức khỏe. Quay phim, chụp hình, viết phúc trình. Học Viện nên xem đây như là một luận văn quan trọng góp phần vào điểm ra trường cuê TN sinh.

b.) Đào luyện hướng dẫn viên cư sĩ: Chọn lọc khoảng 100 cư sĩ cho mỗi tỉnh. Thành phần gồm các cư sĩ có hạnh kiểm tốt (không can án), có trình độ Phật học khá, các huynh trưởng Gia Đình Phật tử và một số sinh viên, dự khóa huấn luyện Thiền Sức Khỏe 3 giờ, tham dự hai buổi thuyết trình và một buổi thực tập. Sau các buổi tập huấn, nếu thấy đương sự có khả năng, am hiểu và trả lời các câu hỏi của thính chúng thông suốt, đề nghị ban tổ chức cấp chứng chỉ có Giáo hội tỉnh chứng minh. Chứng chỉ xác nhận cư sĩ nầy có khả năng hướng dẫn các khóa Thiền Sức Khỏe cho quần chúng nhất là các vùng chưa có chùa hoặc chùa chưa có trú trì.

Đây là Thiền Sức Khỏe (Meditation for health). Do đó rất giản dị, không bị tẩu hỏa nhập ma. Nếu ngồi Thiền, tụng Chú hoặc niệm Phật mà không định được tâm thì không có kết quả, chỉ có thế thôi. Không giống như Thiền Giác Ngộ, nếu không có minh sư hướng dẫn thì có thể sẽ bị trở ngại.

c.) Giao lưu Thiền: Xen kẽ với các khóa tập huấn trên, nên có những buổi giao lưu Thiền với quý vị trong y giới, trong học đường và quần chúng tùy theo ban Tổ chức sắp xếp. Đây cũng là dịp để các học viên thực tập và học hỏi thêm kinh nghiệm.

d.) Ban giảng huấn: Do Ban Tổ chức tuyển mời những vị Tăng Ni và Cư sĩ có khả năng chuyên môn về Thiền Sức Khỏe.        

   3. Tài liệu: Sách về Thiền, Tịnh, Mật, dưỡng sinh cho các buổi tập huấn và thuyết trình khoảng 2 cuốn. Mỗi cuốn khoảng dưới 100 trang. Các cuốn sách nầy có tên tác giả, ban Hoằng pháp tỉnh viết lời giới thiệu, chứng minh và xin giấy phép xuất bản.

   4. Ban chụp hình, quay phim, máy chiếu, âm thanh: Để ghi lại các buổi tập huấn, giao lưu để có thể gởi đến các chùa các nhóm Phật tử và đạo tràng chưa có cơ hội tham dự các khóa huấn luyện và giao lưu Thiền Sức Khỏe.

Sau các buổi tập huấn và thuyết trình nầy, Giáo hội sẽ có thêm rất nhiều Tăng Ni và cư sĩ có khả năng để hướng dẫn chương trình Thiền Sức Khỏe khắp nông thôn và vùng sâu vùng xa, mở các lớp Thiền Sức Khỏe tại các chùa từ thành thị đến thôn quê. Đưa Thiền vào bệnh xá, trường học, trại tù v.v.. như nhiều quốc gia đang áp dụng.

Chùa sẽ trở thành những trung tâm hướng dẫn Thiền, Tịnh và Mật không những để trị bệnh mà còn làm cho con người “Đẹp hơn, thông minh hơn, mạnh khỏe hơn, chống bệnh tật và lão hóa”. Đây là một đóng góp vô giá của Phật giáo đối với dân tộc, và góp phần làm giảm ngân sách chi tiêu y tế trong phương hướng Thiền Thuốc song hành.

Thực tế nhất là nếu các thành viên trong gia đình được khỏe mạnh thì lợi tức kinh tế của gia đình ấy gia tăng. Đó là chúng ta biếu họ cái cần câu. Siêng “câu” thì sống khỏe, lười biếng thì khổ thân.

     5. Phương Pháp hoằng hóa vào nông thôn

Lúc Giáo hội tỉnh, thí dụ, chỉ có 50 “nhân viên” đã được tập huấn có kinh nghiệm, thì chia thành 25 nhóm, mỗi nhóm hai người. Mỗi ngày, một nhóm có khả năng đến được 2 làng, một làng buổi sáng, một làng buổi chiều. 25 nhóm, mỗi ngày đi được 50 làng. 10 ngày sẽ đi được 500 làng. Có nghĩa là đi gần hết một tỉnh. Nhân viên tỉnh nào phụ trách tỉnh đó.

Dĩ nhiên phải có các phương tiện di chuyển cho hoằng pháp viên và nên biếu thính chúng (hoặc phát hành với giá rất tượng trưng. Tâm lý con người là lúc có bỏ tiền ra mua thì mới quý trọng) một tập sách mỏng Thiền Sức Khỏe và một tập Dưỡng sinh và Chế độ ăn uống để như là những bằng chứng cụ thể để tu tập và có thêm niềm tin.

Trước lúc đến một làng, chúng ta phải theo thủ tục hành chánh:“Nước có vua chùa có chủ”. Nếu trong thông báo mời dân làng đến nghe thuyết pháp thì chắc chắn họ sẽ không đến, vì có nhiều dân làng chưa là Phật tử. Nếu là Phật tử, nhưng lúc đến, chúng ta giảng Tứ diệu đế, Bát chánh đạo, Nhân quả, Luân hồi, Thập nhị nhân duyên…thì chưa chắc họ đã muốn nghe. Bởi trước mắt, họ cần phải đối phó với cái ăn cái mặc và bệnh tật…Do vậy, công việc của các vị tiền trạm, hay nếu trong văn bản thông báo, thư mời dân làng, chúng ta nêu rõ là “Đoàn Thiền Tịnh (TT-Huế), ngày… sẽ đến để hướng dẫn dân làng Thiền Sức Khỏe theo phương pháp Khoa học hiện đại mà không tốn tiền”

.
Thiết nghĩ, trong 100 gia đình, cũng có ít nhất vài chục gia đình đến dự. Lúc họ đến, chúng ta trình bày những bằng chứng cụ thể mà khoa học gia và y giới Tây phương đã chữa bệnh bằng Thiền. Và Thiền-Tịnh-Mật có khả năng làm cho con người đẹp, thông minh, mạnh khỏe, sống lâu, chống bệnh tật và lão hóa. Sau đó hướng dẫn ba phương pháp định tâm là Thiền thở (quán sổ tức), Thiền chú (tụng Án ma ni bát mê hồng, Mật tông), Thiền niệm (Niệm danh hiệu Phật: Tịnh độ). Hành giả chỉ sử dụng một trong ba phương pháp trên cũng tốt.

Chúng ta có thể gởi lại danh tánh, địa chỉ và số phone, để nếu cần thì vị đại diện trong làng liên lạc. Chúng ta cũng xin tên, địa chỉ và phone của vài vị đại diện dân làng. Vài tháng sau, có dịp đến thăm, lúc đó tha hồ mà đàm đạo, thuyết giảng.

Nói là mỗi nhóm hai người, nhưng tâm lý Phật tử, qua các lần đi cứu trợ, chúng ta thấy có nhiều người tình nguyện đi theo vì vui, lạ và có dịp đi xa. Nếu trong đoàn có vài người biết hát biết đàn hoặc sử dụng loại văn nghệ “bỏ túi” thì chuyến hoằng pháp “Thiền sức khỏe” sẽ rất thành công. GĐPT có thể cung cấp loại văn nghệ bỏ túi nầy. Lúc con người có được niềm vui, có được sự an lạc, có được nụ cười; chính đó là Thiền, là Tịnh là Mật. Trong trạng thái nầy, não bộ sẽ tái tạo, bạch huyết cầu gia tăng, hệ thống miễn nhiễm mạnh hơn, nên có khả năng chống lại vi khuẩn và vi trùng giúp bệnh nhân hồi phục sức khỏe, cũng như làn da sẽ đẹp hơn, thông minh hơn, sống lâu hơn.

Nếu số giảng sư hoằng pháp chỉ có 25 người thì thời gian hoằng hóa mỗi tỉnh sẽ gấp đôi. Nếu là 10 giảng sư thì thời gian gấp lên nữa. Với phương pháp mới nầy, ít mang tính tôn giáo nhưng mang tính khoa học và trị liệu rất cao, đạo Phật sẽ đến nông thôn, vùng sâu, vùng xa chỉ cần một thời gian rất ngắn, nhiều lắm là vài tháng thay vì đã hai ngàn năm qua mà đạo Phật chưa đến khắp các vùng ruộng lúa và núi đồi. Nhưng do vì hoàn cảnh đất nước chiến tranh liên miên. Lý do nội tại và ngoại lai v.v.. không những làm cản trở bước thăng tiến của dân tộc mà còn làm cho Phật giáo trì trệ nữa.

Thường thường các buổi Hội thảo hay Đại hội, hình thức tổ chức rất hoành tráng và tốn kém. Nhưng chưa họp mà bản văn đúc kết đã có sẵn cụm từ “Thành công mỹ mãn”. Nhiều buổi Hội không có các nghị quyết, các đề án ngắn hạn dài hạn, nhân sự phụ trách và thời gian thực hiện, nên xong Hội thảo hoặc Đại hội, mạnh ai lo việc “nhà” ấy. Do vậy mà các chương trình, các đề án, nếu có, đâu vẫn y nguyên bất động.

Nếu tất cả Giáo hội Phật Giáo các tỉnh trong toàn quốc nghiên cứu và thực hiện chương trình mà tôi mạo muội đề nghị như trên, thì chỉ cần một thời gian ngắn, Phật Giáo Việt Nam không những chỉ có đóng góp cho dân tộc mặt văn hóa đạo đức tâm linh.., mà còn một đóng góp thiết thực và vô cùng ích dụng khác là góp phần làm cho dân tộc đẹp, thông minh, mạnh khỏe, sống lâu, phòng chống bệnh tật và lão hóa.

Kính mong chư Tôn Đức Tăng Ni, quý Đại biểu và Phật tử tha thứ cho những ý kiến bất cập và chủ quan trong bải tham luận nầy, nếu có. Bằng không, xin tất cả cho một tràng pháo tay thật lớn và cùng nhau thực hiện một chương trình hoằng pháp trong thời đại mới.

Kính cẩn,
Hồng Quang
California 7.7.2011

(*) Meditation and Beauty  (Thiền và sắc đẹp)
by Sugandha Indulkar
(Inputs from Manjiree Surve, yoga and meditation expert)
Meditation releases the unlimited power of the subconscious. It enhances inner as well as outer beauty. Ageless body and timeless mind can be achieved by daily practice of meditation.

http://tongiaovadantoc.com/c1048/20110731161945048/tham-luan-phuong-phap-hoang-hoa-trong-thoi-dai-moi-hong-quang.htm

 

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Bảy 23, 2012 in Phật Giáo

 

Phần cuối: Phép lạ của sự tỉnh thức (Thích Nhất Hạnh)

Tham luận – Sách – Tài liệu

13:45 20/06/2012

Phần cuối: Phép lạ của sự tỉnh thức (Thích Nhất Hạnh)

Tâm như nước trong dòng sông không bao giờ dừng lại. Vừa sinh đã hoại diệt. Tâm như ngàn lưỡi đao do nhân duyên mà có. Tâm như chớp giật loé lên rồi tắt. Tâm như không gian nơi muôn vật đi ngang. Tâm như bạn xấu tạo tác nhiều lầm lỗi. Tâm như lưỡi câu đẹp nhưng nguy hiểm. Tâm như ruồi xanh ngó đẹp nhưng rất xấu. Tâm như kẻ thù tạo tác nhiều nguy biến…

Kinh lục – Kinh An Ban Thủ ý

ANAPANASATI MAJJHIMA NIKAYA 118

 

 

 

(Bản tóm lược) 

 

 

 

Kinh An Ban Thủ ý dạy 16 phương pháp quán niệm hơi thở, chia làm 4 nhóm, mỗi nhóm 4 phương pháp. Ba nhóm đầu nhắm tới cả định lẫn huệ, nhóm thứ tư chỉ nhắm tới huệ.

 

 

 

1/ Khi thở vào một hơi dài. Hành giả quán niệm: Tôi đang thở vào một hơi dài. Khi thở ra một hơi dài, hành giả quán niệm: tôi đang thở ra một hơi dài.

 

 

 

2/ Khi thở vào một hơi ngắn. Hành giả quán niệm : Tôi đang thở vào một hơi ngắn. Khi thở ra một hơi ngắn, hành giả quán niệm: tôi đang thở ra một hơi ngắn.

 

 

 

3/ Hành giả quán niệm: Tôi đang thở vào và ý thức toàn vẹn được cả hơi thở mà tôi đang thở vào. Tôi đang thở ra và ý thức được toàn vẹn cả hơi thở mà tôi đang thở ra.

 

 

 

4/ Hành giả quán niệm: Tôi đang thở vào và làm cho sự điều hành trong cơ thể tôi trở nên lắng lặng. Tôi đang thở ra và làm cho sự điều hành trong cơ thể tôi trở nên lắng lặng.

 

 

 

5/ Hành giả quán niệm: Tôi đang thở vào và cảm thấy an lạc. Tôi đang thở ra và cảm thấy an lạc.

 

 

 

6/ Hành giả quán niệm: Tôi đang thở vào và cảm thấy sung sướng, thảnh thơi. Tôi đang thở ra và cảm thấy sung sướng thảnh thơi.

 

 

 

7/ Hành giả quán niệm: Tôi đang thở vào và theo dõi tâm ý của tôi. Tôi đang thở ra và theo dõi tâm ý của tôi.

 

 

 

8/ Hành giả quán niệm: Tôi đang thở vào và làm lắng dịu tâm.ý của tôi. Tôi đang thở ra và làm lắng dịu tâm ý của tôi.

 

 

 

9/ Hành giả quán niệm: Tôi đang thở vào và ý thức toà n vẹn tâm ý của tôi. Tôi đang thở ra và ý thức toàn vẹn tâm ý của tôi.

 

 

 

10/ Hành giả quán niệm: Tôi đang thở vào và làm cho tâm ý của tôi hoan lạc. Tôi đang thở ra và làm cho tâm ý của tôi hoan lạc.

 

 

 

11/ Hành giả quán niệm: Tôi đang thở vào và tập trung tâm ý của tôi. Tôi đang thở ra và tập trung tâm ý của tôi.

 

 

 

12/ Hành giả quán niệm: Tôi đang thở vào và tháo gỡ tâm tôi khỏi mọi ràng buộc. Tôi đang thở ra và tháo gỡ tâm tôi khỏi mọi ràng buộc.

 

 

 

13/ Hành giả quán niệm: Tôi đang thở vào và quán niệm về tánh cách vô thường của vạn hữu. Tôi đang thở ra và quán niệm về tánh cách vô thường của vạn hữu. 

 

 

 

14/ Hành giả quán niệm: Tôi đang thở vào và quán niệm về sự tự do của tôi đối với vạn hữu. Tôi đang thở ra và quán niệm về sự tự do của tôi đối với vạn hữu.

 

 

 

15/ Hành giả quán niệm: Tôi đang thở vào và quán niệm về sự dập tắt của mọi ảo vọng nơi tôi. Tôi đang thở ra và quán niệm về sự dập tắt của mọi ảo vọng nơi tôi.

 

 

 

16/ Hành giả quán niệm: Tôi đang thở vào và quán niệm về sự buông thả của mọi phiền não và ảo vọng nơi tôi. Tôi đang thở ra và quán niệm về sự buông thả của mọi phiền não và ảo vọng nơi tôi.

 

 

 

Kinh An Ban Thủ ý nói về 4 phép quán niệm. Trong những phép quán niệm kể trên thì phép thứ nhất đến phép thứ tư là để quán niệm về thân thể, phép thứ năm đến phép thứ tám là để quán niệm về cảm thọ, phép thứ chín tới phép thứ mười hai là để quán niệm về tâm ý, phép thứ mười ba đến phép thứ mười sáu là để quán niệm về đối tượng tâm ý tức là các pháp. Sau đó kinh cũng nói thêm về 7 yếu tố ngộ đạo là : chánh niệm, sự giám định đúng sai, thiện ác, sự tinh chuyên, sự an vui, sự nhẹ nhõm, sự định tâm, sự buông thả.

 

 

 

 

Kinh Bách thiên tụng bát nhã
trích phẩm Phật Đà La Ni
SATASAHASRIHA PRAJAPARAMITA

 

 

 

Đây nữa, Tu Bồ Đề ơi, là con đường lớn của các vị Bồ Tát : Trước hết là bốn phép quán niệm. Bốn phép là gì ? Quán niệm thân thể, quán niệm cảm thọ, tâm ý và vạn pháp.

 

 

 

Bồ Tát an trú trong thân thể, cảm thọ, tâm ý và vạn pháp. Nhưng không khởi niệm phân biệt đối với thân thể, cảm thọ. tâm ý và vạn pháp. Bồ Tát tinh tiến, tỉnh thức hoàn toàn trong quán niệm. Sau khi đã bỏ ra ngoài những sầu đau tham dục trên thế gian và không trụ vào bất cứ thứ gì. Bồ Tát quán chiếu thân thể, cảm thọ, tâm ý và vạn pháp bên trong và bên ngoài.

 

 

 

Bồ Tát quán niệm thân thể bên trong bằng cách nào ? Khi đi Bồ Tát biết mình đang đi. Khi đứng Bồ Tát biết mình đang đứng. Khi ngồi Bồ Tát biết mình đang ngồi. Khi nằm Bồ Tát biết mình đang nằm. Bất cứ thân thể đứng ở trong tư thế nào dù tốt hay xấu, Bồ Tát cũng biết về tư thế ấy. Bồ Tát làm như vậy mà không có chấp trước. 

 

 
Lại nữa khi thực hành Ba La Mật Bát Nhã, Bồ Tát thở vào một cách có ý thức và biết rằng : “Mình đang thở vào. Khi thở ra Bồ Tát ý thức rằng : “Mình đang thở ra”. Khi thở vào một hơi dài Bồ Tát ý thức rằng : “Mình đang thở vào một hơi dài”. Khi thở ra một hơi dài Bồ Tát ý thức rằng : “Mình đang thở ra một hơi dài”. Khi thở vào một hơi ngắn Bồ Tát ý thức rằng : “Mình đang thở vào một hơi ngắn”. Khi thở ra một hơi ngắn Bồ Tát ý thức rằng : “Mình đang thở ra một hơi ngắn”.

 

 

 

Một người thợ làm đồ gốm, khi đẩy một vòng dài biết là mình đẩy một vòng dài, khi đẩy một vòng ngắn biết là mình đẩy một vòng ngắn. Bồ Tát cũng quán niệm về hơi thở như vậy, làm như thế mà không có chấp trước. 

 

 

 

Lại nữa, khi thực hành Bát Nhã Ba La Mật. Bồ Tát quán niệm thăn thể nơi thân thể và thấy những yếu tổ cấu thành thân thể ấy : đất, nước, lửa, không khí. Như một vị đồ tể hay người phụ tá của ông ta sau khi mổ con bò ra làm 4 phần và quan sát, Bồ Tát cũng quán chiếu 4 yếu tố trong thân thể mình như vậy. Làm như thế mà không có chấp trước. 

 

 

 

Lại nữa khi thực hành Bát Nhã Ba La Mật, Bồ Tát quán niệm thân thể nơi thân thể, từ gót chân trở lên đỉnh tóc, từ đỉnh tóc trở xuống gót chân. khắp những nơi chứa nhiều thứ bất tịnh. Tóc, móng, da, thịt, gân, máu, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mạc, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, phân, mật, đàm, mủ, mồ hôi, nước mắt, nước mũi, nước bọt, nước ở các khớp xương, nước tiểu, ghèn, cứt ráy….

 

 

 

Như người nông phu có một bao tải đựng đủ thứ hạt : hạt mè, hạt cải, đậu đỏ, gạo lức, lúa mì, gạo trắng,…bất cứ kẻ nào có đôi mắt tốt đều có thể thấy đủ các loại hạt như thế và nói rằng :”Này đây là hạt mè, đây là hạt cải ….”. Bồ Tát quán niệm thân thể cũng như vậy mà không khởi tâm chấp trước.

 

 

 

Lại nữa, Bồ Tát quán niệm thân thể bên ngoài thế nào ? Khi đi đến nghĩa điạ, Bồ Tát thấy các xác chết bị quẳng đó, xác chết đã một ngày, đã 2 ngày, 3 ngày, 4 ngày, 5 ngày… sình lên, tím đen, thối rữa, bị dòi bọ ăn. Bồ Tát so sánh những xác chết với thân thể mình : “Thân này cũng sẽ chịu số phận đó, không tránh thoát được”, và Bồ Tát quán niệm khi thấy xác chết để 6, 7 đêm, bị quạ diều, chó sói rỉa nát, hay thấy xác chết đó bầm dập, thối nát, ghê tởm, hoặc thấy xác chét đó chỉ còn là một bộ xương dính thịt và máu, nhờ gân cốt mà còn dính vào nhau. Hay thấy xác chết chỉ còn lại một bộ xương, thịt máu và gân đã tan hết, hay thấy chỉ còn một đống xương rơi rớt trên mặt đất, hay thấy chỉ còn những cái xương rải rác đây đó trên bãi tha ma. Đây là xương chân, kia là xương sọ, kia nữa là xương sườn, đó là xương sống…. Hay thấy những khúc xương đã trải qua nhiều năm, nhiều trăm năm dưới mưa nắng. trắng hếu như vỏ ốc, hay thấy những miếng xương đen, xanh, mục nát thành bụi rải rác trên mặt đất. Bồ Tát so sánh những hình ảnh ấy với tự thân và quán niệm rằng : “Thân này cũng đồng một số phận như thế, không tránh thoát được”. 

 

 
Bồ Tát quán niệm tâm ý và các pháp như thế sau khi đã bỏ ra ngoài mọi sầu đau và tham dục trần thế. 

 

 

 

Và đây nữa, Tu Bồ Đề ơi, con đường lớn của Bồ Tát, là con đường chánh tinh tiến.

 

 

 

Kinh Bảo tích
SIKSHASAMUCCAYA RATNAKUTA

 

 

 

Hành giả tìm tâm, tâm nào? Tâm tham, tâm giận hay tâm si? Tâm quá khứ, tâm hiện tại hay tâm vị lai. Tâm quá khứ không còn. Tâm vị lai chưa có. Tâm hiện tại không trú. 

 

 

 

Này Ca Diếp, tâm không thể nắm bắt từ bên trong hay bên ngoài, hay ở giữa. Tâm vô hướng vổ niệm, không có chỗ sở y, không có nơi qui túc. Chư Phật không thấy tâm trong quá khứ, trong hiện tại và trong vị lai. Cái mà chư Phật không thấy thì làm sao quán niệm nổi. Nếu có quán niệm thì chẳng qua là sự quán niệm về sinh diệt của các đối tượng tâm ý. Tâm như một ảo thuật, vọng tưởng điên đảo cho nên có sinh diệt muôn trùng. Tâm như nước trong dòng sông không bao giờ dừng lại. Vừa sinh đã hoại diệt. Tâm như ngàn lưỡi đao do nhân duyên mà có. Tâm như chớp giật loé lên rồi tắt. Tâm như không gian nơi muôn vật đi ngang. Tâm như bạn xấu tạo tác nhiều lầm lỗi. Tâm như lưỡi câu đẹp nhưng nguy hiểm. Tâm như ruồi xanh ngó đẹp nhưng rất xấu. Tâm như kẻ thù tạo tác nhiều nguy biến. Tâm như yêu ma tìm nơi hiểm yếu để hút sinh khí người. Tâm như kẻ trộm, trộm hết căn lành.

 

 

 

Tâm ưa thích hình dung như mắt con thiêu thân. ưa thích âm thanh như trống trận, ưa thích mùi hương như lợn thích rác bẩn, ưa thích vị ngon như ruồi thích thức ăn thừa, ưa thích xúc giác như con ruồi sa đĩa mật. Tìm tâm hoài mà không thấy tâm đâu. Đã tìm không thấy thì không thể phân biệt được. Những gì không thể phân biệt được thì không có quá khứ và hiện tại lẫn vị lai. Những gì không có quá khứ hiện tại lẫn vị lai thì không có mà cũng không không.

 

 

 

Hành giả tìm tâm bên trong cũng như bên ngoài không thấy. Không thấy tâm nơi ngũ uẩn, nơi tứ đại, nơi lục nhập. Hành giả không thấy tâm nên tìm dấu của tâm và quán niệm : tâm do đâu mà có?. Rồi ý thức rằng hễ khi nào có vật thì có tâm. Vậy vật và tâm có phải là hai thứ khác biệt?. 

 

 

 

Không có cái gì là vật, cái đó cũng là tâm. Nếu vật và tâm là hai thứ thì hoá ra tâm có tới hai tầng?. Cho nên vật chính là tâm….Vậy thì tâm có thể quán tâm không. Không, tâm không thể quán tâm. Một con dao không thể tự cắt mình, ngón tay không tự sờ mình, tâm không thể quán mình. 

 

 

 

Bị dằn ép tứ phía, tâm phát sinh mà không có khả năng an trú, như con vượn chuyền cành, như hơi gió thoảng qua. Tâm không có tự tính. Biến chuyển rất nhanh chóng, bị cảm giác làm giao động, lấy lục nhập làm môi trưởng, duyên thứ này tiếp thứ khác. Làm cho tâm ổn định, bất động, tập trung an tĩnh, không loạn động, đó gọi là Quán niệm tâm ý.

 

 

 

Kinh Duy Ma Cật
VIMAXAKIRTI NIRDESA

 

 

 

Sao gọi là không “an trú nơi vô vi”? Bồ Tát quán không, nhưng không lấy không làm đối tượng tu chứng. Bồ tát tu tập về vô tướng và vô tác nhưng không lấy vô tướng và vô tác làm đối tượng tu chứng. Tu tập vô sanh mà không lấy vô sanh làm đối tượng tu chứng. Quán niệm vô thường mà không bỏ việc lợi hành. Quán niệm về khổ mà không chán ghét sinh tử. Quán niêm về sinh diệt mà không đi vào tịch diệt. Quán niệm về “buông thả” mà thân vẫn thực hiện các pháp lành. Quán niệm sự không qui túc mà vẫn quy túc theo vạn pháp. Quán niệm vô sanh mà vẫn nương vào hữu sanh để gánh vác nhiệm vụ. Quán niệm về vô lậu mà vẫn còn ở thế giới nhân duyên. Quán niệm về vô hình mà vẫn tiếp tục hành động để giáo hóa. Quán niệm về không vô mà không bỏ đại bi. Quán niệm về tính cách hư vọng, không bền, không nhân, không chủ, không tướng của các pháp mà không từ bỏ công trình phước đức, Thiền định và trí tuệ. Bồ Tát tu các pháp như thế gọi là không trú nơi vô vi. 

 

 
Bồ Tát cũng vì có đầy đủ phước đức mà không trú ở vô vi, và đủ trí tuệ mà không chấm dứt ở hữu vi. Vì lòng thương lớn mà không trú vô vi, vì muốn thực hiện đại nguyện mà không chấm dứt ở hữu vi.

 

 

 

Kinh tinh yếu Bát nhã ba la mật đa
PRAJNADARAMITAHRDAYA

 

 

 

Bồ Tát quán tự tại – khi quán chiếu thâm sâu – Bát Nhã Ba La Mật (tức diệu pháp trí độ) – Bỗng soi thấy năm uẩn – Đều không có tự tánh – Thực chứng điều ấy xong – Ngài vượt thoát mọi khổ đau. ách nạn.

 

 

 

Nghe đấy Xá lợi tử – Sắc chẳng khác gì không – Không chẳng khác gì sắc – Sắc chính thực là không – Không chính thực là sắc – Còn lại bốn uẩn kia – Cũng đều như vậy cả.

 

 
Xá lợi tử nghe đấy – Thể mọi pháp đều không – Không sanh cũng không diệt – Không nhơ cũng không sạch – Không thêm cũng không bớt – Cho nên trong tính không – Không có sắc thọ tưởng – Cũng không có hành thức – Không có nhãn. nhỉ, tỷ. thiệt, thân, ý.

 

 

 

Không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp – Không có ba giới từ nhãn thức – Không hề có vô minh – Không có hết vô minh – Cho đến không lão, tử – Không khổ, tập, diệt đạo – Không đắc và cũng không sở đắc. 

 

 

 

Khi một vị Bồ Tát – Nương Diệu pháp trí độ – Thì tâm không chướng ngại – Vì tâm không chướng ngại – Nên không có sợ hãi – Xa lìa mọi mộng tưởng – Xa lìa mọi điên đảo – Đạt Niết Bàn tuyệt đối. 

 

 

 

Chư Phật trong ba đời – Y diệu pháp trí độ – nên đắc vô thượng giác – Vậy nên phải biết rằng – Bát Nhã Ba La Mật – Là linh chú đại thần – là linh chú đại minh – là linh chú vô thượng – là linh chú tuyệt đỉnh – là chân lý bất vọng – Có năng lực tiêu trừ mọi khổ nạn. 

 

 

 

Cho nên tôi muốn thuyết – câu thần chú trí độ. 

Nói xong Đức Bồ Tát – đọc thần chú viết rằng :

Gate
Gate
Paragate
Paragsamgate
Bodhi
Svaha.

 

 

Thích Nhất Hạnh

 

 

Nguồn link: http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-80_4-9671_5-50_6-2_17-88_14-1_15-1/#nl_detail_bookmark

 

 

 

HẾT

 

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Bảy 23, 2012 in Phật Giáo

 

Phần 3: Phép lạ của sự tỉnh thức (Thích Nhất Hạnh)

Tham luận – Sách – Tài liệu

09:30 19/06/2012

Phần 3: Phép lạ của sự tỉnh thức (Thích Nhất Hạnh)

Quán niệm để thấy vô thường là một khái niệm, vô ngã cũng là một khái niệm. “không” cũng là một khái niệm để không bị ràng buộc bởi vô thường, vô ngã và “không”. Quán niệm để thấy được không, cũng để thấy được chân như của “không” cũng không khác với chân như của ngũ uẩn…

BA MƯƠI MỐT BÀI THỰC TẬP

 

 

Thực Tập Cười Hàm Tiếu

 

 

 

1a/ – Cười hàm tiếu khi mới thức dậy buổi sáng

 

 
Treo một cành lá hay bất cứ dấu hiệu nào, hoặc một chữ “Cười” trên trần nhà hoặc trên nóc mùng để khi thức dậy buổi mai là có thể trông thấy. Khi trông thấy dấu hiệu đó lập tức mỉm cười, động thời nắm lấy hơi thở, thở ra và hít vào ba hơi. Trong khi vẫn duy trì nụ cười hàm tiếu và theo dõi hơi thở, thở ra nhẹ.

 

 

 

1b/ – Cười hàm tiếu trong lúc rỗi rảnh

 

 
Trong phòng đợi, trên xe buýt hay đứng chờ ở bưu điện. Bất cứ ngồi hay đứng, nhìn vào một em bé, một ngọn lá, một bức tranh bất cứ một vật gì ít di động và mỉm cười trong khi thở ra và thở vào thật nhẹ ba lần. Duy trì nụ cười hàm tiếu trong suốt thời gian đó và nghĩ rằng em bé, ngọn lá, bức tranh hay vật gì mình đang nhìn chính là bản thân mình. 

 

 

 

1c/ – Cười hàm tiếu trong khi nghe một bản nhạc

 

 
Nghe một bản nhạc hai hay ba phút, chú ý tới lời nhạc, tình, ý và tiết tấu. Mỉm cười và thở ra, thở vào thật nhẹ trong suốt thời gian đó.

 

 
1d/ – Cười hàm tiếu trong khi bực bội. 

 

 
Khi ý thức được mình đang bực bội, liền tức khắc nở ra nụ cười hàm tiếu. Thở ra vào thật nhẹ, duy trì nụ cười suốt trong ba hơi thở ra vào.

 

 

 

Tập buông thư

 

 

 

2a/ – Tập buông thư trong thế nằm

 

 
Nằm ngửa trên mặt phẳng không có nệm, không có gối. Duỗi hai tay theo thân thể, duỗi hai chân. Mỉm cười hàm tiếu. Duy trì nụ cười hàm tiếu. Thở ra, hít vào thật nhẹ, chú ý tới hơi thở. Buông thả tất cả bắp thịt trên toàn thân thể. Tuồng như cục sáp thật mềm xuống, mềm như một tấm lụa tẩm sương. Buông thả hoàn toàn. Chỉ duy trì hơi thở và nụ cười hàm tiếu. Nghĩ tới một con mèo nằm xụ trong bếp, đụng tới thì êm như một đám bông gòn. Duy trì trong hai mươi hơi thở. 

 

 

 

2b/ – Buông thư trong tư thế ngồi

 

 
Ngồi kiết già, bán già, ngồi xếp bằng, ngồi trên hai bàn chân, hai gối quỳ hoặc ngồi trên ghế dựa buông thõng hai chân. Mỉm cười hàm tiếu. Duy trì nụ cười và buông thả như trong 2a.

 

 

 

Tập thở

 

 

 

3a/ – Thở bụng

 

 
Nằm xuôi hai chân như trong tư thế 2a. Thở đều và nhẹ bình thường. Chú ý đếnđộng tác của bụng. Bắt đầu hít vào và phình bụng lên để đưa không khí vào đầy phổi. Cho không khí vào phần trên của phổi trong khi ngực lên và bụng bắt đầu xuống. Đừng thở hơi dài quá, sẽ mệt. Tập mười hơi thở như vậy Hơi thở ra dài hơn hoi thở vào.

 

 

 

3b/ – Thở trong khi đếm bước chân

 

 
Đi bộ từng bước thong thả trong công viên, dọc bờ sông hay trên đường làng, thở bình thường. Đếm xem mỗi hơi thở ra và mỗi hơi thở vào bình thường của mình lâu được mấy bước. Thử đếm như vậy từ chín đến mười lần. Bắt đầu cho hơi thở ra dài thêm một bước. Khi hít vào, đừng kéo dài hơi thở, cứ để tự nhiên. Thử đếm xem hơi thở vào có thay đổi không ? thở chừng mười hơi ra vào như vậy. Bây giờ cho hơi thở ra dài thêm một bước nữa là hai. Để ý xem hơi thở vào có dài thêm một bước không… chỉ kéo dài hơi thở vào khi cảm thấy có nhu cầu phải làm như thế. Thở mười hơi như vậy rồi trở lại thở bình thường. Năm phút sau mới tiếp tục. Hễ khi nào thấy hơi mệt thì trở lại bình thường. Sau một vài tuần, hơi thở ra vào có thể dài bằng nhau. nhưng mỗi khi thở ra ngực và bụng như nhau, chỉ nên thở từ 10 đến 20 lần rồi trở lại bình thường.

 

 

 

3c/ – Đếm hơi thở

 

 
Ngồi trong tư thế kiết già hay bán già hay đi bộ. Khởi sự thở vào nhè nhẹ, ý thức rằng đây là mình đang thở vào hơi thở thứ nhất. Từ từ thở ra, ý thức rằng đây là mình đang thở ra hơi thở thứ nhất, hít vào và nhớ là nên thở bụng. (3a)

 

 

 

Khởi sự hít vào hơi thở thứ hai. Thở đến hơi thở thứ mười hai thì bỏ và đếm lại số một. Hoặc có thể đếm ngược từ 10 đến 1. Thở nửa chừng mà bị loạn tưởng làm cho quên số thì bắt đầu trở lại.

 

 

 

3d/ – Theo dõi hơi thở trong khi nghe nhạc

 

 
Nghe một bản nhạc. Thở đều, nhẹ, dài, theo dõi hơi thở, làm chủ hơi thở. Trong khi vẫn nhận thức được tiết tấu và tình cảm của bản nhạc. Không bị tình tiết của bản nhạc ảnh hưởng đến hơi thở và quyền chủ động của mình.

 

 

 

3e/ – Theo dõi hơi trong khi nói chuyện: Thở đều, nhẹ và dài, theo dõi hơi thở trong khi nghe va tiếp chuyện một người bạn và trả lời những câu hỏi của người ấy, làm như ở 3d.

 

 

 

3f/ – Theo dõi hơi thở

 

 
Ngồi kiết già, bán già hoặc đi bộ. Khởi sự thở vào nhè nhẹ (nhớ thở bụng) một hơi thở bình thường và quán niệm mình đang thở vào một hơi thở bình thường. Thở ra và quán niệm mình đang thở ra một hơi thở bình thường. Thở ba lần như vậy. Khởi sự hít vào một hơi thở dài hơn và quán niệm : mình đang thở vào một hơi thở khá dài. Thở ra và quán niệm : mình đang thở ra một hơi thở khá dài. Thở ba lần như vậy. Bây giờ khởi sự theo dõi hơi thở của mình một cách chăm chú, biết rõ động tác của bụng và phổi và theo dõi sự ra của không khí. Quán niệm : mình đang hít vào và đang theo dõi từ đầu tới cuối hơi thở vào. Mình đang thở ra và đang theo dõi từ đầu tới cuối hơi thở ra. 

 

 
Thở như vậy 20 lần, trở lại bình thường và sau năm phút, tập lại như cú. Nhớ duy trì nụ cười trong khi thở. Khi tập đã quen thì chuyển sang 3g.

 

 

 

3g/ – Thở an định thân tâm để thực hiện hỷ lạc

 

 
Ngồi kiết già hay bán già. Mỉm cười hàm tiếu. Theo dõi hơi thở như 3e. Khi tâm đã yên, khởi sự thở nhẹ và quán niệm : mình đang thở vào và làm cho hơi thở lắng dịu, an tịnh. Mình đang thở ra và làm cho toàn thân lắng dịu, an tịnh. Thở ba lần như vậy rồi quán niệm : mình đang thở vào và thấy thân tâm an lành, mình đang thở ra và thấy thân tâm an lành. Mình đang thở vào và thấy thân tâm thảnh thơi, an lạc, mình đang thở ra và thấy thân tâm thành thơi, an lạc. Duy trì quán niệm từ năm phút tới ba mươi phút hay một giờ, tùy khả năng và công phu luyện tập. Chú ý khởi sự tập và kết thúc thực tập phải rất thong thả nhẹ nhàng. Khi muốn kết thúc phải nhè nhẹ chuyển mình, lấy hai tay xoa nhè nhẹ lên mặt, trên mắt, xoa bóp các bắp thịt trên chân trước khi chuyển sang thế ngồi bình thường. Ngồi duỗi hai chân một lát rồi mới khởi sự đứng dậy.

 

 

 

Quán niệm tư thế của thân thể và động tác thân thể

 

 

 

4a/ – Quán niệm tư thế của thân thể

 

 
Có thể thực hiện phép này bất cứ nơi đâu và lúc nào. Khởi sự chú ý đến hơi thở, thở nhẹ và sâu hơn bình thường. ý thức được tư thế của thân thể mình : đang đứng, nằm. ngồi. Ai ở đâu, đứng ở đâu, nằm ở đâu. ý thức luôn chủ đích hay sự không có chủ đích của những tư thế ấy. Ví dụ mình biết mình đang dừng trên một sườn đồi xanh để hóng mát hoặc để thở, hoặc đứng chỉ để là đứng không có chủ đích gì cả.

 

 

 

4b/ – Quán niệm khi pha trà

 

 
Nấu trà và pha một bình mời khách hay để mình tự uống, cử dộng chậm rãi và ý thức không bỏ qua một chi tiết nào hay động tác nào của mình. Biết là tay trái cầm quai ấm, biết là tay phải đang múc nước đổ vào ấm. Thở nhẹ, sâu hơn bình thường và nắm lấy hơi thở mỗi khi có loạn tưởng. 

 

 

 

4c/ – Quán niệm khi rửa bát

 

 
Rửa bát thật thong thả, mỗi cái bát là một đối tượng của quán niệm. Xem mỗi cái bát quan trọng như chân như, như phật tánh. Theo dõi hơi thở để đối trị loạn tưởng. Tuyệt đối đừng có ước muốn rửa bát cho chóng xong. Xem rửa bát là việc quan trọng nhất trên đời. Rửa bát là thiền quán. Nếu không rửa bát trong thiền quán thì cũng không biết thiền quán trong lúc ngồi.

 

 

 

4d/ – Quán niệm khi giặt áo

 

 
Đừng giặt một lần nhiều áo quá. Lấy độ chừng ba bốn bộ đồ bà ba ra giặt. Tìm tư thế đứng hay ngồi thuận lợi nhất mà không mỏi lưng. Giặt áo thong thả, chú ý tới từng động tác của bàn tay, cánh tay. Chú ý bọt xà phòng và nước. Giặt áo và xả nước xong thì tâm tư cũng trong sạch nhẹ nhàng như áo. Nhớ duy trì nụ cười và nắm láy hơi thở khi tâm bị loạn động.

 

 

 

4e/ – Quán niệm khi dọn nhà

 

 
Chia công việc thành từng lớp. Thu xếp gọn đồ dạc và sách vở, lau chùi cầu tiêu, lau chùi phòng tắm, quét nhà, lau sạch bàn ghế và kệ tủ. Để thật nhiều thì giờ cho mỗi thứ lớp. Động tác chậm lại, chậm bằng ba lần thường ngày. Tập trung vào động tác và vào đối tượng động tác. Ví dụ sau khi sắp một cuốn sách vào chỗ của nó trong kệ sách. Nhìn cuốn sách, biết cuốn sách là cuốn gì, biết mình đang nhìn cuốn sách và đang muốn sắp cuốn sách vào chỗ của nó, biết tay mình đang đưa ra cầm cuốn sách, biết tay mình đang đặt cuốn sách vào chỗ của nó trên kệ sách. Tránh những động tác mạnh và liên tục làm cho mình mệt. Duy trì ý thức nơi hơi thở, nhất là khi tâm bị loạn động tìm về quá khứ hoặc vị lai. 

 

 

 

4f/ – Quán niệm khi tắm

 

 
Để ra từ nửa giờ đến 45 phút để tắm. Đừng có một giây nào hối hả. Từ lúc sửa soạn bồn tắm cho đến lúc mặc xong áo quần sạch lên mình, giữ cho động tác thật nhẹ nhàng chậm rãi. Để ý tới mọi phần vị trên cơ thể, không phân biệt và e ngại, chú ý tới từng gáo nước trên cơ thể. Theo dõi hơi thở. Thấy rằng bồn tắm cũng mát và thơm như một hồ sen mùa hạ thơm mát và tinh khiết.

 

 

 

4g/ – Quán niệm về hạt sỏi

 

 

 

Ngồi tư thế kiết hay bán già, điều phục hơi thở như ở bài tập 3e. Sau khi điều phục hơi thở, khởi sự buông thư tất cả các bắp thịt và duy trì nụ cười hàm tiếu như ở bài tập 2a. Tưởng mình là một hạt sỏi đang rơi thật nhẹ nhàng trong một dòng sông, không cần có chú ý tới động tác và vẫn rơi xuống tìm chỗ an nghỉ hoàn toàn nơi đáy sông có cát mịn. Quán tưởng như thế nào cho đến khi thân tâm hoàn toàn an ổn như hạt sỏi đã đạt tới đáy sông và đang nằm an nghỉ trên cát mịn. Duy trì trạng thái an lạc này trong nửa giờ, trong khi vẫn không rời nụ cười và hơi thở. Không một tư tưởng nào về quá khứ hay về tương lai lôi kéo được mình ra khỏi sự an ổn thanh tịnh của hiện tại. Kể cả ước muốn thành Phật hay cứu độ chúng sanh. Vũ trụ đang tôn trọng giờ phút hiện tại vì biết trong sự thành Phật và cứu độ chúng sanh chỉ có thể thực hiện trên căn bản của tâm trạng bình an, vô ưu tư hiện tại.

 

 

 

4h/ – Tổ chức ngày quán niệm

 

 
Chọn một ngày trong tuần, thứ bảy hay chủ nhật, tùy hoàn cảnh. Bỏ tất cả mọi công việc trong tuần, không hội họp, không tiếp khách, chỉ làm mọi việc trong nhà như dọn dẹp, nấu nướng, giặt giũ, lau chùi theo phương pháp chỉ dẫn ở phần 4e. Tiếp theo là pha trà (4b) và uống trà. Có thể đọc kinh, viết thư cho người thân hay đi bộ. Sau đó tập thở (3b, 3c, 3e). Trong trường hợp đọc kinh hay viết thư hãy nên chú ý, đừng để kinh và thư kéo mình đi. Quán niệm để giữ chủ quyền của tâm ý. Đọc kinh và ý thức được mình đang đọc gì, viết thư và ý thức được mình đang viết gì. Cũng như trong trường hợp nghe nhạc hay tiếp chuyện (xem 3d và 3e). Buổi chiều tự làm lấy thức án, ăn rất nhẹ hay chỉ ăn vài trái cây hoặc uống nước trái cây. Thiền tọa một giờ trước khi ngủ. áp dụng bài tập 4g hay 3e hoặc 3g.

 

 

 

Trong ngày nên đi bộ hai lần, mồi lằn từ nửa giờ tới 45 phút. Buổi tối đừng đọc sách trước khi ngủ. Thay vì đọc sách, tập buông thư như 2a trong 15 phút, chú ý tới hơi thở. Thở nhẹ và đừng dài quá. Theo dõi sự lan xuống của bụng và ngực, mắt nhắm.

 

 

 

Mỗi động tác trong ngày phải chậm hơn thường nhật ít ra là hai lần.

 

 

 

Quán niệm về duyên khởi

 

 

 

5a/ – Quán niệm về ngũ uẩn

 

 
Tìm một hình ảnh của mình hồi còn thơ ấu. Ngồi lại trong tư thế kiết già hay bán già. Khởi sự theo dõi hơi thở theo 5c. Sau khi thở được hai mươi lần. Khởi sự chú ý vào tấm hình trước mặt. Sử dụng ký ức làm sống dậy những hình ảnh ngũ uẩn của tự thân trong thời gián bé thơ, thời gian của tấm hình, những hình ảnh về sắc thân, cảm thọ, suy tư, hà nh nghiệp và nhận thức của mình trong thời gian đó. Tiếp tục duy trì hơi thở, đừng để kỷ niệm lôi kéo và che lấp chánh niệm. Duy trì quán niệm trong 15 phút, duy trì nụ cười hàm tiếu rồi khởi sự đi vào quán niệm tự thân: ý thức về sầc thân, cảm thọ, suy tư, hành nghiệp và nhận thức của mình trong giai đoạn hiện tại. Thấy rõ hợp thể ngũ uẩn của mình rồi đặt câu hỏi: Ta là ai? vững chãi trong tự thân như vùi một hạt giống tốt trong đất mịn có tưới tắm. Câu hỏi “Ta là ai?” không giao cho trí năng giải đáp bằng suy luận mà giao cho toàn thể của hợp thể ngũ uẩn ôm ấp. Đừng thúc đẩy trí nàng đi tìm giải đáp suy luận. Chỉ bằng lòng với câu hỏi thận trọng, nghiêm mật và tha thiết trong tự thân. Quán niệm trong 15 phút, duy trì hơi thở nhẹ và khá sâu để đừng bị lôi cuốn theo suy tư triết học.

 

 

 

5b/ – Quán niệm về ta

 

 
Ngồi trong đêm tối, trong phòng riêng hay bên bờ sông, trên đồi cỏ hay bất cứ nơi nào vắng người, khởi sự nắm lấy hơi thở theo 3e, quán niệm : “Ta sẽ dùng ngón tay trỏ chỉ vào ta” và thay vì dùng ngón tay trỏ chỉ vào sắc thân mình thì dùng ngón tay trỏ chỉ ra ngoài. 

 

 
Quán niệm để thấy được “ta” ngoài sắc thân ta. Quán niệm để thấy sắc thân ta có mặt ngay phía trước mặt trong rừng cây, trong lá cỏ, nơi dòng sông. Quán niệm để thấy được ta trong vũ trụ và vũ trụ trong ta, có vũ trụ nên có ta, có ta nên có vũ trụ, không có sự sanh ra cũng không có sự chết đi. Duy trì nu cười hàm tiếu, nắm vững hơi thở. Quán niệm từ 10 – 20 phút.

 

 

 

5c/ – Quán niệm bộ xương của chính ta

 

 


Nằm trên giường, trên sàn .nhà hay trên cỏ trong tư thế ưa thích, đừng dùng gối. Khởi sự nắm lấy hơi thở. Quán niệm sắc thân mình chỉ còn là một bộ xương trắng nằm phơi trên mặt đất. Duy trì nụ cười hàm tiếu và tiếp tục nắm lấy hơi thở. Quán niệm thịt da mình đã tan rã hết, rằng sắc thân mình đang có là sắc thân của 80 mươi năm về sau. Dĩ nhiên là một bộ xương trắng nằm trong lòng đất hay trên mặt đất. Thấy rõ xương đầu, xương vai, xương sườn. xương sống, xương quai sanh, xương ống chân, từng đốt ngón chân, xương cánh tay, xương ngón tay từng đốt. Duy trì nụ cười, thở thật nhẹ, tâm hồn bình tĩnh. thấy bộ xương không phải là ta, sắc thân không phải là ta đồng nhất với sự sống. 

 

 
Sự sống vĩnh cửu nơi cỏ cây, nơi con người, nơi chim thú, nơi khí trời, nơi sóng biển, nơi các vì sao. Bộ xương chỉ là một phần nhỏ của ta. Ta có mặt mọi nơi và mọi lúc. Ta không phải chỉ là sắc thân, cảm thọ, suy tư, hành nghiệp và nhận thức. Duy trì quán niệm từ 20 phút đến nửa giờ.

 

 

 

5d/ – Quán niệm về người thân yêu mới chết

 

 
Trên ghế hay trên giường, ngồi hay nằm trong tư thế ưa thích. Khởi sự nắm lấy hơi thở theo 3c. Quán niệm về thân thể người mình thương yêu đã chết cách đây mấy tháng hay đã hai ba năm. Biết rõ thịt da của chính mình đang còn. Biết rõ nơi mình còn đủ sự hội tụ của sắc thân, cảm thọ, tư duy, hành nghiệp và nhận thức. 

 

 

 

Quán thông về sự liên hệ giữa mình với người ấy ngày xưa và trong giờ phút này. Duy trì nụ cười hàm tiếu và nắm lấy hơi thở. Quán niệm trong mười lăm phút. 

 

 

 

5e/ – Quán niệm về “không”

 

 
Ngồi trong tư thế kiết già hay bán già, tập thở cho điều hòa như trong 3c và 3g. Quán niệm về tính cách vô thường của hợp thể ngũ uẩn. Sắc thân, cảm thọ. tư duy, hành nghiệp và nhận thức. Xét từng uẩn một, từ uẩn này sang uẩn khác. Thấy được tất cả đều chuyển biến vô thường và vô ngã. Sự tụ họp của ngũ uẩn cũng như sự tụ họp của mỗi hiện tượng đều vâng theo định luật duyên khởi. Sự họp tan cũng giống như sự họp tan của những đám mây trên đỉnh núi. Quán niệm để đừng bám vào hợp thể ngũ uẩn. Biết rằng yêu thích hay chán ghét cũng là những hiện tượng thuộc hợp thể ngũ uẩn. Quán niệm để thấy rõ ngũ uẩn là vô thường, vô ngã và trống rỗng (“không”). Nhưng ngũ uẩn cũng rất là mầu nhiệm như bất cứ hiện tượng nào trong vũ trụ, mầu nhiệm như sự sống có mặt khắp mọi nơi. Quán niệm để thấy được ngũ uẩn không thực sự sinh diệt, còn mất vì ngũ uẩn cũng là chân như.

 

 
Quán niệm để thấy vô thường là một khái niệm, vô ngã cũng là một khái niệm. “không” cũng là một khái niệm để không bị ràng buộc bởi vô thường, vô ngã và “không”. Quán niệm để thấy được không, cũng để thấy được chân như của “không” cũng không khác với chân như của ngũ uẩn. Phép quán này nên tập sau khi đã thuần thục các phép quán 5a, 5b, 5c và 5d. Thời gian tùy vào nhu yếu của người thực tập, có thể một giờ, có thể 2 giờ.

 

 

 

6a/ Quán niệm về người mình oán ghét nhất

 

 
Ngồi trong tư thế kiết già hay bán già. Thở và duy trì nụ cười hàm tiếu như trong 2b. Tìm trong ký ức hình bóng của người mình thường nghĩ đã làm mình khổ đau nhiều nhất. Lấy hình bóng người ấy làm đối tượng quán niệm. Quán niệm về sắc thân, cảm thọ, tư duy, hành nghiệp và nhận thức của người ấy. Quán từng nét sắc thân người ấy, quán niệm những nét mà mình cho là dễ ghét, độc địa nhất. Quán về cảm thọ, quán niệm xem người đó sung sướng thế nào và đau khổ thế nào trong đời sống hàng ngày. Quán về tư duy, quán niệm xem người đó tư duy theo khuôn khổ nào. Quán về hành nghiệp, quán niệm xem những động lực đá thúc đẩy người đó ước muốn và hành động. Quán về nhận thức, quán niệm xem những nhận định của người ấy có cởi mở tự do không, có bị ảnh hưởng bởi thành kiến, sự bưng bít. sự giận hờn và tình trang mất tự chủ hay không.

 

 
Quán niệm như thế cho đến khi cảm thấy sự thương xót nảy sinh trong tâm như một giếng nước ngọt mới đào được và giận hờn nơi mình tan biến. Lập lại bài tập nhiều lần.

 

 

 

6b/ – Quán niệm về khổ đau do vô minh tạo ra

 

 
Ngồi lại trong tư thế kiết già hay bán già. Khởi sự điều hòa hơi thở theo 3e. Chọn trường hợp của một người, một gia đình hay một xã hội đau khổ nhất mà mình biết để làm một đối tượng quán niệm. Trong trường hợp lấy một người để quán thấy nguồn gốc của tất cả những đau khổ thì có thể bắt đầu từ những đau khổ sắc thân (bệnh tật, nghèo khổ, đói, đau đớn xác thân) đến những đau khổ cảm thọ (ray rứt, sợ hãi, ganh tị, căm thù, dằn vặt), rồi những đau khổ tư duy (bi quan, xoay quanh những đối tượng đen tối, nhỏ hẹp). Những đau khổ hành nghiệp (thúc đẩy bởi sợ hãi, chán nản, tuyệt vọng, căm thù) và đau khổ nhận thức (bưng bít bởi hoàn cảnh, bởi sự khổ đau, bởi người xung quanh, bởi giáo dục, tuyên truyền, bởi sự thiếu tự chủ của tâm ý). Quán niệm đến khi sự xót thương nảy sinh trong tâm như một giếng nước ngọt, thấy rằng người ấy khổ đau vì bị hoàn cảnh và vô minh che lấp, từ đó phát tâm giúp đỡ người ấy thoát khỏi tâm trạng và hoàn cảnh hiện tại bằng những phương tiện im lặng và tế nhị nhất. 

 

 

 

Trong trường hợp lấy một gia đình để quán thì cũng theo phương pháp trên, nhưng quán niệm từng cá nhân một, hết cá nhân này đến cá nhân khác. Thấy được sự đau khổ của họ là sự đau khổ của chính mình. Thấy rằng mình không trách móc ai trong cộng đồng đó. Thấy rằng mình phải giúp họ thoát khỏi tình trạng bằng những phương tiện im lặng và tế nhị nhất. 

 

 

 

Trong trường hợp lấy xã hội để quán, ví dụ cuộc chiến tranh Việt Nam thì quán niệm để thấy rằng hầu hết những người Việt Nam tham dự cuộc chiến đều là nạn nhân dù họ thuộc phía nào. Thấy được rằng mỗi người ở cả hai phía đều sung sướng khi thấy cuộc chiến chấm dứt. Thấy được rằng các ý thức hệ chống đối nhau đều là sản phẩm của tư tưởng Tây Phương. Súng đạn, vũ khí hai bên sử dụng cũng là sản phẩm và tặng phẩm của Tây Phương. Thấy rằng chiến tranh Việt Nam là do sự tranh chấp của các cường quốc, do kỹ nghệ vũ khí Tây Phương, do hệ thống kinh tế đế quốc và do sự thiếu thức tỉnh, thiếu khôn khéo của người Việt Nam mà còn tiếp diễn. Thấy rằng quyền sống của con người là quyền căn bản, sự giết nhau không giải quyết được gì. Kinh Duy Ma Cật nói : “Vào thời đại đao binh – Phát khởi tâm từ bi – Giáo hóa cho mọi người – Đừng giữ tâm thù nghịch – Khi có giao tranh lớn – Dùng uy lực của mình – Làm sức hai bên ngang – Thuyết phục để hòa giải”.

 

 

 

Quán niệm cho tới khi mọi trách móc căm thù tan biến, lòng thương phát smh như một giếng ngọt trong tâm, phát nguyện làm công việc tỉnh thức và hòa giải đồng bào bằng những phương tiện vô tướng và tế nhị nhất.

 

 

 

6c/ – Quán niệm về hành động vô tướng

 

 
Ngồi lại trong tư thế kiết già hay bán già. Khởi sự điều hòa hơi thở theo 3c. Chọn một dự án phát triển nông thôn hay bất cứ dự án phụng sự nào mà mình cho là quan trọng để làm đối tượng quán niệm. Quán niệm về chủ đích, phương pháp và nhân sự của công tác. Về chủ đích, quán niệm để biết ràng công tác là để lợi sinh, để làm bớt khổ đau, để đáp ứng từ bi, mà không phải là để thỏa mãn ước muốn được ngợi khen. Về phương pháp, quán niệm để thấy đây là sự cộng tác giữa người và người, không phải là hành động ban bố tùy sở thích người làm. Về nhân sự, quán sát để thấy rằng trong công tác, nếu mình còn thấy mình là kẻ phụng sự và những người kia được phụng sự thì mình vẫn còn là hành động vì mình mà không thật sự vì người. Kinh Bát Nhã nói: “Bồ Tát độ chúng sanh mà thực ra không có chúng sanh nào được độ cả”. Đó là Phát tâm làm việc theo tinh thần vô tướng của Bát Nhã.

 

 

 

6d/ – Quán niệm về hành xả

 

 
Ngồi lại trong tư thế kiết già hay bán già. Khởi sự điều phục hơi thở theo 3c. Hồi tưởng những thành tích đáng kể trong đời mình, những gì mình đã thực hiện được và lần lượt quán niệm về từng thành tích một. Quán niệm về tài năng mình, về đức độ mình, về sự hội tụ những điều kiện đã khiến mình thành công. Quán niệm để thấy những khinh xuất, những ngã mạn đã từng phát sinh từ ý niệm mình có công trạng. Quán niệm duyên khởi để thấy đó không phải là những công trình của mình mà là sự hội tụ của nhiều nhân duyên. Quán niệm để thấy rằng mình không tự chuyên chở được những thành tích ấy, thành tích ấy không phải là cái ta của mình. Quán niệm để thấy mình tự do. không bị ràng buộc vào chúng, chỉ khi nào buông thả được chúng mình mới thật sự thanh thoát và không còn bị chúng xoay chuyển.

 

 

 

Hồi tưởng những thất bại, những chua cay nhất trong đời mình và lần lượt quán niệm về từng thất bại một. Quán niệm về tài năng của mình, đức độ của mình, sự thiếu thốn những điều kiện khiến mình thất bại. Quán niệm để thấy những e ngại, những mặc cảm đã phát smh từ ý niệm mình thua kém trong sự thực hiện những điều đó. Quán niệm duyên khởi để thấy đó không phải thực sự là sự kém cỏi của mình mà là sự thiếu thốn những điều kiện thuận lợi. Quán niệm để thấy riêng mình không chuyên chở được nhưng thất bại ấy và những thất bại ấy không phải là cái ta của mình. Quán niệm thấy mình tự do, không bị ràng buộc vào chúng, rằng chỉ khi nào buông thả được chúng, mình mới thật sự thanh thoát và mới không còn bị chúng đè nén.

 

 

 

6e/ – Quán niệm về bất xả

 

 
Ngồi lại trong tư thế kiết già hay bán già. Khởi sự điều phục hơi thở theo 3c. Thực tập một trong những phép quán 5a, 5b, 5c, 5d và 5e. Quán niệm để thấy rõ vạn vật vô thường, vô ngã, sinh diệt biến hoại trong từng giây từng phút. Quán niệm để thấy rằng tuy vạn vật là vô thường, vô ngã, sinh diệt biến hoại trong từng giây từng phút, nhưng vạn vật vẫn là mầu nhiệm, không bị ràng buộc vào hữu vi mà cũng không bị ràng buộc vào vô vi. Quán niệm để thấy rằng Bồ Tát tuy không vướng mắc vào ngủ uẩn và vạn pháp, nhưng cũng không trốn tránh ngũ uẩn và vạn pháp. Tuy có thể buông thả ngũ uẩn và vạn pháp như buông thả tro nguội, nhưng vẫn an trú được trên ngũ uẩn và vạn pháp mà không bị chìm đắm bởi ngũ uẩn và vạn pháp. Cũng như nước trong những làn sóng không bị những làn sóng làm chìm đắm. Quan niệm để thấy được rằng người giác ngộ tuy không bị nô lệ bởi công tác độ sinh nhưng vẫn không khi nào rời công tác độ sinh.

 

 

 

 

Thích Nhất Hạnh

Còn nữa…

Nguồn link: http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-80_4-9670_5-50_6-2_17-88_14-1_15-1/#nl_detail_bookmark

 

Xem Tiếp

 

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Bảy 23, 2012 in Phật Giáo

 

Phần 2: Phép lạ của sự tỉnh thức (Thích Nhất Hạnh)

13:23 18/06/2012

Phần 2: Phép lạ của sự tỉnh thức (Thích Nhất Hạnh)

Tâm vọng động cũng là tâm, như sóng nhấp nhô cũng là nước. Lúc tâm tĩnh lặng rồi thì vọng tâm cũng là chân tâm. Chân tâm là con người thật của ta, là Phật, là đại thể, duy tính, duy nhất, không bị ngăn cách bởi ranh giới bản ngã, khái niệm và ngôn từ. Tôi không muốn nói nhiều về khía cạnh này đâu Thiều, chỉ đủ để “có đầu có đuôi” thế thôi…

Hạt sỏi dưới lòng cát mịn  

 

Tác viên ngồi thiền để làm gì? trước hết là để thực hiện một sự nghỉ ngơi toàn vẹn. Thiều nên biết trong giấc ngủ cũng chưa hẳn là hình thức nghỉ ngơi toàn vẹn. Ngủ với thần kinh căng thẳng, với những bắp thịt trên mặt và trên tay chân co rút, với những những giấc mộng nặng nề. Ngủ như thế không phải là nghỉ ngơi. Nằm cũng chưa phải là nghỉ ngơi, nhất là khi còn trăn trở bất an. Nằm dài, xuôi tay chân, đầu không kê gối là một tư thế rất tốt để tập thở và để buông thả bắp thịt cho thư thái. 

 

Nhưng nằm thì dễ ngủ. Với lại nằm thì không đi sâu vào Thiền quán được bằng ngồi. Ta có thể tạo nên sự nghỉ ngơi toàn vẹn trong tư thế ngồi và tiếp đó có thể đi sâu hon trong thiền quán để đối trị lại những trở ngại tâm lý của ta.

 

Tôi biết các tác viên có nhiều người biết ngồi kiết già, bàn chân trái đặt lên bắp chân phải và bàn chân phải đặt lên bắp chân trái, cũng có người chỉ có thể ngồi bán già, bàn chân trái đặt lên bắp chân phải hay chân phải đặt trên bắp chân trái. Tại lớp Thiền tập ở Paris, có người không ngồi được các tư thế trên. Tôi khuyên họ nên ngồi theo lối người Nhật. Hai gối song song, hai lòng bàn chân úp xuống làm nơi nương tựa cho thân hình với một chiếc gối kê gọn dưới hai sóng bàn chân. Ta có thể ngồi yên trong tư thế đó hơn một giờ nữa. Tuy nhiên ai cũng có thể ít nhất là tập ngồi theo tư thế bán già. Ban đầu có hơi đau, nhưng độ vài tuần lễ thì ít đau hơn. Khi đau thì đổi tư thế đi hay đổi vị trí của các bàn chân cho nhau. Trong trường hợp kiết già hay bán kiết già, ta nên kê dưới mông một cái gối để cho hai đầu gối chúc xuống, như vậy là ta có 3 điểm tựa, thế ngồi như vậy là rất vững chắc sống lưng ta giữ cho thật thắng, đây là một điều quan trọng. Đầu và cổ giữ theo sống lưng thật thẳng nhưng không cứng ngắt như gỗ. Mắt nhìn xuống khoảng hai thước về phía trước. Miệng giữ nụ cười hàm tiếu.

 

Bây giờ ta bắt đầu theo dõi hơi thở và cũng bắt đầu buông thả mọi bắp thịt trong người, chỉ giữ xương sống thật thẳng và theo sát hơi thở, còn bao nhiêu thứ còn lại cùng buông thả hết. 

 

Muốn buông thả những bắp thịt chằng chịt trên mặt, những bắp thịt co lại vì lo âu, cáu kỉnh, sợ hãi hay buồn phiền, ta hãy gọi về trên môi nụ cười hàm tiếu, nụ cười chớm nở, nụ cười tới thì các bắp thịt kia bắt đầu buông thả. Ta duy trì nụ cười ấy càng lâu càng quý, nụ cười mà Thiều thấy nở hoài trên mặt Phật. 

 

Ta đặt lòng bàn tay trái ngửa ra trong lòng bàn tay mặt, buông thả mọi bắp thịt trong bàn tay, trong ngón tay, trong cánh tay, trong bắp chân. Hãy để cho tất cả trôi đi, như những dãy rong rêu trôi theo dòng nước trong khi tảng đá dưới nước vẫn nằm im bất động, chỉ giữ lấy hơi thở và nụ cười hàm tiếu trên môi. Những ai mới bắt đầu tập ngồi thiền thì nên ngồi từ 20 phút đến nửa giờ. Trong thời gian đó, nên thực tập sự nghỉ ngơi toàn vẹn. Kỹ thuật của sự nghỉ ngơi này được tóm tắt trong hai tiếng : Nắm giữ và Buông thả. Nắm giữ hơi thở và buông thả tất cả những gì còn lại. Buông thả tất cả các thớ thịt trong châu thân, trong khoảng 15 phút hành giả có thể đạt đến sự tĩnh lặng và an lạc. Duy trì trạng thái tĩnh lặng và an lạc ấy. 

 

Có người xem thiền tọa như một cực hình. Muốn cho thì giờ qua mau để nằm nghỉ. Trong trường hợp này, ta thấy “đương sự” chưa biết ngồi thiền. Biết ngồi thiền thì tự khắc tìm thảy sự khỏe khoắn và an lạc ngay trong tư thế ngồi. Tôi thường đề nghị những người này dung hình ảnh hạt sỏi rơi trong dòng sông để thực hiện sự an nghỉ trong thiền toạ.

 

Thế nào là hạt sỏi rơi trong dòng sông. Hành giả ngồi xuống trong tư thế tiện nghi nhất, bán già hay kiết già, lưng thẳng. Miệng giữ nụ cười hàm tiếu. Hành giả thở chậm và sâu, theo dõi hơi thở, đồng nhất mình với hơi thở. Thế rồi hành giả tự dể mình buông thả hoàn toàn như một hạt sỏi trắng được thả xuống dòng sông trong vắt.

 

Hạt sỏi thả xuống dòng sông không hề tự ý cử động, nó tự buông thả và rơi xuống từ từ trong dòng sông bằng con đường ngắn nhất và cuối cùng tìm tới đáy sông. Xuống tới đáy sông rồi là nó được chỗ an nghỉ, không còn rơi nữa. Hành giả tự thấy mmh như một hạt sỏi, tự để rơi mình trong một dòng sông, buông thả hoàn toàn. Trọng tâm của hành giả là hơi thở. Thời gian buông thả để rơi, để tìm tới nơi an nghỉ trên cát mịn dưới đáy sông không cần thiết là dài bao lâu. Khi mà hành gả thấy mình ngồi an lạc, khỏe khoắn như một hạt sỏi trên cát mịn dưới đáy sông là khi ấy bắt đầu có sự nghỉ ngơi trọn vẹn. Hành giả không bị quá khứ níu kéo, không bị vị lai thâu hút. Hành giả biết rằng nếu mình không có khả năng thọ hưởng sự an lạc trong giờ phút thiền toạ hiện tại, thì tương lai cũng sẽ trôi qua những kẽ tay mình, và mình cũng sẽ không bao giờ thực sống khi tương lai biến thành hiện tại. An lạc là an lạc trong giờ thiền tọa đây. Nếu không tìm được an lạc lúc này thì sẽ không tìm dược an lạc ở bất cứ lúc nào khác. Đừng đuổi theo vị lai như người bị thu hồn chạy theo bùa phép. Dừng lại và tìm sự an lạc trong giờ phút hiện tại. Hành giả thấy rằng thời gian này là thời gian của mình, chỗ ngồi này là chỗ ngồi của mình. Chính trên chỗ ngồi này và trong giờ phút này mà mình có thể thành Phật chứ không phải ở dưới một cây Bồ Đề nào trong 1 kiếp vị lai nào xa xôi. Thiền tập như thế trong vài ba tháng thì hành giả bắt đầu biết thế nào là Thiền Duyệt. Thiền Duyệt là sự an vui tìm thấy trong Thiền Tọa. Ngày xưa Thầy Thanh Từ có cất một thiền thắt trên đỉnh phương Bối, lấy tên là Thiền Duyệt Thắt. 

 

Thiều ơi ! Giờ tọa thiển có dễ thành công hay không là do đời sống hàng ngày mình có tập chánh niệm nhiều hay ít. Và cũng do mình có thực tập đều đặn mỗi ngày hay không. ở chùa lá Pháp Vân mình nên tổ chức thiền tọa mỗi đêm cho tác viên, từ 10 đến 11 giờ. Ai muốn ngồi nửa giờ hay cả giờ tùy ý.

 

Nhận diện

 

Nhưng mục đích của Thiền Tọa chỉ là để tìm sự nghỉ ngơi thôi sao? Có người sẽ hỏi. Thiều cũng dư biết rằng mục đích của thiền tọa sâu xa hơn sự nghỉ ngơi. Nhưng sự nghỉ ngơi là khởi điểm cần thiết. Thực hiện sự nghỉ ngơi, ta thực hiện được sự tĩnh tâm và nhiếp ý là đi được một quãng đường khá dài trong thiền tập rồi.

 

Ta nên nhớ rằng, quán niệm hơi thở là một phương pháp thần diệu. Đừng nói rằng pháp quán niệm hoi thở là chỉ dể dành cho người mới học đạo. Thiền sư Tăng Hội đầu thế kỷ thứ ba đã viết trong kinh An Ban thủ ý : “Quán niệm hoi thở là đại thừa (cỗ xe lớn) của chư phật để cứu vớt chúng sanh đang trôi chìm trong sanh tử. Đếm hơi thở, theo dõi hơi thở, nắm lấy hơi thở là những phương pháp thần diệu đề nhiếp tâm và tịnh ý”.

 

Tuy nhiên nếu muốn nhiếp tâm và tịnh ý đến chỗ căn bản, ta phải biết quán niệm về cảm thọ và tư duy của ta. Muốn điều tâm ta phải quán tâm. Ta phải biết quan sát và nhận ra mọi mặt cảm thọ và mọi tư duy khi chúng có mặt nơi ta.

 

Thiền sư Thiền Chiếu cuối đời Lý có nói : người tu đạo nếu biết rõ tâm linh mình thì sẽ phí sức ít mà dễ thành công. Người tu đạo nếu không biết gì về tâm linh mình thì chỉ phí công vô ích. Muốn biết tâm mình thì chỉ có một cách quán sát nó, nhận diện nó. Công việc đó làm thường trực trong sinh hoạt hàng ngày cũng như trong giờ thiền tọa. Trong lúc ta thiền tọa, những cảm thọ và những ý tưởng có thể phát hiện trong ta. Nếu ta không dùng những phương pháp quán niệm hơi thở thì chúng có thể xâm chiếm và đưa ta ra ngoài chánh niệm. Nhưng ta đừng nghĩ rằng hơi thở chỉ là để xua đuổi cảm thọ và ý tưởng. Hơi thở còn là để tâm lắng lại thân tâm, mở lối cho định và tuệ. Khi một cảm thọ hay một ý tưởng xuất hiện, ta đừng cố ý xua đuổi bằng hơi thở, dù sự tập trung tâm ý nơi hơi thở có tác dụng khiến cho cảm thọ hay ý tưởng đó tạm bị loại trừ ra khỏi tâm ý. Đừng cố xua duỗi, ghét bỏ, e sợ. Phải làm sao ? Chỉ cần nhận diện thôi. Thí dụ khi một cảm thọ đau nhức phát hiện nơi ta, ta liền nhận diện nó : “Một cảm thọ đau nhức xuất hiện nơi ta”.

 

Một cảm thọ đau nhức còn tồn tại nới ta, ta cũng nhặn diện nó : “Cảm thọ đau nhức còn tồn tại nơi ta”. Nếu một ý tưởng phát hiện nơi ta. Ví dụ, “nhà hàng xóm giờ này mà còn làm ồn quá” thì ta nhận diện nó : “ý tưởng nhà hàng xóm giờ này mà còn làm ồn quá vừa phát hiện nơi ta”. Nếu ý tưởng dó còn tồn tại ta tiếp tục nhặn diện, nếu có một cảm thọ khác, hay một ý tưởng khác đi qua đầu ta thì cũng phải nhận diện như thế. Ta không để cho một cảm thọ hay bất cứ ý tưởng nào phát sinh hay lưu trú trong ta mà có thể tránh thoát sự quán niệm và nhặn diện của ta.

 

Ta quan sát và nhận diện chúng như người gác cửa cung vua, nhận diện mỗi gương mặt đi qua cửa khuyết. Khi không còn cảm thọ hay ý tưởng nào có mặt, ta cũng nhặn diện sự không có mặt của chúng. Cảnh giác thường trực như vậy tức là quán niệm về cảm thọ và tâm thức. Quán niệm tinh tiến như vậy, thì ta sớm điều phục được tâm ta. Ta có thể phối hợp phương pháp quán niệm này với phương pháp quan niệm hơi thở để nhiếp phục tâm ý.

 

Vọng tâm trở thành chân tâm

 

Thiều ơi ! Điều quan trọng mà tôi muốn nhắc lại ở đây là trong khi thực hành quán niệm ta chớ nên để sự phân biệt thiện ác, chính tà chi phối để tạo nên sự dằng co.Khi một ý niệm thiện phát sinh, ta chỉ nên nhận diện “một ý niệm thiện vừa phát sinh”. Khi một ý niệm bất thiện phát sinh ta chỉ nên nhận diện : “một ý niệm bất thiện vừa phát sinh”. Đừng lôi kéo hoặc xua đuổi, không yêu mến cũng không ghê sọ. Hãy chỉ nhận diện chúng thôi là đủ. Nếu chúng đã đi rồi thì biết chúng đã đi rồi. Nếu chúng còn đó thì biết chúng đang còn đó. Có cảnh giác rồi thì không có gì cần phải sợ sệt nữa. 

 

Trong khi tôi nói đến người gác cửa đền vua. Thiều có thể tưởng tượng một gian phòng có hai cửa. Một cửa vào và một cửa ra với tâm ta là người gác cửa. Cảm thọ và ý tưởng nào vào là ta biết, chúng ở lại ta cũng biết. Chúng ra đi ta cũng biết. Ví dụ ấy có một khuyết điểm nghe Thiều.

 

Tại vì trong ví dụ ấy, những người vào ra không phải là ông gác cửa, trong khi đó những cảm thọ và tư tưởng của ta lại chính là ta, là một phần của ta. Đối với sự thiền tập, thì đó là sự náo loạn, sự phân tán, là quân giặc tìm tới công hãm thành trì của sự tĩnh tâm. Tuy vậy, khi ta giận, thì sự giận chính là ra. Khi ta vui, sự vui cũng chính là ta. Khi ta có những ý tưởng, những ý tưởng đó cũng chính là ta. Ta vừa là người diễn kịch vừa là khán giả xem kịch. Ta vừa là tâm, vừa là người quán sát tâm. 

 

Cho nên xua đuổi hay nức kéo không phải là chuyện quan trọng. Quan trọng là nhận biết, Sự quán sát này là sự quan sát không đối tượng hóa, tức là không phân biệt chủ thể và đối tượng. Tâm không nức kéo tâm, tâm không xua đuổi tâm. Tâm chỉ có thể quán tâm, mà sự quán sát đây không phải là sự quán sát một đối tượng độc lập. Hãy nhớ lại công án của Thiền Sư Bạch ẩn : Tiếng vỗ của một bàn tay. Hãy nghĩ đến lưỡi nếm mùi vị của lưỡi. Tâm thức nghiệm về tâm ngay chính trong bản thân của tâm. Điều này quan trọng đặc biệt, cho nên trong kinh quán niệm Phật luôn luôn dùng mệnh đề : “Quán niệm cảm thọ nơi cảm thọ, quán niệm tâm thức nơi tâm thức”. Có người nói sự lập lại của những chữ cảm thọ và tâm thức là để nhấn mạnh. Tôi e rằng họ không hiểu ý của Phật. Quán niệm cảm thọ nơi cảm thọ là quán niệm của cảm thọ trực tiếp nơi cảm thọ, chứ không phải là quán niệm cảm thọ nơi một hình ảnh tạo ra về cảm thọ sau khi đối tượng hóa cảm thọ. Quán niệm cảm thọ nơi cảm thọ là tâm quán niệm tâm. Đối tượng hóa để quan sát là phương pháp khoa học, không phải là phương pháp thiền quán. Cho nên hình ảnh người gác cửa và những khách vào ra gian phòng tâm thức không phải là hình ảnh hoàn bị để đem ví dụ cho sự quán sát tâm ý. Tâm như con vượn chuyền cành, Kinh hay nói như vậy. Chúng ta hãy tập quan sát con vượn, bám sát lấy nó, đừng để một cử động nào lọt ra khỏi nhãn quan ta. Hãy đồng nhất với nó. Tâm quán tăm như bóng theo hình thì dù tâm ý chuyển đi đâu nó vẫn nằm trong sự kiểm soát của tâm. Kinh thường nói : “cột con vượn tâm lại”. Đó chỉ là một cách nói thôi. Khi tâm thường trực quán tâm thì tâm không còn là một con vượn nữa. Không có hai tâm, một tâm chuyền cành và một tâm đi kéo lại.

 

Người tọa thiền thường mong “thấy tánh” để giác ngộ chứng đạo. Hành giả mới tập thiền đừng chờ đợi “thấy tánh” và “giác ngộ”. Tốt hơn là đừng chờ đợi gì hết. Nhất là đừng chờ thấy Phật trong khi ngồi thiền. Trong 6 tháng đầu, hãy nỗ lực nhiếp tâm tạo nên trạng thái tĩnh lặng và an lạc. Người tác viên nên thực tập như thế, vừa rũ sạch được phiền não, vừa được nghỉ ngơi an lạc, vừa làm cho tâm hồn tĩnh lặng để cái thấy sáng thêm, để cái nhìn rộng thêm, để tình thương yêu có thêm thực chất.

 

Thiền tọa là thức ăn cho tâm linh nhưng cũng là thức ăn cho tình cảm và thể chất nữa. Thân thể ta cũng nhờ thiền tọa mà nhẹ nhàng an lạc hơn. Từ sự quán tâm đi tới sự “thấy tánh” con đường sẽ không gian nan lắm đâu nếu thực tập quán tâm thi hành đúng phép. Lúc thiền tọa mà đã tĩnh lặng, hình ảnh tư duy và cảm thọ không quấy động được rồi thì tâm bắt đầu an trú nơi tâm, tâm nhiếp tâm trong một hình thái trực giác mầu nhiệm, không có chủ thể và đối tượng, cũng như ta nhấp một chén trà mà tâm ý không còn phăn biệt, ký ức không còn trấn ngự thì cảm thọ của ta về hương vị trà là 1 cảm thọ trực tiếp, một trực giác mầu nhiễm trong đó không còn có sự phân biệt chủ thể và đối tượng, người uống trà và trà bị uống. Tâm vọng động cũng là tâm, như sóng nhấp nhô cũng là nước. Lúc tâm tĩnh lặng rồi thì vọng tâm cũng là chân tâm. Chân tâm là con người thật của ta, là Phật, là đại thể, duy tính, duy nhất, không bị ngăn cách bởi ranh giới bản ngã, khái niệm và ngôn từ. Tôi không muốn nói nhiều về khía cạnh này đâu Thiều, chỉ đủ để “có đầu có đuôi” thế thôi.

 

Một là tất cả, tât cả là một

 

Thiều ơi ! Tôi muốn dành mấy trang trong trang thư này để nói về các pháp quán niệm mà người tác viên có thể thực tập đạt dần tới trình độ phá chấp, vô úy và đại bi của các vị Bồ Tát. Đó là các pháp quán niệm về nhân duyên, vô thường và từ bi.

 

Trong lúc thiền tọa, sau khi nhiếp tâm quán chiếu về tính cách duyên khởi của mọi hiện tượng. Phép quán niệm này không phải là sự suy tưởng miên man về triết lý duyên sanh mà là sự thể nhập của tâm thức vào trong đối tượng tâm thức, dùng định lực để phơi bày mặt thực của những đối tượng này. 

 

Những ai đã từng học Duy Thức đều biết danh từ “nhận thức” là để gọi chung chủ thể và đối tượng nhận thấy. Chủ thể nhận thức thực không có thể tồn tại độc lập với đối tượng nhận thức. 

 

Thấy là thấy một cái gì, giận là giận một cái gì, mơ ước là mơ ước một cái gì, tư duy là tư duy về một cái gì. Khi mà đối tượng nhận thức (một cái gì) không có mặt thì không thể có chủ thể nhận thức (thấy, nghe, giận, mơ ước, tư duy). Người tọa thiền phải quán tâm, quán tâm thì thấy được sự tương sinh của chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức, và do đó khi ta quán niệm về hơi thở thì nhận thức về hơi thở là tâm. Khi ta quán niệm về thân thể thì nhận thức về thân thể là tâm. Khi ta quán niệm về vũ trụ vạn hữu thì nhận thức về vũ trụ vạn hữu cũng là quán niệm về tâm. Vậy quán niệm về thực tánh duyên khởi của vũ trụ vạn hữu cũng là quán niệm về tâm. Tất cả mọi đối tượng của tâm thức đều là tâm thức. Trong Đạo Phật, đối tượng của tâm thức dược gọi là pháp. Pháp được liệt kê thành năm loại : sinh vật lý (sắc), cảm thọ (thọ), tư duy (tưởng), hành nghiệp (hành) và nhặn thức (thức). Năm loại được gọi là năm nhóm (ngũ uẩn). Tuy thế nhóm thứ năm (thức) bao gồm cả bốn nhóm trước. 

 

Quán niệm về duyên khởi là nhìn sâu vào các pháp để phát hiện tánh cách tương quan chặt chẽ của chúng, để thấy được chúng trong cái đại thể toàn nhất. Để thấy được thực tại không cắt xén thành từng mảnh nhỏ rời rạc khô chết.

 

Đối tượng cần được quán niệm trước tiên là con người của chính ta, là hợp thể ngũ uẩn. Hành giả quán niệm ngủ uẩn của chính mình nơi tự thân. Hành giả ý thức được sự có mặt của sinh lý, cảm thọ, tư duy, hành nghiệp và nhận thức. Hành giả quán sát những đối tượng ấy cho đến khi thấy rằng cái nào cũng có liên hệ thân thiết đến vũ trụ vạn hữu. Nếu không có vũ trụ vạn hữu thì hợp thể ngủ uẩn này cũng không thể có được.

 

Cũng như một cái bàn, cái bàn có được là nhờ những hiện tượng khác mà ta không gọi là bàn. Ví dụ rừng cây, người thợ gỗ, người thợ mộc, sắt để làm đinh, cưa và búa, bút chì và hàng trăm hiện tượng khác liên hệ xa gần tới cái bàn như cha mẹ người thợ mộc, sự hình thành xưởng mộc. 

 

Nhìn thấy thực thể của cái bàn thì ta thấy nơi sự có mặt của những hiện tượng mà ta không gọi là bàn. Trả lại tất cả những hiện tượng không bàn về cho vũ trụ : đinh về cho sắt, gỗ về cho rừng, người thợ mộc về cho cha mẹ… thì cái bàn không còn có thể có mặt nữa. Người nào nhìn cái bàn mà thấy được vũ trụ, người ấy thấy được đạo.

 

Hành giả quán chiếu hợp thể ngũ uẩn của mình bằng cách đó cho đến khi thấy được sự có mặt của cái nhất thể thực tại nơi thân mình, mình cùng với sự sống của đại thể thực tại là một. Trả năm uẩn về thì tự ngã không còn nữa. Vũ trụ vạn hữu đang nuôi dưỡng hợp thể ngủ uẩn từng giây từng phút, tự ngã chỉ là hợp thể ngũ uẩn đó chứ không còn là gì khác và hợp thể ngũ uẩn đó cũng đóng một vai trò quan trọng trong sự hình thành, tồn tại và hoại diệt của vạn hữu trong vũ trụ.

 

Độ nhất thiết khổ ách

 

Thói thường con người hay cắt xén thực tại ra từng mảnh nhỏ tách biệt, ít thấy liên quan duyên khởi của các hiện tượng. Thấy được tất cả trong cái một, thấy được cái một trong tất cả là phá được một thứ cố chấp lớn mà Đạo phật gọi là ngã chấp. Chấp ngã tức là chấp vào sự có những thực thể bất biến, những mảnh nhỏ rời rạc khô chết biệt lập với nhau. Phá được cái chấp ấy thì thoát ra ngoài mọi sợ hãi. Bát nhã tâm kinh nói rằng : “Khi Bồ Tát Quan Thế Âm quán chiếu về hợp thể ngũ uẩn và phát hiện ra cái trống rỗng của tự ngã thì tức khắc Ngài vượt thoát ra ngoài mọi khổ đau. ách nạn. Thiều cũng vậy, tôi cũng vậy, các tác viên khác cũng vậy. Nếu chúng ta thực tập quán niệm một cách dũng mãnh, tinh tiến thì chúng ta cũng thoát ra được mọi khổ đau ách nạn, nhất là mọi sự sợ hãi. Bổ Tát Quan Thế Âm thường được mô tả như một sự chuyên môn đi hiến tặng sự không sợ hãi (vô úy thí). Tặng phẩm ấy có chi là lạ. Đó là phương pháp quán duyên khởi nơi ngũ uẩn. Điều quan trọng là nếu người tặng đã tặng hết lòng thì người nhận cũng phải nhận hết lòng, như thế thì tặng phẩm mới có thể tới tay.

 

Hành giả phải tháo gỡ mọi bưng bít để sự sống của mình hòa vào sự sống của đại thể. Con người không phải là những đơn vị đóng kín trong một lớp vỏ dày và đang chu du trong không gian và thời gian. Sống kiếp trăm năm hay sống ngàn muôn kiếp trong chiếc kín (cái hũ) không phải là sống, mà cũng không phải là chuyện có thể có được. Sự sống của mình có mặt nơi những thực thể khác và những thực thể khác lại có mặt nơi mình. Mình là sự sống và sự sống không có biên giới. Có như thế thì mình mới sống được cái sống của vũ trụ, của người anh em, vui được cái vui của người anh em. Sự sống của mình đã không có biên giới thì sự còn mất của một hợp thể ngủ uẩn nào có nghĩa gì. Sự thăng trầm và tính cách vô thường của vạn hữu, sự đắc thất không còn lung lạc được mình nữa. Bởi vì hễ thấy được lẽ duyên khởi thì những thứ ấy không còn khống chế được mình và mình thoát ra được mọi khổ não. Ta hãy ngồi lại trong tư thế kiết già, điều phục hơi thở và hơi Nhất Chi Mai.

 

Quán duyên khởi phải quán cho chuyên cần. Trong lúc thiền tọa ta đã quán thành mà trong lúc giao tiếp công tác thường nhật ta cũng phải quán, phải thấy được người đối diện là mình và mình là người đối diện. Phải thấy được quá trình duyên khởi của mọi sự đã, đang và sẽ xảy ra.

 

Du ngoạn trên những đợt song sanh tử  

 

Thiều ơi! Nói chuyện về những người tác viên tôi không thể không đề cặp đến vấn đề sống chết. Phụng sự trong hoàn cảnh như hoàn cảnh hiện tại ở Việt Nam, ta thường trực đối diện với cái chết. Bao nhiêu anh em trong số chúng ta đã hy sinh thân mạng rồi. Liên, Vui, Tuân, Huy, Thỉ, Hành, Mai, Hùng, Toàn và tám người khác trong chín năm nay đã biệt vô âm tín. Trong khl xông qua rừng lửa đạn, trong khi khiêng chôn những xác chết. Trong số chúng ta có những thanh niên tăng ni đã theo tiếng gọi của tình huynh đệ mà đi làm tác viên xã hội nhưng vẫn nhớ rõ rằng vấn đề chính yếu của thiền môn là vấn đề sống chết (“sinh tử sự đại”). Đã biết sự sống và sự chết chẳng qua là hai mặt của cuộc đời, ta can đảm đối diện với cả sự sống lẫn sư chết. Ngày xưa hồi mười chín tuốt, khi nghe giảng đến phương pháp quán xác trong những bãi tha ma, tôi thấy bi thảm quá và hơi có thái độ phản đối.

 

Nhưng bây giờ tôi không còn thấy như thế nữa. Ngày xưa tôi nghĩ phép “cứu tưởng quán” chỉ nên để dành đến khi mình lớn tuổi, vào khoảng ba mươi lăm, bốn mươi tuổi. Nhưng tôi đã thầy những người trẻ tuổi xứ ta nằm ngã gục bên nhau, có người chỉ mới mười bốn hay mười tám tuổi. Không chuẩn bị trước ta không sẵn sàng để đối phó với cái chết. Với lại tôi thấy rằng nếu không biết chết thì ta cũng chưa biết sống. Bởi vì chết là một phần của sự sống. Quỳnh Hoa nói với tôi mới đây hai hôm : Tuổi hai mươi đã có đủ năng lực để quán cứu tướng. Quỳnh Hoa nói như vậy bởi vì cô ta vừa được hai mươi mốt tuổi. Ta phải giáp mặt sự chết và nhận diện nó như ta đã giáp mặt và nhận diện sự sống vậy. 

 

Kinh Quán Niệm có nói về phép quán xác chết. Thấy xác chết sình trương, bị thú vật và ruồi bọ rút rỉa, rồi còn lại một bộ xương dính máu, rồi còn lại từng khúc xương lãn lóc. trắng hếu, rồi những khúc xương mục nát thành tro bụi… Quán như thế và biết chính bản thăn mình cũng như vậy, cũng sẽ trải qua những giai đoạn ấy. Quán như thế đến khi nào bình tĩnh, miệng mỉm cười, tâm trí nhẹ nhàng thì thành công. Lúc bấy giờ ta không còn bi quan mà lại còn thấy sự sống quí giá, đáng sống từng giây từng phút. Không những sự sống nơi ta mà cả sự sống nơi mọi người, mọi sinh vật, mọi thực vật. Ta không còn bám bíu sự sống đến mức phải đi tiêu diệt sự sống của kẻ khác để nuôi dưỡng sự sống của mình. Ta thấy được sống chết là hai mặt của sự sống, cũng như mặt trái và mặt phải của cùng một mặt trăng. Lúc bấy giờ ta siêu việt được sinh tử và mới thực sự biết sống và biết chết. Kinh nói những vị Bồ Tát đạt được Chân lý duyên khởi, phá vỡ cái vỏ ngã chấp thì có thể vào sanh ra tử như người đi du ngoạn ngồi trên nhưng đợt sóng mà không bị những đợt sóng sinh tử làm chìm đắm.

 

Thiều ơi! Có người nói nhìn thực tại với con mắt phật tử thì sẽ thấy bi quan. Thực ra bi quan hay lạc quan là những gì quá dễ dãi. Vấn đề là nhìn thấy thực tại một cách thấu đáo. Một tâm trạng bi quan chẳng bao giờ đưa tới được nụ cười trầm tĩnh mà ta thấy nở trên môi các vị Bồ Tát và những người đạt đạo.

 

Cây bưởi trước nhà  

 

Tôi đã nói với Thiều về phương pháp quán niệm duyên khởi. Thiều cũng biết tất cả các phương pháp quán niệm trong đạo Phật đều phải được xem là phương tiện mà không phải cứu cánh hay chân lý tuyệt đối. Quán niệm duyên khởi là phá tan những biên giới giả tạo giữa các hiện tưọng để thể nhập vào hòa điệu đại đồng của sự sống mà không phải xây dựng và cố chấp một triết thuyết gọi là triết thuyết duyên khởi. Herman Hesse trong cuốn”câu chuyện dòng sông” chưa thấy được nên đã đặt vào miệng chàng Tất Đạt Đa một lời phẩm bình về triết lý duyên khởi nghe còn non nớt. Nhà văn nói rằng lý duyên khởi cho thấy hình ảnh một vũ trụ trong đó mọi vật tương quan duyên mà hiện hữu, không có một kẽ hở nào để chứng tỏ có sự sai lệch ra ngoài luật tương quan tương duyên ấy. Do đó, ông không thể quan niệm được vấn đề giải thoát trong vũ trụ này. 

 

Trong Duy thức học, ta thấy có phép quán niệm về ba tự tánh của thực tại : Tự tánh biến kế chấp, tự tánh y tha khởi và tự tánh viên thành thật.

 
Quán duyên khởi nên theo sự hướng dẫn của Duy Thức, vì quên lãng và thành kiến nên ta thường phủ lên thực tại một lớp cố chấp. Vì vậy thực tại bị mang màu sắc biến kế chấp. Biến kế chấp là cái sai lầm về thực tại, cho rằng thực tại là những thể tách biệt, những cái ngã. Đó là nguyên nhân của sự phăn biệt, kỳ thị, giận hờn. Để phá biến kế chấp, người hành giả quán niệm tự tánh y tha khởi, tức là sự tương quan tương duyên của vạn hữu trong quá trình sinh thành, tồn tại và hủy diệt. Y tha khởi cần được sử đụng như một dụng cụ quán chiếu mà không được nhận thức là một triết thuyết.

 

Quán chiếu y tha khởi là để thực chứng thực tại, thể nhập thực tại, chứ không phải là để bị kẹt vào y tha khởi. Cũng như dùng chiếc bè để qua bờ chứ không phải để đội lên đầu, do ngón tay chỉ mặt trăng mà thấy được mặt trăng chứ không phải lầm ngón tay là mặt trăng. Hành giả coi cố chấp và y tha khởi như một hệ thống khái niệm thì sẽ bị mắc kẹt.

 

Vì vậy, phải có tự tánh viên thành thật. Viên thành thật là một danh từ để chỉ thực lại một khi thực tại đã được thoát khỏi màu của biến kế chấp. Viên thành thật có nghĩa là thế này : Thực tại là thực tại, siêu việt khái niệm. Bất cứ khái niệm nào cũng không thể miêu tả được nó, dù cho nó là khái niệm y tha khởi. Cho chắc hơn, Duy Thức đề ra Tam Vô Tánh để trung hòa Tam Tự Tánh, tránh cho người học đạo không mắc kẹt vào ba tự tánh. Tinh hoa của Đại Thừa là ở chỗ ấy.

 

Khi mà thực tại hiển hiện trong tự tánh viên thành thật của nó thì người hành giả đạt được thứ nhận thức gọi là vô phân biệt trí. Nhận thức ở đăy là sự cảm thông màu nhiệm trong đó không có sự phân biệt chủ thể và đối tượng. Như tôi đã nói với Thiều một lần rồi, đăy không phải là một cái gì xa xôi đâu Thiều. Bất cứ ai trong chúng ta có thực tập chút ít đều có thể nếm được mùi vị.

 

Trên bàn tôi có một xấp hồ sơ cô nhi. Mỗi ngày tôi dịch một ít phụ với các bạn. Khi khởi đầu dịch một hồ sơ, tôi nhìn vào tấm hình em bé và tự nhiên những nét mặt của em gợi nhiều hình ảnh về bản thăn tôi và sự liên hệ giữa tôi với các em khiến tôi đi vào một sự cảm thông rất mầu nhiệm. Bây giờ viết những dòng này, tôi thấy rằng trong giờ phút cảm thông ấy, tôi đã dịch những dòng chữ trong hồ sơ với tâm trạng không phân biệt. Tôi không thấy có tôi là người dịch hồ sơ giúp cho em bé, tôi không thấy có em bé là đối tượng của sự thương yêu và giúp đỡ. Em bé và tôi lúc ấy là một, không có ai thương ai, không có ai nhờ ai, không có ai giúp ai. Không có bổn phận cũng không có công tác. không có từ bi, không có Ba La Mật.

 

Cái giờ phút cảm thông đó, nếu chẳng là một tia sáng của vô phân biệt trí thì còn là gì nữa hả Thiều. Khi thực tại hiển hiện trong tự tánh viên thành thật của nó thì cây bưởi trước nhà cũng biểu hiện tự thân của nó một cách toàn vẹn. cây bưởi lúc bấy giờ là chân như, là phật tánh, là thực tại, là mình. Bao nhiêu người đi qua sân mà đã có mấy người thấy được cây bưởi. Người nghệ sĩ có tâm hồn thế nào đó cho nên thấy được cây bưởi nhiều hơn, sâu hơn kẻ phàm phu. Sở dĩ có một sự cảm thông nào đó vì lòng anh rộng mở. ăn thua là ở lòng mình. Nếu lòng mình không bị kiến chấp ràng buộc thì tự nhiên mình đi vào chỗ cảm thông với cây bưởi và cây bưởi sẵn sàng biểu lộ tự thân toàn vẹn của nó với mình. Thấy cây bưởi tức là thấy đạo. 

 

Có một Thiền Sư được hỏi về chân lý mầu nhiệm của thực tại bèn chỉ ra gốc Bạch Dương mà nói : “nhìn cây Bạch Dương kia kìa”. Thiều có hiểu ngụ ý của vị Thiền sư không? Có chứ phải không!.

 

Tiếng hải triều vang dậy

 

Khi tâm được giải toả, ta thấy lòng tràn ngập cảm thương, cảm thương cho chính ta trải qua bao khổ đau chỉ vì chưa thấy được chính mình, chưa thấy được sự sống, chưa cởi bỏ được cố chấp, ganh ghét, thù hận. Còn tiếp tục gây khổ cho người khác. ấy là ta biết nhìn ta và nhìn người bằng con mắt từ bi. “lấy con mắt từ bi để nhìn mọi người” (Từ nhãn thị chúng sanh) là câu kệ trong kinh Pháp Hoa nói về Đức Bồ tát Quan Thế Âm. Đức từ bi của vị bồ tát này là một tiếng kêu gọi vọng suốt thời gian và không gian, tiếng kêu gọi của người đã thấy được thực tại toàn vẹn: 

 

“Tiếng màu nhiệm, tiếng của người nghe được lời kêu đau thương của cuộc đời, tiếng tôn quý, tiếng sóng biển vang dậy. Tiếng siêu việt mọi thứ tiếng, trong đời ta hãy thường quán niệm tiếng ấy. 

 
Bỏ ra ngoài mọi nghi hoặc, hãy quán niệm bản chất thanh tịnh và siêu việt của Quan Thế Âm, bởi vì trong mọi trường hợp khổ não, tử sanh, ách nạn, sự quán niệm ấy sẽ là cánh cửa đi tới giải thoát.

 
Người đầy đủ mọi công đức, thường lấy con mắt từ bi để nhìn chúng sinh, khiến cho hạnh phúc chảy tụ thành biển vô lượng, ta hãy cúi đầu làm lễ người ấy”.

 

(Diệu âm Quan Thế Âm 
Phạm âm hải triều âm 
Thắng bỉ thế gian âm 
Thị có tu thường niệm. 
Niệm niệm vật sanh nghi 
Quan Thế Âm tịnh thánh 
ư khổ não tử ách 
Năng vị tác y hộ 
Cụ nhất thiết công đức 
Từ nhãn thị chúng sanh 
Phước tụ hải vô lượng 
Thị cố ứng đảnh lễ)

 

Tập nhìn chúng sanh với con mắt từ bi đó là một phép quán gọi là từ bi quán. Từ bi quán nên được thực hiện trong những giờ tọa thiền và cả trong những lúc giao tiếp phụng sự. Đi đâu, ngồi đâu cũng nên nhớ tiếng gọi của quan Thế Âm Bồ Tát – từ nhãn thị chúng sanh. 

 

Thiều ơi ! đối tượng và phương pháp thiền quán nhiều lắm. Trong kinh hệ Pali gọi là Kammatthana, nhưng tôi sẽ không viết hết được cho Thiều và các bạn đâu. Tôi đã chỉ viết một vài phương pháp giản lược nhưng căn bản. Người tác viên cũng như mọi người, anh phải sống đời sống của anh , chị phải sống đời sống của chị. Làm việc chỉ là một phần của sự sống, làm việc trong chánh niệm mới là sống, mới khỏi bị liệt vào hàng “‘Sống như một người chết”. mỗi người chúng ta cần sự thắp đuốc lên mà đi. Nhưng sự sống của chúng ta có liên hệ tới sự sống của những người xung quanh. Nếu ta biết sống chánh niệm, nếu ta biết giữ gìn tâm ý thì anh em chúng ta cũng được nhờ đó mà biết sống chánh niệm, giữ gìn tâm ý.

 

Nước sông trong hơn, cây cỏ xanh thêm  

 

Thiều ơi, có một lần Đức Mâu Ni nói vấn đề sống chết là vấn đề chánh niệm. Còn hay mất là do có chánh niệm hay không. Trong kinh ‘Samyutta Nikeiya 47.20 Ngài kể chuyện xảy ra trong một làng kia: 

 

“Một vũ nữ hoa hậu vừa tới trong làng và dân chúng đổ xô đi xem chật đường chật ngõ. Lúc đó có một tên tử tội được áp giải đi ngang qua làng. Tên tử tội được lệnh phải nâng trong hai tay một bát dầu đầy tới miệng chén. Anh ta phải giữ ý tứ, nếu dầu trong chén sóng sánh rơi xuống đất một giọt là tên lính di sau sẽ lấy mã tấu chém đầu tức khắc, bởi vì nhà vua đã ra lệnh cho hắn như vậy”.

 

Kể đến đây, Đức Thế Tôn hỏi:

 

“Này các thầy, trong trường hợp đó người tử tội có thề dễ dàng được không? Anh ta có thể để tâm ý đi lang bang tới người khác và không chú ý gì tới chén dầu và sự có mặt của nam nữ trong làng đang đi chật đường chật ngõ, có thể xô đụng anh ta bất cứ lúc nào không?”

 

Có một lần Phật kể chuyện sau đây khiến tôi thấy được tất cả sự quan trọng của việc thực tập chánh niệm nơi tự thân mình. Nơi tự thân mình nghĩa là mình lo phận mình chứ đừng lo rằng người khác không chịu thực tập như mình, rồi sanh lo lắng và trách móc. Phật nói:

 

“Có thầy trò một nhà kia làm nghể mãi võ. Người đàn ông góa vợ và người học trò là một cô gái nhỏ tên là Meda Kathullika. Hai thầy trò trình diễn để kiếm ăn. Họ dựng một thăn tre cao, người đàn ông đặt cây tre trên đỉnh đầu mình trong khi em gái leo dần lên đầu cây rồi dừng lại trên đó để người đàn ông tiếp tục di chuyển trên mặt đất. Cả hai đều phải vận dụng sự tập trung tâm ý đến một mức độ khá cao để giữ thăng bằng và để ngăn chặn tai nạn có thể xảy ra. Một hôm người kia đặn học trò: 

 

Này Meda Kathulika, con hãy giữ gìn cho ta và ta sẽ giữ gìn cho con, chúng ta hãy giữ gìn cho nhau, để tránh được tai nạn và để thầy trò mình kiếm được ít tiền ăn. Đứa bé gái vốn thông mnh trả lời rằng: Thưa thầy…. có lẽ ta nên nói thế này đúng hơn: Trong hai thày trò ta mỗi người nên tự gìn giữ lấy mình, giữ gìn lấy mình tức là gìn giữ cho nhau tránh được tai nạn và để thầy trò mình kiếm được ít tiền ăn cơm”. Đức Phật nói: đứa bé nói đúng ! (kinh Samyutta Nikaya 47.19).

 

Trong một gia đình có người biết tập chánh niệm thì tất cả thành viên gia đình được nhờ cậy hạnh tụ, cả gia đình nhờ sự có mặt của một người sống trong chánh niệm mà được nhắc nhở rằng : Mình cũng phải sống trong chánh niệm. Trong tập thể có một người sống trong chánh niệm thì cả tập thể đều được thừa hưởng. bởi vì sự có mặt của người kia cũng.được xem như sự có mặt của một Đức Phật. Trong gia đình Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội, ta nên biết thực hiện nguyên tắc đó, đừng lo ngại rằng người đồng sự của mình không xứng đáng mà chỉ nên nghĩ đến là làm sao cho mình được xứng đáng. Mình xứng đáng, đó là cách hữu hiệu nhất để nhắc nhở các bạn trong cộng đồng của mình. Mà muốn xứng đáng phải thực tập chánh niệm. Thực tập chánh niệm mới không đánh mất mình, mới có đủ an lạc sáng suốt, mới nhìn được mọi người với đôi mắt thương yêu cởi mở.

 

Thiều ạ ! Tôi mới vừa ở nhà dưới lên. Tôi xuống để pha một tách trà, uống cho đỡ khô trước khi viết tiếp cho Thiều. Chị Kirsten pha trà cho tôi. Thấy chiếc dương cầm tôi nói với chị : Thôi, chị ngưng dịch hồ sơ cô nhi đi và đàn cho tôi nghe năm bảy phút. Kirsten chiều ý ngồi xuống đàn, chị đàn một khúc của Chopin mà hồi còn nhỏ chị rất quen thuộc. Bản đàn có vài khúc êm dịu, nhưng cũng có nhiều khúc ray rứt, bạo động. Con chó của chị Kirsten nằm dưới bàn trà rên rỉ, gầm gừ khó chịu. Thấy nó tôi biết nó bất an, dằn vặt. Con chó này được đối xử nhẹ nhàng và cẩn trọng như một đứa bé và năng khiếu rung cảm của nó về nhạc có thể hơn một đứa bé thường. Có thể một phần tai chó nghe được nhiều âm ba mà tai người không nghe thấy. Chị Kirsten vừa đàn vừa quở con chó nhưng nó vẫn rên rỉ bất an, chị đàn xong bản đó thì chuyển sang một khúc nhạc của Mozart dịu dàng. êm ả, thanh thoát, con chó bây giờ nằm yên, có vẻ khoẻ khoắn an lạc.

 

Đàn xong, Kirsten đến ngồi bên cạnh tôi nói: “Nhiều khi tôi đàn những khúc hội bạo động của Chopin, nó đến và lấy mõm hất tôi ra khỏi ghế, không cho tôi đàn. Có khi tôi phải cho nó ra ngoài rồi đóng cửa lại mới đàn được. Nhưng hễ tôi chơi những khúc nhạc của Bach và Mozart thì nó nằm im thin thít”. Kirsten nghe nói bên Canada người ta đã dùng nhạc Mozart và Beethoven để nuôi dưỡng hoa cỏ. Trong đêm tối người ta nhặn thấy các cây hoa lớn mau hon và những cây hoa hướng dần về phía có nhạc Mozart phát ra. Người ta lại đã thí nghiệm nhạc Mozart với lúa mì và lúa mạch. Họ bắt những loa phóng thanh trên cánh đồng lúa và cho nhạc Mozart phát thanh nhiều giờ trong ngày. Và người ta nhận thấy lúa mọc nhanh, thoải mái hơn so với các cánh đồng khác. 

 

Nghe Kirsten nói, tôi liên tưởng tới các phòng họp nơi mà người ta liệng vào nhau những nhiếc móc, những lời kết tội thâm độc xuất từ tâm niệm căm ghét hận thù. Tôi nghĩ nếu có những chậu hoa cỏ cây lá trong phòng thì chúng không thể lớn lên được. Nếu chất độc tham sân si trong lòng người tiếp tục tiết ra bằng âm thanh từ ngày này qua ngày khác thì vách đá cũng phải nứt ra nữa chứ đừng nói hoa cỏ. Tôi nghĩ đến hoa cỏ trong khu vườn của một người tu chánh niệm. Người xưa nói :”khi thánh nhân ra đời thì nước sông trong hơn, cây cỏ xanh thêm” có lẽ cũng vì vậy. Trước mỗi lần họp khối học vụ hay khối công tác, mình có nên nghe nhạc hay ngồi thiền tập không hay Thiều ?.

 

Ba câu trả lời mầu nhiệm 

 

Để kết thúc thư này, tôi xin kể tặng Thiều và các bạn một câu chuyện mà văn hào Lev Tolstoy đã kể và tôi tin là Thiều và các bạn trong trường sẽ thích lắm Đó là câu chuyện “Ba câu hỏi khó của nhà vua”.

 

Nhà vua ấy Tolstoy không biết tên. Một hôm vua nghĩ rằng : “Giá mà vua trả lời được ba câu hỏi thì vua sẽ không bao giờ bị thất bại trong bất cứ công việc nào. Ba câu hỏi ấy là: 

 

1/ Làm sao để biết được thời gian nào là thời gian thuận lợi nhất cho mỗi công việc?

 

2/ Làm sao để biết được nhân vật nào là nhân vật quan trọng nhất mà ta phải chú trọng?

 

3/ Làm sao để biết được công việc nà o là công việc cần thiết nhất mà ta phải thực hiện?

 

Nghĩ thế vua liền ban chiếu ra khắp trong bàn dăn thiên hạ, hứa rằng sẽ ban thưởng trọng hậu cho kẻ nào trả lời được ba câu hỏi đó. 
Các bậc hiền thần đọc chiếu liền tìm đến kinh đô. Nhưng mỗi người lại dâng lên vua một câu trả lời khác nhau.

 

Về câu hỏi thứ nhất, có người trả lời rằng: muốn biết thời gian nào là thời gian thuận lợi nhất cho mỗi công việc thì phải làm thời biểu cho đàng hoàng. Có ngày, giờ, năm, tháng và phải thi hành cho thật đúng thời biểu ấy, như vậy mới mong công việc làm đúng lúc. Kẻ khác thì lại nói không thể nào dự tính trước được những gì phải làm và thời gian để làm những việc ấy. Rằng ta không nên ham vui mà nên chú ý đến mọi sự khi chúng xảy tới để có làm bất cứ gì xét ra cần thiết. Có kẻ lại nói rằng dù vua có chú ý tình hình mấy đi chăng nữa thì một mình vua cũng không đủ để định đoạt thời gian làm việc một cách sáng suốt. Do đó nhà vua phải thành lập một hội đồng nhân sĩ và hành động theo lời khuyến cáo của họ. Lại có kẻ nói rằng có những công việc cần phải quyết định tức khắc không thể nào có thì giờ tham khảo xem đã đến lúc phải làm hay chưa đến lúc phải làm. Mà muốn lấy thời điểm cho đúng thì phải biết trước những gì sẽ xảy ra, do đó nhà vua phải cần đến những nhà cố vấn tiên tri và bốc phệ. 

 

Về câu hỏi thứ hai cũng có nhiều tấu trình không giống nhau. Có người nói những nhân vật vua cần chú ý nhất là những Đại thần và những người trong triều đình. Có người nói là mấy ông Giám mục thượng tọa là quan hệ hơn hết. Có người nói là mấy ông tướng lĩnh trong quân đội là quan trọng hơn hết. 

 

Về câu hỏi thứ ba các nhà thức giả cũng trả lời khác nhau. Có người nói khoa học là quan trọng nhất. Có người nói chỉnh trang quân đội là quan trọng nhất…

 

Vì các câu trả lời khác nhau cho nên nhà vua không đồng ý với vị nào cả và chẳng ban thưởng cho ai hết. Sau nhiều đêm suy nghĩ vua quyết định chất vấn một ông Đạo tu trên núi. Ông Đạo này nổi tiếng là người có giác ngộ. Vua muốn tìm lén trên núi gặp ông Đạo và hỏi ba câu hỏi kia vì vị Đạo sĩ này chưa bao giờ chịu xuống núi và nơi ông ta ở chỉ có những người dân nghèo. Chẳng bao giờ ông chịu tiếp những người quyền quí. Nhà vua cải trang làm thường dân, khi đi đến chân núi vua dặn vệ sĩ đứng chờ ở dưới và một mình vua trong y phục một thường dân trèo lên am của ông Đạo. Nhà vua gặp ông Đạo đang cuốc đất trước am. Khi trông thấy người lạ ông Đạo gật đầu chào rồi tiếp tục cuốc đất. Ông Đạo cuốc đất một cách nặng nhọc bởi ông Đạo đã già yếu. Mỗi khi cuốc lên được một tảng đất hoặc lật ngược được tảng đất ra thì ông lại thở hổn hển. Nhà vua tới gần ông Đạo và nói: “Tôi tới đây để xin ông Đạo trả lời giúp ba câu hỏi : làm thế nào để biết đúng thì giờ hành động, đừng để cơ hội qua rồi sau phải hối tiếc ? Ai là những người quan trọng nhất mà ta phải chú ý tới nhiều hơn cả, và công việc nào quan trọng nhất cần thực hiện trước?”. 

 
Ông Dạo lặng nghe nhà vua, nhưng không trả lời. Ông chỉ vỗ vai nhà vua và cuối cùng tiếp tục cuốc đất. Nhà vua nói : “Ông Đạo mệt lắm rồi, thôi đưa cuốc cho tôi, tôi cuốc một lát”. Vị Đạo sĩ cảm ơn, trao cuốc cho vua rồi ngồi xuống đất nghỉ mệt.

 
Cuốc xong được hai vòng đất thì nhà vua ngừng tay và lập lại câu hỏi. Ông Đạo vẫn không trả lời, chỉ đứng dậy và đưa tay ra đòi cuốc, miệng nói : “Bây giờ bác phải nghỉ, đến phiên tôi cuốc”, nhưng nhà vua thay vì trao cuốc lại tiếp tục cúi xuống cuốc đất.

 

Một giờ rồi hai giờ đồng hồ đi qua, rồi mặt trời bắt đầu khuất sau đỉnh núi. Nhà vua ngừng tay, buông cuốc và nói với ông Đạo:

 

“Tôi tới để xin ông Đạo trả lời cho mấy câu hỏi, nếu ông Đạo không trả lời cho tôi câu nào hết thì xin cho tôi biết để tôi còn về nhà”. 

 

Chợt lúc đó, ông Đạo nghe tiếng chân người chạy đâu đây bèn nói với nhà vua: “Bác thử xem có ai chạy lên kìa”, nhà vua ngó ra thì thấy một người có râu dài đang chạy lúp xúp sau mấy bụi cây, hai tay ôm bụng máu chảy ướt đẫm cả hai tay, ông ta cố chạy tới chỗ nhà vua và ngất xỉu giữa đất, nằm im bất dộng, miệng rên rỉ. Vua và ông Đạo cởi áo người đó ra thì thấy có một vết đâm sâu nơi bụng. Vua rửa chỗ bị thương thật sạch và xé áo của mình ra băng bó vết thương. Nhưng máu thấm ướt cả áo. Vua giặt áo và đem băng lại vết thương. Cứ như thế cho đến khi máu ngưng chảy. Lúc bấy giờ người bị thương mới tỉnh dậy và đòi uống nước.

 

Vua chạy đi múc nước suối cho ông ta uống, khi đó mặt trời đã khuất núi và bắt đầu lạnh. Nhờ sự tiếp tay của ông Đạo, nhà vua khiêng người bị nạn vào trong am và đặt nằm trên giường của ông Đạo. Ông ta nhắm mắt nằm im. Nhà vua cũng mệt quá vì leo núi và cuốc đất cho nên ngồi dựa vào cánh cửa mà ngủ thiếp đi. Vua ngủ ngon cho đến nỗi khi nhà vua thức dậy thì trời đã sáng và phải một lúc lâu sau vua mới nhớ được là mình đang ở đâu và đang làm gì. Vua nhìn về phía giường thì thấy người bị thương cũng đang nhìn mình chòng chọc, hai mắt sáng trưng. Người đó thấy vua tỉnh giấc rồi và đang nhìn mình thì cất giọng rất yếu : “Xin bệ hạ tha tội cho thần!” , vua đáp : “Ông có làm gì nên tội đâu mà phải tha ?”, “Bệ hạ không biết hạ thần nhưng hạ thần biết bệ hạ. Hạ thần là người thù của bệ hạ. Hạ thần đã thề sẽ giết bệ hạ cho bằng được, bởi vì ngày xưa trong chinh chiến Bệ hạ đã giết mấy người anh và còn tịch thu gia sản của hạ thần nữa. Hạ thần biết rằng bệ hạ sẽ lên núi này một mình để gặp ông Đạo sĩ nên đã mai phục quyết tâm giết bệ hạ trên con đường xuống núi.

 

Nhưng đến tối mà bệ hạ vẫn chưa trở xuống, nên hạ thần đã rời chỗ mai phục mà đi lên núi tìm bệ hạ. Hạ thần lại gặp bọn vệ sĩ. Bọn này nhận mặt được hạ thần cho nên đã xúm lại đâm hạ thần. Hạ thần trốn được, chạy lên đây, nhưng nếu không có bệ hạ thì chắc hạ thần đã chết vì máu ra nhiều quá. Hạ thần quyết tâm hành thích bệ hạ mà bệ hạ lại cứu sống được hạ thần, hạ thần hối hận quá. Giờ đây nếu hạ thần còn sống được thì hạ thần nguyện làm tôi mọi cho Bệ hạ suốt đời và hạ thần cũng sẽ bắt các con hạ thần làm như vậy. Xin bệ hạ tha tội cho thần”. 

 

Thấy mình hòa giải được với kẻ thù một cách dễ dàng, nhà vua rất vui mừng. Vua không những hứa tha tội cho người kia mà còn hứa sẽ trả lại gia sản cho ông ta và gởi ngay thầy thuốc cùng quân hầu tới săn sóc cho ông ta lành bệnh. 

 

Sau khi cho vệ sĩ khiêng người bị thương về, nhà vua trở lên tìm ông Đạo để chào. Trước khi ra về vua còn lập lại lần cuối ba câu hỏi của vua. Ông Đạo đang quỳ gối xuống đất mà gieo những hạt đậu trên những luống đất đã cuốc sẵn hôm qua. Vị đạo sĩ đứng dậy nhìn vua đáp : “Nhưng ba câu hỏi của vua đã được trả lời rồi mà”. Vua hỏi trả lời bao giờ đâu nào. “Hôm qua nếu vua không thương hại bần dạo già mà ra tay cuốc dm mấy luống đất này thì khi ra về vua đã bị kẻ kia mai phục hành thích mất rồi và nhà vua sẽ tiếc là đã không ở lại cùng ta. Vì vậy thời gian quan trọng nhất là thời gian vua đang cuốc đất, nhân vật quan trọng nhất là bần đạo đây và công việc quan trọng nhất la công việc giúp bần đạo.

 

Rồi sau đó khi người bị thương nọ chạy lên, thời gian quan trọng nhất là thời gian vua chăm sóc cho ông ta, bởi vì nếu vua không băng vết thương cho ông ta thì ông ta sẽ chết và vua không có dịp hoà giải với ổng, cũng vì thế mà ông ta là nhăn vật quan trọng nhất và công việc vua làm để băng bó vết thương là quan trọng nhất. Xin vua hãy nhớ kỹ điều này nhé : chỉ có một thời gian quan trọng mà thôi, đó là thời gian hiện tại, là giờ phút hiện tại, giờ phút hiện tại quan trọng bởi vì đó là thời gian duy nhất trong đó ta có thể làm chủ được ta. Và nhân vật quan trọng nhất là kẻ đang cụ thể sống với ta, đang đứng trước mặt ta, bởi vì ai biết được mình sẽ đương đầu làm việc với những kẻ nào trong tương lai. Công việc quan trọng nhất là công việc làm cho người đang cụ thể sống bên ta, đang đứng trước mặt ta được hạnh phúc. Bởi vì đó là ý nghĩa chính của đời sống”. 

 

Thiều ơi ! câu chuyện của Lev Tolstoy giống như là một câu chuyện trong kinh Phật và không thua gì một cuốn kinh Phật. Chúng ta nói phụng sự xã hội, phụng sự dân tộc, phụng sự nhăn loại….phụng sự những ai và ai đâu xa lạ, nhưng nhiều khi ta quên mất rằng chính ta phải sống cho những người thân của ta trước tiên. Nếu Thiều không phụng sự cho Mười và bé Hải Triều Âm sung sướng thì Thiều có thể làm cho ai sung sướng. Nếu các bạn trong thanh niên phụng sự xã hội không thương được nhau, không giúp đỡ được nhau thì chúng ta giúp đỡ được cho ai? Chúng ta làm việc cho con người hay chúng ta làm việc cho uy tín của một tổ chức.

 

Danh từ phụng sự to tát quá. Phụng sự xã hội. Danh từ xã hội to tát quá. Ta hãy trở về với cộng đồng bé nhỏ của ta đã. Gia đình ta, đồng sự của ta, bè bạn của ta, đoàn thể của ta… Ta phải sống vì họ. nếu không vì họ được ta có thể sống vì ai nữa ? 

 

Tolstoy là một vị Bồ Tát trong câu chuyện trên. Nhà văn hào này thấy được ý nghĩa của cuộc sống và phương thức sống. Làm thế nào dể ta sống giờ phút hiện tại, sống ngang với người ta chung đụng hàng ngày, làm ngay điều có thể giúp cho họ bớt khổ đau, thêm hạnh phúc, làm thế nào ? câu trả lời là phải thực tập chánh niệm. Nguyên tắc của Tolstoy nêu ra đó xem là dễ, nhưng muốn thực nghiệm chúng ta phải nhờ những phương pháp quán niệm cụ thể mà ta tìm thấy nơi Đạo Phật.

 

Thiều ơi ! Tôi viết những trang này để cho các bạn sử dụng, có những kẻ viết về những điều mà họ thực sự không biết rõ. Tôi chỉ viết những điều mà tôi đang và đã thực nghiệm. Tôi mong những điều tôi viết có thể giúp em và các bạn một phần nào.

 

Thích Nhất Hạnh

Còn nữa…

Nguồn link: http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-80_4-9669_5-50_6-2_17-88_14-1_15-1/#nl_detail_bookmark

 

Xem Tiếp: Phần Thứ Hai: Ba Mươi Mốt Bài Thực Tập

 

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Bảy 23, 2012 in Phật Giáo