RSS

Category Archives: Công Giáo

Góp Ý Trong Vấn Đề Sửa Đổi Hiến Pháp -Nguyễn Mạnh Quang

ScreenHunter_01 Mar. 15 16.11
Thomas Jefferson
Góp Ý Trong Vấn Đề Sửa Đổi Hiến Pháp
Nguyễn Mạnh Quang
http://sachhiem.net/NMQ/NMQ038.php
13-Mar-2013

Hiểu đại cương, hiến pháp của một chế độ chính trị đều có các mục đích là (1) đem lại dân chủ, tự do, công bằng, bác ái, (2) ổn định trật tự xã hội, an ninh cho đất nước, đem lại hạnh phúc cho toàn dân.
Tùy theo bối cảnh lịch sử của mỗi quốc gia hay hoàn cảnh đương thời của đất nước mà ngoài những phần mục thông lệ, các nhà biên soạn hiến pháp thường thường còn
thêm vào những điều khoản nhằm loại bỏ mọi nguy cơ có thể làm nguy hại đến
(a) chủ quyền độc lập của tổ quốc, (b) sự toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, và (c) sự tồn vong của dân tộc. Đây là trường hợp của các nước Anh, Pháp, Ý, Nga, Hoa Kỳ, Mễ Tây Cơ, v.v….
Điển hình là Hiến Pháp Hoa Kỳ: Ngay sau khi bản hiến pháp vừa được ban hành, ông Thomas Jefferson

(lúc đó đang giữ nhiệm vu Đại Sứ Hoa Kỳ tại Paris Pháp) liền đề nghị thêm vào 10 điều khoản gọi là 10 Tu Chính Hiến đầu tiên, trong đó điều đầu tiên khẳng định rằng phải tách rời tôn giáo (ngầm hiểu rằng nhắm vào Giáo Hội La Mã) ra khỏi chính quyền. Sau này, thấy rằng điều khoản này chưa đủ mạnh, họ lại đưa ra khẩu hiệu WASP (một loại luật bất thành văn để chọn những người da trắng, gốc Anglo Saxon và theo đạo Tin Lành, chứ không phải Catholic). Tới năm 1867, sau khi đã khám phá ra chuyện Vatican xúi giục các nhà chính khách các tiểu bang miền Nam nổi loạn chống lại chính quyền Liên Bang, Hoa Kỳ lại quyết định cắt đứt quan hệ ngoại giao với Vatican.
A.- Tình Trạng Những Quốc Gia Nạn Nhân Của Giáo Hội La Mã
Các quốc gia nạn nhân của Giáo Hội La Mã phải trải qua nhiều thế kỷ tranh đấu để chống lại sự lấn lướt của đạo Ca-tô, và chống lại việc Vatican thọc sâu vào các công việc nội chính:
(1) mưu đồ đem đất nước dâng hiến cho Vatican của họ,
(2) chống lại các thế lực ngoại thù liên minh với Vatican đem quân đến tấn công và cướp nước, và
(3) chống lại sách lược Vatican dùng tín đồ bản đia gây loạn để chống và cướp chính quyền.
Việt Nam là một trong các quốc gia nạn nhân lâu dài nhất của Vatican cũng ở trong trường hợp này. Hậu quả của thời gian nô lệ Vatican là những thảm họa cho dân tộc về mặt văn hóa và xã hội, khó mà đo lường, nhưng có thể nhìn thấy qua một số dữ kiện sau đây.
1.- Hệ thống tín lý Ki-tô dựa trên những lời phán dạy ghi trong Cựu Ước và Tân Ước có quá nhiều (a) chuyện hoang đường, nhảm nhí với chủ tâm mê hoặc người đời để thủ lợi, (b) chuyện loạn luân, phi luân, phi nhân, phi nghĩa, và (c) nhiều hành động nặng tính cách ganh ghét đố ki, gian tham, bạo ngược và dã man.
Những lời phán dạy này đều được ghi trong các sách gọi là thánh kinh. Tiêu biểu có thể đọc trong Holy Bible – the New King James Verson, (New York: American Society, 1982 của Thomas Nelson, Inc.); tiếng Việt: Kinh Thánh: Cựu Ước Và Tân Ước (United Bible Societies, Vietnamese 53V – UBS – 1983 – 4M)
a.- Cựu Ước, nơi các sách Deuteronomy (19:21), Exodus (21: 23-25), Dân Số (25:3-5, 31:1-54), Leviticus (20:6, 24:19-20, 26: 1-43), Phục Luật (6:14), (7:1- 2, và 16); (12: 2-3), (13:6-9), (18: 4 và 20), (20:14-16), (22: 13-21 và 23), Xuất Hành (13:12),( 20 11), và ( 22: 18 và 20.)
b.- Tân Ước, nơi sách Matthew (10: 21, 33-37), John (15: 16). Rõ ràng nhất là những lời phán dạy trong Matthew (10: 33:33) :
“Ta đến đây không phải mang lại sự bình an, mà là mang gươm dáo. Ta đến để con trai chống lại cha, con gái chống lại mẹ, con dâu chống lại mẹ chồng và làm cho người trong nhà trở thành thù địch chống lại nhau. Kẻ nào yêu kính cha mẹ hơn ta thì không đáng gì đối với Ta, và kẻ nào yêu thương con cái hơn Ta cũng không đáng gì đối với Ta. ” (Anh ngữ)
Những lời dạy này hoàn toàn trái ngược với truyền thống sống văn hóa bất kỳ quốc gia nào trên thế giới từ ngày có chữ viết cho đến ngày nay, đặc biệt là không thể nào có thể tồn tại trong các dân tộc có văn hiến như các dân tộc Đông Phương.
Cũng vì thế mà trong nhiều thế kỷ vừa qua, nhất từ khi bước vào Thời Đại Khoa Học Và Lý Trí từ đầu thế kỷ 16, các nhà trí thức và nhân dân của nhiều quốc gia trên thế giới, (nhất là ở Âu Châu và Mỹ Châu) đã giã từ Giáo Hội La Mã và vứt bỏ cái hệ thống tín lý Ki-tô quái đản này vào sọt rác.
2.- Lời tuyên bố của Giáo Hòang Paul IV (1555-1559) “Nếu bố tôi là dị giáo đồ, tôi cũng sẽ chụm củi thiêu sống ông ta luôn..”(1) đã rèn luyên tín đồ thành hạng người vô gia đình và sẵn sàng làm những chuyện đại nghịch bất đạo.
3.- Giáo Hội La Mã đã liên tục rèn luyện tín đồ làm điệp viên rình râp theo dõi những người thân thương trong gia đình và báo cáo cho nhà thờ hay để sơm có biện pháp trừng phạt thích thời. Làm như vậy, tín đồ trở thành hạng người vô gia đình, chỉ biết đặt tình yêu đối với giáo hội trên hết. Rõ ràng như vậy là rất phù hợp với lời phán dạy của Jesus trong Matthew (10: 33:33.) như đã trình bày ở trên.
4.- Việc những thanh niên nam nữ trong giáo hội đòi những người yêu thuộc các tín ngưỡng phải theo học giáo lý Ki-tô, phải làm lễ “rửa tội” theo đạo rồi mớii được tiến hành làm lễ thành hôn là “phản tiến hóa, vi phạm nhân quyền, phản tự do, phản dân chủ”.
5.- Giáo hội đã huấn luyện các con chiên những điều thiếu lý trí, phản nhân luân, phản tổ quốc và phi pháp, tiêu biểu như:
a.- Niềm tin tôn giáo không cần đến lý trí.”
b.-Phúc cho ai không thấy mà tin.”
c.-Chỉ cần có một niềm tin bằng hạt cải thì có thể bê cả trái núi quăng xuống biển.
d.- Phải tuyệt đối tin tưởng và trung thành với Tòa Thánh Vatican.
e.-Phải triệt để vâng lời và tuân hành lệnh truyền của các đấng bề trên.
f.-“Phải giấu kín những chuyện tội lỗi, dù có thật, xẩy ra trong giáo xứ, không nên để cho người ngoại đạo được biết.”
Nguyễn Ngọc Ngạn, Xóm Đạo (Đông Kinh, Nhật Bản: Tân Văn, 29003), tr 320.
Lời phán dạy này chứng tỏ Giáo Hội La Mã rèn luyện tín đồ bao che những hành động tội ác chống lại xã hội, chống lại những người khác tôn giáo, chống lại chính quyền sở tại nếu chính quyền đó không thỏa mãn yêu sách bất chính của giáo hội).
g.-Cha (linh mục) là đại diện của Chúa. Phải coi Cha như Chúa. Những gì Cha nói và hành động là nói và hành động theo ý Chúa. Nếu các Cha có làm gì sai trái, thì đã có Chúa phán xét”, là giáo dân ngoan đạo, không được bàn tán và nói hành nói tỏi các Cha.“
h.-Dạy người Công Giáo Việt Nam “Giáo Hoàng ở La Mã (Rome) mới là vị vua tối cao duy nhất của họ. Chỉ tuân phục quyền lực của Tòa Thánh Vatican. (2) không thừa nhận quyền lực nhà Vua và luật pháp nước họ. Lời phán dạy này làm cho tín đồ chỉ biết đến giáo hội mà thôi, nên họ luôn chống tất cả chính quyền nào không chịu dưới quyền của họ.
6.- Ngoài những lời dạy như đã nói ở trên, tu sĩ của giáo hội còn hô hào những khẩu hiệu “thà mất nước, chứ không thà mất Chúa”,”giữ đạo, chứ không giữ nước”, “nhất Chúa, nhi cha, thứ ba Ngô Tổng Thống”, v.v.. Đây cũng là những lời dạy hoàn toàn trái ngược với nếp sống văn hóa cổ truyền của dân tộc: “quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”, “việc nước trước việc nhà”. Kết quả là tín đồ Ca-tô trở thành hạng người vong thân, vong bản, phản dân tộc, phản tổ quốc. Lịch sử đã chứng minh đúng như vậy!
7.- Hành động của Vatican phong thánh cho 117 tên tội đồ bị các chính quyền ta xử tử trong hai thế kỷ 18 và 19 về tội phản quốc là có mục đích thôi thúc và khuyến khích giới tu sĩ và con chiên người Việt hăng say tiếp tục làm tay sai cho Vatican trong mưu đồ cướp đoạt chính quyền tại Việt Nam.
8.- Từ thập niên 1620, Giáo Hội La Mã đã liên tục tìm đủ mọi cách để đánh phá Việt Nam bằng (1) những hành động phỉ báng và nhục mạ các tôn giáo cổ truyền của dân ta (trong cuốn Phép Giảng Tám Ngày do Bộ Truyền Giáo do giáo triều Vatican in và phát hành vào năm 1651), (2) vận động Pháp liến kết với giáo hội và xuất quân đánh chiếm Việt Nam ,(3) dạy dỗ tín đồ bản địa phải chống lại dân tộc và tổ quốc Việt Nam bằng cách tiếp tay với các thế lực ngoại cường liên minh với giáo hội đánh chiếm Việt Nam và thống trị Việt Nam từ giữa thế kỷ 19 cho đến ngày 30/4/1975, tiếp tục đánh phá chính quyền và nhân dân ta từ năm 1976 cho đến ngày nay.
Như vậy,tính từ cuối thế kỷ 18 cho đến ngày nay, nếu so với các ngoại cường đã từng đem quân tấn công và thống trị nước ta như Trung Quốc, Pháp, Nhật Và Hoa Kỳ, thì Vatican hay Giáo Hội Lã Mã là kẻ thù nguy hiểm nhất, thâm độc nhất, tham tàn nhất, dã man nhất và bám chặt lấy thân xác Việt Nam lâu dài nhất.
9.- Trong gần hai ngàn năm qua, Giáo Hội La Mã đã phạm những rặng núi tội ác cao vời vợi . Sách sử ghi nhận rằng giáo hội có liên hê đến cái chết đau thương của gần 300 triệu lương dân vô tội. (3) .Vì thế nhân dân thế giới căm thù giáo hội đến đỗi chính Giáo Hoàng Benedict XVI (2005-2013) cũng đã phải công nhận như vậy:
“Ngày 30/1/2010 vừa qua, các cơ quan truyền thông trên thế giới loan tin rằng, “Giáo Hoàng Benedict XVI lên án cái mà ông gọi là “mối ác cảm của nhân dân ở nhiều nơi trên thế giới đối với đạo Kitô ngày càng trở nên mãnh liệt.” (Pope Benedict XVI is condemning what he called “growing aversion” to the Christian faith in the world.)” (4)
10.- Giới tu sĩ Ki-tô (từ giáo hoàng xuống tới cấp thấp nhất là linh mục, sư huynh và nữ tu) đều bị các bậc thức giả, và các danh nhân lên án nặng nề:
(a) Hoàng Đế Napoléon I (1769-1821) của nước Pháp đã lớn tiếng tuyên bố rằng, “Hiệp Hội Giêsu (Dòng Tên ?) là hội nguy hiểm nhất, và đã gây nên nhiều tổn hại hơn tất cả những hội tôn giáo khác.” The (Society of Jesus is the most dangerous of orders, and has done more mischief than all the others.) và ”Ở mọi nơi và mọi thời, linh mục đã đưa vào sự gian dối và sai lầm.” (Priests have everywhen and everywhere introduced fraud and falsehood),
(b) Nhà ái quốc Ý Đại Lợi Giuseppe Garibaldi (1807-1882) nói rằng, “Linh muc là hiện thân của sự gian trá”. (The priest is the personification of falsehood),
(c) Tổng Thống Hoa Kỳ Thomas Jefferson (1743-1826) khẳng định “Trong mọi quốc gia và trong mọi thời đại, linh mục đã thù nghịch đối với tự do.” (In every country and in every age, the priest has been hostile to liberty.) (5)

11.- Một khi con chiên của Giáo Hội La Mã còn “tuyệt đối tin tưởng vào Vatican” thì họ sẽ phản tổ quốc.
Sau khi truất phế Bảo Đại (hành động phản phúc), con chiên Ngô Đình Diệm dâng nước Việt Nam cho Đức Mẹ Vô Nhiễm (tức Giáo Hôi La Mã hay Vatican). Buổi lế này cử hành vô cùng trọng thể vào tháng 2/1959 tại Sàigòn, và viên Khâm Sứ đại diện Vatican ở Sàigon là Hồng Y Agagianian đến làm chủ tế. Trần Tam Tình, Thập Giá Và Lưỡi Gươm (TP Hồ Chíi Minh: Nhà Xuất Bản Trẻ, 1978) tr 126-127.
12.- Sau khi ban hành một sắc lệnh vào năm 1449, Giáo Hội La Mã tuyên bố rằng, “sắc lệnh phát xuất từ nguyên lý rằng trái đất thuộc về Chúa Ki-tô và người đại diện cúa Chúa có quyền sử dụng tất cả những gì không do tín đồ của Chúa chiếm hữu, những người kẻ ngoại đạo không thể là những kẻ họp lý bất cứ mảnh đất nào…” Cao Hiuy Thuần, Đao Thiên Chúa và Chủ Nghĩa Thực Dân Tại Việt Nam (Los Angeles, CA: Hương Quê, 1998, tr 7) sau khi bàn hành Sắc Chỉ Romanus Pontifex vào ngày 8 tháng 1 năm 1454 và nhiều sắc lịnh hay thánh lệnh khác trong thế kỷ 15 (có nội dung tương tự), Giáo Hội La Mã đã:
a.- Gửi hàng binh đoàn điệp viên với danh nghĩa là các giáo-sĩ truyền giáo đến Việt Nam để dụ khị dân ta vào đạo rồi cùng với các con chiên thu thập tin tức tình báo chiến lược gửi về Vatican để điều nghiên kế hoạch đánh chiếm Việt Nam làm thuộc địa.
b.- Ba lần gửi các nhà thuyết khách đến kinh thành Paris để uốn lưỡi Tô Tần thuyết phục các chính quyền thời Vua Louis XIV, thời Vua Louis XVI và thời Hoàng Đế Napoléon III liên kết với Vatican xuất quân đánh chiếm Việt Nam làm thuộc địa để cùng cướp đoat tài nguyên của đất nước ta, cưỡng bách nhân dân ta làm nô lê, và bóc lột dân ta đến tận xương tận tủy. Kinh hoàng nhất là chỉ trong mấy tháng đầu mùa xuân năm Ất Dậu 1945, con số người Việt chết đói lên đến 2 triệu người.
13.- Tại Pháp, trong những năm từ 1945, chính Giáo Hội La Mã đứng sau hậu trường điều khiển Đảng Thiên Chúa Giáo có danh xưng là Mouvement Républicain Populaire (MRP) mà đảng trưởng là con chiên Georges Bidault. Ông Bidault toa rập với chính quyền Charles de Gaulle bổ nhậm cựu Linh-mục Georges Thierry d’ Argenlieu làm Cao Ủy Đông Dương đem quân tái chiếm Đông Dương, gây nên cuộc chiến mà nhân dân Pháp gọi là “cuộc chiến tranh bẩn thỉu” (la sale guerre). Cuộc chiến này kéo dài gần chín năm trời, khiến cho nhân dân ta phải khốn khổ điêu linh vì đã làm thiệt hại không biết bao nhiêu là của cải, tài sản và sinh mạng của dân Việt.
14.- Theo kế hoạch Ki-tô hóa dân miền Nam thì toàn thể dân miền Nam phải theo “cái tôn giáo ác ôn” này với chỉ tiêu mười năm. Giáo Hội La Mã là kẻ thù bất cộng đái thiên của dân tộc Việt Nam. Dưới đây là nguyên văn lời tuyên bố của con chiên Ngô Đình Nhu nói lên:
“Tôi có cả một chương trình, đã bàn tính kỹ với Đức Cha (Ngô Đình Thục) sẽ lần hồi tiến tới chỗ mà Hội Truyền Giáo hoạt động một thế kỷ mới đạt tới, còn chúng ta chỉ cầm quyền mười năm thôi là cả miền Nam sẽ theo Công Giáo hết.” (7)
Dã tâm này đã làm cho con số người miền Nam bị sát hại lên tới hơn 300 ngàn người, gần một triệu người bị bắt giam, bị cầm tù, bị hành hạ và bị tra tấn vô cùng dã man khiến cho rất nhiều người trờ thành tàn phế (Xin xem sách Nói Chuyện Với Tổ Chức Việt Nam Cộng Hòa Foundation (Houston, TX: Đa Nguyên, 2004) nơi các trang 127-131 và các trang 213-264, và khiến cho nhân dân ta lại phải lao vào cuộc chiến Giải Phóng Miền Nam để hoàn thành nhiệm vụ lịch sử, đòi lại miền Nam cho tổ quốc và đem giang sơn về một mối.
15.- Từ thế kỷ 16 cho đến ngày nay, tập thể tu sĩ và con chiên người Việt đã:
a.- Liên tục làm tay sai vô điều kiện cho Vatican: Các con chiên như Tạ Văn Phụng, Trần Bá Lộc, Lê Phảt Đạt (Huyện Sĩ), Petrus Ký, Nguyễn Trường Tộ, Ngô Đình Khả, Lê Hoan, Nguyễn Hữu Bài, Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Huân, Ngô Đình Diệm, Lê Hoan, GM Nguyễn Bá Tòng, GM Lê Hữu Từ, GM Phạm Ngọc Chi, LM Trần Lục, LM Ân (trong vụ Hà Thành Đầu Độc và năm 1908), LM Hoàng Quỳnh, LM Mai Ngọc Khuê, LM Nguyễn Quang Ân, LM Vũ Đức Khâm, LM Nguyễn Kim Điện, LM Lương Huy Hân, LM Mai Đức Tín, Vũ Đức Luật, LM Nguyễn Quang Ân, LM Nguyễn Lạc Hóa, v.v… là những bằng chứng rất hiển nhiên.
b.- Liên tục làm tay sai cho các thế lực ngoai thù như Pháp, Tây Ban Nha, Nhật (các con chiên Cường Để, Ngô Đình Huân, Ngô Đình Diệm, Trần Văn Lý và rất nhiều con chiên khác trong cái gọi là “Việt Nam Quang Phục Đảng”) (8)
c.- Gục mặt cúi đầu làm tay sai vô điều kiện cho Liên Minh xâm Lược Mỹ Vatican trong những năm 1954-1975 tại miền Nam Việt Nam. Thí dụ:
– Linh-mục Hoàng Quỳnh đã trâng tráo hô khẩu hiệu “Thà mất nuớc, chứ không thà mất Chúa” khi chỉ huy đám giáo dân biểu tình ở ngoài hàng rào Bộ Tổng Tham Mưu. Việc này xảy ra vào ngày 27/8/1954 để làm áp lực với chính quyền của Tướng Nguyễn Khánh phải phục hồi quyền lực và quyền lợi cho Đảng Cần Lao Công Giáo và chế độ đạo phiệt Ca-tô Ngô Đình Diệm. Chu Văn Trình, Văn Sử Địa (Tavares, Florida: Ban Tu Thư Tự Lực, 1989), tr. 80.
– Linh-mục Nguyễn Quang Minh (quản nhiệm nhà thờ Vinh Sơn), Linh-mục Nguyễn Hữu Nghi (quản nhiệm nhà thờ An Lạc), cùng với các con chiên Nguyễn Việt Hưng, Nguyễn Xuân Hùng (cựu sĩ quân quân đội miền Nam (1954-1975) chủ mưu. Vụ nổi loạn ở nhà thờ Vinh Sơn (Sàigòn) xẩy ra vào năm 1976.
d. Ngay cả từ sau 1975 cho đến nay, con chiên người Việt vẫn tiếp tục nổi loạn phá rối trị an quốc gia và xem thường kỷ cương đất nước. Điển hình như:
– Linh-mục Nguyễn Văn Lý nổi loạn ở giáo xứ Nguyệt Biều (Huế). Trong phiên tòa xử lý ông ta vào ngày 30/3/2007, ông Lý tỏ ra xấc xược, ngược ngạo và thiếu văn hóa trước vành móng ngựa.
– Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt xúi giục con chiên nổi loạn đánh phá tòa nhà công quyền tại số 142 Phố Nhà Chung, Hà Nội trong thời gian từ 18/12/2007 cho đến ngày 30/1/2008 với chiều bài đòi chiếm lại khu đất này cho Vatican,
– Viên tổng giám mục này cùng với các Linh-mục Vũ Khởi Phụng, Nguyễn Văn Khải, Nguyễn Ngọc Nam Phong, Nguyễn Văn Thật, Nguyễn Hữu Vinh xúi giục một số giáo dân cuồng tín gây bạo loạn phá tường tràn vào chiếm đóng Công Ty May Chiến Thắng tại số 178 Đường Nguyễn Lương Bằng (Phường Đống Đa, Hà Nội) từ ngày 18/8/2008 cho đến ngày 22/9/2008.
– Các linh mục tỉnh Dòng Cứu Thế dùng lời lẽ ngang ngược (coi giáo luật đứng trên luật pháp Việt Nam) khi viết trong lá thư phúc đáp gửi ông Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hà Nội đề ngày 19/12/2008.
– Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Nhơn (chủ tịch Hồi Đồng Giám Mục Việt Nam) sử dụng những lời lẽ ngang ngược, coi giáo luật đứng trên luật pháp Việt Nam khi viết văn thư số 10/GHVN đề ngày 25/9/2008 để trả lời bản văn thư số 1437/UBND-NC ngày 23/9/2008 của ông Nguyễn Thế Thảo, chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hà Nội.
– Giáo dân ở xã An Bằng, Huế, lấn đất, lập bàn thờ cầu nguyện trái phép ở nhiều nơi ngoài khuôn viên Nhà Thờ, kéo dài từ đầu năm 2008 cho đến ngày nay (tháng 1/2009).
– Rất nhiều vụ nổi loạn khác như Loan Lý, Tam Tòa, Đồng Chiêm, Cồn Dầu, v.v.. đều do các tu sĩ và con chiên chủ mưu và khởi động.
e.- Hành động Lê Chiêu Thống của các con chiên người Việt trong việc thành lập cái gọi là “Việt Nam Cộng Hòa Foundation” kéo nhau đến họp ở tòa nhà Civic Center tại thành phố Westminster (California) vào tháng 7 năm 2003 để, biên soạn một lá thư gửi Liên Hiệp Quốc thỉnh cầu cơ quan này cưỡng bách chính quyền Việt Nam phải thi hành Hiệp Đinh Paris 1973. (9)
g.- Hành động Lê Chiêu Thống của những tên đầu nậu của Trung Tâm Sản Xuất Băng Nhạc ASIA: con chiên Trúc Hồ, Nam Lộc, Việt Dũng,.. trong việc gom góp và ngụy tạo chữ ký của người Việt hải ngoại trong cái gọi là “thỉnh nguyện thư”, đòi chính quyền Hoa Kỳ trực tiếp can thiệp với chính quyền Việt Nam phải thỏa mãn những yêu sách ngược ngạo của họ.
h.- Những việc làm phản quốc và ác tâm của giáo dân và những người đồng minh chống Cộng của họ ở Hoa Kỳ trong nỗ lực vận động với Quốc Hội Hoa Kỳ trong những ngày đầu năm 2009 để đưa Việt Nam vào danh sách CPC (Countries particular concerned), nhưng thất bại.
Tất cả những hành động phản quốc nêu trên cho thấy giới tu sĩ Ca-tô và tín đồ Ki-tô người Việt là những tội đồ phản quốc thuộc loại thâm niên cố đế truyền tử lưu tôn bất khả trị.
16.- Các quốc gia nạn nhân của Giáo Hội La Mã nói riêng và đạo Ki-tô nói chung ở khắp mọi nơi trên thế giới đều: hoặc là có những điều khoản ghi trong hiến pháp, hoặc là ban hành một đạo luật với nội dung nói rõ các biện pháp đối phó với những loại người có bản chất phản quốc. Ngoài ra, họ còn có một số đạo luật (thành văn) như Tu Chính Hiên 1 trong Hiến Pháp Hoa Kỳ và quyết định cấm bang giao với Vatican được ban hành vào năm 1867, và một số tập tục (luật bất thành văn) như WASP (White- Anglo Sxaon-Protesstant) với chủ đích loại bỏ Giáo Hội La Mã và tín đồ của cái “đạo bịp” này ra khỏi nếp sống sinh hoạt chính trị trong xã hội Hoa Kỳ. Nhờ vậy, từ ngày lập quốc đến nay Hoa Kỳ đã có thể ngăn chặn, không để cho Vatican có thể sử dụng con chiên bản địa để đánh phá chính quyền, gây bất ổn trong xã hội, làm nguy hai đến nền an ninh và sự tồn vong của đất nước.
*
* *
Cũng vì kinh nghiệm đau thương với những tai hoa và nguy hiểm cho sự tồn vong của dân tộc và tổ quốc do Giáo Hội La Mã gây ra, cho nên các quốc gia đã từng là nạn nhân của Giáo Hội La Mã nói riêng, và đạo Ki-tô nói chung, đều có những biện pháp cứng rắn vô cùng nghiêm khắc đối với Vatican và tín đồ Ki-tô. Phương cách thông thường nhất của biện pháp này là đưa vào hiến pháp một số điều khoản cũng như ban hành các đạo luật (1) giới hạn quyền công dân và quyền lợi của những người còn tự nhận là con chiên của Vatican (như Anh quốc), (2) đòi hỏi tín đồ Ki-tô phải đặt quyền lợi của đất nước lên trên hết, (3) phải cắt đứt quan hệ với Vatican (như Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác như các nước mà đạo Hồi là tôn giáo chính), (4) đặt Giáo Hội La Ma Mã ra ngoài lề xã hôi và cấm con chiên của Giáo Hội không được tham chính (như ở Anh Quốc,và nhiều quốc gia khác ở vùng Trung Đông), v.v…

B.- Hiến Pháp Của Các Quốc Gia Nạn Nhân Của Giáo Hội La Mã
1. Nước Anh
Nước Anh đã phải trải qua nhiều thế kỷ tranh đấu (1) chống lại sự lấn lướt của đạo Ca-tô và bàn tay của Vatican thọc sâu vào các công việc nội chính mưu đồ cướp đoạt chính quyền, (2) chống lại thế lực ngoại thù liên minh với Vatican đem quân đến tấn công nước Anh (chính quyền Pháp thời Vua Louis XIV) cho nên:
1.- Vào đầu thập niên 1530 trong thời Anh Hoàng Henry VIII (1491-1547), nước Anh đã ly khai, tách rời khỏi Vatican, thành lập Anh Giáo, tịch thu (quốc hữu hóa) toàn bộ của nổii của chìm, động sản và bất động sản của Giáo Hội La Mã.
2.- Ấy thế mà Vatican vẫn có thể sử dụng tín đồ bản địa để đánh phá nhân dân và chính quyền Anh để thiết lập một chế độ đạo phiệt thần phục Vatican tại quốc gia này. Để đối phó với tình trạng chia rẽ tôn giáo do đạo Ca-tô gây ra, năm 1559, chính quyền Anh đưa ra biện pháp “Ổn định tôn giáo thời Nữ Hoàng Elizabeth ” (1558-1603).
Theo luật này, mọi người được bổ nhậm làm công nhân viên nhà nước (công chức) hay trong các nhà thờ đều phải tuyên thệ trung thành với nhà vua, (ngườii vừa là quốc trưởng của đất nước, vừa là giáo chủ của Giáo Hội Anh.) Kẻ nào từ chối không tuân hành luật này sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc và những kẻ không chịu tham dự vào các buổi lễ lạc của Anh giáo cũng bị phạt một khoản tiền. Những kẻ tái phạm những luật trên đây sẽ bị phạt tù và có thể bị tử hình. Đạo Ca-tô bị đặt ra ngoài lề xã hội….” (Nguyên văn tiếng Anh) (10)
3.- Năm 1606: Chính quyền trong thời Vua James (1603-1626) phải dùng biện pháp cứng rắn hơn đối với tín đồ Ca-tô, trừng phạt nghiêm khắc tín đô Ca-tô nào không chịu tuân hành luật pháp, ban hành luật đòi hỏi mọi người dân Anh phải tuyên thệ trung thành với nhà vua và phải phủ nhận “ý niệm quyền lực của giáo hoàng phải đứng trên quyền lực của nhà vua”. Luật này được ban hành vào tháng 5 năm 1606’
4.- Năm 1673: Quốc Hội Anh ban hành một đạo luật gọi là “Test Act” (Luật Thử Nghiệm). Theo đạo luật này, tất cả các viên chức chính quyền và sĩ quan quân đội đều phải tuyên thệ rằng (1) phải từ bỏ tín điều hóa thể (transubstantiatiion) [bánh thánh là mình hay thân xác Chúa và rượu lễ là máu Chúa], (2) phải lên án và tố cáo một số tín điều bị coi như là mê tín và sùng bái các tượng thần, và (3) chỉ được rước lễ theo nghi thức của Giáo Hội Anh thôi. (nguồn tham khảo) (11)
5.- Năm 1691: Quốc Hội Anh lại ban hành một biện pháp khác nữa nghiêm khắc hơn đối với Vatican. Đó là Đạo Luật Ổn Định vào năm 1691. Đạo luật này cấm không cho người Anh là tín đồ Ca-tô của Giáo Hội La Mã lên cầm quyền. Dưới đây là đoạn văn quan trọng của đạo luật này:
“Không có một tín đồ Ki-tô La Mã nào có thể trở thành nhà lãnh đạo nước Anh. Như vậy là luật này loại hẳn tất cả những người con và cháu của vua James Đệ Nhị với người vợ thứ hai của nhà vua, không cho họ lên cầm quyền.” (12)
Kể từ đây, nước Anh thực sự (1) theo chế độ quân chủ lập hiến, quyền cai trị đất nước được trao cho vị thủ tướng do Quốc Hội tuyển chọn, và (2) không có một người Anh nào là tín đồ Ca-tô được đưa lên ngai vàng. Cũng từ đó, ảnh hưởng Giáo Hội La Mã được coi như là bị tiêu diệt hoàn toàn ở Anh quốc, mặc dù quốc gia này là một nước dân chủ tự do và tôn trọng quyền tự do tôn giáo của tất cả mọi người dân. Cũng từ đó nước Anh không còn bị Vatican dùng tín đồ để đánh phá chính quyền và gây rối loạn trong xã hội nữa.
2. Nước Pháp:
Tương tự như nước Anh, bối cảnh nước Pháp cũng đã phải trải qua nhiều thế kỷ tranh đấu (1) chống lại sự lấn lướt của đạo Ca-tô và bàn tay của Vatican thọc sâu vào các công việc nội chính mưu đồ cướp đoạt chính quyền, (2) chống lại thế lực ngoại thù là các nước Áo, Phổ, Nga và Anh do Vatican vận động đem quân đến tấn công nước Pháp vào giữa thập niên 1790 và nhiều lần khác nữa cho đến khi chính quyền của Hoàng Đế Napoléon I bị lật đổ vào năm 1814, và (3) chống lại sách lược Vatican dùng tín đồ bản ụia để gây loạn và cướp chính quyền.
Kinh nghiệm đau thương của nước Pháp do Giáo Hội La Mã hay đạo Ki-tô gây ra còn trầm trọng hơn rất nhiều so với nước Anh, nhất là từ thời nữ bạo chúa Catherine Medici (1519-1589) trở thành hoàng hậu của vua Henry II (1519-1559), rồi nắm quyền nhiếp chính kể từ năm 1559 trong các triều Vua Francis II (1560), Vua Charles X (1560-1574), và Vua Henry III (1551- 1589), cho đến ngày tháng chót của cuộc đời của bà vào tháng 1/1589). Những hành động tham tàn, bạo ngược và dã man của chính quyền trong thời bà nhiếp chính còn ghê gớm gấp ngàn lần nữ bao Chúa Từ Hi Thái Hậu (1835-1908) thời nhà Thanh (1644-1912) ở Trung Quốc’. Sách sử gọi những năm bà nắm thực quyền là “thời đại Catherrine de Medicci” và ghi nhận bà là “một trong số 100 bạo chúa ác độc nhất trong lịch sử nhân loại”.
Các đời vua kế tiếp cũng tham tàn, bạo ngược và dã man không kém gì “thời đại Catherrine de Medicci”. Cho rằng Vua Henry IV (1559-1610) không thể khuất phục đươc, cho nên Vatican mới cho một tín đồ cuồng tín tên là François Ravaillac (1578-1610) ám sát nhà vua vào ngày 14/10/1610 để đưa vị hoàng tử còn nhỏ tuổi mới có 10 tuổi (sinh ngày 27/9/1601) lên ngai vàng với vương hiệu là Louis XIII (1610-1643), rồi đưa Hồng Y Richelieu (1585-1642) lên nắm thực quyền trong vai trò thủ tướng để thao túng việc triều cương phục vụ cho quyền lợi của Vatican và vua Louis XIV (1638-1715). Hồng Y Richelieu qua đời vào năm 1642, thì chức vụ thủ tướng lại được trao cho Hồng Y Mazarin (1602-1661) với cùng nhiệm vụ thao túng việc triều cương để phục vụ quyền lợi của Vatican. Năm 1643, Vua Louis XIII qua đời, Louis XIV (1638-1715) mới có 5 tuổi lên nối ngôi, Hồng Y Mazarin được Vatican giao cho thêm một trách nhiệm nữa là phải rèn luyện tân vương trở thành một bạo chúa Ca-tô, và Hồng Y Mazarin đã làm tròn trách nhiệm này. Kết quả là Vua Louis XIV trở thành một bạo quân lừng danh của nước Pháp với lời tuyên bố để đời “L’ État, c’ est moi” (I am the state).
Thực trạng này khiến cho nhân dân Pháp rơi vào thảm cảnh khốn cùng, cơ cực, điêu linh và đói khổ triền miên. Vì thế, họ mới thù ghét cái chế độ đạo phiệt Da-tô này và Giáo Hội La Mã đến tận xương tận tủy. Văn hào Voltarie gọi đạo Ki-tô là “cái tôn giáo ác ôn”, học giả Henry Guillemin gọi Giáo Hội La Mã là “cái giáo hội khốn nạn”, người dân Pháp gọi giới tu sĩ Ki-tô là “lũ quạ đen” (Les corbeaux noirs). Lời tuyên bố dưới đâycúa nhà báo Jacques René Hebert (Nov. 15, 1757- March 24, 1794) cho chúng ta thấy rõ sự kiện này:
“Các bạn người Pháp, các bạn hãy nói cho tôi nghe xem có được không? Nếu cái người mà các bạn gọi là Đức Thánh Cha cương quyết chống lại luật pháp của các bạn, các bạn có ngu xuẩn và hèn hạ đến độ phải từ bỏ luật pháp của các bạn. Các bạn hy vọng gì ở một ông Giáo Hoàng. Đ.M Giáo Hoàng, hãy tin ở tôi đi, bây giờ là đến lượt các bạn; cả trong mười thế kỷ qua, Giáo Hoàng đã áp bức các bạn quá nhiều rồi.”. (Anh ngữ) (13)
Chính vì thế mà khi Cách Mạng 1789 thành công, tân chính quyền liền ban hành những biện pháp mạnh để vừa loại hết mọi ảnh hưởng của Giáo Hội là Mã ra khỏi chính quyền và xã hội, vừa phòng ngừa và ngăn chặn mọi thủ đoạn mà Vatican có thể sử dụng để lấn lướt, len lỏi hoặc lặn sâu và trèo cao vào chính quyền từ địa phương đến trung ương để đục khoét phá nát chính quyền trong mưu đồ tái lập quyền lực và quyền lợi cho Giáo Hội La Mã. Một số những biện pháp đã thi hành như sau:
Thứ nhất: Ngày 4/8/1789, một đại biểu tu sĩ đảo ngũ về với hàng ngũ thứ dân là Tổng Giám Mục Talleyrand đề nghị phải tịch thu toàn bộ tài sản của giáo hội (tại Pháp) thì mới có thể giải quyết được vấn đề khủng hoảng tài chánh (lúc bấy giờ)… . Được đại đa số tán thành, Quốc Hội tiến hành làm thủ tục ban hành quyết định:
a.- Tịch thu toàn bộ tài sản của Giáo Hội La Mã.
b.- Bãi bỏ hết tất cả những đặc quyền đặc lợi (trong đó có thuế thập phân) mà chế độ cũ đã dành cho Giáo Hội, tu sĩ và giới quý tộc.
c.- Tách rời tôn giáo ra khỏi chính quyền.
d.- Ban Bản Hiến Chương Dân Sự của Giới Tu Sĩ (The Civil Constitution Of The Clergy).
e.- Biên soạn một Hiến Pháp cho chế độ mới.
Theo Hiến Chế Dân Sự của Giới Tu Sĩ (the Civil Constitution of the Clergy), Giáo Hội Pháp nằm trong Quốc Gia, chứ không còn nằm trong Giáo Hội La Mã nữa. Mục đích của hiến chế này là tách rời Giáo Hội Pháp ra khỏi Giáo Hội La Mã, biến giáo hội này thành một tổ chức tôn giáo nằm dưới quyền kiểm soát của chính quyền, và trong vòng ba năm Giáo Hội Ca-tô Pháp sẽ bị tước bỏ hết tất cả những nguồn tài chánh.
Thứ hai: Ngày 23 August 1789, tân chính quyền cho công bố Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền – Việc cấp thiết là Quốc Hội phải bàn thảo, biên soạn bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền (The Declaration of the Rights of Man and of the Citizen) và tìm phương cách giải quyết cấp thiết nạn khủng hoảng tài chánh đang làm cho nước Pháp lâm vào tình trạng phá sản, rồi tiến tới việc soạn thảo hiến pháp làm cơ cấu cho tổ chức tân chính quyền.
Thư ba: Ngày 26/8/1789 Quốc Hội công bố bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền xác nhận rằng:
a.- Quyền lực của nhà nước vì nhân dân mà có (The authority of a government is derived from the people).
b.- Mọi người dân phải bình đẳng trước pháp luật (All citizens should be equal before the law).
c.- Tất cả mọi người dân đều có quyền ảnh hưởng vào việc làm luật (All citizens should have the right to influence the making of the law).
d.- Mục đích của chính quyền là để bảo vệ những quyền tự nhiên của con người. Đó là quyền tự do, quyền có tài sản, quyền sống trong an ninh và quyền chống lại áp bức (The purpose of government should be the preservation of the natural rights of men to “liberty, property, security, and resistance to oppression” ).
e.- Quyền tự do tư tưởng và tự do hành xử tín ngưỡng của mọi người phải được bảo đảm (Freedom ò thought and religion should be guaranteed.)” (14)
Tuy rằng đã đưa ra những biện pháp trên đây để phòng ngừa Vatican có thể sử dụng nhóm thiểu số tín đồ ngu dốt để đánh phá chính quyền và hủy bỏ tất cả mọi công trình cách mạng trên đây. Ấy thế mà dân tộc Pháp cũng vẫn còn phải vật lộn gay go cực kỳ gian khổ với Vatican kể từ đó cho đến năm 1905 Vatican mới phải chấp nhận việc ghi vào trong hiến pháp điểu khoản tách rời tôn giáo ra khỏi chính quyền, và tuân hành tất cả điều khoản ghi trong luật quốc hữu hóa toàn bộ tài sản động sản và bất động sản của giáo hội trong nước, công nhận tu sĩ cũng phải tuân hành luật pháp quốc gia cũng như phải trung thành với hiến pháp thay vì trung thành với giáo hoàng hay giáo hội.
Dù vậy, trong những năm 1945-1954, Vatican và tín đồ Ca-tô người Pháp vẫn có thể lợi dụng những sơ hở của hiến pháp, lợi dụng quyền tự do thành lập chính đảng để lập ra Đảng Ca-tô ngụy danh là Mouvement Republicain Popularire (MRP). Đảng này dùng đủ mọi thủ đoan để làm mưa làm gió trên sân khấu chính trịi Pháp, đem quân sang tái chiếm Đông Dương khiến cho nước Pháp suy yếu và nhân dân Pháp điêu đứng, lầm than, khốn khổ và nhục nhã vì “cuộc chiến tranh bẩn thỉu” này.
3. Nước Mê Tây Cơ
Theo Gương Các Nước Anh, Pháp, Mỹ, Nga, dù rằng có tới 89% dân số Mễ Tây Cơ là tín đồ của Giáo Hội La Mã, vào năm 1857, nhân dân quốc gia này cũng vẫn theo gương các nước Anh, Pháp, cương quyết vùng lên làm Cách Mạng chống Vatican, đạp đổ bạo quyền đạo phiệt Ca-tô, rồi soạn thảo hiến pháp làm căn bản pháp lý cho tân chính quyền với những điều khoản đối phó với Nhà Thờ Vatican một cách thẳng tay.
Nhưng rồi Cách Mạng bị phản bội giống như Cách Mạng Pháp 1789. Cuối cùng đến năm 1917, nhân dân Mễ Tây Cơ lại một lần nữa quyết tâm làm cách mạng, tái sử dụng bản hiến Pháp 1857 và bổ túc thêm một số điều khoản để đối phó thẳng thừng với Vatican một cách cứng rắn hơn. Sự kiện này được sách Thực Chất Đạo Công Giáo Và Các Đạo Chúa (cùng tác giả) ghi lại như sau:
“Từ Hiến Pháp 1857 đến Hiến Pháp 1917 của Mexico: Mexico cũng như các quốc gia khác ở Trung và Nam Mỹ Châu đều có đại đa số dân theo đạo Công Giáo. Dân số Mexico hiện nay lên tới trên 100 triệu người. Mặc dầu đa số dân là những tín đồ đạo Công Giáo ngoan đạo nhưng đã hơn một thế kỷ qua chính quyền Mexico đến nay vẫn tuyệt giao với Vatican.
Năm 1857, quốc hội và chính phủ Mexico đã đưa ra một bản hiến pháp mang tính chất cách mạng quyết liệt chống lại Giáo Hội Công Giáo La Mã:
1.- Giải tán tất cả các tu viện nam cũng như nữ.
2.- Các nam tu sĩ bị cấm mặc áo dòng khi xuất hiện ở nơi công cộng.
3.- Tịch thu toàn bộ tài sản của Giáo Hội Công Giáo.
Tinh thần bản Hiến Pháp 1857 của Mexico được nhiều nước Châu Mỹ La Tinh noi theo. Năm 1917, Mexico sửa lại hiến pháp, nhưng các biện pháp đối với Giáo Hội Công Giáo vẫn không thay đổi.” (15)
Sử gia thân Giáo Hội là Linh-mục Sahnnon M. Collins ghi nhận Cách Mạng Mễ Tây Cơ 1917 như sau:
“Các cuộc cách mạng thời hiện đại đã lật đổ các chế độ quân chủ (ngai vàng) và nghiền nát tôn giáo (bàn thờ). Năm 1917, những cách mạng Cộng Sản Bôn-sê-vích đã lật đổ chế độ Nga hòang, hoàng đế Nga và cả gia đình ông đều bị sát hại. Mấy tháng trước thảm kịch này, một cuộc cách mạng bùng nổ ở Mễ Tây Cơ. Cuộc Cách Mạng Mễ Tây Cơ 1917 thi hành bản hiến pháp xã hội đầu tiên ở trên thế giới và Giáo Hội Mẹ (Giáo Hội La Mã) bị thiệt hại nặng nề. Chính quyền chiếm giữ nhà thờ và các cơ sở khác của giáo hội. Trong một cuộc nổi loạn của ác quỷ, những người cách mạng hủy hoại các chén thánh, những đồ tế lễ và các tác phẩm nghệ thuật về đạo Da-tô. Tu sĩ và giáo dân Da-tô ngoan đạo bị hành hạ và bị sát hại. Trong tỉnh Tobasco, mọi sự đều khó khăn. Viên thống đốc xã hội của tỉnh này đặt tên con là Lenin, Satan và Lucifer. Ông ta phá hủy tất cả nhà thờ, cưỡng bách các tu sĩ phải lập gia đình và hành hạ các tín đồ Da-tô ngoan đạo.” (16)
Sách Việt Nam Với Cuộc Dấy Loạn Hòa Bình của Giáo Chủ John Paul II ghi lại những điều khoản trừng phạt Giáo Hội La Mã với nguyên văn như sau:
“Hiến Pháp Mexico năm 1917 có điều khoản cấm chính quyền đặt quan hệ ngoại giao với Vatican, tu sĩ Gia-tô không được phép hoạt động chính trị hay mặc áo tu sĩ nơi công cộng, không được phép mở trường học hay làm chủ bất động sản.” (17)
Phần trình bày trên đây cho chúng ta thấy rõ lòng căm thù của nhân dân Mễ Tây Cơ đối với Giáo Hội La Mã hết sức mãnh liệt. Họ cương quyết loại bỏ mọi ảnh hưởng của Vatican ra khỏi chính quyền cũng như trong các phạm vi hoạt động trong ngành giáo dục và trong lãnh vực kinh tế (không được làm chủ bất động sản.)
4. Nước Ý
Tương tự như hai nước Anh và nước Pháp, Ý Đại Lợi cũng phải trải qua nhiều thế kỷ tranh đấu (1) chống lại sự lấn lướt của đạo Ca-tô và bàn tay của Vatican thọc sâu vào các công việc nội chính mưu đồ cướp đoạt chính quyền, (2) chống lại các thế lực ngoại thù liên minh với Vatican là Pháp và Áo, và (3) chống lại sách lược Vatican dùng tín đồ bản đia để gây loạn và cướp chính quyền. Nước Ý cũng là một trong các nước Nam Âu mà sách sử đã ghi nhận rằng họ quy tội cho Giáo Hội La Mã đã làm cho đất nước họ nghèo đói, chậm tiến, dân trí thấp kém so với các nước Tấy Âu và Bắc Âu. (18)
Cũng vì thế mà dù rằng gần như toàn dân là tín đồ của Vatican nhân dân quốc gia này lại nhiệt liệt ủng hộ chính quyền Cách Mạng Ý chống lại Giáo Hội La Mã. Nhờ vậy mà ngày 20/9/1870, nhà ái quốc Giuseppe Garibaldi có thể đem quân Cách Mạng bao vây và nã đại pháo vào Tòa Thánh Vatican, buộc Giáo Hoàng Pius IX (1846-1878) phải kéo cờ trắng đầu hàng vô điều kiện. (19)
Chuyện nhân dân Ý nhiệt liệt ủng hộ quân Cách Mạng tiến đánh và đập tan “chế độ giáo hoàng” (the papacy) tại Ý cũng là lời giải đáp cho câu hỏi trên một diễn đàn thư tín như sau:
“Đúng là Nguyễn Văn Thiêu là tay sai của MỸ và ngay tới Cựu HOÀNG BẢO ĐẠI hay Tổng Thống Ngô đinh Diệm hay Nguyen Van Thiệu hay VNCH đều do Pháp và Mỹ dựng nên, không sai, như Nam Hàn, Đài Loan, Phi Luật Tân,, Thái Lan, Singapore, kể cả Nhật có khác gì đâu???? Cũng năm trong quỹ đạo, cũng gần như một số phận con đẻ của đế quốc Mỹ thôi???? Tại sao các nước kia lại thành công giầu mạnh từ một nước nghèo đói sau chiến tranh lệ thuộc hoàn toàn Mỹ, làm tay sai cho Mỹ mà trở thành tự lập, thành giầu mạnh từ chối luôn cả viện trợ Mỹ như Đài Loan để trở thành đồng minh của Mỹ cho đến ngày nay…”
Cũng nên biết là ngoại trừ miền Nam Việt Nam, (1) không có nhà lãnh đạo của các nước trên đây là con chiên của Vatican hay có mối liên hệ chặt chẽ với Vatican, (2) không có người nào trong các nhà lãnh đạo của các nước trên đây được Vatican cho người dẫn sang Mỹ rồi vận động với chính quyền Mỹ đưa về Việt Nam cầm quyền như trường hợp con chiên Ngô Đình Diệm (3) không có nhà lãnh đạo nào của các quốc gia trên đây lại ngu xuẩn như con chiên Ngô Đình Diệm đã tuyên bố với các nhà chính khách Mỹ rằng, ông ta “ tuyệt đối tin tưởng và quyền lực của Vatican…”, (4) không có một nhà lãnh đạo nào của các nước trên đây tổ chức dâng đất nước của họ cho Vatican được ngụy trang là “Dâng Nước Việt Nam cho Đức Mẹ Vô Nhiễm” như con chiên Ngô Đình Diệm đã làm, và (5) cũng không có một nhà lãnh đạo nào của các quốc gia này lại theo đuổi kế hoạch Ki-tô hóa dân chúng của họ một cách dã man như chính quyền Ngô Đình Diệm.
Một sự kiện khác nữa cũng hết sức quan trọng là Mỹ và Vatican làm áp lực với cả Pháp và Bảo Đại bổ nhậm con chiên Ngô Đình Diệm (tay sai của Vatican) làm thủ tướng thay thế Thủ Tướng Bửu Lộc “ với “toàn quyền về dân sự lẫn quân sự” để về cầm quyền ở miền Nam Việt Nam. Kế hoạch sau đó là Mỹ sẽ ra lệnh cho Ngô Đình Diệm truất phế Bảo Đại và Mỹ sẽ viện trợ cho Pháp 100 triêu Mỹ kim để tăng cường khả năng quân sự hầu có thể đương đầu với phong trào kháng chiến chống Pháp của nhân dân Algeria lúc bấy giờ. (20)
ĐỀ NGHỊ
Phần trình bày trên đây cho thấy rõ là hầu hết các quốc gia nạn nhân của Giáo Hội La Mã khi vừa mới tranh đấu thoát ra khỏi nanh vuốt của Vatican đều có những kế sách giống nhau. Từ thế kỷ 17 cho đến ngày nay, bối cảnh nước ta (đang còn phải tranh đấu để thoát ra khỏi nanh vuốt của Giáo Hội La Mã) cũng không khác gì hoàn cảnh các quốc gia nạn nhân mà chúng tôi đã trình bày ở trên.
Người viết xin thành khẩn đề nghị lên các nhà hữu trách trong Quốc Hội Lập Hiến hay Hội Nghi Lập Hiến sắp tới cần thêm những điều khoản để ngăn chận và loại trừ bất cứ thành phần, cá nhân, nhóm, đoàn, đảng phái nào liên hệ đến Giáo Hội La Mã ra khỏi những cơ quan quyền lực. Họ luôn luôn có thể làm nguy hại cho sự tồn vong của tổ quốc. Phần phụ trang dưới đây tóm tắt đề nghị một số điều theo gương những biện pháp của các quốc gia nạn nhân nói trên để ngăn chặn âm mưu của Vatican dùng các thủ đoạn lấn lướt rồi cướp chính quyền.
Là con dân của dân tộc Việt Nam luôn hướng nhìn về Tổ Quốc, dù sống tha hương, chúng tôi vẫn hằng mong mỏi đất nước được an bình và phồn thịnh. Ước mong được các bậc thức giả ở trong nước cũng như ở ngoài nước cùng quan tâm và lên tiếng để làm sáng tỏ vấn đề quan trọng này. Mong lắm thay!

Trân trọng,
Nguyễn Mạnh Quang
California Ngày 21/2/2012

CHÚ THÍCH
(1) Phan Đình Diệm, “Kiến Nghị 6.” Ngày 15/6/1999. Tanvien@kitohoc.com .
Nguyễn Xuân Thọ, Bước Mở Đầu Của Sự Thiết Lập Hệ Thống Thuộc Địa Pháp Ở Việt Nam 1858-1897 (Saint Raphael, Pháp: TXB, 1005), tr. 17.
(3) Graham, Lloyd M., Deceptions and Myths of the Bible (New York: Bell Publishing Company, 1975), p. 463
Nguyễn Mạnh Quang, Mối Ác Cảm Của Nhân Dân Thế Giới Đối Với Giáo Hội La Mã”” Ngày 02 thấng 04 năm 2010. http://sachhiem.net/NMQ/MOIACCAM/NMQ_01.php
Nguyễn Mạnh Quang, Thư Gửi Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt, Tổng Giám Mục Giáo Phận Hà Nôi”, ngày 25/9/2006: Nguồn: http://sachhiem.net/NMQ/NMQ009.php
(6) Peter Tatchell (Special to CNN). “Why I oppose the pope.” September 16, 2010: Source: http://www.cnn.com/2010/OPINION/09/16/opinion.tatchell.pope/index.html
Hoàng Trọng Miên, Đệ Nhất Phu Nhân – Tập I (Los Alamitos, CA: Nhà Xuất Bản Việt Nam 1989, tr. 428.
(8) Nguồn: http://sachhiem.net/NMQ/ChanDungVNCH/QMN05.php ) và Mỹ.
Nguyễn Mạnj Quang, Nói Chuyện Với Tổ Chức Việt Nam Cộng Hòa Foundation (Houston, TX: Đa Nguyên, 2004), tr. 9.
From Wikipedia, the free encyclopedia
(11) Wikipedia, the free encyclopedia. “Charles II of England – Conflict with Parliament.” )
(12) Arnold Schrier & T. Walter Wallbank, Ibid.,p. 398. Nguyên văn: “A third measure, the Act of Settlement of 1691, provided that no Roman Catholic could be ruler of England, automatically excluding the descendants of James II by his second wife.”
J.E. Boshier, The French Revolution (New York: W. W Norton & Company, 1988), p 155.
(4) Carton J. H. Hayes, Modern Times – The French Revolution to the Present (New York: Macmillan Publishing Company, 1983), p. 35.
(15) Charlie Nguyễn, Thực Chất Đạo Công Giáo Và Các Đạo Chúa (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2003), tr 159.
(16) Trần Chung Ngọc, Mối Họa Cải Đạo” Ngày 18/2/2011. Sachhien.net: http://sachhiem.net/TCN/TCNtg/TCN109.php. Nguyên văn: “The modern has been especially revolutionary toppling kings from their thrones and smashing altars. In the year 1917, for example, the Bolsheviks, the Communist revolutionries in Russia overthrrew and assassinated the Czar and his royal family. But months before this tragedy, a revolution occurred in Mexico. Yes, the 1917 revolution in Mexico established the world’s first socialist constitution and Holy Morther Church suffered greatly. Authoirities demolished, desecrated, and seized Catholic Churches and religious houses. In a satanic rebellion, revolutionaires destroyed sacred vessels, sacramentals, and sacred works of art. Priests, religious and Catholic laity were persecuted and killed. In the Mexican province of Tobasco things were especially difficult. The socialist governor of Tobasco named his children Lenin, Satan, and Lucifer. He destroyed all churches, forced priests to marry, and persecuted any true Christian…” “BI. Miguel Agustin Pro –23 November 2004.”
(17) Chu Văn Trình, Thái Vân, Trần Quang Anh, Việt Nam Với Cuộc Dấy Lọan Hòa Bình của Giáo Chủ John Paul II (Dora, FL: Văn Sử Địa, 1994), tr 68.
(18) Malachi Martin, Rich Church Poor Church (New York: G.P. Putnam’s Sons, 1984), pp 155-156. Sự kiện này được sách sử ghi lại rõ ràng như sau:
“Sự trái ngược giữa các nước nghèo khó ở Nam Âu và sự phồn thịnh của các nước ở Bắc Âu thật là quá rõ ràng. Nước Anh Tin Lành đã trở thành một cường quốc trên thế giới và đang trên đường trở thành một trong các đại đế quốc thương mại; nước Phổ Tin Lành giầu có và hùng mạnh; nước Hòa Lan Tin Lành đã khởi tiến việc ngoại thương và xứng đáng được mang tước hiệu đế quốc. Một du khách đi từ Bắc và Trung Âu tới nước Pháp và bán đảo Tây Ban Nha rồi qua Ý Đại Lợi sẽ thấy sự tương phản về kinh tế, mức sống và trình độ học vấn tổng quát của người dân trong các quốc gia này. Ở Bắc và Trung Âu, phần lớn là Tin Lành, không có quốc gia nào rơi vào tình trạng chết đói và nghèo khổ triền miên như các nước ở miền Nam Âu. Chủ nghĩa tư bản cổ điển đã lỗi thời và các quốc gia theo đạo Tin Lành cũng đã thức thời và sẵn sàng từ bỏ nó để làm lợi cho đất nước. Các nhà chính khách và vua chúa ở các quốc gia Nam Âu cho rằng Tòa Thánh La Mã và chế độ giáo hoàng phải chịu trách nhiệm về sự suy thoái và thua kém của nước họ so với các nước theo đạo Tin Lành.” Nguyên văn: “The contrast between the impoverished southern European countries and the flourishing northern European states at this time was a glaring one. Already Protestant England had become a world power and was on its way to founding one of the great commercial empires; Protestant Prussia was prosperous and powerful; Protestant Holland was already starting the overseas trade that in time would offer it the title of empire. A traveller from northern and central Europe down into France, the Iberian peninsula, and Italy would be struck by the contrast in economic welll-being, standard of living, and general education of the people. The northern and the central nations, predominantly Protestant, had none of the starvation and endemic poverty exhibit down south. Classical capitalism was off on its first flight and the Protestant nations were ready to take advantage of it. The statesmen and kings in southern Europe held Rome and the papacy primarily responsible for that degrading difference them and their Protestant counterparts.”
(19) Malachi Martin, Rich Church Poor Church (New York: Putnam’ s, 1984), p. 170.. :
“Ngày 19 tháng 8 năm 1870, quân đội Pháp lo bảo Vệ Tòa Thánh Vatican thực sự rút lui vĩnh viễn. Trận đánh Sedan vào ngày 2 tháng 9 năm đó đã làm cho đế quốc của Hoàng Đế Nã Phá Luân Đệ Tam hoàn toàn sụp đổ. Tòa Thánh Vatican mất đi một thế lực bảo vệ cuối cùng, và nước Pháp, “người trưởng nữ của Giáo Hội La Mã” kể từ năm 1871 đến năm 1940 đã phải thay đổi đến 99 nội các. Quân Pháp vừa mới rút lui, tức thì, ngày 19 tháng 9, quân đội quốc gia Ý tiến vào kinh thành La Mã và đóng quân ở ngay chung quanh cổ thành Leonine nằm trong Kinh Thành La Mã. Ngày hôm sau (20/9), sau khoảng ba tiếng đồng hồ nã đại pháo và cận chiến lẻ tẻ, vào lúc 9:30 sáng, Giáo Hoàng ra lệnh kéo cờ trắng ở trên nóc nhà thờ St. Peter. Mười phút sau đó, không còn nghe thấy tiếng súng nữa. Quân đội Ý tiến vào phía trong kinh thành và chiếm đoạt hết tất cả của cải trong đó, chỉ có Ngọn Đồi Vatican là họ không rớ tới. Quốc Gia của Giáo Hoàng không còn tồn tại nữa. Diện tích của quốc gia này từ 16 ngàn dặm vuông bị cắt xén, còn lại chỉ có 480 ngàn mét vuông kể cả ngọn Đồi Vatican và xung quanh ngọn đồi này trong đó có nhà thờ St. Peter, các tòa nhà phụ cận và các khu vườn Vatican ở gần đó. Hôm sau, ngày 21 tháng 9, Giáo Hoàng Pius IX (1846-1878) viết một lá thư ngắn ngủi cho người cháu: “Cháu yêu quý: Tất cả đã hết rồi. Không có tự do, không thể nào quản lý được Giáo Hội. Hãy cầu nguyện cho ta và cho tất cả các con. Ta chúc phúc cho các con.”(Anh ngữ)
(20) Lương Minh Sơn, “Bài Học Nhìn Từ Hậu Trường Chính Trị Hoa Kỳ”, đăng trong tờ Sự Thật – Đặc San Xuân Đinh Sửu 1997 (Fremont, CA 1997) tr 26-27 do ông Lê Hữu Dản làm chủ biên:
“Ngày 19/06/1954, Vua Bảo Đại ký sắc lệnh 38/QT chuyển giao toàn quyền quyền dân sự lẫn quân sự cho Ngô Đình Diệm. Một tuần sau, ngày 26/06/1954, ông Diệm nắm chức thủ tướng. Ngày 07/07/1954, ông ra mắt Hội Đồng Nội Các gồm 16 tổng bộ trưởng. Vài năm sau, 14 trong 16 vị tổng bộ trưởng đó đã đứng qua tư thê đối lập joawjc trở thành kẻ thù của ông Diệm.
Đầu năm 1955, trong một cuộc tranh chấp quyền lực với Trung Tướng Nguyễn Văn Hinh, Tổng Tham Trưởng Quân Đội Miền Nam, một sĩ quan của Pháp đưa về để bảo vệ Bảo Đại, ông Diệm bị Bảo Đại cách chức vì lý do không còn được tín nhiệm .Tuy nhiên, Hoa Kỳ đồng ý trả 100 triệu đô la bằng viện trợ quân sự cho quân đội viễn chinh để Pháp chấm dứt ủng hộ Bảo Đại nên ông Diệm có tư thế không tuân hành lệnh giải nhiệm. Ngày23/19/1955, qua sự vận động của tình báo Hoa Kỳ và một số văn bút (văn nô) , ông Diệm tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý. Trước khi trở về Hoa Kỳ để lánh mặt trong cuộc bầu cử (trưng cầu dân ý truất phế Bảo Đại) , Đại Tá Edwward Lansldale căn dặn ông Diệm , “Trong lúc vắng mặt, tôi không muốn bỗng nhiên nhận được tin ông đắc cử với tỉ số 99.99 phần trăm số phiếu,”[MCC, trg 62]. Ông Diệm đắc của với tỉ lệ 98.2% và kết quả này cho phép ông chính thức truất phế Bảo Đại…”

Phụ Trang:
Dưới đây là tóm tắt một số đề nghị của chúng tôi đã được chúng tôi trình bày trong các Chương 15, 16, 17, 18, 19, 20 và 21 trong tập sách Tâm Thư Gửi Nhà Nước Việt Nam (đã đăng trên http://sachhiem.net/index.php?content=showrecipe&id=139) :
1.- Theo gương nước Anh bằng cách ghi vào trong hiến pháp hay bàn hành luật :
a.- Đặt Vatican hay Giáo Hội La Mã ra ngoài lề xã hội,
b.- Đòi hỏi tu sĩ và tín đồ Ki-tô muốn xin làm công nhân viên nhà nước hay tình nguyện gia nhâp quân đội hay bất kỳ cơ quan nào của nhà nước đều phải tuyên thệ (1) trung thành với hiến pháp, (2) từ bỏ đạo Ki-tô, và (3) dứt khoát cắt đứt mọi liên hệ với Giáo Hội La Mã. Nếu vi phạm sẽ bị trừng phạt (tùy theo mức độ nghiêm trọng) từ án tù đến tử hình, đúng như Luật Elizathe Religious Settlement của nước Anh ban hành vào năm 1559.
2.- Theo gương Trung Quốc:
a.- Cương quyết không thiết lập bang giao với Vatican: Lý do đã được trình bày đầy đủ trong Chương 2, sách Tâm Thư Gửi Nhà Nước. Chương sách này có thể đọc online ne http://sachhiem.net/NMQ/TAMTHU/NMQtt_Ma.
b.- Tiến hành thành lập một Giáo Hội Ki-tô Việt Nam độc lập, tách khỏi Giáo Hội La Mã, và đồng thời (a) kiểm soát chặt chẽ những người hành nghề tu sĩ Ca-tô, (b) sử dụng những biện pháp cứng rắn để đối phó với những tu sĩ và giáo dân vẫn còn ngoan cố tiếp tục thần phục Tòa Thánh Vatican.
c.- Cương quyết không để cho Giáo Hội La Mã hay các nhà thờ Ki-tô mở trường học tại bất cứ nơi nào trên lãnh thổ Việt Nam để tránh cho con em chúng ta không bị chính sách ngu dân và nhồi sọ của “cái đạo bịp” này biến thành hạng người vong bản, phản quốc, phi luân và loạn luân giống như những chuyện trong kinh thánh cũng như trong cuộc sống hoàng đàng loạn luân và phi luân của các giáo hoàng cũng các giáo sĩ Ki-tô như đã nói ở trên.
d.- Cương quyết không cho Giáo Hội La Mã thiết lâp bất kỳ một viện mồ côi hay cô nhi viện nào trên lãnh thổ Việt Nam. Lý do: Nếu để cho “đạo bịp” này thiết lập các cô nhi viện thì các trẻ em cô nhi này sẽ bị họ nhào nặn thành hạng người mất gốc chỉ biết trung thành với Tòa Thánh Vatican hay Giáo hội La Mã và sau này chúng sẽ trở thành những tên lính xung kích nội trùng của Vatican nằm tiềm phục trong nhân dân và sẽ liều chết chiến đấu chống lại tổ quốc và dân tộc ta.
e.- Tuyệt đối không trả lại cho Vatican một khỏan bất động sản nào mà trước đó đã được thâu hồi.
f.- Tuyệt đối không để cho Vatican tự ý bổ nhậm các linh mục và giám mục mà không có sự chấp thuận của chính quyền ta.
3.- Theo gương chính quyền Cách Mạng Pháp 1789:
a.- Quốc hữu hóa toàn bộ bất động sản của Vatican kể cả các trường học, nhà thương, tu viện, chủng viện và tất cả các cơ sở khác, chỉ để lại cho mỗi họ đạo (xóm đạo hay làng đạo) một ngôi nhà thờ, sân trước (giới hạn) và 1 căn nhà cho lịnh mục hay giám mục quản nhiệm cư trú.
b.- Ban hành một hiến chế dân sự cho giới tu sĩ Ca-tô với nội dung giống như bản hiến chế mà chính quyền Cách Mạng Pháp 1789 đã ban hành, trong đó tu sĩ được coi như là bình đẳng trước pháp- luật giống như tất cả người dân khác và phải có nghĩa vụ đối với đất nước, phải trung thành với hiến pháp và nước Việt Nam, chứ không phải trung thành với Tòa Thánh Vatican hay Giáo Hội La Mã.
4.- Theo gương Nhật Bản trong thế kỷ 17:
a.- Trừng trị nghiêm khắc những kẻ lợi dụng chiêu bài tôn giáo để gây bạo loạn, mưu đồ lật đổ chính quyền và rước con voi Vatican về giầy mả tổ Việt Nam.
b.- Ban hành một đạo luật cấm, không cho tuyển dụng tín đồ của Vatican vào các chức vụ trong các cơ quan công quyền, không tuyển mộ họ vào làm việc bất kỳ cơ quan nào trong chính quyền cũng như trong quân đội.
5.- Theo gương nước Mễ Tây Cơ: Ban hành một đạo luật cấm các tu sĩ của Vatican, không cho hành nghề dạy học và không được mặc áo tu sĩ ở ngoài Nhà Thờ.
6.- Theo gương Hoa Kỳ:
a.- Thi hành chính sách giáo dục tự do và khai phóng, cổ võ, giúp đỡ khích lệ việc in ấn, phát hành và phổ biến rộng rãi những sách báo và tài liệu văn học, khoa học, lịch sử, đặc biệt là lịch sử thế giới, lịch sử Giáo Hội La Mã (miễn là không chống chính quyền).
b.- Đưa vào chương trình học ở bậc trung học môn học quốc sử và lịch sử thế giới, nâng cao thời lượng và nâng cao môn học này lên thành môn học chính, ngang hàng với các môn Quốc Văn, Toán và Khoa Học, giống như ở các trường trung học tại Hoa Kỳ. Vấn đề này đã được chúng tôi trình bày khá đầy đủ trong Chương 8, sac Tâm Thư Gửi Nhà Nước Việt Nam. Chương sách này có thể đọc online trên sachhiem.net: http://sachhiem.net/NMQ/TAMTHU/NMQtt_Main.php.
7.- Theo gương nước Nga và nhiều nước khác: Ban hành một đạo luật công nhân đạo Phật và các tôn giáo khác được tự do họat động ở Việt Nam, ngọai trừ đạo Ki-tô La Mã và đạo Tin Lành.
8.- Nâng cao phẩm chất các giáo viên phụ trách dạy môn sử bằng cách:
a.- Mở các khóa học bổ túc hay tu nghiệp để cho họ có cơ hội học hỏi mở rộng kiến thức về lịch sử, đặc biệt về lịch sử thế giới, lịch sử Giáo Hội La Mã, và lịch sử Việt Nam trong thời cận và hiện đại.
b.- Cung ứng đầy đủ và phổ biến rộng rãi các tài liệu lịch sử thế giới, lịch sử Việt Nam thời cận và hiện đại, và các tài liệu lịch sử có liên hệ đến vai trò hay những hành động của Vatican trong những cố gắng ngăn chặn những bước tiến hóa của nhân lọai trong gần hai ngàn năm qua, giống như các thư viện tại Hoa Kỳ và các nước khác trên thế giới.
c.- Đặt ra giải thưởng hàng năm về các tác phẩm biên khảo lịch sử với những đề tài về những cuộc tranh đấu của nhân Âu Châu và nhân dân thế giới chống lại Giáo Hội La Mã hay Vatican để đòi lại quyền làm người và bảo vệ chủ quyền của đất nước cùng sự sinh tồn của dân tộc.
Người viết có thể cung cấp cho thư viện của Ban Sử tại Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội các sách và tài lỉệu lịch sử thế giới và tài liệu lịch sử có liên hệ đến Giáo Hội La Mã mà người viết hiện có và đang dùng để biên soạn tập sách này cũng như bộ sách Lịch Sử Và Hồ Sơ Tội Ác Của Giáo Hội và các tập sách khác (đã và đang tiếp tục đưa lên sachhiem.net) để cho các anh chị em sinh viên Ban Sử và mọi người ham đọc sử có tài liệu sử dụng.

Advertisements
 
 

Vatican – thần quyền ở thế kỷ 21

ScreenHunter_01 Mar. 13 20.38
Vatican – thần quyền ở thế kỷ 21
Cập nhật: 12:26 GMT – thứ ba, 12 tháng 3, 2013

Vatican có diện tích khoảng 44 ha, là quốc gia độc lập nhỏ nhất hành tinh
Vatican là quốc gia độc lập nhỏ nhất trên thế giới và là nơi cư trú của giới lãnh đạo tinh thần của Giáo hội Công giáo La Mã.
Lãnh thổ của thành quốc này được bao quanh bởi thủ đô Rome của Ý, với các linh mục cũng như các nữ tu sỹ từ nhiều quốc gia khác nhau làm nên phần lớn dân số của nó.
Thành quốc Vatican là tất cả những gì còn sót lại của một nhà nước tôn giáo đặt dưới sự trị vì của các Giáo hoàng, trải rộng ở trung tâm nước Ý.
Nhà nước này đã bị các lực lượng thống nhất của nước Ý chinh phục vào giữa thế kỷ 19.
Các giáo hoàng cũng từng trở thành những “tù nhân tại Vatican” khi không muốn rời khỏi nơi bị giam cầm ở Điện Tông Tòa cho tới năm 1929, khi chính quyền phát xít Ý đàm phán Hiệp ước Lateran dẫn đến sự kiện tạo ra nhà nước nhỏ bé hiện hành.
‘Kế tục chính sách’
“Vatican đã có những chuyển đổi để đáp ứng các nhu cầu quốc tế về tính minh bạch tài chính sau một cuộc điều tra được mở ra năm 2010 về vi phạm quy định rửa tiền nhắm vào Ngân hàng Vatican”
Tòa thánh Vatican gần đây được Đức Giáo Hoàng Benedict XVI dẫn dắt từ năm 2005 đến năm 2013, khi ngài tuyên bố từ chức vì lý do cao niên.
Giáo hoàng Benedict XVI đã kế tục nhiều chính sách được cho là bảo thủ của người tiền nhiệm, John Paul II.
Hai mươi sáu năm trị vì của Đức Giáo Hoàng John Paul chứng kiến những biến động to lớn ở Đông Âu, trong đó có cả quê hương Ba Lan của ngài.
Giáo hoàng John Paul II đã rao giảng đối thoại và hòa giải giữa các đối thủ cũ về chính trị và tôn giáo.
Trong chuyến thăm tới Israel lần đầu tiên của một vị Giáo hoàng, ngài đã bày tỏ nỗi buồn đối với lịch sử bài Do Thái trong Giáo Hội Công Giáo.
Giáo hoàng John Paul II cũng tìm cách hàn gắn sự rạn nứt với các giáo hội Kitô giáo khác. Một số trong các động thái này đã thành công, trong khi một số khác đạt ít hơn.
‘Lạc nhịp đời sống’

Thành quốc Vatican nằm trong lòng nước Ý
Tuy nhiên, giới chỉ trích bên trong và ngoài Giáo Hội Công Giáo nói rằng chính sách xã hội của Vatican lạc nhịp so với thực tế hiện đại.
Họ nói rằng quan điểm giao giảng nghiêm ngặt của Đức Giáo Hoàng John Paul chống lại phá và ngừa thai là một thất bại và loại bỏ Giáo hội ra khỏi bất kỳ vai trò nào trong việc giải quyết các vấn đề xã hội mà hàng trăm triệu các tín hữu đã đang phải đối mặt.
Những vấn đề này sẽ trở lại đầy ắp trong chương trình nghị sự của vị tân Giáo hoàng.
Thành quốc Vatican sầm uất với những tòa nhà cổ chen chân trong khu vực diện tích nhỏ của nó.
Có thể điểm danh một số địa điểm nổi danh như Nhà thờ Thánh Peter.
Thánh đường này được hoàn tất vào đầu thế kỷ 17, với toà nhà mái vòm trở nên một điểm hành hương.
Bảo tàng và Nhà trưng bày nghệ thuật Vatican là nơi lưu giữ hàng loạt các bộ sưu tập nghệ thuật vô giá của các giáo hoàng.
Ở một góc độ khác gần với thế tục hơn, Vatican đã có những chuyển đổi để đáp ứng các nhu cầu quốc tế về tính minh bạch tài chính sau một cuộc điều tra được mở ra năm 2010 về vi phạm quy định rửa tiền nhắm vào Ngân hàng Vatican.
Vatican đã áp dụng các luật lệ để đưa Ngân hàng của mình phù hợp hơn với các tiêu chuẩn quốc tế về tính minh bạch, phòng chống khủng bố, giả mạo và gian lận.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2013/03/130312_vatican_profile.shtml

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Ba 13, 2013 in Công Giáo

 

Lời cầu nguyện của Alan đêm Noel

MeditationLời cầu nguyện của Alan đêm Noel
December 21, 2012

(Bài Viết Của Og Mandino)
Khi đối diện với một thảm kịch tang thương hay một tai họa hiểm nghèo, ai mà không hướng lời van xin về một Đấng Tối Cao? Ai mà không cầu nguyện khi bị vây hãm với thần chết, với bệnh hiểm, với những huyền bí ngoài sự hiểu biết của con người? Cái trực giác sâu kín này đã đến từ đâu, mà mỗi con người hay thú vật đều phải dùng đến trong những giờ phút khẩn cấp?
Mắt chúng ta sẽ tự động chớp khi có một bàn tay đưa ngang. Chân cẳng chúng ta sẽ tự động giật khi có ai gõ vào đầu gối. Đe dọa một người nào bằng cái “Hù” bất chợt, miệng hắn sẽ tự động nói “Trời ơi”. Cái trực giác tự động này từ đâu tới?
Dù tôi không phải là một con chiên hay một tín đồ rất ngoan đạo, tôi cũng nhận hiểu cái huyền diệu cao cả này của thiên nhiên. Tất cả mọi sinh vật trên trái đất này, kể cả con người, đều chia chung các trực giác về sự cầu nguyện.
Và lời cầu nguyện chỉ là một van xin lớn tiếng hướng về một Đấng Tối Cao. Khi thiên nhiên đã ban cho con lừa, con chim, con người khả năng và trực giác để cất cao lời van xin, thiên nhiên cũng đã dự trù là những lời van xin này đang được lắng nghe bởi một quyền lực cao lớn hơn mọi sinh vật và đủ quyền sức để đáp ứng lời van xin đó. Từ hôm nay, tôi sẽ cầu nguyện, sẽ van xin. Nhưng lời câu nguyện của tôi không bao giờ là van xin để được giúp đỡ mà van xin để được hướng dẫn.
Tôi sẽ không bao giờ cầu nguyện để tìm kiếm những vật chất tư hữu cho tôi.Tôi không xin là cho quanh tôi nhiều người hầu kẻ hạ lo từng miếng ăn thức uống.Tôi không xin những căn nhà tráng lệ với đầy đủ tiện nghi.Tôi sẽ không bao giờ nghĩ là lời nguyện cầu của tôi sẽ mang đến tiền bạc, tình yêu, danh vọng, chiến thắng, thành công hay hạnh phúc.Tôi chỉ xin cho có được sự hướng dẫn, cho tôi thấy được phương thức, đường lối để tạo dựng những thành quả và như thế, lời cầu nguyện của tôi sẽ luôn luôn được đáp ứng.
Sự hướng dẫn mà tôi tìm kiếm có thể sẽ đến, hay có thể không đến, nhưng cả hai trường hợp, tôi đều đã được trả lời. Nếu đứa bé xin cha nó một miếng bánh mà không được, người cha cũng đã trả lời cho nó rồi.
Lời cầu nguyện của tôi sẽ như sau:
“Đấng Tối Cao, xin Ngài giúp đỡ con. Mỗi ngày con bước ra ngoài thế gian, con thấy rất cô đơn và yếu đuối. Không có sự hướng dẫn của Ngài con sợ con sẽ lạc lối và xa dần những đường hướng cho con tìm được hạnh phúc và thành công.
Con không xin Ngài bạc vàng châu báu, hay những cơ hội nằm trong khả năng con. Con chỉ xin Ngài hướng dẫn cách thức để con gây dựng được khả năng để nắm lấy những cơ hội.
Ngài đã dậy con sư tử cách thức săn mồi để sinh tồn bằng bản năng. Xin dạy con cách thức sinh tồn và thịnh vượng trong tình yêu để con hãnh diện là con sư tử trên thương trường.
Giúp cho con tìm được sự khiêm tốn bằng trở ngại và thất vọng; nhưng cũng giúp cho con thấy được cái huy hoàng của chiến thắng.
Hãy trao cho con những công việc mà nhiều người đã không làm được; nhưng dậy con cách thức gạn lọc những kinh nghiệm thất bại của họ để con có thể thành công.Thử thách con với những tai họa để tâm hồn con được rèn luyện nhưng nhớ cho con cái can đảm để cười trước những lỗi lầm.
Cho con sống đủ ngày tháng để con đạt đến mục tiêu nhưng giúp con sống mỗi ngày như đó là ngày cuối cùng của đời con.
Chỉ con cách thức ăn nói để có được hiệu quả khi giao tiếp; nhưng dạy con cách im lặng trước những thị phi vô bổ của tha nhân.
Dạy con cái kỷ luật với thói quen không bao giờ bỏ cuộc; nhưng cũng cho con thấy tất cả đều có một tỷ lệ xác suất là tỷ lệ trung bình. Cho con cái trực giác bén nhậy để nhận diện được những cơ hội; nhưng nhớ dậy con cái kiên nhẫn để tập trung được năng lực.
Dạy con cách thức tạo cho mình rất nhiều thói quen tốt để bớt dần những thói quen xấu; nhưng nhớ cho con lòng hỷ xả để thông cảm với cái yếu đuối của tha nhân.
Dạy con bài học về đau khổ để con hiểu rằng: “Mọi sự rồi cũng qua đi” nhưng cho con cái hạnh phúc ngồi đếm những ân lộc mỗi ngày.
Đẩy con trực diện với hận thù để con không ngu dốt về thực tại; nhưng cho lòng con lúc nào cũng đầy tình yêu để biến kẻ thù ghét thành bạn bè.
Nhưng tất cả mọi sự đều là do ý Ngài. Con chỉ là một quả nho, nhỏ bé và cô đơn, bám víu vào cái cành khẳng khiu gọi là đời sống. Nhưng Ngài đã sáng tạo con thành một hiện hữu độc đáo; như vậy chắc Ngài đã dành cho đời con một con đường đặc biệt. Xin hướng dẫn con. Xin giúp con. Cho con tìm thấy con đường của mình.
Cho con trở thành toàn vẹn cái con người mà Ngài đã dự định khi ban cho con đời sống này. Cái hạt giống mà Ngài đã ươm trồng là con, xin được tăng trưởng để trở thành một loài hoa quả như ý muốn của Ngài.
Giúp cho con trở thành một con người đúng nghĩa.”
http://www.gocnhinalan.com/bai-cua-khach/li-cu-nguyn-ca-alan-noel.html

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Một 15, 2013 in Công Giáo

 

Nhân quả trong Kinh Thánh ? – Nguyễn Trí Cảm

Nhân qu trong Kinh Thánh ?

Nguyễn Trí Cảm

http://sachhiem.net/TONGIAO/NGTRCAM/NguyenTriCam24.php

Abraham giet con 

23-Jan-2012

Nhân quả được hiểu như là một kết quả xuất hiện, xuất phát từ một hay nhiều nguyên nhân, bao gồm tất cả các hiện tượng vật lý và tâm lý. Luật nhân quả không phải là sự kiện bắt nguồn từ tôn giáo mà là một sự kiện khoa học, không có tôn giáo thì định luật nhân quả vẫn diễn biến một cách khách quan.

Nhưng trong các tôn giáo, Phật giáo xem các nguyên nhân tạo ra kết quả có được có thể diễn biến không đồng thời cũng như chịu sự tác động, tương duyên với nhau, có thể chuyển hóa từ một nhân chính hay bị tác động bởi những nhân phụ khác mà đạo phật  gọi là duyên, nhưng vẫn tuân theo qui luật khách quan chung.

Gieo một hạt thóc xuống ruộng chưa hẳn sẽ là một cây lúa trĩu bông trong tương lai nếu như thóc bị chim chóc ăn hay gặp thời tiết khô hạn. Chim ăn hay khô hạn trở thành yếu tố hay nhân duyên mới để tạo ra một quả khác là hạt đã gieo nhưng không có quả để gặt.

Kinh thánh cũng có một ví dụ có thể xem như tương đồng với thuyết nhân-duyên-quả của Phật giáo qua dụ ngôn sau:

“Một người kia đi ra gieo giống.  Khi gieo, một số hạt giống rơi xuống mặt đường, chim đến ăn mất. Một số hạt giống rơi nhằm đất đá, nơi chẳng có nhiều đất thịt, chúng mọc lên ngay. Vì đất không sâu, nên khi mặt trời mọc lên, chúng bị nắng đốt, vì không có rễ đâm sâu, nên chúng chết héo.  Một số hạt giống khác rơi vào bụi gai, gai góc mọc lên, làm chúng bị nghẹt ngòi.  Một số hạt khác rơi trên đất tốt, mang lại kết quả, hạt được một trăm, hạt được sáu chục, hạt được ba chục.” Ma-thi-ơ 13.

Nhưng nếu đặt câu trên vào đúng ngữ cảnh và tình huống của lời giảng, thì trọng tâm của lời giảng phát biểu tiếp sau đó là “ai có tai thì nghe”, ngụ ý có người tiếp thụ được lời rao giảng và có người không.

Trong đạo Phật cũng có ẩn dụ tương tự, nhưng được gói gọn súc tích chỉ trong hai từ: “mưa pháp”. Chư Phật thuyết pháp như mưa rơi trên vạn vật, cây lớn hấp thụ nhiều, cây nhỏ tiếp thụ ít, vì thế, tất cả mọi chúng sinh đều được lợi lạt.

Trong kinh sách Cựu ước hay Tân ước của đạo Thiên chúa, tuy không đề cập đến luật nhân quả một cách trực tiếp, nhưng sách kinh lại khẳng định định luật nhân quả như là một qui luật tất yếu, không thể thay đổi qua các lời rao giảng của Giê-su:

Ai gieo giống chi lại gặt giống ấy” (Galati 6:7).

“Hãy biết rõ điều đó, hễ ai gieo ít thì gặt ít, ai gieo nhiều thì gặt nhiều” (II Cô 9:6).

“Vì ai gieo giống chi lại gặt giống ấy” (Galati 6:7)

“Hễ cây tốt thì sinh quả tốt, cây xấu thì sinh quả xấu. Cây tốt không thể sinh quả xấu, cũng như cây xấu không thể sinh quả tốt” (Mt 7,17-18),

Khi bàn về nhân quả ở bài viết này, người viết chỉ giới hạn tương quan trong phạm vi của người tạo tác và hậu quả phải chịu do sự tạo tác gây ra với ý thức trong hành động, và có thể phải chịu một kết quả tương ứng.

Trong lời giảng của Giê-su trong Matthew  26,52 cũng là một ẩn dụ đề cập đến luật nhân quả:

“Tất cả những ai cầm gươm sẽ chết vì gươm”

Nếu lời mạc khải không thể sai lầm kia là chân lý mặc nhiên, thì qua bảy cuộc thánh chiến đẫm máu với thế giới Hồi giáo thời Trung cổ hay Giáo hội cấu kết với thực dân đi khai thác tài nguyên ở các nước thuộc địa để mở đường cho việc truyền giáo vào thế kỷ 19, 20, âm mưu thủ tiêu các nền văn hóa bản địa để phục vụ “chân lý” để làm sáng danh Chúa, bức hại các tôn giáo khác, như Phật giáo ở miền Nam thời Ngô Đình Diệm, thì số con chiên từng tham gia công cuộc “mở rộng nước Chúa” qua nhiều thế kỷ nay có thể đã chết gần hết vì gươm như lời mạc khải được cho là không thể sai lầm!.

Nhưng Kinh thánh lại thể hiện sự bất nhất khi tự mâu thuẩn và phủ bác lại những khẳng định trước đó, không theo một qui luật khách quan nào, nhân và quả không tương ứng, hậu quả phải chịu khủng khiếp hơn nhiều lần, lời mạc khải mang tính chất đe dọa, răn đe hơn là sự vận hành của định luật nhân quả một cách khách quan:

Vì chúng nó đã gieo gió và sẽ gặt bão lốc” (Ôsê 8:7).

“Con ơi, đừng gieo trên những luống bất công, kẻo phải gặt bất công gấp bảy lần” (Hc 7:3).

Lời mạc khải này cũng tương tự như câu tục ngữ trong dân gian người Việt, hình thành qua ngàn năm lịch sử, có thể có trước cả khi Giê-su ra đời như “Gieo gió gặt bão”. Câu tục ngữ Việt  hàm ý quy luật nhân quả báo ứng cho tất cả mọi đối tượng, trong khi  Kinh thánh chỉ rõ một đối tượng cụ thể, là một lời nguyền rủa, sự trừng phạt của Chúa trời đối với dân Do thái vì không tuân lời: «Vì chúng nó đã gieo gió và sẽ gặt bão lốc» (Ôsê 8:7) .[1]

Một câu khác trong Kinh thánh xem tưởng như tương đồng với tục ngữ Việt: “đời cha ăn mặn, đời con khát nước” đó là: ”Ðời cha ăn nho xanh, đời con phải ê răng (Ed 18,2) , tưởng vậy, nhưng không phải vậy, chúng được giải thích là khổ nạn lưu đày mà dân Do thái phải chịu là do ông cha của họ đã quay lưng lại với Chúa. Đó là sự trừng phạt. [2]

Xem ra tính chất nhân quả trong Kinh thánh chỉ là các phát biểu tình huống cụ thể chứ không đặt trên nền tảng khoa học, vì nếu là một định luật thì các diễn biến phải tuân theo qui luật, và sẽ khó thuyết phục khi nói rằng nhân quả trong Thiên chúa giáo khác với nhân quả trong khoa học hay của các tôn giáo khác.

Đối với câu tục ngữ “đời cha ăn mặn, đời con khát nước”, trong giáo lý nhà Phật có đề cập đến một loại nghiệp, đó là nghiệp quả gia đình hay cộng nghiệp trong thuyết nhân quả. Tư tưởng Phật giáo đã hòa nhập vào đời sống, phong tục, tập quán của người Việt và được chứng nghiệm qua hàng ngàn năm mới trở thành câu tục ngữ nói trên, để chứng minh sự diễn biến của qui luật nhân quả.

Luật nhân quả trong Kinh thánh thường mang tính cách trừng phạt trả thù, ban ơn hơn là sự vận hành theo qui luật khách quan:

 “Chớ hề dối mình, Ðức Chúa Trời chẳng chịu khinh dể đâu, vì ai gieo giống chi sẽ gặt giống ấy” (Galati 6:7).

«Ngài báo ứng nhãn tiền cho những kẻ ghét Ngài mà hủy diệt chúng nó đi, Ngài không trì hoãn cùng kẻ nào ghét Ngài đâu, sẽ báo ứng nhãn tiền cho kẻ đó» (Phục 7:10).

«Hãy mang những kẻ thù của Ta ra đây, những người không muốn Ta ngự trị trên họ, và giết chúng ngay trước mặt Ta” Luke 19:27

«Ngài sẽ thưởng cho từng người, tùy việc họ làm» (Mathiơ 16:27).

«Người ngoại kiều, ngươi không được ngược đãi và áp bức … Mẹ goá con côi, các ngươi không được ức hiếp. Nếu ngươi ức hiếp mà nó kêu cứu Ta, ắt Ta sẽ nghe tiếng nó kêu cứu. Cơn giận Ta sẽ bốc lên, Ta sẽ cho gươm chém giết các ngươi: thế là vợ các ngươi sẽ thành goá bụa, và con các ngươi sẽ thành côi cút» (Xh 22:20-23). 

Sự cảm tính thể hiện đầy đủ tâm hỉ nộ ái ố của thế tục, ở đây không có chỗ cho lòng khoan dung mà thể hiện tâm thương ghét một cách cực độ, và sự trừng phạt, hay thực tế hơn, lời hăm dọa ghê gớm đó là: “thế là vợ các ngươi sẽ thành goá bụa, và con các ngươi sẽ thành côi cút”. Vậy mà ngày nay, các con chiên vẫn ca tụng Thiên chúa là tình thương!

Nhưng Thiên chúa, với tâm trạng bất nhất lại khuyên, một lời khuyên để thể hiện lòng cao thượng gần như chỉ cho các bậc đại giác, chứ không phải cho thế tục.

“Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em” và “Đừng chống cự người ác, trái lại, nếu bị ai vả má bên phải, thì hãy giơ cả má bên trái ra nữa” (Mt 5, 39.44)

Các con hãy yêu kẻ thù, hãy làm ơn cho những kẻ ghét mình, hãy chúc phúc cho những kẻ nguyền rủa mình, hãy cầu nguyện cho những kẻ vu khống mình. Ai vả con má bên này, thì đưa cả má bên kia; ai lột áo ngoài của con, thì con cũng đừng cản nó lấy áo trong. Ai xin, thì con hãy cho, và ai lấy gì của con, thì đừng đòi lại. (Lc 6,27-38)

Đó là sự nhu nhược, tiếp tay cho cái ác nhưng giàn hỏa, bó đuốc, hình cụ tra tấn, các cuộc thánh chiến của đạo quân “thiên binh” mà lịch sử đã chứng minh cho điều ngược lại.

Nếu như cho rằng đạo Chúa cũng tin có định luật nhân quả thì theo người viết, đó là một nhận định chủ quan, các nội dung của dụ ngôn hay lời rao giảng trích dẫn trong kinh thánh không đồng nhất và xuyên suốt. Các lời rao giảng mang tính cách đối phó hay xử lý tình huống khôn khéo của một người có tài ăn nói hơn là một đạo sư.

Đạo Chúa không hề xem luật nhân quả là nền tảng trong hệ thống giáo lý của mình vì nếu họ tin rằng có luật nhân quả thì tự thân định luật này sẽ phản bác lại các giáo điều khác như đức tin, đức mến, đức cậy v.v.. vào Chúa hay bà Maria, vì nếu luật nhân quả chi phối mọi hành động tạo tác của con người, thì vai trò làm người “phán xét” chung cuộc của Chúa trở thành vô nghĩa.

Trên thực tế, mọi sự đều nương tựa vào lòng yêu ghét của Chúa là chính, nên trong kinh sách hay thánh ca, ca nhạc liên quan đến tôn giáo này thường là cầu xin xót thương, ca tụng, van xin là chính.

Mục đích tối hậu của con chiên là được cứu rỗi, họ tin rằng mình có tội vì thánh kinh nói thế, được cứu rỗi là được Chúa ban cho sự sống đời đời trên thiên đàng [3], và vì vậy, họ dốc lòng thờ phượng, phụng vụ Chúa, môn đệ của Chúa để được tưởng thưởng, rước lên trời khi đến giờ lâm tử.

“Ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ một chén nước lã thôi, vì kẻ ấy là môn đệ của Thầy, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu”. (Mt 10:42).

“Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han” (Mt 25:34-36).

Như đã nói ở phần mở đầu rằng, có tôn giáo hay không thì luật nhân quả vẫn diễn ra một cách khách quan mà không cần có sự can thiệp của một vị thượng đế có tính khí thất thường vì thế, để giải thích một hoàn cảnh tồi tệ xảy ra cho một con chiên hết lòng thờ phụng Chúa, vì không thể giải thích theo luật nhân quả được buộc lòng các vị chủ chăn phải giải thích theo kiểu “thần học” là Chúa … thử thách như kiểu của Job trong Cựu ước [4]. Còn nếu như một người thành công do sự lao động của mình thì được gọi là ..Chúa cho! Và nếu không may thất bại thì là .. Chúa lấy đi. Còn nếu để giải thích kiểu “có trời mới biết” thì giải thích theo cách của TGM Nguyễn Văn Thuận :

Chúng ta không được lựa chọn vì công trạng của mình, nhưng chỉ vì lòng từ bi của Chúa.”

Nói như GM Thuận thì con chiên dù có nỗ lực tạo nhiều công trạng để vinh danh Chúa cũng không bảo đảm có được một kết quả có hậu vì còn tùy vào lòng từ bi của Chúa, nhưng lại không thể nào biết được lúc nào thì Chúa từ bi, và lúc nào thì không, nên đành phó mặc cho sự may rủi hay tự an ủi là Chúa đã .. an bài! Tuy nhiên, đây là một câu phát biểu rất đúng với thực chất của đạo Thiên chúa: Ông GM Thuận không tin có luật nhân quả, mọi sự đều do Chúa định.

Nhân quả trong Kinh thánh thường thể hiện sự báo thù, hăm dọa, hứa hẹn hay khủng bố tinh thần như:

«Ngài báo trả cho người ta tùy việc họ làm» (Êsai 59:18).

«Ngài báo ứng nhãn tiền cho những kẻ ghét Ngài mà hủy diệt chúng nó đi, Ngài không trì hoãn cùng kẻ nào ghét Ngài đâu, sẽ báo ứng nhãn tiền cho kẻ đó» (Phục 7:10).

«Các ngươi có nghe lời phán rằng: Mắt đền mắt, răng đền răng» (Xuất 21:24; Lê 24:20; Phục 19:21; Mathiơ 5:38).

“Đong đấu nào thì sẽ nhận được đấu ấy…” “Thiên Chúa sẽ không thương xót khi xét xử kẻ không biết xót thương.” (Ga 2:13).

“Anh em đừng xét đoán, để khỏi bị Thiên Chúa xét đoán,  vì anh em xét đoán thế nào, thì anh em cũng sẽ bị Thiên Chúa xét đoán như vậy; và anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa cũng sẽ đong cho anh em đấu ấy” (Ga 2:13).

Ở đây ta không thấy luật nhân quả tương ứng mà chỉ thấy tính chất “ăn miếng, trả miếng” hay trả thù như chuyện thường tình thế gian, thể hiện sự mâu thuẩn trong các lời rao giảng.

Và một trong những lời giảng có liên quan đến luật nhân quả mang tính chất hoang đường nhất là:

“Ai ăn Thịt Ta và uống Máu Ta thì có Sự Sống Đời Đời. Vì Thịt Ta thật là Của Ăn và Máu Ta thật là Của Uống. Ai ăn Thịt Ta và uống Máu ta thì ở trong ta và Ta ở trong kẻ ấy” ( Ga 6, 55 -56).

Để hiệp thành một với Chúa, lời mặc khải  Ga 6, 55 -56 là lời Chúa, tuy là một ẩn dụ, nhưng là cách diễn đạt mang nhiều tính chất  bán khai nhất qua “Bí tích Thánh Thể và Báp-têm (rửa tội). Người chịu lễ được ăn hay uống bánh/rượu  tức “máu thịt của Chúa” sau khi qua thủ thuật làm phép bằng tiếng Latinh của ông linh mục, và trở thành “rượu thánh và bánh thánh”.

Qua các trích dẫn những lời trong thánh kinh liên quan đến luật nhân quả, ta không thấy qui luật nhân quả chi phối xuyên suốt và nhất quán trong các lời rao giảng này. Các lời giảng mang tính chất tình thế hơn là một hệ thống giáo lý làm nền tảng cơ bản. Những lời rao giảng nào mang tính nhân quả bởi đó là thực tiễn trong đời sống được Giê-su nhận thức và giảng dạy lại cho tín đồ của mình. Tuy nhiên, theo Kinh thánh, nhân quả chung cuộc vẫn là qua sự phán xét của Chúa. Nhưng ngày nay, để thay thế vai trò phán xét này, các quan tòa đã thực hiện nhiệm vụ phán xét của mình ở tất cả mọi lãnh vực liên quan, trong đó đã thụ lý nhiều vụ kiện liên quan đến vấn nạn lạm dụng tình dục các nữ tu hay ấu dâm của quí ông linh mục, và sự việc này là khá phổ biến trên toàn thế giới ngày nay.

Hiện nay, trên các trang mạng Công giáo, và ngay cả Phật giáo cũng đề cập đến thuyết nhân quả trong đạo Thiên chúa. Các câu trích dẫn thường đặt ngoài ngữ cảnh nên xem dường như có sự tương đồng đối với giáo lý của các tôn giáo, tín ngưỡng hay tục ngữ dân gian khác. Sự đề cập đến luật nhân quả của đạo Chúa là  một cách tiếp cận để hòa nhập vào nền văn hóa tâm linh của dân tộc Việt Nam, cũng như bản sắc dân tộc qua nhiều hình thức như áo dài khăn đóng , áo tứ thân, chít khăn mỏ quạ cho bà Maria, nhà thờ trông giống như chùa hay dưới các hình thức văn hóa nghệ thuật, kiến trúc, hội họa khác v.v.. để làm gì thì có lẽ ai từng đọc bản tin nói về việc tổ chức mừng ngày Khánh nhật Truyền giáo ở tổng giáo phận Huế tháng 10-2011 vừa qua cũng rõ.

Giáo hội mong muốn tăng cao số lượng người Công giáo trong nước  [5]

 

SG, tháng Giêng 2012

Nguyễn Trí Cảm

 


Phần chú thích:

[1] Ô-sê 5:1-8:14 nguồn: vietchristian.com

[2] Bài trích sách Êdêkien quay về ý niệm trong Cựu Ước. Vị ngôn sứ và những người cùng thời đang bị lưu đày, khóc thương cho sự sụp đổ của quê hương mình. Ai phải chịu trách nhiệm cho việc họ bị thảm bại dưới tay quân Babylon? Trước hết sự trừng phạt dành cho tội lỗi do những sai lầm của cha ông họ – “đời cha ăn nho xanh, đời con phải ê răng” (Ez 18,2; Xh 34,7). Vì cha ông họ đã quay lưng lại với Thiên Chúa nên những người ở nơi lưu đầy cho rằng đó là lý do họ bị trừng phạt.  

nguồn: kinhthanhvn.org

[3]  “Chẳng có một người công bình nào hết, dẫu một người cũng không.” (Rô-ma 3:10)

“Vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.” (Rô-ma 3:23)

“Chúng tôi hết thảy đã trở nên như vật ô uế, mọi việc công bình của chúng tôi như áo nhớp; chúng tôi thảy đều héo như lá, và tội ác chúng tôi như gió đùa mình đi.” (Ê-sai 64:6)

[4] Chúa thử thách để xem lòng tin Chúa của ông Job kiên định như thế nào, tuy Chúa được xem là “toàn năng” nhưng vẫn không tài nào hiểu được lòng dạ ông Job nên mới phải bày ra cách thử thách như sau:

“Ông Gióp là một người giàu có và có lòng kính sợ Thiên Chúa, nhưng rồi bao nhiêu tai nạn dồn dập đã xảy ra trên đời sống ông: con chết, tài sản tiêu tan và chính ông mắc phải một chứng nan y không thuốc thang nào chữa trị được. Vợ ông trước hoàn cảnh đó chẳng những không thông cảm lại còn lên tiếng chế nhạo, còn những người bạn thì cho rằng ông tội lỗi đầy mình nên mới nên nông nỗi đó.”

Nguồn : tinlanh.org

[5] Các giám mục kêu gọi tín hữu hãy đi loan báo Tin Mừng để cải thiện số lượng người Công giáo ở Việt Nam tại một cuộc gặp gỡ mừng ngày Khánh nhật Truyền giáo ở tổng giáo phận Huế (10-2011). nguồn: ucanews.com

Nguyễn Trí Cảm

 

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Bảy 23, 2012 in Công Giáo

 

CÂU CHUYỆN VỀ THÁNH JOSAPHAT- hay là chuyện Nhà thờ Thiên Chúa Giáo từng phong thánh cho Đức Phật

CÂU CHUYỆN VỀ THÁNH JOSAPHAT
hay là chuyện Nhà thờ Thiên Chúa Giáo từng phong thánh cho Đức Phật
Tài liệu của Viện Đại Học Phật Giáo Âu Châu
(http://www.bouddhismes.net/node/189)
(Hoang Phong chuyển ngữ)

 

Lời giới thiệu của người dịch:

Dịch giả trước đây đã nêu lên chủ đề này qua một bài viết ngắn vào ngày 7 tháng 8 năm 2010, mang tựa đề là Câu Chuyện về Barlaam và Joasaph: hay một sự trùng hợp lạ lùng giữa các tôn giáo“, (có thể xem bài này trên các mạng Thư Viện Hoa Sen, Quảng Đức…).  Thế nhưng quả là một sự ngạc nhiên kỳ thú là khi lùng lại các tài liệu cũ thì tình cờ mới thấy rằng trước đó gần một năm Viện Đại Học Phật Giáo Âu Châu (UBE : Université Bouddhhique Européenne) cũng đã đưa vấn đề này lên mạng trong số phát hành ngày 1 tháng 12 năm 2009, tức là vào dịp những ngày lễ cuối năm ở Âu Châu. Bài viết này có thể xem như là một bài khảo cứu nêu lên một số dữ kiện để chúng ta cùng suy tư về một vài khía cạnh nào đó của tôn giáo nói chung.

 

Thánh Josaphat đang thuyết giảng (bản chép tay của Hy Lạp, thế kỷ XII)

            Quả hết sức lạ lùng là một chuyện như thế lại có thể xảy ra được: Nhà thờ Thiên Chúa Giáo và Chính Thống Giáo lại tôn thờ Đức Phật như một vị Thánh của họ dưới danh hiệu là Thánh Josaphat …! Chuyện này đã xảy ra từ lâu thế nhưng hầu như chẳng có ai hay biết cả!

            Câu chuyện về Thánh Josaphat và Thánh Barlaam bắt nguồn từ thuở xa xưa ở Ấn Độ, thế nhưng mãi về sau này mới trở thành một câu chuyện “ăn khách nhất” (“best seller” trong nguyên bản) vào thời Trung Cổ (tại Âu Châu). Vào thời đó Thánh Josaphat nổi danh đến độ Giáo Hoàng Sixte Quint đã phải chính thức đưa vào danh sách những người “Tử Đạo” (Martyrology) vào năm 1583. Lễ tưởng niệm vị Thánh này được nhà thờ Thiên Chúa Giáo La Mã ấn định vào ngày 27 tháng 11, trong khi đó thì nhà thờ Chính Thống Giáo Hy Lạp lại chọn ngày 26 tháng 8 và Chính Thống Giáo Nga Sô thì chọn ngày 19 tháng 11.

            Mãi đến năm 1860 thì mới có hai học giả là Labourlaye và Liebrecht cùng chứng minh một lượt cho thấy là Thánh Josaphat và Đức Phật chỉ là một nhân vật duy nhất, tuy rằng cả hai học giả này trước đó đã nghiên cứu biệt lập với nhau. Thế là tức thời nhiều khảo cứu gia khác thi nhau đổ xô vào vấn đề này để nghiên cứu thêm, và cũng nhờ đó mà mọi người mới biết đến quá trình diễn biến thật lạ lùng của câu chuyện trên đây một cách chính xác hơn…

Từ Ấn Độ đến Địa Trung Hải…

            Đầu đuôi câu chuyện xảy ra tại Ấn độ, và đúng thật là như thế! Vào khoảng đầu kỷ nguyên Thiên Chúa giáo, người ta mới thấy bắt đầu xuất hiện các kinh sách Phật giáo ghi chép sự tích Đức Phật một cách quy củ. Các mẫu chuyện rời rạc được ghi chép trước đây trong các Kinh (Sutra) và các bộ Luật tạng (Vinaya), tức là các tập sách ghi chép những lời giáo huấn của Đức Phật và các luật lệ quy định cho đời sống xuất gia, đã được gom góp lại để tạo thành những tác phẩm thật quy mô và đầy đủ, trong số này có thể kể ra các tác phẩm quan trọng nhất như tập Phật sở hạnh tán (Buddha-carita – thế kỷ thứ II) do nhà thơ Mã Minh (Asvaghosa) trước tác và tập Phổ diệu kinh (Lalita Vistara – thế kỷ thứ III-IV).

            Vào các thế kỷ đầu tiên của kỷ nguyên Thiên Chúa giáo, Phật giáo nhờ vào vương quốc Kushan đã bành trướng nhanh chóng trong toàn vùng Trung Á. Lãnh thổ rộng lớn của vương quốc này trải dài từ thung lũng sông Hằng đến những vùng biên giới tận cùng của sa mạc Tukla-Makan, đã tạo ra một cửa ngõ quan trọng giúp cho “con đường tơ lụa” nối liền Trung Quốc và nước Ba Tư (I-ran ngày nay). Dọc theo con đường này và rải rác trong các vùng ốc đảo, đã phát triển nhiều đô thị lớn góp phần không nhỏ vào việc vận chuyển hàng hóa… và luôn cả tôn giáo cũng như các huyền thoại đủ loại của toàn vùng Á Châu!

            Trong tỉnh Tourfan (còn gọi là Turfan hay Turpan, Việt dịch là Thự Quang, ngày nay thuộc tỉnh Tân Cương – Xinjiang –  của Trung Quốc; Tân Cương có nghĩa là biên giới mới) người ta đã khám phá ra một mảnh bản thảo kinh sách của đạo Thiện Ác (Manicheisme, Manichaeism – một tôn giáo xuất hiện vào thế kỷ thứ III, chủ trương nhất thiết phải phân loại tất cả mọi hiện tượng thành Thiện và Ác, tôn giáo này phát triển tại Tây Á và đã từng ganh đua với Thiên Chúa giáo mãi cho đến thời Trung Cổ) viết bằng cổ ngữ Ba Tư ghi lại một mẫu đối thoại giữa hai nhân vật mang tên là Bylwhr và Bwdysf (Budasf). Mẫu đối thoại này trùng hợp với một đoạn trong huyền thoại rất quen thuộc sau này nói về Thánh Barlaam và Thánh Josaphat.

            Sự kiện các tín đồ của đạo Thiện Ác quan tâm đến sự tích Đức Phật không phải là một chuyện lạ, vì vị sáng lập ra đạo này là một người Ba Tư tên là Mani (216-273) đã từng du hành sang Ấn độ…, và tại đây người ta đã từng xem ông ngang hàng với Đức Phật trước kia! Thật thế, vị này quả là một con người khác thường, nguyên trước đó ông theo Thiên Chúa giáo, và tin rằng một người tông đồ của Chúa là Thánh Thomas (theo huyền thoại thì thánh Thomas đã từng sang Ấn Độ thuyết giáo) giao cho ông sứ mạng kết hợp cả ba tôn giáo là Thiên Chúa giáo, Phật giáo và đạo Dô-rô-át (Zoroastrism, còn gọi là đạo Mazdéisme, là một tôn giáo của xứ Ba Tư, xuất hiện từ thế kỷ thứ VII trước Tây lịch, chủ trương thế giới là một môi trường tranh đấu giữa cái Xấu và cái Tốt, sự chiến thắng cuối cùng sẽ thuộc về cái Tốt). Tuy người ta khó có thể biết được là vị này đã có dịp tiếp xúc với trường phái nào của Phật giáo hay không (vì vào thời kỳ đó nhiều học phái Phật giáo xưa và cả Đại Thừa Phật giáo cũng đã phát triển rộng rãi trong vùng Trung Á), dù sao đi nữa thì rất có thể ông ta đã có dịp nghe kể lại sự tích về cuộc đời của Đức Phật, rất phổ biến tại các nước theo Phật giáo thời bấy giờ, nhất là đối với những đoạn thuật lại tuổi thiếu thời của Đức Phật và thiên hướng tầm đạo của Ngài – và đấy cũng là những gì mà người ta đã tìm thấy trong huyền thoại về Thánh Josaphat.

            Vị sáng lập đạo Thiện Ác là Mani tỏ ra rất thán phục lý tưởng tu tập khổ hạnh và chủ trương xa lánh những giá trị thế tục của Đức Phật, và thật ra thì giáo lý của Mani cũng chủ trương phải chối bỏ những giá trị đó. Ngoài ra người ta cũng nhận thấy có nhiều điểm tương đồng giữa tăng đoàn Phật giáo và tăng đoàn của đạo Thiện Ác: mối tương quan giữa các vị tỳ kheo (bhikkhu) và các vị ưu-bà-tắc (upasaca, tức các vị cư sĩ) trong Phật giáo cũng tương tự như sự tương quan giữa các vị “được bầu” và các vị “nghe giảng” trong đạo Thiện Ác. Nói chung các vị “tỳ kheo” và các vị “được bầu” phải lo việc tu tập và thuyết giáo, còn các vị “ưu-bà-tắc” và các vị “nghe giảng” thì có bổn phận phải trợ cấp các phương tiện sinh sống cho các vị tu hành trên đây. Ngoài ra vị giáo chủ Mani cũng đưa ra năm “lời khuyên” mà các vị “được bầu” phải noi theo, và năm lời khuyên này cũng khá tương tự với ngũ giới của Phật giáo. Ngoài các điểm tương đồng trên đây thì cũng cần nêu lên là giáo lý của đạo Thiện Ác chủ trương phải khinh thường thân xác vì đấy là nguyên nhân mang lại mọi thứ tai hại cho linh hồn, quan điểm giáo lý này hoàn toàn không có trong Phật giáo!

            Sự tích Đức Phật sau đó lại được truyền đi từ Trung Á và Ba Tư sang đến tận các vùng bờ biển Địa Trung Hải: một số tư liệu bằng ngôn ngữ Á Rập cho biết là vào hậu bán thế kỷ thứ VIII, quyển sách bằng tiếng Ba Tư nói về Đức Phật đã được cộng đồng những người theo giáo phái Ismailism (Ismaélisme, tức một giáo phái của Hồi Giáo) tại Xiri (Syria, Syrie) chuyển dịch sang tiếng Xiri và sau đó sang tiếng Á Rập, với tựa đề là “Quyển sách nói về Bilawhar và Yûdâsaf” (Kitab Bilawhar wa-Yudasaf). Lý tưởng khổ hạnh không thu hút được người Hồi giáo, vì thế họ vẫn tiếp tục giữ truyền thống tu tập của người Ba Tư trước đây, và đối với các kinh sách dịch thuật thì họ chỉ thêm vào một vài chi tiết nhằm nêu lên tính cách độc thần trong tôn giáo của họ, do đó sự tích Đức Phật trong các kinh sách dịch thuật này không bị biến dạng nhiều.

    

Tranh trên gỗ của Nga Sô và tranh in từ một bảng khắc trên gỗ của Pháp do Jaques Caillot thực hiện (1630),

cả hai bức tranh đều trình bày Thánh Barlaam và người đệ tử là Josaphat

Câu chuyện về Bilawhar và Yûdâsaf

            Ngày xưa tại Ấn độ, có một vị vua tên là Abénès theo tà giáo, tôn thờ thần linh. Ông rất đau buồn vì không có con trai để thừa kế ngai vàng, tuy nhiên sau đó thì ông cũng sinh được một đứa con trai và đặt tên là Yûdâsaf. Chẳng may một vị tiên tri lại cho biết sau này đứa bé sẽ không nối ngôi để trị vì xứ sở, bởi vì đứa bé sẽ trở thành một “Vị hướng dẫn vĩ đại trên con đường đưa đến Sự Thật”. Nhà vua rất thất vọng liền ra lệnh tống cổ tất cả các vị “phục vụ Trời” ra khỏi vương quốc của ông và giam con ông trong một lâu đài thật nguy nga, biệt lập hẳn với những cảnh tượng khổ đau của thế gian. Ông cấm mọi người không được nói đến “cái chết, sự già nua, tật nguyền và sự nghèo đói”, và nếu như có một người hầu cận nào ốm đau thì phải được thay thế ngay.

            Khi Yûdâsaf trưởng thành thì thường hay than vãn về cảnh sống biệt lập đó. Vua cha đành phải cho tổ chức các cuộc rong chơi, nhưng không được để cho hoàng tử trông thấy các cảnh tượng không hay, hoặc buồn khổ. Thế nhưng làm thế nào tránh khỏi được những chuyện ấy, một hôm hoàng tử trông thấy một người cùi và một người mù và ý thức được bệnh tật là gì, và sau đó lại trông thấy một người già, da dẻ nhăn nheo, lưng còng và không còn một chiếc răng nào, vị hoàng tử lại có dịp hiểu thêm sự già nua là gì. Chưa hết tò mò Josaphat còn  hạch hỏi thêm các người hầu cận và họ đành phải cho biết thế nào là cái chết. Những khám phá đó đã làm cho vị hoàng tử trẻ phải suy tư…

 

Hình minh họa trong một bản thảo thời Trung Cổ cho thấy Josaphat ra khỏi thành (đang cưỡi ngựa) và gặp một người cùi (mặt có chấm đen) và một người mù (đang chống gậy). Bên trong thành thì vua cha đang nhìn ra để canh chừng.

            Một nhà tu hành thông thái của một tôn giáo độc thần tên là Bilawhar sống trong sa mạc bỗng dưng một hôm nhờ linh cảm đã nhìn thấy tương lai của Yûdâsaf. Vị này bèn rời bỏ chốn ẩn cư để quay về nơi đô thị. Ông tìm gặp Yûdâsaf và đem một số chuyện ngụ ngôn ra để giảng dạy cho vị hoàng tử trẻ. Các bài ngụ ngôn này phản ảnh một số giáo lý Phật giáo, chẳng hạn như những lời giáo huấn về ảo giác của sự hiện hữu và sự nguy hại của dục tính… Sau đây là một đoạn trích dẫn:

            “Những ai thèm khát sự thích thú từ thân xác và bỏ mặc cho linh hồn phải chịu đói khát thì cũng chẳng khác gì với một người đang bị một con kỳ lân (một con vật truyền thuyết của người Tây phương rất hung dữ) đuổi bắt để ăn thịt và người này hụt chân té xuống một vực sâu. Khi đang rơi thì hắn nắm được một bụi cây và chống chân được vào một bờ đất mềm lại vừa trơn trợt; hắn nhìn thấy hai con chuột, một trắng và một đen thay phiên nhau gặm nhấm rễ của bụi cây mà hắn đang nắm. Một lúc sau thì bụi cây bị đứt gần hết rễ. Hắn nhìn thấy ở đáy vực thẳm một con rồng (theo truyền thuyết Tây phương con rồng lả một con vật hung tợn) vừa phun lửa vừa há toác miệng để chờ cắn xé hắn; nơi hắn đang đứng lại có bốn con rắn độc, tượng trưng cho bốn thành phần tạo ra thân xác, đang từ trong đất chui ra. Khi hắn ngẩng đầu lên thì lại thấy mật tuôn ra từ cành lá của bụi cây; thế là hắn quên ngay hiểm nguy đang chờ đợi, và cứ mải mê tận hưởng những giọt mật hiếm hoi đó.

            Con kỳ lân tượng trưng cho cái chết, nó liên tục đuổi theo con người để tóm bắt. Vực sâu tương trưng cho thế giới đầy rẫy khổ đau. Bụi cây biểu trưng cho sự sống của mỗi người đang bị hai con chuột, một trắng một đen, thường xuyên gặm nhấm từng ngày và từng đêm và sắp làm cho bụi cây bật rễ.  Nơi đang đứng có bốn con rắn biểu trưng cho thân xác gồm bốn thành phần, thân xác đó sẽ bị sự bất quân bình làm cho cho tan biến hết. Cái miệng khiếp đảm của con rồng tượng trưng cho cửa địa ngục đang chờ nuốt chửng tất cả mọi người. Mật tuôn ra từ cành cây tượng trưng cho sự lừa phỉnh của thế giới này, khiến con người bị mê hoặc, không nhìn thấy những hiểm nguy chung quanh”.

    

Hai hình minh họa trong các bản thảo thuộc thời Trung Cổ, kể lại huyền thoại Barlaam và Josaphat

(một người rơi xuống vực sâu với được một cành cây, con kỳ lân một sừng húc vào người này, con rồng thì há miệng để chờ cắn xé)

 

Tranh minh họa in từ bản gỗ của Boetius Adam Bolswert [1580-1634]

(một người đang rơi xuống giếng sâu, trên miệng giếng có một con kỳ lân, vách giếng thì có bốn con rắn đang phun nọc độc,

dưới đáy giếng có một con rồng đang phun lửa)

 

Điêu khắc trên vòm cổng phía nam của nhà rửa tội tại Parma (nước Ý)

tác phẩm của nhà điêu khắc Benedetto Antelami (thế kỷ XIII)

(xin chú ý hình chạm nổi ở giữa: bên trên có một người với được một bụi cây, bên dưới là một con rồng….)

            Những lời giảng dạy của Bilawhar cho Yûdâsaf được dựa vào sự đối nghịch giữa Hiện thực và Ảo giác, và các câu chuyện ngụ ngôn thì mang hậu ý khuyên nên tạo ra các thứ “nghiệp” lành! Bilawar nêu lên những gì thật quan trọng mà người ta thường không nghĩ đến, hay nói cách khác đấy là những gì mà thoạt nhìn thì không thấy và không cần phải quan tâm, thế nhưng thật ra thì đấy lại là những gì hết sức quan trọng. Sau đây là một đoạn trích dẫn từ một câu chuyện ngụ ngôn khác mà Bilahwar đã thuyết giảng cho Yûdâsaf:  

            “Một người biết yêu thương thế giới cũng tương tự như một người có ba người bạn. Đối với người bạn thứ nhất thì hắn yêu thương hơn cả chính mình, với người bạn thứ hai thì hắn yêu thương ngang hàng với mình và với người thứ ba thì hắn yêu thương kém hơn mình. Bỗng một hôm hắn bị nhà vua gọi vào triều và hắn cảm thấy vô cùng sợ hãi vì e rằng mình sẽ bị trừng phạt. Hắn bèn chạy đi tìm người bạn thứ nhất, người này thoái thác rằng mình rất bận và biếu tặng hắn một ít vải để may quần áo. Hắn đành tìm đến người bạn thứ hai, người này cũng lại thoái thác và cho hắn biết rằng mình đang có nhiều chuyện lo buồn, tuy nhiên vẫn chấp nhận đi theo hắn đến tận cổng thành. Hắn vô cùng thất vọng và tìm đến người bạn thứ ba. Hắn tạ lỗi trước và xin người bạn này giúp đỡ cho mình. Không ngờ người bạn thứ ba lại tiếp rước hắn thật ân cần, luôn miệng gọi hắn là người bạn thân thiết nhất của mình, và cho biết là trước đây hắn đã từng giúp đỡ mình từng li từ tí nên không thể nào quên ơn được. Chẳng những người bạn này đi theo vào tận bên trong thành mà còn hết lòng bênh vực cho hắn nữa. Người bạn thứ nhất tượng trưng cho của cải trong thế gian này, của cải ấy không thể giúp đỡ gì cho hắn ngoài việc sử dụng để mua một tấm vải liệm trước ngưỡng cửa của cái chết, người bạn thứ hai tượng trưng cho gia đình và bạn hữu, thế nhưng chính họ thì cũng đang bận tâm với những đau buồn của họ và họ chỉ đủ sức ngồi bên cạnh hắn trong giây phút cuối cùng mà thôi. Người bạn thứ ba tượng trưng cho những hành động từ thiện, và đấy là những gì mà hắn có thể trình ra trước sự phán xét cuối cùng”.

            Sau đó Bilawhar còn đưa ra thêm các lời dạy bảo khác nữa, và trước khi từ giã Yûdâsaf, Bilawhar còn bảo với Yûdâsaf rằng hắn còn phải vượt qua nhiều thử thách khác  trong một thời gian nữa trước khi được gặp lại ông ta.

            Thật vậy, sau “bốn lần gặp gỡ” (người mù, người cùi, người già và Bilawhar) Yûdâsaf đã phải chịu đựng đủ mọi thử thách. Vua cha nhận thấy tánh tình con mình bỗng dưng đổi thay, bèn dọ hỏi và biết con mình đã cải đạo. Vua cha liền sử dụng đủ mọi xảo thuật để làm cho con mình đổi ý: trước hết ông tổ chức một buổi tranh luận về thần học, thế nhưng Yûdâsaf đã thắng! Sau đó thì ông xúi bẩy con mình ham muốn xác thịt…, thế nhưng Yûdâsaf chỉ bị cám dỗ có một phần, có nghĩa là sau đó Yûdâsaf đã thoát ra được sự cám dỗ, thế nhưng cũng đã sinh được một đứa bé trai. Thấy có người thừa kế, Vua cha vui mừng trở lại và sau đó ông đã cải đạo theo Yûdâsaf…

            Cũng khá tương tự với trường hợp của Đức Phật có một người con trai là La-hầu-la (Rahula), Yûdâsaf sau khi có con vẫn tiếp tục lưu lại trong lâu đài của Vua cha, tuy nhiên lúc nào cũng nuôi mộng rời bỏ thế tục để sống cuộc đời khổ hạnh đúng như những gì mà Bilawhar từng đề cao! Một hôm có một vị thiên thần hiện ra và khuyên Yûdâsaf hãy bỏ trốn… Vị hoàng tử bèn rời bỏ lâu đài: đấy là một cuộc “Ra đi Trọng Đại”! Yûdâsaf cởi quần áo để trao đổi với một người ăn mày và sống cuộc đời khổ hạnh mà mình hằng mơ ước. Sau vài năm sống cô đơn “trong sa mạc”, Yûdâsaf được thụ giáo về “sự hiểu biết Tối Thượng và Độc Nhất!”, và ngay sau đó thì quay lại vương quốc của cha mình để cải đạo cho toàn thể dân chúng, an ủi Vua cha trên giường bệnh và sắp lìa đời. Yûdâsaf phong người giám hộ của con mình làm nhiếp chính, và sau đó thì ra đi vĩnh viễn…

  

Hai bức minh họa thuộc thế kỷ XV

Tranh bên trái diễn tả cảnh hoàng tử đang than khóc vì bị nhốt trong lâu đài.

Tranh bên phải là cảnh hoàng tử Josaphat ra đi, góc phải phía trên của tấm tranh

cho thấy hoàng tử đang cởi áo để trao đổi với một người ăn mày.

            Thật rõ ràng trên đây là các tình tiết nhắc lại những gì xảy ra từ khi Đức Phật ra đi cho đến khi quay lại kinh đô Ca-tì-la-vệ (Kapilavastu) nơi sinh thành của mình. Vào dịp trở về này Đức Phật cũng đã thuyết giảng cho nhiều người trong vương quốc của Vua cha và sau đó thì họ đã trở thành các vị tỳ kheo…, trong số này có cả con trai của Ngài là La-hầu-la. Thật vậy, hình như các người Á Rập và kể cả những người Ba Tư trước họ nữa, (tức là những người “sáng chế” ra câu chuyện Yûdâsaf và Bilawhar) tất cả có thể đã không hề biết tí gì về các sự kiện trên đây!

            Đối với chuyện có một thiên thần hiện ra để thúc dục Yûdâsaf rời bỏ lâu đài Vua cha thì cũng không phải là chuyện do người Hồi Giáo tự bịa đặt thêm, vì nhiều kinh sách Phật giáo cũng kể lại là khi hoàng tử rời bỏ lâu đài Vua cha thì có nhiều vì thần linh hiện ra để nâng bốn chân con ngựa của hoàng tử lên, hầu tránh không gây ra tiếng động khiến có thể đánh thức những người hầu cận trong lâu đài.

            Sau đó thì các tập sách bằng tiếng Á Rập kể lại các câu chuyện trên đây đã được chuyển dịch sang ngôn ngữ của xứ Georgia (thuộc Liên Sô cũ).

Đức Phật trở thành thánh Josaphat như thế nào…

            Xứ Georgia nằm giữa vùng biên giới chia cách Âu Châu và Á Châu và đồng thời cũng nằm giữa Hắc Hải và biển Caspian, là quốc gia đầu tiên trong toàn vùng đã ngả theo Thiên Chúa giáo, và hơn nữa còn đưa tôn giáo này lên hàng quốc giáo vào thế kỷ thứ VI. Do đó chính trên quê hương này câu chuyện về sự tích Đức Phật đã biến thành một huyền thoại Thiên Chúa giáo. Người ta được biết có tất cả ba văn bản bằng tiếng Georgia khác nhau về câu chuyện này, và các nhân vật thì được gọi là Balawhar và Iodasaph. Một văn bản “dài” được lưu lại đến nay là một bản chép tay vào thế kỷ XI, một văn bản khác thuộc loại “ngắn” là một bản chép tay thuộc vào thế kỷ XII, bản thứ ba là bản xưa nhất thuộc thế kỷ thứ IX rất gần với các bản trước tác bằng ngôn ngữ Á Rập trước kia và cũng là bản ít bị Thiên Chúa giáo hóa hơn cả…

            Các người Thiên Chúa giáo bị thu hút mạnh hơn so với những người Á Rập về lối sống khổ hạnh nêu lên trong câu chuyện. Họ xem đấy là lối sống lý tưởng và gần nhất với cuộc đời của Chúa Giê-Xu – cũng có nghĩa là lối sống của Đức Phật đã được Thiên Chúa giáo hóa. Lối sống khổ hạnh đó đã trở thành một thứ khuôn mẫu cho thiên hướng của những người Thiên Chúa giáo: một thứ động cơ thúc dục họ hãy tìm lấy cho mình sự tuyệt đối trong cảnh cô đơn, biểu trưng cho một sự thách đố trước mọi khó khăn và thèm khát – nhất là thèm khát xác thịt! Dù một vài chi tiết trong huyền thoại trước đây đã bị “sửa đổi” và câu chuyện đã được hoàn toàn Thiên Chúa giáo hóa, thế nhưng nhân vật Iodaphat vẫn là biểu trưng cho một con người cưỡng lại được sự cám dỗ của phụ nữ mà Vua cha đã cố tình tạo ra, và Iodaphat đã rời bỏ lâu đài không cần nghĩ đến vợ con và cả ngai vàng…

            Sự tích cuộc đời Đức Phật sau khi được truyền bá vào các vùng lãnh thổ Thiên Chúa giáo đã được dịch ra nhiều thứ ngôn ngữ khác nhau và được sửa đổi để thích nghi với các giáo lý mới. Trong hậu bán thế kỷ thứ X, một nhà dịch thuật nổi danh người Georgia là Euthyme ngụ tại tu viện Ivoron trên ngọn núi Athos của xứ Hy Lạp (Athos là một ngọn núi thiêng của xứ Hy Lạp, vào thế kỷ thứ X nơi đây đã từng có 20 tu viện được xây cất và có đến 2.200 tu sĩ, Đức Đạt-Lai Lạt-Ma cũng đã từng thăm viếng nơi này) đã dịch câu chuyện này từ tiếng Georgia sang tiếng Hy Lạp, và nhân vật Iodasaph trở thành Ioasaph. Bản dịch này còn lưu lại đến nay dưới dạng một bản chép tay năm 1021. Bản này cũng là bản gốc được sử dụng để dịch sang các ngôn ngữ khác nữa, chẳng hạn như các tiếng Ác-mê-ni (Arménien – Amenian), tiếng Slavia và tiếng La Tinh. Trong bản tiếng La Tinh thì Iosaphat lại trở thành Josaphat, và sở dĩ có sự thay đổi đó là vì tiếng La Tinh không phân biệt giữa hai chữ i và j.

            Vào khoảng năm 1047 hay 1048, có một tu sĩ “thích phiêu lưu” đã đến tận Constantinople (ngày nay là kinh đô Istanbul của Thổ Nhĩ Kỳ) và theo lời của chính ông kể lại, thì ông “rất say mê tìm tòi các sách viết bằng ngôn ngữ Hy Lạp và hy vọng sẽ khám phá ra một thứ gì đó để lưu lại ngàn đời”! Và rồi bỗng nhiên có một người tên là Léon đã trao tận tay ông một quyển sách. Trong quyển sách do ông dịch sau này ông có viết thêm một đoạn như sau:

            “Vị này (tức người trao quyển sách), nhân danh Chúa Trời và để tôn vinh vị tối thiện Barlaam, đã khẩn cầu tôi dịch tác phẩm này của thời Cổ Đại từ tiếng Hy Lạp sang tiếng La Tinh, một thứ tiếng được nhiều người biết hơn. Quyển sách này trước đây bị vùi sâu trong quên lãng và chưa hề có ai dịch, […]. Tôi tự hứa sẽ dịch thật trung thực từng chữ một, đúng theo cách diễn đạt của người xưa, thế nhưng sau đó thì tôi cũng lại nghĩ rằng trong công việc dịch thuật này, tôi sẽ phải trả cái giá thật đắt vì tôi sẽ sửa đổi một vài chỗ nhằm mục đích giúp cho bản dịch thu hút mạnh hơn những ai có nhiều đức tin…”    

            Đấy là bản dịch đầu tiên sang tiếng La Tinh và bản này đã được lưu hành trên khắp các quốc gia Thiên Chúa giáo trong thế giới Tây phương thời bấy giờ. Thế nhưng sự thành công vô song của câu chuyện Josaphat thật ra là nhờ vào một tác phẩm của Jaques de Voragine (1225-1298), một nhà thần học thuộc dòng tu Đô-mi-ních, và cũng là vị tổng giám mục địa phận Genova (một thành phố của nước Ý). Tác phẩm này được trước tác vào năm 1264 nhằm ghi lại “Cuộc đời của các vị Thánh” và mang tựa đề là “Huyền thoại Vàng son” (Légende Dorée). Quyển sách đã thành công rực rỡ! Câu chuyện về Thánh Barlaam và Thánh Josaphat kể lại trong quyển sách này đã trở thành một câu chuyện ăn khách nhất (“best seller” trong nguyên bản) vào thời Trung Cổ… Thật nhiều các tác phẩm khác, gồm cả văn xuôi lẫn văn vần, đã được trước tác dựa vào bản gốc trên đây, trong số này có cả một số phóng tác dưới dạng kịch bản để trình diễn trên sân khấu, và hầu hết các tác phẩm này vẫn còn được lưu truyền đến nay.  Ngoài ra bản gốc trong quyển sách của Voragine trên đây còn được dịch ra hầu hết các ngôn ngữ Âu Châu như: Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, ngôn ngữ Provence (ngôn ngữ địa phương thuộc miền nam nước Pháp), Ái Nhĩ Lan, Đức, Anh, Hòa Lan, Na Uy và Thụy Điển!…

Phần đọc thêm:

Tài liệu trên đây còn đưa ra một vài thư tịch giúp người đọc tìm hiểu thêm:

* Hai bài viết của tác giả Serges Leclerc trong tạp chí “Tao Yin” với tựa đề “Đức Phật, Josaphat và Barlaam: “Huyền thoại Vàng son” và thông điệp do tập sách này gửi gấm” (Bouddha, Josaphat : La légende dorée et son message):

http://wusong.free.fr/biblio/voidasi0/josaphat.htm

http://wusong.free.fr/biblio/voidasi0/josapha2.htm

            * Nhà xuất bản Editions Gallimard phát hành vào năm 1993 một bản dịch từ tiếng Georgia sang tiếng Pháp về cuộc đời của Thánh Josaphat, do hai dịch giả là Annie và Jean-Pierre Mahé thực hiện. Quyển sách mang tựa đề là “Trí tuệ của Balawhar – Cuộc đời của Đức Phật được Thiên Chúa giáo hóa” (La Sagesse de Balahvar. Une vie christianisée du Bouddha), quyển sách này được xếp vào bộ sách “Tìm hiểu Đông Phương” của nhà xuất bản. Ngoài phần dịch thuật ra, quyển sách còn gồm thêm một phần giới thiệu thật xuất sắc.

            * Nếu muốn tìm hiểu thêm về cuộc đời của Thánh Josaphat dưới dạng hoàn toàn Thiên Chúa giáo hóa thì có thể xem trang web của Thụy Sĩ. Trang web này đã đưa lên toàn bộ tác phẩm “Huyền thoại Vàng son” của tu sĩ dòng Đô-mi-ních là Jaques de Voragine:

http://www.abbaye-saint-benoit.ch/voragine/tome03/181.htm 

            Ngoài ra thì bài viết trước đây của người dịch về câu chuyện Barlaam và Josaphat cũng đã được đưa lên một số trang web:

http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-44_4-3765_5-50_6-2_17-80_14-2_15-2_10-2_12-1/

http://www.quangduc.com/VuLan/2010/Barlaam_va_Joasaph-_R1_.pdf

Saint Géniès de Magoirès, 24.09.11

Hoang Phong chuyển ngữ

http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-94_4-13945_5-50_6-1_17-40_14-1_15-1/

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Mười 5, 2011 in Công Giáo, Phật Giáo

 

BỤT TRONG TA, CHÚA TRONG TA

BỤT TRONG TA, CHÚA TRONG TA
Thích Nhất Hạnh

 

Giới thiệu: Bài nầy do Chân Văn dịch từ Chương Bốn trong quyển “Living Buddha, Living Christ” của Thích Nhất Hạnh, Riverheads Book xuất bản 1995. Quyển sách gồm nhiều bài giảng bằng Anh ngữ của Thầy, được ghi âm, chép lại và nhuận sắc. Ðây là một quyển sách đã bán được rất nhiều trong loại sách về tôn giáo và tâm linh ở Hoa Kỳ. Theo lối quen dùng trong các sách Việt ngữ của Thầy, từ “Buddha” được dịch là “Bụt”, một từ trong tiếng Việt cổ dùng để phiên âm “Buddha” khi đạo Phật được truyền vào Việt Nam vào đầu kỷ nguyên Tây lịch. Về sau, từ khi người Việt dùng kinh sách chữ Hán, từ “Phật” hay “Phật Ðà” (tiếng Hán Việt) được dùng thay từ “Bụt”. Bài dịch nầy đã được đăng trên tạp chí Thế Kỷ 21, California, Hoa Kỳ, tháng 11-1995

 

Cuộc đời Ngài là Giáo Lý

Có một khoa học gọi là Phật học, đó là học về cuộc đời của Bụt. Bụt là một nhân vật có thật trong lịch sử. Bụt sinh ra ở thành Kapilavatsu (Ca Tì La Vệ), gần biên giới Ấn Ðộ và Nepal. Ngài thành hôn, có một con, xuất gia, giác ngộ, và chia sẻ giáo pháp của Ngài cho đến năm tám mươi tuổi Ngài tịch. Nhưng cũng có một vị Bụt ở trong mỗi người chúng ta, không tùy thuộc vào thời gian và không gian. Ðó là Ðức Bụt Sống, vị Bụt của sự thật sau cùng, vượt trên các ý nghĩ và khái niệm, và lúc nào chúng ta cũng gặp được. Vị Bụt Sống đó không sinh ra ở Kapilavatsu và cũng không tạ thế ở Kushinagar.

Ki Tô Học là môn học về cuộc đời Chúa Ki Tô. Khi nói Chúa Ki Tô, chúng ta cũng cần biết đang nói về Chúa Giêsu trong lịch sử hay Ðức Ki Tô Hằng Sống. Chúa Ki Tô trong lịch sử sinh tại Bê Lem, con của một người thợ mộc. Ngài rời quê hương xa, trở thành một đạo sư, và bị đóng đinh trên thập tự vào năm ba mươi ba tuổi. Ðức Ki Tô Hằng Sống là Con của Thượng Ðế, đã phục sinh, và nay vẫn còn tiếp tục sống. Trong Ki Tô Giáo, bạn phải tin vào sự Phục Sinh, nếu không thì bạn không phải tín đồ. Tôi e rằng điều kiện nầy làm nhiều người e ngại, không chịu nhìn sâu vào cuộc đời Chúa Giêsu. Thật đáng tiếc, vì chúng ta có thể học hỏi cả nơi Chúa Giêsu trong lịch sử lẫn Chúa Giêsu như một cánh cửa tuyệt đối.

Khi chúng ta theo dõi và tiếp xúc một cách sâu sắc với cuộc đời và giáo lý của Chúa Giêsu, chúng ta có thể thâm nhập vào sự thật của Thượng Ðế. Tình yêu, sự hiểu biết, lòng can đảm, sự bao dung, là những biểu hiện của cuộc đời Chúa Giêsu. Thượng Ðế xuất hiện với chúng ta qua Giêsu Ki Tô. Với Thánh Linh và Nước Chúa ở trong Ngài, Giêsu đã tiếp xúc với mọi người sống cùng thời của Ngài. Ngài đã nói chuyện với những cô gái điếm, những người thâu thuế, Ngài có can đảm làm bất cứ việc gì cần thiết để chữa các căn bệnh của thời đại Ngài. Như là đứa con của mẹ Maria và thánh Giuse, Giêsu là Con của Người, Người Nam và Người Nữ. Như một người sống với Thánh Linh, Ngài là Con của Thượng Ðế. Nói rằng Chúa Giêsu vừa là Con của Người, vừa là Con của Thượng Ðế, các Phật tử có thể chấp nhận không khó gì. Chúng ta có thể thấy Ðức Chúa Cha và Ðức Chúa Con là một, bất nhị, vì nếu không có Ðức Chúa Cha ở trong Ngài thì không có Ðức Chúa Con. Tuy nhiên, trong Ki Tô Giáo, Giêsu thường được gọi là Con Một của Thượng Ðế. Tôi thấy chúng ta phải quán chiếu mọi hành động và mọi lời dạy của Chúa Giêsu trong cuộc đời Ngài, như một mẫu mực để chúng ta tu tập. Giêsu sống đúng như lời dạy của Ngài, cho nên suy gẫm cuộc đời Chúa Giêsu là điều tối cần thiết để hiểu giáo lý của Ngài. Tôi nghĩ cuộc đời Chúa Giêsu là bài học căn bản nhất của Ngài, quan trọng hơn cả sự phục sinh và tính vĩnh cữu.

Sống tỉnh thức là Bụt

Bụt là người giác ngộ, nghĩa là không còn bị ràng buộc vào thế tục. Nhưng khi nhiều người nói rằng họ tin Bụt, họ đang nói về niềm tin vào vị Bụt thần thông, huyền diệu, không phải niềm tin vào giáo lý hay cuộc đời của vị Bụt lịch sử. Họ tin vào sự mầu nhiệm của Bụt, và thấy như vậy là đủ. Nhưng các thí dụ trong cuộc đời thật của Bụt và Chúa Giêsu quan trọng hơn, vì khi các Ngài sống như những con người thật, chúng ta có thể bắt chước, sống theo mẫu đời sống của các Ngài.

Khi chúng ta đọc, “Cửa trời mở rộng và Thánh Linh giáng xuống Ngài như một con chim bồ câu,” chúng ta có thể thấy hình ảnh Chúa Giêsu đã giác ngộ. Ngài đã tiếp xúc được với sự thật của đời sống, nguồn suối của tỉnh thức, của minh triết và trí tuệ ở trong Ngài. Ðó là điều phân biệt Ngài với người phàm tục. Khi Ngài sinh ra trong một gia đình người thợ mộc, Ngài là Con của Người. Khi Ngài mở rộng trái tim, cánh cửa thiên đường đã mở ra cho Ngài. Thánh Linh đã ngự xuống Ngài như một con chim bồ câ, và Ngài biểu hiện như là Con của Thượng Ðế – rất thiêng liêng, sâu sắc, và vĩ đại.

Nhưng Thánh Linh không phải chỉ ngự xuống Giêsu không thôi, mà cho tất cả chúng ta. Trong nhãn quan Phật Giáo, ai không phải là con của Thượng Ðế? Ngồi dưới gốc cây bồ đề, những hạt giống thiêng liêng và huyền diệu ở trong Bụt bừng nở. Ngài là một người, nhưng đồng thời Ngài cũng thị hiện tâm linh nhân loại đến mức cao nhất. Khi chúng ta tiếp xúc được với tâm linh tối thượng trong chúng ta, chúng ta là Bụt. Chúng ta mang ơn Thánh Linh, và chúng ta trở nên rất bao dung, rất cởi mở, sâu xa, và thông cảm.

Những cánh cửa mở ra cho các thế hệ sau

Kinh Thánh Mathiơ tả Nước Chúa giống như một hạt cải nhỏ xíu. Ðiều đó có nghĩa là hạt giống của Nước Chúa ở sẵn trong chúng ta. Nếu chúng ta biết vun trồng hạt giống đó trong mảnh đất mầu của cuộc sống hằng ngày, nó sẽ lớn lên và thành một cây cao cho chim chóc đến trú ẩn. Chúng ta không cần phải chết đi mới tới được cửa thiên đàng. Thật ra chúng ta cần phải sống đích thực. Việc tu tập là tiếp xúc sâu xa với sự sống để Nước Chúa trở thành sự thật. Ðây không phải là chuyện sùng tín. Ðây là chuyện thực tập. Có thể vào Nước Chúa bây giờ và ở đây. Nhiều đoạn trong Phúc Âm cũng có cách nhìn nầy. Chúng ta đọc Kinh Lạy Cha, rằng chúng ta không đi tới Nước Chúa, nhưng Nước Chúa sẽ đến với chúng ta: “Nước Ngài sẽ tới …” Giêsu nói, “Ta là cánh cửa vào.” Ngài tự mô tả là cánh cửa của Nước Chúa. Vì Ðức Chúa Con được tạo nên bằng Ðức Thánh Linh, Ngài là cánh cửa để chúng ta vào Nước Chúa.

Bụt cũng được mô tả như là một cánh cửa, là vị đạo sư chỉ đường cho ta sống trong đời. Phật tử tu học con đường đó một cách sâu xa để giúp ta sống trong chánh niệm, từ bi, và an lạc. Kinh sách nói có 84 ngàn pháp môn, cánh cửa của sự tu học. Nếu bạn may mắn tìm thấy một cánh cửa, và cho rằng cánh cửa của bạn là cánh cửa duy nhất, thì đó không phải là tinh thần đạo Bụt. Thật ra, chúng ta phải mở ra thêm nhiều cánh cửa mới cho các thế hệ tương lai. Chúng ta đừng sợ có quá nhiều cánh cửa – đúng ra, ta nên lo ngại không có thêm những cánh cửa mới. Thật tội nghiệp cho con cháu chúng ta, và con cháu của họ, nếu chúng ta hài lòng với 84 ngàn cánh cửa hiện có. Mỗi người chúng ta, với sự tu tập và tâm từ bi, có thể mở ra những Cánh Cửa Pháp mới.

Xã hội đang biến đổi, con người thay đổi, đời sống chính trị và kinh tế ngày nay không còn giống như thời Bụt và Chúa nữa. Bụt trông cậy nơi chúng ta để Giáo Pháp tiếp tục phát triển như một thực thể sống động – không phải một giáo pháp cứng đọng, mà là một Pháp Thân (Dharmakaya), một thực thể giáo lý thiêng liêng.

Bà mẹ sinh ra các vị Bụt

Bụt dạy Pháp thân của Ngài quan trọng hơn nhục thân. Ngài muốn dạy chúng ta phải thực hành Giáo Pháp để đạt tới Niết Bàn ở đây và bây giờ. Giáo Pháp sinh động không phải là những thư viện chứa kinh điển hay các băng thâu những bài giảng hay. Pháp sinh động là sống tỉnh thức trong chánh niệm, biểu hiện trong cuộc sống hằng ngày của Bụt cũng như của quý vị. Khi tôi nhìn thấy quý vị bước đi với chánh niệm, tôi tiếp xúc được với sự an lạc, với sự hiện diện của quý vị một cách sâu xa. Khi quý vị săn sóc các anh chị em của mình, tôi nhìn thấy Giáo Pháp sống động trong quý vị. Nếu có chánh niệm, quý vị có thể tiếp xúc với Pháp thân của Bụt.

Bụt mô tả những hạt giống của tỉnh thức trong mỗi chúng ta là “Như Lai Mẫu” (tathagatagarbha). Chúng ta đều là “mẹ của Như Lai” vì trong lòng chúng ta đều mang sẵn hạt giống của tỉnh thức. Nếu chúng ta đều săn sóc vị Bụt sơ sinh trong mình bằng sự thực tập tỉnh thức mỗi ngày, một ngày nào đó Ðấng Giác Ngộ sẽ đến với chúng ta. Các Phật tử nhìn Bụt như một vị thầy và một người anh, không phải là một thần linh. Chúng ta đều là Pháp huynh Pháp đệ của Bụt. Chúng ta cũng nói Trí Tuệ Bát Nhã (Prajnaparamita) là mẹ của tất cả các vị Bụt. Trong lịch sử, các giáo phái Tin Lành giảm bớt hình ảnh Mẹ trong Thượng Ðế và đề cao vai trò Cha của Ngài, nhưng trong Giáo hội Công Giáo có sự sùng kính Maria, Ðức Mẹ Chúa Trời.

Thật ra Mẹ và Cha là hai phương diện của cùng một thực thể. Hình ảnh người cha hiện rõ hơn trong Trí Tuệ và Hiểu Biết, người Mẹ trong Tình Thương và Từ Bi. Trong đạo Bụt, hiểu biết (prajna) là căn bản của thương yêu (maitri). Nếu không có hiểu biết thì không có tình thương đích thực, và không có tình thương thì không có hiểu biết đích thực.

Người con gái của Thượng Ðế

Người ta gọi Bụt bằng mười danh hiệu, mỗi danh hiệu biểu lộ một phẩm chất. Danh hiệu thứ nhất, Như Lai (Tagatatha), tức là “vị đến với chúng ta trên đường chánh”, “vị đến từ sự thật mầu nhiệm của sự sống và sẽ trở về sự thật mầu nhiệm đó”, hay “vị đến từ cõi như vậy, ở trong cõi như vậy, và quay về cõi như vậy”. Như là danh từ Phật giáo nói đến Chân Như, bản chất của sự vật, hay sự thật tối hậu. Ðó là bản thể hay nền tảng của sự hiện hữu, ví như nước là bản thể của sự sống. Cũng như Bụt, chúng ta cũng tới từ Chân Như, ở tại Chân Như, và sẽ quay về Chân Như. Chúng ta từ cõi Không mà đến và sẽ trở về cõi Không.

Trong một bài kinh, Phật nói rằng hình sắc chúng ta thây là do các nhân duyên tạo thành, khi không đủ nhân duyên thì chúng ta không thấy. Khi có đủ nhân duyên thì chúng ta nhận ra một hiện tượng, chúng ta thấy hiện tượng là có thật. Nhưng khi một trong các nhân duyên vắng mặt, chúng ta không nhận ra hiện tượng đó nữa. Ta không thấy nên nói là nó không hiện hữu. Nhưng điều đó không đúng. Vào mỗi tháng Tư ở Làng Hồng, chúng ta không nhìn thấy hoa hướng dương nở, chúng ta có thể nói hoa hướng dương không hiện hữu. Nhưng các nông dân ở ngôi làng tại miền Nam nước Pháp này đã gieo hàng ngàn hạt giống xuống đất. Khi nhìn ngọn đồi trơ trọi, họ có thể thấy các hoa hướng dương rồi. Hoa hướng dương đã có mặt ở đó. Chúng chỉ còn thiếu các nhân duyên của mặt trời, sức nóng, mưa, và thời gian. Không phải vì ta không thấy mà hoa hướng dương không hiện hữu.

Cũng theo cách đó, chúng ta nói Ðức Như Lai không từ đâu tới mà cũng không đi về đâu cả. Ngài tới từ cõi Chân Như và trở về Chân Như, không phụ thuộc vào thời gian và không gian. Nếu quý vị đi qua thửa ruộng bên Làng Hồng vào tháng Tư, và xin cánh đồng cho quý vị thấy Chân Như, thấy Nước Chúa, các thửa ruộng bỗng nhiên sẽ phủ đầy hoa hướng dương vàng chói rực rỡ. Khi Thánh Phan Xi Cô (St Francis) nhìn quán chiếu sâu xa một cây hạnh nhân vào giữa mùa đông và bảo cây hãy nói cho ngài nghe về Thượng Ðế, cây bỗng bừng nở đầy hoa.

Danh hiệu thứ hai của Bụt là A La Hán, vị xứng đáng được tôn kính. Danh hiệu thứ ba là Thiện Thệ, vị hoàn toàn tỉnh thức. Thứ tư là Minh Hạnh Túc, vị có trí tuệ và đức hạnh đầy đủ. Thứ năm là Vô Thượng Sĩ, vị dẫn đường không ai hơn. Thứ sáu là Thế Gian Giải, người biết rõ thế giới nầy. Thứ bảy là Ðiều Ngự Trượng Phu, người đi trên con đường tự tại. Thứ tám là Thiên Nhân Sư, thầy của thần linh và người. Danh hiệu thứ chín của Ngài là Bụt (Buddha, Phật Ðà), bậc giác ngộ. Danh hiệu thứ mười là Ðức Thế Tôn, bậc đầy phúc báu.

Mỗi khi chúng ta quy y, quay về nương tựa Bụt, chúng ta tìm nương tựa vào một vị có đủ mười đức tính trên, đó cũng là hạt nhân có sẵn trong mỗi người. Thái tử Tất Ðạt Ða (Siddharta) không phải là vị Bụt duy nhất. Mọi vật trong thế giới cây cỏ, muông thú và khoáng chất đều là các vị Bụt tương lai. Tất cả chúng ta đều chứa sẵn mười đức tính của Bụt trong thâm căn của mình. Nếu chúng ta thể hiện được mười đức tính đó thì sẽ được tôn kính.

Tôi thấy trong Phép Rửa Tội là sự công nhận của mỗi người, khi mở lòng ra đón Thánh Linh, đều có khả năng thể hiện mười đức tính trên, đó cũng là những đức tính để trở thành các người con của Chúa. Trong đạo Bụt, chúng ta không nói đến Tội Tổ Tông, nhưng nói đến các Chủng Tử Bất Thiện, là những hạt giống có sẵn trong mỗi người – hạt giống của tham lam, hận thù, giận dữ, ngu si, cố chấp, v.v… – và chúng ta nói đến các hạt giống trên có thể được chuyển hóa khi chúng ta tiếp xúc với các đức tính của Bụt. Các đức tính đó cũng có sẵn hạt giống trong chúng ta. Tội tổ tông cũng có thể được chuyển hóa khi một người tiếp xúc với Thánh Linh. Giêsu là con của Thượng Ðế và con của Người. Chúng ta cũng là con của Thượng Ðế và của song thân chúng ta. Nghĩa là chúng ta thuộc về cùng một thực tại như Giêsu. Ðiều này có thể coi như là tà thuyết đối với một số người Ki Tô Giáo. Nhưng tôi tin những nhà thần học đã nói là không cần phải nghĩ như vậy. Giêsu không phải chỉ là Chúa của chúng ta. Ngài còn là Cha, là Thầy, là Anh, và là Chính chúng ta. Nơi duy nhất chúng ta có thể tiếp xúc với Giêsu và Nước Chúa là ở trong nột tâm mình.

Chúng ta tiếp tục ra đời

Khi chúng ta làm lễ Chúa Giáng Sinh hay lễ Phật Ðản, chúng ta mừng sự ra đời của những hài nhi đặc biệt. Sự giáng sinh của Chúa và đản sinh của Bụt là các biến cố quan trọng trong lịch sử loài người. Mấy ngày sau khi Bụt ra đời, nhiều người ở Kapilavatsu đến kính thăm, trong đó có một đạo sĩ già tên là Asita. Sau khi nhìn ngắm Bụt sơ sinh, Asita bật khóc. Vua cha kinh ngạc hỏi: “Thưa đạo sĩ, tại sao ông lại khóc? Con tôi sẽ có số phận không may chăng?” Ðạo sĩ trả lời: “Thưa Ðức Vua, không phải vậy. Việc ra đời của Thái tử Tất Ðạt Ða thật là mầu nhiệm. Con trai hoàng thượng sẽ thành một vị thầy quan trọng của thế giới. Nhưng tôi bây giờ đã già quá rồi, chắc không sống được đến ngày đó nữa. Ðó là lý do tại sao tôi khóc.”

Trong Kinh Thánh cũng có một câu chuyện tương tự. Tám ngày sau khi sinh ra, Chúa Hài Ðồng được đưa đến đền thờ để làm lễ cắt bì. Khi một người tên Simeon nhìn thấy Chúa, Ông ta thấy là Ngài sẽ thay đổi cuộc sống nhân loại một cách lớn lao.

“Khi đến ngày làm lễ thánh tẩy theo luật của Mai Sen (Moses), người ta bế Ngài đến Giê Ru Sa Lem để trình Ngài lên Thượng Ðế … và người ta theo luật của Thượng Ðế làm lễ hiến sinh hai bồ câu nhỏ. Lúc đó có một người ở Giê Ru Sa Lem tên là Simeon. Người đó là một người công chính và sùng tín, đi tìm đường cứu rỗi dân Israel, đưa Thánh Linh ở cùng người đó. Ðức Thánh Linh đã báo cho Simeon biết rằng ông ta sẽ được nhìn thấy Messiah (Ðấng Cứu Thế) trước khi chết. Theo hướng dẫn của Thánh Linh, Simeon đi tới đền thờ, và khi cha mẹ Chúa Hài Ðồng bế Chúa tới trao cho ông theo luật thánh, Simeon bế Chúa trong hai tay, và ca ngợi Thiên Chúa rằng: ‘Lạy Chúa, nay Ngài có thể cho tôi tớ Ngài được yên nghỉ theo lời Ngài đã phán, vì nay tôi đã thấy được sự cứu rỗi mà Ngài đã chuẩn bị trước sự chứng kiến của mọi người, ánh sáng mạc khải cho dân ngoại và vinh quang cho dân Chúa, dân tộc Israel.’ Cha và mẹ của hài nhi kinh ngạc khi nghe Simeon nói thế.”

Mỗi khi tôi đọc chuyệm Asita và Simeon, tôi lại ước chi khi mỗi người chúng ta sinh ra lại có một vị hiền giả đến thăm viếng. Mỗi trẻ sơ sinh ra đời đều quan trọng, không kém gì việc đản sinh của Bụt. Chúng ta cũng là Bụt, một vị Bụt tương lai, và chúng ta tiếp tục ra đời trong mỗi giây phút. Chúng ta cũng đều là Con của Thiên Chúa và là con của cha mẹ ta. Chúng ta phải chăm sóc mỗi đứa trẻ mới ra đời.

Tiếp xúc với tổ tiên

Tôi không biết tôi là chính tôi hay tôi cũng là anh ruột tôi. Trước khi tôi ra đời, một em bé trai khác đã định sinh ra, nhưng mẹ tôi bị xẩy thai. Nếu người con trai đó còn sống, chắc tôi đã có một người anh. Hay tôi đã là anh tôi. Từ nhỏ tôi vẫn nghĩ ngợi về điều này.

Những bậc cha mẹ sắp có con nên cẩn trọng vì họ đang mang một hài nhi có thể trở thành một Ðức Bụt hay một Chúa Giêsu. Họ phải tỉnh táo biết những thứ gì họ đang ăn, uống, điều họ nghĩ, việc họ làm. Cách thức họ chăm sóc thân thể và cảm thọ của họ ảnh hưởng đến sự an lạc của đứa trẻ trong bụng mẹ. Cha mẹ chúng ta cho chúng ta được ra đời và hiện giờ vẫn tiếp tục ban sự sống cho chúng ta. Mỗi khi gặp khó khăn, tôi đều khấn cha mẹ tôi và lúc nào tôi cũng được phù hộ.

Các tổ tiên về tâm linh của chúng ta cũng ban cho chúng ta sự sống và cũng vẫn còn tiếp tục mãi. Ở nước tôi, chúng tôi thường nói một vị thầy đích thật có thể cho môn đệ sự sống. Nếu quý vị có đủ bản lãnh, quý vị sẽ tạo nên sự sống của những đứa con tinh thần, và qua sự tu tập và cuộc sống, quý vị sẽ tiếp tục ban sự sống cho nhiều người, cả sau khi đã qua đời. Chúng ta có thể nói các người con từ miệng Bụt ra đời vì Bụt đã ban cho họ các lời dạy, tức là Pháp. Có nhiều cách để mang Pháp tới cho cuộc sống tinh thần của một đứa trẻ sắp ra đời. Cách thông thường nhất là dùng lời nói. Mỗi ngày tôi vẫn tu tập để tiếp xúc với các tổ tiên huyết thống và các tổ tiên tâm linh của tôi. Mỗi khi tôi thấy mình yếu đuối, tôi lại kêu gọi họ phù trợ, và bao giờ các ngài cũng tới giúp.

Khổ và con đường dứt khổ

Ngay từ khi còn nhỏ, Tất Ðạt Ða và Guêsu đều nhận thấy đời nhiều nỗi khổ. Bụt đã thấy rất sớm nỗi khổ của mọi loài. Chúa Giêsu cũng phải nhìn thấy như vậy, vì các Ngài đều tìm đường giúp nhân loại dứt khổ đau. Chúng ta cũng phải tìm một lối sống giúp cho đời vơi khổ. Sự thật về khổ lúc nào cũng có mặt, ở chung quanh và ở trong ta, và chúng ta phải tìm đường giảm bớt nỗi khổ, biến khổ đau thành an lạc, hòa bình.

Chư tăng ni tu tập theo truyền thống của họ, đã tụng kinh, ngồi thiền, đi thiền hành, thọ trai trong yên lặng, và tu tập nhiều phương pháp khác để diệt khổ. Sống cuộc đời của một vị tăng hay ni, có thể ngồi im lặng quán chiếu về sự khổ và đường diệt khổ, là một điều quý báu hiếm có. Quý vị có thể ngồi quán chiếu sâu xa về thân và tâm của mình, như gà mẹ đang ấp trứng. Một ngày nào đó, trứng sẽ nở ra một gà con. Nếu quý vị không tôn quý những giờ thực tập, thì dù là tăng ni, quý vị cũng không cống hiến gì được cuộc đời.

Năm hai mươi chín tuổi Bụt xuất gia, tuổi tương đối còn trẻ, đến năm ba mươi lăm Ngài thành đạo. Chúc Giêsu cũng sống nhiều ngày một mình trong sa mạc. Chúng ta đều cần những giờ phút suy ngẫm và làm mới lại mình. Những người không phải tăng ni sẽ thấy khó kiếm được thì giờ thiền quán hay cầu nguyện, nhưng đó là một việc quan trọng phải làm. Trong những khóa tu, chúng ta tập sống ý thức về mỗi việc mình làm, rồi tiếp tục áp dụng điều đó trong cuộc sống hằng ngày. Thực hành như thế, chúng ta có thể quán chiếu sâu xa về bản chất của khổ và tìm ra đường thoát khổ. Ðó là bài giảng thứ nhất của Bụt tại Vườn Nai ở Sanarth: “Hảy quán chiếu sâu xa bản chất của khổ để tìm nguyên nhân gây ra khổ và con đường diệt khổ.” Người đi tu hay người tại gia đều có thể thực tập điều đó.

Ta là con đường

Ðạo Bụt trong truyền thống Theravada (Nam Tông) nhấn mạnh vào các bài giảng của vị Bụt lịch sử, vị Bụt đã sống và đã qua đời. Sau nầy ý niệm về Bụt sinh động phát triển trong truyền thống Mahayana (Bắc Tông). Khi Bụt sắp nhập diệt, nhiều vị đệ tử buồn rầu vì sắp phải xa Ngài. Ngài đã trấn an họ rằng: “Nhục thân của ta sẽ không còn nữa, nhưng Pháp thân của ta vẫn luôn luôn ở bên các con. Hãy quy y Pháp để làm hòn đảo cho các con nương tựa.” Lời Bụt dạy rất rõ ràng. Giáo Pháp của Ngài là hải đảo cho chúng ta nương tựa, là bó đuốc soi đường cho chúng ta. Khi Giáo Pháp còn tồn tại, thì chúng ta không cần phải lo buồn. Một vị sa môn lúc đó đang bệnh, ngỏ ý tiếc không thể đến gặp Bụt, Bụt nhắn với thầy đó rằng: “Nhục thân của Ta không quan trọng. Nếu thầy có Pháp thân với thầy, nếu thầy tin Pháp, thực tập Giáo Pháp, thì ta luôn luôn ở bên thầy.” Chúa Giêsu cũng từng nói: “Khi có hai, hay ba người họp nhau trong tên ta, ta ở đó cùng họ.”

Ta luôn luôn ở đó cùng người

Sau khi Bụt nhập diệt, người ta yêu và sùng kính Ngài quá nên ý niệm Pháp thân vốn bắt đầu là các giáo lý đã biến thành một vị Bụt huy hoàng, bất diệt, lúc nào cũng giảng Giáo Pháp. Trong truyền thống Bắc Tông, Bụt lúc nào cũng còn sống, vẫn tiếp tục giảng Giáo Pháp. Nếu quý vị chú ý lắng nghe, quý vị có thể nghe tiếng nói của Pháp từ một hòn sỏi, một lá cây, một đám mây bay. Ðức Bụt thường tồn đã trở thành Bụt sống, vị Bụt của niềm tin. Cũng giống như Chúa Ki Tô của đức tin, Chúa Ki Tô sống. Nhà thần học Paul Tillich mô tả Thiên Chúa như là nền tảng của hiện hữu. Người ta cũng có khi mô tả Bụt như vậy.

Thấy Ðạo là thấy ta

Gặp một vị minh sư cũng có giá trị như học ngài hàng thế kỷ, vì trong ngài chúng ta thấy tấm gương sống của sự giác ngộ. Làm sao chúng ta được gặp Bụt hay Chúa? Ðiều đó tùy thuộc chính ta. Nhiều người nhìn vào mắt Bụt hay Chúa mà không thấy. Có một thầy kia hối hả đi tìm gặp Bụt, vội quá đến nỗi dọc đường nhìn mà không thấy một người đàn bà đang đau khổ cần giúp đỡ. Khi vị đó tới tu viện gặp Bụt, ông ta cũng không nhìn thấy Bụt. Quý vị thấy Bụt hay không là do quý vị đang sống trong trạng thái nào.

Ta là trí tuệ, là từ bi

Bụt tỏa ra hào quang cũng như các nhân vật siêu phàm khác. Khi chúng ta gặp các nhân vật đó chúng ta cảm thấy bình yên, tình thương, thấy sức mạnh nơi họ và trong chúng ta. Có câu ngạn ngữ Trung Hoa rằng: “Thánh hiền ở đâu thì nước suối ở đó trong hơn, cây cối ở đó cũng xanh hơn.” Câu đó mô tả không khí bao quanh bậc thánh nhân. Khi quý vị đến bên một hiền giả, quý vị cảm thấy bình an và sáng láng. Khi quý vị đến gần Chúa Giêsu và nhìn thẳng vào mắt Ngài – dù quý vị có thấy hay không – quý vị có nhiều hy vọng được cứu rỗi hơn là chỉ đọc lời nói của Ngài. Nhưng khi quý vị không thể đích thân gặp Chúa, thì còn những bài học của Chúa, đặc biệt là những bài học về cuộc đời của Ngài.

Thoát khỏi những khái niệm

Mỗi khi tôi đọc kinh điển, dù là kinh đạo Chúa hay đạo Bụt, tôi luôn luôn ghi nhớ rằng những điều các Ngài nói là nói cho một người hay một thính chúng nào đó, trong một hoàn cảnh nào đó. Tôi cố suy ngẫm sâu xa về khung cảnh của lời dạy để hiểu cho đúng hơn. Ðiều các Ngài nói có khi không quan trọng bằng cách nói. Khi chúng ta biết như vậy, chúng ta gần Chúa và Bụt hơn. Còn nếu như chúng ta phân tích kỹ lưỡng lời dạy của các Ngài mà không hiểu tương quan giừa người nói và người nghe thì có thể chúng ta đã hiểu lầm. Nhiều nhà thần học cũng có khi mắc lỗi nầy.

Khi đọc Kinh Thánh, chúng ta thấy sự can đảm vô cùng của Chúa Giêsu khi Ngài cố thay đổi xã hội chung quanh. Khi đọc kinh Phật, chúng ta cũng thấy Bụt có một nhân cách rất mạnh. Xã hội Ấn Ðộ thời Bụt không nhiều bạo lực bằng xã hội trong đó Chúa Giêsu sinh ra, cho nên chúng ta có cảm tưởng các phản ứng của Bụt không quyết liệt bằng, nhưng điều đó là vì trong xã hội của Bụt khả dĩ có thể tìm ra phương cách khác. Hãy xem phản ứng của Bụt đối với sự sa đọa của các tu sĩ theo phái Vệ Ðà chẳng hạn, cũng rất quyết liệt. Thí dụ khái niệm về Tự Ngã (Atman), một trọng điểm của giáo lý Vệ Ðà, là một nguyên nhân của tình trạng bất công xã hội thời đó – như hệ thống đẳng cấp, cách đối xử bất nhẫn với những người vô đẳng cấp, và sự độc quyền về giáo điều của những người không chắc có giá trị tinh thần nhưng lại hưởng những cuộc sống sung túc nhất. Phản ứng lại, Bụt đã nhấn mạnh đến giáo lý Vô Ngã. Ngài nói: “Mọi sự vật không có tự tánh riêng biệt, độc lập. Nhìn vào tự tánh của một bông hoa, quý vị thấy đó là sự trống rỗng.” Ðến khi các đồ đệ bắt đầu sùng bái giáo lý Vô Ngã, Ngài lại nói: “Thà rằng tin ở tự ngã của một bông hoa còn hơn là vướng mắc vào tính vô ngã của bông hoa.”

Bụt không trình bày một học thuyết có tính cách tuyệt đối. Ngài dạy về vô ngã để đối trị với vấn đề của thời đại đó. Ðó là một đề tài thiền quán. Nhưng nhiều Phật tử về sau bị vướng mắc vào ý niệm vô ngã. Họ lầm phương tiện với cứu cánh, lầm cái bè qua sông với bờ sông bên kia, lầm ngón tay chỉ mặt trăng với mặt trăng. Có điều quan trọng hơn cả thuyết vô ngã. Ðó là sự giải thoát khỏi khái niệm về Ngã và về Vô Ngã. Một người theo đạo Bụt mà để bị vướng mắc vào một lý thuyết, dù là lý thuyết Phật giáo, là làm ngược lời Bụt dạy. Lời nói và khái niệm không quan trọng. Ðiều quan trọng là sự khai ngộ của chính chúng ta về bản chất của sự vật và cách thức chúngta đối trị với sự thật đó. Nếu Bụt sinh ra ở xã hội mà chúa Giêsu đã sinh ra, tôi nghĩ chắc Ngài cũng bị đóng đinh trên thập tự.

Thấy Ðạo, lên đường

Khi Chúa Giêsu nói: “Ta là con đường” Ngài muốn bảo nếu muốn gần Thiên Chúa chúng ta phải tu tập con đường của Ngài. Trong Tân Ước, ta thấy các người theo Thiên Chúa Giáo đầu tiên, như tả trong sách Tông Ðồ Mục Vụ, thường nói đến đức tin của họ như là “Con Ðường – Ðạo.” Tôi nghe câu nói “Ta là Con Ðường” hay hơn câu “Ta biết Con Ðường.” Ðây không phải là một con đường trải nhựa. Nhưng chúng ta phải phân biệt chữ “Ta” trong lời Chúa và chữ “Ta” mà người nghe vẫn nghĩ. Chúa nói “Ta” là nói về Ðời Sống, đời sống của Ngài, đó là Ðạo. Nếu quý vị không nhìn vào đời sống của Ngài, quý vị không thấy Ðạo của Ngài. Nếu quý vị chỉ ca ngợi một danh hiệu, dù là danh hiệu Chúa, đó chưa phải là tu học theo cuộc đời của Chúa. Nếu muốn sáng danh Chúa Giêsu chúng ta phải tập sống sâu xa, thương yêu và hành động bác ái. Ðạo, Con Ðường, chính là Chúa chứ không phải là một vài ý Chúa nói ra. Giáo lý đích thực có tính động. Ðó không phải là lời nói mà thôi nhưng là đời sống thật. Nhiều người không có đạo lẫn đời sống mà vẫn bắt ép mọi người theo cái mà họ tưởng là đạo. Nhưng đó chỉ là lời nói mà không dính dấp gì đến đời sống thật hay con đường thật.

Khi chúng ta hiểu và thực hành sâu xa cuộc đời và giáo pháp của Bụt, cuộc đời và tín lý của Chúa Giêsu, chúng ta bước được vào trong cánh cửa của căn nhà Bụt sống và Chúa sống, và đời sống hằng cửu sẽ đến với ta.

Thân ta là mình Chúa

Khi một vị mục sư nói tôi là người không biết ơn (vì không tạ ơn Chúa khi ăn cơm), ông đang nói một ngôn ngữ khác với ngôn ngữ người theo đạo Bụt. Ông nghĩ tình thương yêu chỉ có thể biểu tượng vào một người. Vì vậy, sự Phục Sinh là một tín lý rất quan trọng trong Ki Tô Giáo. Nếu Giêsu chết đi rồi không phục sinh, ai sẽ mang tình yêu thương vĩnh cữu của Ngài tới cho chúng ta? Nhưng Thượng Ðế có cần phải biểu hiện thành một người không? Do Thái Giáo và Thiên Chúa Giáo luôn luôn dùng hình ảnh của một người.

Trong đạo Bụt, chúng ta cũng hay diễn tả các điều thệ nguyện của mình bằng hình ảnh của một người, như sự tỉnh thức (Bụt Thích Ca), trí tuệ (Bồ tát Văn Thù Sư Lợi), và tình yêu (Bụt Di Lặc), nhưng ngay cả khi không có Thích Ca Mâu Ni, Văn Thù Sư Lợi, Di Lặc, chúng ta vẫn tiếp xúc được với tỉnh thức, trí tuệ và yêu thương. Ðệ tử Bụt là sự tiếp nối của Bụt. Chúng ta có thể biểu hiện tỉnh thức, trí tuệ và thương yêu qua các nhân vật thời đại của mình, ngay cả qua chính mình. Chúng ta không cần tin Bụt hay Bồ tát sẽ sống lại bằng sự thực hành tỉnh thức, trí tuệ và thương yêu trong chúng ta.

Chúa Ki Tô sống là Ðức Ki Tô của Tình Yêu, mỗi lúc đều tạo dựng nên tình yêu. Khi giáo hội biểu hiện sự hiểu biết, bao dung, và từ bi, Chúa Giêsu đang ở đó. Những tín đồ Thiên Chúa Giáo cần giúp thể hiện Chúa Giêsu trong đời sống của họ, cho những người chung quanh thấy rằng ta có thể đạt tới tình thương, sự hiểu biết và bao dung. Ðiều đó không thể làm đầy đủ qua sách vở và bài giảng. Phải thể hiện trong đời sống. Trong đạo Bụt cũng vậy, đức Bụt sống Ngài dạy chúng ta từ bi chỉ có thể thể hiện bằng cách chúng ta sống.

Nhờ công phu hành trì của nhiều thế hệ người theo đạo Bụt và đạo Chúa, sức mạnh từ Bụt và từ Chúa đã được truyền tới đời chúng ta. Nhờ thế chúng ta có thể tiếp xúc với Bụt sống và Chúa sống. Chúng ta biết ta là biến thân của thân Bụt và một phần của thân huyền nhiệm của Chúa. Chúng ta có cơ hội tuyệt vời làm cho Bụt và Chúa tiếp tục sống mãi. Nhờ thân thể và đời sống của chúng ta mà ta có thể tu tập. Nếu quý vị ghét thân thể của quý vị, nghĩ rằng đó là nguồn gốc của buồn phiền, nó chỉ chứa đựng các hạt giống của giận dữ, thù hận và tham lam, quý vị không hiểu rằng thân thể của quý vị cũng là thân Bụt, thân thể quý vị cũng là một phần thân Chúa.

Hãy vui hưởng sự sống

Thở và biết rằng mình sống thật là điều tuyệt vời. Vì ta còn sống, nên ta còn bao nhiêu chuyện có thể làm. Tăng thân, cộng đồng của những người tu tập có thể tiếp tục. Giáo hội có thể tiếp tục. Xin đừng phí một giây phút nào. Mỗi giây phút đều là dịp để thở sự sống vào Bụt, Pháp, và Tăng. Mỗi giây phút đều cho ta cơ hội để thể hiện Cha, Con, và Thánh Thần.

“Có một người sinh ra trên trái đất để mang lại bình an hạnh phúc cho muôn loài. Vị đó là ai vậy?” kinh Anguttara Nikaya hỏi câu đó. Ðối với người Phật tử, vị đó là Bụt. Ðối với tín hữu Thiên Chúa Giáo, vị đó là Chúa Giêsu. Bằng chính đời sống hằng ngày của quý vị, quý vị có thể giúp các Ngài tiếp tục sống. Quý vị chỉ cần đi trong tỉnh thức, bước từng bước an hòa và hạnh phúc trên hành tinh của chúng ta. Hãy thở thật sâu và vui hưởng hơi thở của quý vị. Hãy ý thức về bầu trời xanh và tiếng chim hót ngọt ngào. Hãy vui hưởng sự sống, quý vị sẽ giúp Ðức Chúa Ki Tô Sống và Ðức Bụt Sống tiếp tục lâu dài, mãi mãi. Thích Nhất Hạnh (1995)

http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-85_4-12733_5-50_6-1_17-47_14-1_15-1/

QUAN ĐIỂM CỦA MỘT BẠN THIÊN CHÚA GIÁO KHI ĐỌC TẬP SÁCH “CHÚA VÀ PHẬT LÀ HAI ANH EM” Ngọc Hằng dịch

(06/30/2011) (Xem: 220)

Tác giả : Ngọc Hằng

 

QUAN ĐIỂM CỦA MỘT BẠN THIÊN CHÚA GIÁO
KHI ĐỌC TẬP SÁCH “CHÚA VÀ PHẬT LÀ HAI ANH EM”

Ngọc Hằng dịch

 

Những mùa hè qua, tôi thường có rất nhiều sách tôi tập hợp cả năm nhưng không có thời gian đọc hết. Vì thế tôi định là cuối mùa hè sẽ đọc hết tất cả nhưng điều này chưa bao giờ xảy ra. (Hiện nay tôi chỉ đọc được có hai quyển sách và 29 quyển sách còn lại vẫn còn trên bàn.” Một trong những quyển sách mà tôi vừa đọc xong là “Chúa và Phật là hai anh em” của nhà sư ThíchNhât Hạnh, một tu sĩ Phật giáo nổi tiếng khi so sánh giữa Phật giáo và Thiên Chúa Giáo.

Trong khi tôi rất quan tâm đến việc so sánh giữa các triết lý thần học, tôi thường thấy đa phần là so sánh giữa Hồi Giáo hay Do Thái Giáo với Thiên Chúa Giáo. Trước khi đọc quyển sách “Chúa và Phật là hai anh em” này, tôi không đọc nhiều về mối quan hệ giữa Phật giáo và Thiên Chúa Giáo vì tôi nghĩ rằng nó rất khác nhau. Tuy nhiên, thầy Thích Nhất Hạnh đã chứng minh cho tôi thấy mình đã sai.

Vấn đề then chốt mà thầy Nhất Hạnh chú tâm là nguyên tắc chánh niệm, một ý tưởng là chúng ta phải có chánh niệm trong tất cả mọi suy nghĩ và hành động của mình, từ việc làm sao chúng ta tiếp xúc với người khác cho tới việc chúng ta ăn uống và thở như thế nào. Thầy Nhất Hạnh đã nhìn vào truyền thống của mình và đưa ra nhiều bài giảng để khẳng định việc tỉnh thức, một con đường sống nhằm mang lại an lạc cho cá nhân, hiểu và thương. Đối với Thiên Chúa Giáo, thầy chỉ ra Thánh Thần là một con đường mà mỗi cá nhân có thể tìm kiếm chánh niệm, bình yên, hiểu và thương tương tụ mà thầy thấy trong truyền thống của Phật giáo. Đặc biệt, Ngài thấy Thánh Thần là con đường để chạm đến “Đức Chúa Trời” và thầy nói rằng “Nếu bạn chạm đến Thánh Thần, bạn chạm đến Đức Chúa Trời không phải là ở khái niệm mà là cuộc sống thực tế.” Quyển sách tuy ngắn nhưng rất đáng để đọc.

Trớ trêu thay, sau hai ngày đọc xong quyển sách, tôi cùng đại chúng cửa hành lễ ba ngôi Thiên Chúa vào một ngày chủ nhật đặc biệt tại một ngôi nhà thờ Thiên Chúa Giáo chú tâm vào ba ngôi.  Tôi chết lặng khi thấy sự kết nối trong đại chúng với quyển sách của thầy Nhất Hạnh.

Với người Thiên Chúa Giáo, ba ngôi là trung tâm cuộc sống của nhà thờ, bằng chứng là và vai trò trọng tâm trong việc rửa tội khi mà một người được mang đến nhà thờ “nhân danh cha, con và thánh thần.” Là một người Thiên Chúa Giáo, tôi có thể thấy mối quan hệ giữa ba ngôi thông qua thánh thần, thông qua chánh niệm như lời thầy Nhất Hạnh nói. Trong mối quan hệ này, tôi thấy bản chất của ba ngôi Thiên Chúa, một mối quan hệ không phải dựa trên hệ thống phân cấp mà dựa trên sự bình đẳng và tình yêu.

Một lần được mang đến đây, tình yêu và hiểu biết mà tôi trải qua và nhận được phải được mang tặng cho những người xung quanh mình. Thầy Nhất Hạnh đã chỉ ra điều này bằng cách đưa ra những ví dụ về một nhà sư tu tập chánh niệm hàng ngày trong một cốc ở tu viện nhưng cũng phải ra ngoài đi khắp thế giới và là một phần của công chúng thông qua những hoạt động dấn thân vì cộng đồng. Bằng mối liên hệ với ba ngôi Thiên Chúa, chúng ta cũng được gọi là cộng đồng.

Chúng ta được kêu gọi là phải mở rộng ra với gia đình, bạn bè, người lạ và tất cả những ai khác niềm tin với mình. Chúng ta được kêu gọi là phải bắt chước tính chất cộng đồng của ba Ngôi Thiên Chúa tu tập trong đời sống hàng ngày. Khi chúng ta làm được điều này, khi chúng ta sống trong cộng đồng với những người xunh quanh mình, chúng ta sẽ có mối quan hệ toàn vẹn với Ba Ngôi Thiên Chúa.

Tôi cũng khuyên mọi người hãy đọc quyển sách này của thầy Nhất Hạnh và mang những lời khuyên của Ngài để sống có chánh niệm hơn. Bằng cách làm được như vậy không chỉ giúp chúng ta có những mối quan hệ tốt đẹp hơn với niềm tin tôn giáo của mình mà còn giúp tạo ra một cồng đồng hiểu và thương giữa cá niềm tin tôn giáo khác nhau.

Ngọc Hằng dịch

Theo Stltoday.com

http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-85_4-12731/

 

Trung Quốc sắp phong thêm 7 giám mục không qua Vatican

Trung Quốc sắp phong thêm 7 giám mục không qua Vatican
Friday, July 22, 2011 7:00:16 PM

 
 
 

 

BEIJING (AP) – Giáo hội Công Giáo do nhà nước Trung Quốc kiểm soát đang tính đến việc phong nhậm thêm bảy giám mục mà không qua sự chấp thuận của Vatican, theo một giới chức cao cấp hôm Thứ Sáu.

 
Giáo dân Công Giáo Trung Quốc trong một nhà thờ ở Bắc Kinh vào ngày lễ Giáng Sinh năm 2010. (Hình: LIU JIN/AFP/Getty Images)

Trung Quốc tuần qua phong nhậm giám mục thứ ba trong vòng 8 tháng mà không có sự chấp thuận của Tòa Thánh Vatican, một điều làm tăng sự căng thẳng giữa hai bên. Tòa Thánh Vatican khẳng định chỉ có Ðức Giáo Hoàng mới có quyền bổ nhiệm giám mục, nhưng giới lãnh đạo Cộng Sản ở Bắc Kinh coi đây là sự can dự vào việc nội bộ Trung Quốc.

Hội Ðồng Giám Mục Trung Quốc hiện đang duyệt xét bảy ứng viên được chọn qua các cuộc tuyển chọn của giám mục địa phương, theo lời Liu Bainian, chủ tịch danh dự Hội Công Giáo Trung Quốc Yêu Nước, cơ quan điều hành giáo hội Công Giáo Trung Quốc.

Các ứng viên này được đề nghị lên Hội Ðồng Giám Mục Trung Quốc, theo ông Liu. “Sau khi xem xét và chấp thuận, và khi có hoàn cảnh thuận tiện, việc phong nhậm sẽ được tiến hành.”

Tờ China Daily cho hay các nhà thờ tại bảy giáo phận đang chuẩn bị phong nhậm giám mục, trích thuật lời phát biểu của phó chủ tịch Hội Công Giáo Trung Quốc Yêu Nước, Giám Mục Joseph Guo Jincai, người từng được phong nhậm cùng một cách hồi cuối năm ngoái dù có lời phản đối mạnh mẽ của Vatican. (V.Giang)

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Bảy 23, 2011 in Công Giáo, Tin Tức