RSS

Category Archives: Bài Giảng

Bài Giảng Các Kinh trong Trung A Hàm (MP3)

Bài Giảng Các Kinh trong Trung A Hàm (MP3)

tại Chùa Già Lam (Quảng Hương Già Lam)

đường Lê Quang Định, P11, Q. Bình Thạnh

(2013 – 2014)

 

Giảng Sư: Hòa Thượng Thích Nguyên Giác

( GS thỉnh giảng tại Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại TP Hồ Chí Minh)

 

KINH TRUNG A-HÀM (I)

Hán dịch: Phật Đà Da Xá và Trúc Phật Niệm
Việt dịch và hiệu chú: Thích Tuệ Sỹ
Sài gòn 2002

 Image

PHẨM THỨ 1: PHẨM BẢY PHÁP

MỤC LỤC PHẨM THỨ 01

 

(1) 11-11-13 Kinh Thiện Pháp – Trung A Hàm – MP3

http://www.mediafire.com/listen/zc7chmt2hja6p2l/11-11-13_kinh_thien_phap_(1_)Trung_A_Ham.MP3

 

(2) 11-11-20 Kinh Trú Đạc Thọ – Trung A Hàm – MP3(_2_)

http://www.mediafire.com/listen/z221lntppv695j8/11-11-20_kinh_tru_do_tho_(_2_)_Trung_A_Ham.MP3

 

(3) 11-11-27 Kinh Thành Dụ – Trung A Hàm – MP3(3)

http://www.mediafire.com/listen/51rf5u09h22028f/11-11-27_kinh_thanh_du_(3)_Trung_A_Ham.MP3

 

(4) 11-12-04 Kinh Thủy Dụ (4_)_trung_a_ham.MP3

http://www.mediafire.com/listen/zdfu82de68uauzp/11-12-04_kinh_thuy_du_(4_)_trung_a_ham.MP3

 

(5) 11-12-11 Kinh Một Tích Dụ (_5)_trung_A_Ham.MP3

http://www.mediafire.com/listen/uiq4bdh8r8ykxot/11-12-11_kinh_moc_tich_du_(_5)_trung_A_Ham.MP3

 

(6) 11-12-17 Kinh Thiện Nhân Vãng – Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/4sra7crpsy916g5/11-12-17_kinh_thien_nhan_vang_(6_)_trung_ham.MP3

(6) 11-12-1817 Kinh Thiện Nhân Vãng (tt) (6) – Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/9s6zln2vs4bpcu5/11-12-18_kinh_thien_nhan_(6_)_tt.MP3

 

(7) 11-12-31(7). KINH THẾ GIAN PHƯỚC
(8). KINH THẤT NHẬT(8)– Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/o0a7b4cc6znxtp8/11-12-31_the_gian_phuoc_kinh(7)_+kinh_that_nhat_(8).MP3

 

(9) 12-02-18 KINH THẤT XA(9)– Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/ux14slc9925imok/12-02-18_Kinh_that_xa_(9)_TAH.MP3

 

(10) KINH LẬU TẬN (10)– Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/z9ff482ea959r2o/12-02-19_Kinh_lau_tan_(10_)TAH.MP3

 

PHẨM THỨ 2: PHẨM NGHIỆP TƯƠNG ƯNG

MỤC LỤC PHẨM THỨ 02

11. KINH DIÊM DỤ(11)– Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/f6sr2arjsr75vp7/12-02-26_kinh_diem_du_(11_)_TAH.MP3

 

12. KINH HÒA-PHÁ(12) – Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/bi13qyp68k0etlf/12-03-03_Hoa_pha_kinh_(12_)_TAH.MP3

 

13. KINH ĐỘ– Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/s3eh64860wqbbkw/12-03-04_do_kinh_(13_)_TAH.MP3

 

14. KINH LA-VÂN– Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/g99xng8r5oadn9d/12-03-10_kinh_La_Hau_La_(14_)TAH.MP3

 

15. KINH TƯ– Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/lq8etsndje5jqd6/12-03-11_kinh_tu_(15_)_TAH.MP3

 

16. KINH GIÀ-LAM– Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/1irjr19djlm3yge/12-03-17_kinh_gia_lam_(16_)_TAH.MP3

 

17. KINH GIÀ-DI-NI– Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/j1w1tetk0nyfqcv/12-03-18_kinh_Gia_di_Ni_(_17_)_TAH.MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/89rt886swrc85jd/12-03-19_Kinh_di_ni_(17)_tt.MP3

 

18. KINH SƯ TỬ– Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/5fwtwdhw4pmgd9q/12-03-24_Kinh_su_tu_(18_)_TAH.MP3

 

19. KINH NI-KIỀN– Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/8xb57jjlu5je8d8/12-03-25_kinh_ni_kien_tu_(19_)TAH.MP3

 

20. KINH BA-LA-LAO– Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/cuchmd4mmtdaybq/12-03-31_kinh_ba_la_lao_(_19_+20_).MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/askm08sueyrqv9l/12-04-01_kinh_ba_la_lao_(_20_)_TAH.MP3

 

Tóm tắt kinh về nghiệp từ bài 10 – 20

http://www.mediafire.com/listen/wf47tzzuv7sqy5g/12-04-07_Tom_tat_kinh_ve_nghiep_tu_bai_10-_20.MP3

 

PHẨM THỨ 3: PHẨM XÁ-LÊ TỬ TƯƠNG ƯNG

MỤC LỤC PHẨM THỨ 03

21. KINH ĐẲNG TÂM– Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/5v91of9vr4n859x/12-04-08_kinh_dang_tam_(21_)_TAH.MP3

 

22. KINH THÀNH TỰU GIỚI– Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/dvrk3dy06m855i5/12-04-14_kinh_thanh_tuu_gioi_(_22_).MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/17iw20793w8fp61/12-04-15_tom_tac_bai_22.MP3

 

23. KINH TRÍ– Trung A Hàm.MP3

http://www.mediafire.com/listen/32dcb54cyi47v31/12-04-21_kinh_Tri_(23_)TAH.MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/x3s0k4rmlgx0yv2/12-04-22_kinh_tri_(23_)_tt.MP3

 

24. KINH SƯ TỬ HỐNG

http://www.mediafire.com/listen/6kiv1k1olkywdqg/12-04-29__kinh_su_tu_hong_(24_)TAH.MP3

 

25. KINH THỦY DỤ

http://www.mediafire.com/listen/dyiq6lc1wdkn349/12-05-06_kinh_thuy_du_(_25_)_TAH.MP3

 

26. KINH CÙ-NI-SƯ

http://www.mediafire.com/listen/kjuc9yo5mmfaya1/12-05-12_kinh_Cu_Ni_Su_(26_)TAH.MP3

 

27. KINH PHẠM CHÍ ĐÀ-NHIÊN

http://www.mediafire.com/listen/v9ab5pnvsj4nvnp/12-05-13_Kinh_Pham_chi_Da_Thien_(27_)TAH.MP3

 

28. KINH GIÁO HÓA BỊNH

http://www.mediafire.com/listen/sxaspqmftd7ah2t/12-05-19_kinh_giao_hoa_benh_(28_)TAH.MP3

 

29. KINH ĐẠI CÂU-HI-LA

http://www.mediafire.com/listen/hned08pu4cpjb2g/12-05-20_kinh_dai_cau_hi_la_(29_)_TAH.MP3

 

30. KINH TƯỢNG TÍCH DỤ

http://www.mediafire.com/listen/j8bawv1cb3u1bwi/12-05-26_kinh_tich_du_(_30)_TAH.MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/box9z7ofhiaq8or/12-05-27_kinh_tich_du_(30_)tt_TAH.MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/j6l3hrwnpjsr8e0/12-06-02_kinh_tich_du_(_30_)_tt_TAH.MP3

 

31. KINH PHÂN BIỆT THÁNH ĐẾ

http://www.mediafire.com/listen/t4dpk4odbuap8oo/12-06-03_kinh_phan_biet_thanh_de_(31_)_TAH.MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/h9eexgbsg4wpsx1/12-06-10_kinh_phan_biet_thanh_de_(31_)tt_(1).MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/zmhz8b358e0i29i/12-06-10_kinh_phan_biet_thanh_de_(31_)tt_(2).MP3

 

 

PHẨM THỨ 4: PHẨM VỊ TẰNG HỮU PHÁP

MỤC LỤC PHẨM THỨ 04

32. KINH VỊ TẰNG HỮU PHÁP

http://www.mediafire.com/listen/c1fj6av4nv6gq1u/12-06-17_tom_tat_tu_bai_21-31_&_bai_(_32_)_TAH.MP3

 

33. KINH THỊ GIẢ

http://www.mediafire.com/listen/8ckoo5pfcugy3y6/12-06-23_Kinh_thi_gia_(_33_)_TAH.MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/qhgyjf5s1jxzt5x/12-06-24_Kinh_thi_gia_(_33_)_tt_TAH.MP3

 

34. KINH BẠC-CÂU-LA

35. KINH A-TU-LA

http://www.mediafire.com/listen/gm0l7zdcjw0bf10/12-06-30_kinh_bac_cau_La_(34_)kinh_A_Tu_La_(35_)TAH.MP3

 

36. KINH ĐỊA ĐỘNG

http://www.mediafire.com/listen/q8cd2e8l4z585md/12-07-01_kinh__Dong_Dat_(36_)TAH.MP3

 

37. KINH CHIÊM-BA
38. KINH ÚC-GIÀ TRƯỞNG GIẢ (I)

http://www.mediafire.com/listen/7zra3rqi30llm0r/12-07-07_kinh_chiem_Ba_(37_)_&_(38_)kinh_uc_gia_truong_gia.MP3

 

39. KINH ÚC-GIÀ TRƯỞNG GIẢ (II)

http://www.mediafire.com/listen/9fr35q3ohb390zq/12-07-08_kinh_Uc_Gia_Truong_Gia_(_39_).MP3

 

40. KINH THỦ TRƯỞNG GIẢ (I)
41. KINH THỦ TRƯỞNG GIẢ (II)

http://www.mediafire.com/listen/8vtojnskn4onvwa/12-07-14_kinh_thu_truong_Gia_I_+II_(_40+41_).MP3

 

 

 

PHẨM THỨ 5: PHẨM TẬP TƯƠNG ƯNG

MỤC LỤC PHẨM THỨ 05

42. KINH HÀ NGHĨA

http://www.mediafire.com/listen/a08oxm6jv0vpw49/12-07-15_Tom_tat_tu_bai_(30-41)_&_42.MP3

 

43. KINH BẤT TƯ

http://www.mediafire.com/listen/18s8bxc5b7qlnh0/12-07-21_kinh_bat_tu_(_43_)_TAH.MP3

 

44. KINH NIỆM

 

45. KINH TÀM QUÝ (I)
46. KINH TÀM QUÝ (II)
47. KINH GIỚI (I)
48. KINH GIỚI (II)
49. KINH CUNG KÍNH (I)
50. KINH CUNG KÍNH (II)

http://www.mediafire.com/listen/xxoinhy7sgmcih3/12-07-22_kinh_tam_quy_(45_+46+47+48+49+50_).MP3

 

 

51. KINH BỔN TẾ
52. KINH THỰC (I)
53. KINH THỰC (II)
54. KINH TẬN TRÍ

http://www.mediafire.com/listen/aly2yuhnlhy0cdo/12-07-29_kinh_51_,52,_53_,_54.MP3

 

54. KINH TẬN TRÍ

55. KINH NIẾT-BÀN
56. KINH DI-HÊ

http://www.mediafire.com/listen/vmys0ciqhh4h5x5/12-08-04_(_54_+_55_+56_)_TAH_(_Nguyen_Giac_).MP3

 

57. KINH TỨC VỊ TỲ-KHEO THUYẾT

 

PHẨM THỨ 6: PHẨM VƯƠNG TƯƠNG ƯNG

MỤC LỤC PHẨM THỨ 06

58. KINH THẤT BẢO
59. KINH TAM THẬP NHỊ TƯỚNG
60. KINH TỨ CHÂU

http://www.mediafire.com/listen/ndgdqgh6sg1b783/12-08-05__(_58_+_59_+_60_)_TAH_(Nguen_Giac).MP3

 

61. KINH NGƯU PHẤN DỤ
62. KINH TẦN-BỆ-SA-LA VƯƠNG NGHINH PHẬT

http://www.mediafire.com/listen/s21erbony0v897i/12-08-11__(61_&_62_)TAH_(_Nguen_Giac).MP3

 

63. KINH BỆ-BÀ-LĂNG-KỲ

http://www.mediafire.com/listen/25959ikvpift5gj/12-08-12_kinh_ty_ba_lang_ky_(_63_)_TAH_(_Nguyen_Giac_).MP3

 

64. KINH THIÊN SỨ

http://www.mediafire.com/listen/2gz79usa1927dsz/12-08-18_kinh_thien_su_(64_)_TAH_(_Nguyen_Giac).MP3

 

65. KINH Ô ĐIỂU DỤ

http://www.mediafire.com/listen/ladbpopwi7b6nb4/12-08-19__kinh_O_dieu_du_(_65_)_TAH_(_Nguyen_Giac_).MP3

 

66. KINH THUYẾT BỔN

http://www.mediafire.com/listen/t67idsfb8gh69ft/12-08-25_kinh_thuyet_ban_(66_)TAH_(Nguen_Giac_).MP3

 

67. KINH ĐẠI THIÊN NẠI LÂM

http://www.mediafire.com/listen/nv7wgleogerxdpv/12-08-26_kinh_Dai_thien_nai_lam_(67_)_TAH_(_Nguyen_Giac_).MP3

 

68. KINH ĐẠI THIỆN KIẾN VƯƠNG

http://www.mediafire.com/listen/16xy60dyg09ibjt/12-09-17_dai_thien_kien_kinh_(68_)TAH.MP3

 

69. KINH TAM THẬP DỤ

http://www.mediafire.com/listen/hsiv2chkvwv3qmt/12-11-10_kinh_tam_thap_du__69_(_TAH_).MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/0ahb2c03kln8s8w/12-11-11_kinh_tam_thap_du_69_(TT)_TAH.MP3

 

70. KINH CHUYỂN LUÂN VƯƠNG

http://www.mediafire.com/listen/olb2pj2bntn6blh/12-09-22_kinh_chuyen_luan_vuong_(_70_)_TAH.MP3

 

71. KINH BỆ-TỨ

http://www.mediafire.com/listen/ph57r08cnc4qr03/12-11-17_Kinh_Ty_Tu_71_(TAH_).MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/4oe2bu7qf8oare8/12-11-18_kinh_ty_tu_71_(TT)_TAH.MP3

 

PHẨM THỨ 7: PHẨM TRƯỜNG THỌ VƯƠNG

MỤC LỤC PHẨM THỨ 07

72. KINH TRƯỜNG THỌ VƯƠNG BỔN KHỞI

http://www.mediafire.com/listen/hv7fgvtl8d8pmmp/12-11-24_kinh_truong_tho_72_(_TAH.MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/l1hq129q1zqh9qq/12-12-01_kinh_truong_tho__72_(_tt_).MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/ll72cf249dltvca/12-11-25_kinh_truong_tho_72_(_tt_)_TAH.MP3

 

73. KINH THIÊN

http://www.mediafire.com/listen/7xyiogjd7ym1y8d/12-12-08_kinh_thien_73_(TAH_).MP3

 

74. KINH BÁT NIỆM

http://www.mediafire.com/listen/g1fcfbvks8h78ix/12-12-09_Kinh_bat_niem_74_(_TAH_).MP3

 

75. KINH TỊNH BẤT ĐỘNG ĐẠO

http://www.mediafire.com/listen/j0apppoqppms475/12-12-15_kinh_tinh_bat_dong_75_(_TAH_).MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/gz1iq92tci4960g/12-12-22_Kinh_tinh_bat_dong_75_(_tt_).MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/i1q34dgsvea2nbh/12-12-23_Kinh_tinh_bat_dong_75_(tt_).MP3

 

76. KINH ÚC-GIÀ-CHI-LA

http://www.mediafire.com/listen/u1ye5mruvdl2evc/12-12-29_kinh_Uc_gia_chi_la_76_TAH.MP3

 

77. KINH SA-KÊ-ĐẾ TAM TỘC TÁNH TỬ

http://www.mediafire.com/listen/qa0y342ioq091jv/12-12-30_sa_ke_de_tam_doc_tu_77_TAH.MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/pdduzlqu8vwlcvq/13-01-05_sa_ke_de_tam_doc_tu_77_(_tt_)_TAH.MP3

78. KINH PHẠM THIÊN THỈNH PHẬT

http://www.mediafire.com/listen/o4ymcqsndaqctlz/13-01-06_Kinh_Pham_thien_thinh_Phat_78_TAH.MP3

 

79. KINH HỮU THẮNG THIÊN

http://www.mediafire.com/listen/dop4juu7tgvmu2d/13-01-12_Kinh_huu_thang_thien_79_TAH.MP3

 

80. KINH CA-HI-NA

http://www.mediafire.com/listen/joc02qave3u0vcf/13-01-13_Kinh_ca_hi_na_80_TAH.MP3

 

81. KINH NIỆM THÂN

http://www.mediafire.com/listen/30p6ceqhnla9ife/13-03-17_Niem_than_81_TAH.MP3

 

82. KINH CHI-LY-DI-LÊ
83. KINH TRƯỞNG LÃO THƯỢNG TÔN THỤY MIÊN
84. KINH VÔ THÍCH
85. KINH CHÂN NHÂN
86. KINH THUYẾT XỨ

PHẨM THỨ 8: PHẨM UẾ

MỤC LỤC PHẨM THỨ 08

87. KINH UẾ PHẨM
88. KINH CẦU PHÁP

89. KINH TỲ-KHEO THỈNH

http://www.mediafire.com/listen/ik7itum2yicoli6/13-05-12_ty_Kheo_thinh_kinh__89_TAH.MP3

 

90. KINH TRI PHÁP
91. KINH CHU-NA VẤN KIẾN

http://www.mediafire.com/listen/f2e2rsvzd2ye6y8/13-05-19_kinh_tri_phap_90_&_Chu_la_van_kien_91.MP3

 

92. KINH THANH BẠCH LIÊN HOA DỤ
93. KINH THỦY TỊNH PHẠM CHÍ

http://www.mediafire.com/listen/5a1g5m7854psnb8/13-05-26_TAH_bai_92_&_93.MP3

 

94. KINH HẮC TỲ-KHEO

http://www.mediafire.com/listen/51j0ljz9t4urmu5/13-06-09_hac_Ty_Kheo_bai_94.MP3

 

95. KINH TRỤ PHÁP
96. KINH VÔ

http://www.mediafire.com/listen/8w45s5pfdzka7be/13-06-16_kinh_tru_phap_95_&_kinh_vo_96.MP3

 

 

PHẨM THỨ 9: PHẨM NHÂN

MỤC LỤC PHẨM THỨ 09

97. KINH ĐẠI NHÂN

http://www.mediafire.com/listen/zuear43b0y7l7yc/13-06-30_kinh_Dai_nhan__97.MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/wnhnfkzzchrk0xi/13-07-14_kinh_dai_nhan_97_(_tt_).MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/6lukbiwuj5gcql9/13-07-07_kinh_dai_nhan_97_(_TT).MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/wt10xhwcdebkln8/13-07-21_kinh_dai_nhan_97_(_tt_).MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/m3w7c911ymowk5r/13-08-04_kinh_dai_nhan__97_(_tt_).MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/dp8lsijxmzu5dgl/13-07-28_kinh_dai_nhan_97_(_tt_).MP3

 

98. KINH NIỆM XỨ

http://www.mediafire.com/listen/goldd5dbmao9aj6/13-08-11_kinh_tu_niem_xu__98.MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/ys0ujeynrjjjxdy/13-08-12_kinh_niem_xu_98_(_tt_).MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/fb42qavnri6wbz5/13-09-22_kinh_niem_xu_98_(_tt_).MP3

 

99. KINH KHỔ ẤM (I)
100. KINH KHỔ ẤM (II)

http://www.mediafire.com/listen/7dpazomkd7sbb62/13-09-29_Kinh_kho_am__99.MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/ocrjravmdw3z1hp/13-10-06_kinh_kho_am__100.MP3

 

101. KINH TĂNG THƯỢNG TÂM

http://www.mediafire.com/listen/2ozsmkm3kmfjd77/13-10-13_kinh_tang_thuong_tam_101.MP3

 

102. KINH NIỆM

http://www.mediafire.com/listen/hdgkz83uztkh8vx/13-10-20_kinh_niem_102.MP3

 

103. KINH SƯ TỬ HỐNG

http://www.mediafire.com/listen/eqc6byos488sji4/13-10-27_kinh_su_tu_hong_103.MP3

 

104. KINH ƯU-ĐÀM-BÀ-LA

http://www.mediafire.com/listen/p01fqd3s3gce5sc/13-11-03_kinh_uu_Dam_Ba_La_104.MP3

 

105. KINH NGUYỆN

http://www.mediafire.com/listen/6mk1qarrcjkihdz/13-12-01_kinh_uoc_nguyen_105_TAH.MP3

 

106. KINH TƯỞNG

http://www.mediafire.com/listen/ay2yyhr13l4yp9q/13-12-08_kinh_tuong_106.MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/n8zl02b3q895ez9/13-12-22_On_bai_Kinh_tuong_106.MP3

 

 

PHẨM THỨ 10: PHẨM LÂM

MỤC LỤC PHẨM THỨ 10

107. KINH LÂM (I)
108. KINH LÂM (II)
109. KINH TỰ QUÁN TÂM (I)

http://www.mediafire.com/listen/y33pq6d9tzbud23/13-12-29_kinhlam_–107-108-109_-TAH.MP3

 

110. KINH TỰ QUÁN TÂM (II)

http://www.mediafire.com/listen/k88fle436lcsvym/14-01-05_bai_110-_va_Bat_nha_tam_kinh.MP3

 

111. KINH ĐẠT PHẠM HẠNH

http://www.mediafire.com/listen/vm87ye571qry7oc/14-01-12_kinh_dai_pham_hanh_-111_TAH.MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/b2tdcv9ykk1ebc8/14-03-02_Kinh_dai_pham_hanh_-111_TAH.MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/d5lq16a515jg93x/14-01-19_kinh_dai_pham_-111_TAH.MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/mk3mjp97rpp6so9/14-01-19_kinh_dai_pham_-111_(tt)_TAH.MP3

 

http://www.mediafire.com/listen/5q7i9qct7b2v4il/14-02-28_nhin_DK_qua_than_phan_Thuy_Kieu.MP3

 

 

Advertisements
 
 

Các bài giảng audio của TT Thích Chân Quang

Những bài giảng hay của Thượng Tọa Thích Chân Quang
Tổng hợp và upload

01. Có và không
Download

02. Cõi bình an
Download

03. Đất
Download

04. Hiểu lầm
Download

05. Có gì đó
Download

06. Chúng sinh vạn loài
Download

07. Giúp nhau sinh kế
Download

08. Đạo đức giao tiếp
Download

09. Hãy tự mình thắp đuốc mà đi
Download

10. Hơn và Kém
Download

11. Nhân và Duyên
Download

12. Kiếp Người
Download

13. Người với Người
Download

14. Dẫu xây chín đốt phu đồ
Download

15. Hoa Sen Mọc lên từ lửa
Download

16. Nhớ Cội Nguồn
Download

17. Pháp Cụ 04
Download

18. Pháp Cụ 11
Download

19. Trưởng Thành
Download

20. Thanh Gươm Pháp Hộ
Download

20(+1). Bát nhã tâm kinh
Download

21.Gia Đình
Download

22. Nhân Quả
Download

23. Như Thế Vẫn Chưa Đủ
Download

24. Triết Lý Bàn Tay
Download

25. Thực Tập Hạnh Phúc
Download

26. Mùa Xuân
Download

27. Tiền Bạc
Download

28. Trung Đạo
Download

29. Xây dựng cho kiếp sau
Download

30. Hạnh nguyên người trụ trì
Download

 

Nhãn: , ,

Hòa thượng Tố Liên

HỘI THẢO KHOA HỌC
HÒA THƯỢNG TỐ LIÊN (1903-1977) 
TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM VÀ PHẬT GIÁO QUỐC TẾ
Phân viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam tại Hà Nội 
phối hợp cùng Viện Nghiên cứu Tôn giáo tổ chức

HOÀ THƯỢNG TỐ LIÊN VỚI VAI TRÒ CỦA GIÁO HỘI
SƯ TĂNG VÀ CƯ SĨ

Cuộc chấn hưng lần thứ nhất ở đầu thế kỷ 20; cuộc chấn hưng PG lần hai lại sẽ bắt đầu ở đầu thế kỷ 21, và sẽ bắt đầu tại VN. Những ai sẽ là người có công trong cuộc chấn hưng PG lần thứ hai này sẽ tùy thuộc vào sự đánh giá của lịch sử, sẽ tùy thuộc vào trí tuệ và công lao của những vị đó. Cuộc chấn hưng lần này sẽ gay go không kém gì lần trước vì các tôn giáo bạn với thế lực mạnh mẽ của mình sẽ không muốn cho PG cất cánh, nên sẽ có nhiều phương thức tinh vi để gây chia rẽ, gây khó khăn cho những hoạt động của PG sắp tới.

Kính thưa chư vị tôn túc và các vị khách quý,

Vào những thập niên 20 và 30, phong trào chấn hưng Phật giáo đã dần dần hình thành rõ nét, được cho là bắt đầu ở miền Nam với nhân vật tiên phong là hòa thượng Khánh Hòa của chùa Tiên Linh, Bến Tre. Miền Trung nối bước, rồi sau đó là miền Bắc cũng đi theo. Tuy nhiên, khi đánh giá lại sự chấn hưng PG của VN, nhiều nhà sử học đã công nhận rằng tuy miền Bắc khởi sự chấn hưng sau, nhưng đã nhanh chóng đạt được nhiều kết quả tốt đẹp, có khi còn hơn cả 2 miền kia nữa. Kết quả đó có được cũng là do công lao đóng góp của một danh tài PG kiệt xuất là thầy Tố Liên, khi ấy hãy còn khá trẻ.

Tuy nhiên trước khi nói về những dấu ấn đặc biệt mà thầy Tố Liên đã tạo nên trong cuộc chấn hưng PG, ta hãy làm một cuộc lãng du quay ngược thời gian thêm một chút để nhìn thấy một nhân vật Nghệ An đã là tác nhân âm thầm cho cuộc chấn hưng PG của hòa thượng Khánh Hòa, đó là cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Huy. 

Nghệ An đã từng là đất Phật với hàng trăm ngôi chùa, và những cuộc trỗi dậy chống Pháp từ trong những ngôi chùa đó, ví dụ như cuộc nỗi dậy của tăng sĩ Vương Quốc Chính ở Hà Nội có lực lượng tham gia rất đông đảo của PG Nghệ An. Cụ Nguyễn Sinh Huy, cùng với những bạn bè đồng chí như Phan Bội Châu, sau này có thêm Phan Chu Trinh, cũng đều là những người uyên thâm kinh Phật, và đều chủ trương dùng PG trong công cuộc đấu tranh với Pháp. Sở dĩ các cụ có tư tưởng đó vì các cụ đã nhận ra vai trò của Ki tô giáo trong việc xâm chiếm và cai trị VN của Pháp. Vì thế muốn chống lại sự cai trị của Pháp thì ta cũng phải chấn hưng lại nền PG nước nhà để gọi là “giữ lại linh hồn” cho đồng bào trước sự xâm lăng về tín nguỡng của thực dân Pháp.

Sau này vào Nam, cụ Nguyễn Sinh Huy đã đến gặp gỡ rất nhiều các bậc cao tăng để bàn về việc chấn hưng PG. Cụ đã ghé thăm hòa thượng Huệ Đăng chùa Thiên Thai, Bà Rịa; hòa thượng Chí Thành chùa Phi Lai, Châu Đốc; hòa thượng Khánh Hòa chùa Tiên Linh, Bến Tre, vân vân… Cụ mất sớm vào năm 1929, nhưng từ đó hòa thượng Khánh Hòa đã phát động cuộc chấn hưng PG rất thành công. Dĩ nhiên không phải chỉ vì một cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Huy hay một hòa thượng Khánh Hòa có thể tạo nên cuộc chấn hưng PG mạnh mẽ khắp 3 miền như thế. Chính rất nhiều vị cao tăng tu hành âm thầm rải rác khắp đất nước đã nuôi dưỡng Phật chất cho các đệ tử của mình để chờ ngày các vị này đủ duyên đứng lên gánh vác sứ mệnh chấn hưng PG. Nhưng dù sao cũng đã có một cái vòng tròn độc đáo từ Nghệ An với Nguyễn Sinh Huy, Phan Bội Châu, đến Quảng Nam với Phan Chu Trinh, và nổi lên với Khánh Hòa ở Bến Tre. Rồi từ miền Nam như thế, phong trào chấn hưng lại chạy ngược ra Huế và các tỉnh miền Trung, rồi trở ra Hà Nội, để cho một Tố Liên dẫn đầu đoàn PGVN đi dự đại hội thành lập Hội Liên Hữu Phật Giáo Thế Giới năm 1950.

Bài tham luận này không kể lại các hành trạng đặc biệt của ngài Tố Liên nữa, mà chỉ nhân dịp tưởng nhớ về Ngài, xin có vài suy nghĩ về vai trò của Giáo hội, Sư tăng và người tại gia cư sĩ Phật tử trong thời đại hôm nay.

Kính thưa quý vị,

Sau khi chứng kiến những việc làm chấn hưng PG rất tốt đẹp của miền Nam và miền Trung, năm 1934, một số thượng tọa ở miền Bắc tiêu biểu như sư Trí Hải, Tâm Ứng, Tâm Bảo đã đi từ Hà Đông về Hà Nội để vận động thành lập một hội Phật giáo cho miền Bắc. Các vị tiếp xúc với các học giả, nhà văn Phật tử có uy tín thời bấy giờ trước khi phối hợp với các Sư Tăng. Những cư sĩ có tiếng tăm thời đó như Nguyễn Hữu Kha (hiệu là Thiều Chửu), Nguyễn Năng Quốc, Trần Trọng Kim (sau này làm thủ tướng thời gian ngắn), Bùi Kỷ, Cung Đình Bính, Trần văn Giáp, Dương Bá Trạc (hiện có tên đường ở tpHCM), Nguyễn văn Tố, Nguyễn văn Ngọc, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Trọng Thuật (Đồ Nam)… đã tham dự những buổi bàn bạc đầu tiên để đồng ý thành lập Bắc Kỳ Phật Giáo Hội. Điều đặc biệt là hầu hết những chức vụ nòng cốt đều do cư sĩ đảm nhiệm, ví dụ ông Nguyễn Năng Quốc là Hội trưởng, Nguyễn Văn Ngọc và Nguyễn Quốc Thanh là hội phó… Mặc dù sự vận động ban đầu là do quý thượng tọa sư tăng, nhưng chức vụ thì lại do cư sĩ, tuy hòa thượng Thanh Hanh vẫn được bầu làm thiền gia pháp chủ nhưng chỉ để chứng minh. Hội PG miền Bắc khác hơn hai miền kia chính là chỗ cư sĩ đảm đương chức vụ hầu hết. Còn tại miền Trung và miền Nam thì tỉ lệ giữa sư tăng và cư sĩ là không chênh lệch mấy. Ta có cư sĩ Lê Đình Thám ở miền Trung, Mai Thọ Truyền ở miền Nam, và nhiều vị cư sĩ đặc sắc cũng đã góp phần trong những ngày đầu chấn hưng PG. Như cư sĩ Lê Văn Định làm hội trưởng Hội VN Phật học ở Huế từ ngày đầu tiên đến 3 niên khóa liên tiếp. Hoặc bác sĩ Nguyễn văn Khỏe làm hội trưởng Hội Phật học Nam Việt từ khi thành lập năm 1950 cho đến năm 1952 thì giao lại cho thượng tọa Quảng Minh. Đến năm 1955 thì ông Mai Thọ Truyền lại đảm nhiệm hội trưởng cho đến khi mất năm 1973.

Sau này, vì cảm thấy việc cư sĩ lãnh đạo Hội PG có vẻ bất tiện nên năm 1949 thượng tọa Tố Liên đã vận động thành lập Hội Phật Giáo Tăng Già Bắc Việt để dành riêng cho sư tăng bên cạnh Hội Phật Giáo chung cả sư tăng và cư sĩ do cụ Bùi Thiện Cơ làm hội trưởng. Đến năm 1951 thì thượng tọa Mật Ứng được suy tôn làm Thiền gia Pháp chủ của Hội Tăng Già Bắc Việt. Ở trong miền Nam và miền Trung, sự lãnh đạo các tập đoàn PG cũng chuyển dần sang các vị xuất gia một cách tương tự.

Hiện nay thì hầu hết các chức vụ lãnh đạo trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam đều do Sư Tăng đảm trách, rất khác với những ngày ban đầu chấn hưng PG. Người bây giờ khó hình dung được tại sao lại có cái thời mà cư sĩ làm hội trưởng PG như thế. Nhưng việc gì cũng có cái lý do của nó. 

Sở dĩ cư sĩ lại nhận những chức vụ nòng cốt trong buổi đầu thành lập Hội Phật Giáo chỉ bởi vì ai cũng nhận thấy rằng đó là những cư sĩ nhiệt thành, có đạo đức, có trình độ, có kiến thức Phật học, có uy tín, và nhất là có kinh tế gia đình ổn định. Trong khi đó sư tăng thì ít người, chỉ quen ẩn tu, chưa quen xông xáo đối mặt với chính quyền, luật pháp và xã hội…, thậm chí sư tăng cũng ít có trình độ uy tín thuộc về xã hội. Nếu nói theo phạm trù Phật giáo thì sư tăng có thể có đức hơn cư sĩ, nhưng cư sĩ đã có phúc hơn sư tăng, ít ra trong giai đoạn như thế.

Ta cũng dễ thấy những điều tương tự khi có người cư sĩ nào đó thân tình với chùa, chăm lo cho chùa, có uy tín với bổn đạo, lâu ngày cũng được giao cho các nhiệm vụ quan trọng trong chùa như Thủ quỹ, giữ kho, thư ký, tri khách, trưởng ban hộ tự, vân vân… Ngày đó cũng vậy, chính hoạt động đầy hiệu quả từ trước của các cư sĩ với chùa và với xã hội đã khiến cho sư tăng cũng phải chấp nhận cho cư sĩ giữ chức vụ cao hơn mình trong Hội PG như thế.

Tình trạng đó không kéo dài được lâu vì khi sư tăng bước vào hoạt động tận tâm thì bỗng nhiên mọi người lại nhận ra rằng thực sự đã có những vị sư tăng đầy đủ tài đức có thể lèo lái con thuyền PG tiến tới một cách vững vàng. Thầy Tố Liên của chúng ta chính là một trong những hình ảnh đẹp ngời như thế.

Những bài viết liên tiếp trên báo Đuốc Tuệ đã dần dần định hướng cho đường lối hoạt động của Phật Giáo VN, chuẩn bị cho một cuộc bùng phát mạnh mẽ của PG trên nhiều phương diện. Khi nhiều người say đắm các kinh Đại thừa với tư tưởng Chân Không, thầy Tố Liên đã nhắc nhở họ về ý niệm Nhân Quả như là sự cân bằng giữa Không và Hữu; khi nhiều người quen niệm Phật cầu vãng sinh thì Thầy lại nhắc nhở hạnh nguyện dấn thân phụng sự cho đời, và xem niệm Phật cũng là cách để nhiếp tâm như Thiền vậy; khi mà các tự viện chỉ biết hướng về sơn môn tổ đình của riêng mình thì Thầy lại nhắc nhở tất cả hãy hướng về một Hội Phật Giáo chung để tập hợp sức mạnh chấn hưng PG.

Thầy đã vào Huế đàm đạo với các vị tôn túc và cư sĩ Lê Đình Thám nhằm học hỏi ở chư Tăng Huế những điều cần thiết áp dụng vào miền Bắc, trong đó Thầy đã ủng hộ việc thành lập đoàn thể Gia Đình Phật Hóa Phổ như một môi trường tập hợp lớp trẻ Phật tử để giáo dục dần dần. Rất nhiều rất nhiều những hoạt động của Thầy về từ thiện xã hội, cứu đói năm 1945, giáo dục bình dân, nuôi dưỡng trẻ mồ côi, hoặc giáo dục Tăng Ni, mở rộng Hội Phật giáo về các tỉnh đều khiến cho uy tín của sư tăng ngày càng nổi trội so với cư sĩ. Vì thế, theo luật Nhân Quả, từ đó vai trò của sư tăng cũng đương nhiên vượt lên cao hơn rất nhiều trong mắt mọi người. 

Nhưng không vì thế mà Thầy xem nhẹ vai trò của cư sĩ. Những công tác Phật sự tiếp theo, ngay cả những chuyến đi xuất ngoại họp với Phật giáo Thế giới, Thầy vẫn đề nghị danh sách cư sĩ tham dự với tỉ lệ cao. Điển hình là trong chuyến đi năm 1952 đến Tokyo Nhật Bản, Thầy đã lập danh sách xin phép xuất cảnh với chỉ 03 sư tăng là Tố Liên, Trí Quang, Quảng Minh, nhưng với 08 cư sĩ đi kèm.

Như ta biết, theo định nghĩa về Sangha, Tăng già, đó là một cộng đồng của những người xuất gia theo Phật, sống hiền lành thương yêu nhau để cùng tu hành cho lý tưởng giác ngộ giải thoát.

Định nghĩa như vậy thích hợp cho những cộng đồng nho nhỏ vừa phải, ở chung một địa điểm. Còn khi nhiều cộng đồng sư tăng ở nhiều nơi muốn tạo mối quan hệ mật thiết với nhau để hỗ trợ nhau, để giữ giềng mối Phật Pháp đồng nhất khắp nơi thì buộc ta phải phát triển thành một Giáo Hội Congregation, hoặc ta phải hiểu Sangha theo một khái niệm lớn hơn nữa.

Một hình thức Sangha tự phát theo dòng phái sơn môn vẫn luôn luôn tồn tại, theo đó, từ một vị thầy có uy tín, nhiều đệ tử nối tiếp tỏa ra nhiều nơi để trụ trì và giáo hóa, nhưng vẫn giữ mối quan hệ sơn môn khắng khít với nhau. Việt Nam tồn tại rất nhiều hình thức Sangha sơn môn như vậy. Tuy nhiên, Sangha sơn môn kiểu này không ổn định vì tùy thuộc vào uy đức để lại của vị tổ ban đầu. Có những dòng phái truyền thừa rất lâu như phái Liễu Quán phát tích từ Phú Yên; nhưng cũng có những dòng phái tắt sớm vì không có đệ tử xuất gia tiếp nối.

Nhiều dòng phái sơn môn kiểu đó, nếu không được tổ chức lại thì gây nên sự phân hóa cho toàn bộ Phật giáo. Những ai có lòng với cơ đồ chung của Phật giáo đều phải trăn trở cho sự hợp nhất tổ chức tất cả sư tăng thành một mối của Giáo Hội, mà những bậc tôn túc ngày đầu chấn hưng PG đều nhắm đến. Thầy Tố Liên cũng là người đau đáu vận động tổ chức cho sự hợp nhất toàn bộ sư tăng PG như thế.

Đến đây ta lại phát hiện ra một quy luật khác. Hầu như tổ chức giáo hội thì lấy địa phương hành chính làm đơn vị, chia ra từng tỉnh, huyện; nhưng sơn môn dòng phái thì lấy chùa làm đơn vị, mà chùa của sơn môn thì chạy khắp chỗ theo duyên, chẳng có theo trật tự hành chính gì cả. Thế là từ khi có Giáo hội, ta có 2 tổ chức song song tồn tại, một theo đơn vị hành chính quốc gia, một theo sơn môn dòng phái. Các chùa vẫn vui vẻ chấp nhận mình được quản lý bởi cả hai hệ thống như thế, một bên là Giáo hội chung lớn lao hơn, một bên là tình nghĩa tổ thầy. Các chùa vẫn vui vẻ làm các bổn phận mỗi khi có sự yêu cầu từ các hệ thống quản lý đó.

Theo quy luật của Nhân Quả và cuộc sống, ta thấy rõ ai là người ban bố giúp đỡ thì tất nhiên sẽ đứng vai trò cao hơn. Mối tương quan giữa sư tăng và cư sĩ cũng chịu sự chi phối của quy luật đó.

Cư sĩ là người giúp đỡ về tài vật cho sư tăng nên rất dễ trở nên có tiếng nói nhiều ảnh hưởng đối với sư tăng, nếu, ta nhấn mạnh chữ nếu, nếu sư tăng không có đạo lý gì để ban bố làm gương trở lại cho họ. Từ một số sư tăng âm thầm lặng lẽ rải rác trong các tự viện xa xôi không gây ảnh hưởng gì nhiều cho quần chúng, bất ngờ, qua cuộc chấn hưng PG, một số vị xuất sắc bước ra và trở thành sáng chói, thu phục được sự nguỡng mộ của quần chúng. Thế là, từ một PG với vai trò cư sĩ nổi trội đã biến thành một Hội PG với vai trò sư tăng lãnh đạo vững vàng. Chính thầy Tố Liên mới 47 tuổi đã được đưa lên làm chủ tịch Hội Tăng Ni Chỉnh Lý Bắc Việt năm 1949 cũng bởi vì bản lĩnh trí tuệ của Người thật sự chinh phục lòng kính nể của đại chúng.

Sau này nhiều Tăng Ni được học hành đàng hoàng nên nhân sự cho Giáo hội không thiếu, và Giáo hội hầu như được điều hành bởi Tăng Ni. Ai cũng cho như vậy là ổn định cả nên không thắc mắc gì. Nhưng nếu xét xa hơn một chút ta sẽ thấy vấn đề không đơn giản. 

Kể từ cuộc chấn hưng PG miền Bắc cho đến tận ngày hôm nay, ta vẫn hoàn toàn không nghe nhắc đến PG khu vực Tây Bắc. Ta đã bỏ trống khu vực đó quá lâu. Một số tôn giáo nguy hiểm đang ráo riết truyền bá lôi kéo tín đồ ở đấy và đe dọa an ninh chính trị cả khu vực. Bây giờ có muốn phát triển PG về hướng đó, ta cũng không đủ Tăng Ni đảm đương công việc. Một vài Tăng Ni có phát tâm về vùng xa thì không được các vị tôn túc của Giáo hội động viên giúp đỡ nên hiệu quả chưa cao. Chùa ở đô thị hay vận động tài chánh để trùng tu xây cất lớn, nhưng ít có vị nào vận động tài chánh để ủng hộ cho Tăng Ni đang hoằng hóa ở vùng xa.

Không khác gì Tây Bắc, khu vực Tây Nguyên Trung Bộ cũng đang thiếu Tăng Ni dấn thân hoằng hóa. Một vài vị phát tâm về vùng xa thì lại không được cả Giáo hội lẫn chính quyền địa phương nâng đỡ nên gặp rất nhiều khó khăn đến nỗi có người phải bỏ về lại thành thị.

Nói chung, PG chưa “phủ sóng” toàn bộ mọi miền đất nước, và trách nhiệm trước hết thuộc về Giáo Hội. Cuộc chấn hưng PG thời bấy giờ chưa đặt nền tảng đầy đủ cho sự phát triển PG đến tận những biên giới xa xôi. Ta không thể trách các vị tôn túc thời đó được vì hoàn cảnh đất nước ta khi đó chưa cho phép, mặc dù các vị đã tận tâm toàn ý cả, mặc dù các vị đã rất bản lĩnh vững vàng. Thầy Tố Liên của chúng ta ngoài việc phải lo xây dựng Giáo hội buổi đầu, phải lo liên kết với PG hai miền trong kia, phải lo thêm công việc đối với Phật Giáo Thế Giới, phải lo hoạt động từ thiện xã hội, phải lo ủng hộ cuộc kháng chiến của cả dân tộc… Nói chung Người đã quá tận tụy, đã quá tuyệt vời, ta không thể đòi hỏi gì thêm nữa.

Bây giờ ta phải đòi hỏi chính chúng ta. Ta phải làm gì để nối tiếp công lao của các vị tôn túc thời đó đã khổ công làm công cuộc chấn hưng PG như thế? Ta phải làm gì để con cháu ta sau này được hưởng một nền Phật Pháp tốt đẹp nhất?

Trong các vấn đề ta đặt ra, có vấn đề nhân sự là cơ bản nhất. Thiếu yếu tố con người là thiếu tất cả. Không có người lo việc cho Giáo Hội thì Giáo Hội là vô nghĩa. Muốn có nhân sự đầy đủ thì ta phải chăm lo việc giáo dục, hoằng pháp, song song với việc tổ chức thực hành tu tập cho mọi người từng bước chiến thắng tham sân si trong tâm hồn mình. Có học đạo lý rồi, có được tu tập rồi, ta còn phải tạo điều kiện cho người được bắt tay làm các công đức để tăng trưởng phúc duyên nữa.

Ba điều đó, học, thực hành, và gây tạo công đức khiến cho một người lớn mạnh trưởng thành đúng nghĩa trong giáo pháp của Như Lai. Từ đó ta mới có nhân sự giỏi để chung lo việc Phật Pháp.

Nhân sự ta muốn nói ở đây là cả sư tăng lẫn cư sĩ. Chuyện Phật Pháp mênh mông, Tăng Ni không đủ để đáp ứng toàn bộ, mà phải trông cậy rất nhiều vào lực lượng cư sĩ. Nhưng muốn cư sĩ tham gia gánh vác chuyện Phật Pháp thì ta phải quan tâm một số điều.

Cư sĩ rất bận rộn lo việc gia đình và xã hội nên chỉ những cư sĩ nào rất có tâm, rất có điều kiện mới có thể tham gia hoạt động Phật sự. Cái Tâm nhiệt thành đó có được là do hiểu sâu đạo lý. Ai hiểu sâu đạo lý của Phật rồi đều sẽ trở nên nhiệt thành lo cho Phật Pháp cả. Giúp cho cư sĩ hiểu sâu đạo lý là trách nhiệm muôn đời của Giáo Hội Tăng Ni.

Còn cái điều kiện mà ta nêu ra chính là thời gian, trí tuệ và tài vật. Nhưng ta cũng muốn nói về tài vật nhiều hơn. Cư sĩ có thoải mái về kinh tế thì mới giúp chuyện Phật Pháp được. Ta sẽ đổ thừa cho Nghiệp Duyên đời trước nên bây giờ người ta phải chịu nghèo hay giàu như thế. Thật ra nếu tất cả Phật tử biết giúp nhau làm ăn thì kinh tế ai cũng sẽ khá lên cả. Và cơ hội để góp sức cho hoạt động Phật sự sẽ có nhiều hơn. Muốn cho tất cả Phật tử biết tử tế giúp nhau sinh kế thì lại cũng là trách nhiệm của Giáo Hội Tăng Ni. Tăng Ni phải giáo dục cho Phật tử biết giúp nhau làm ăn, làm giàu, vì đó là thiện nghiệp rất lớn sẽ đem đến quả phúc rất bền bĩ. 

Rốt cục lại, để cho cư sĩ có tâm và có điều kiện cũng đều phải do Tăng Ni giáo hóa cả.

Khi cư sĩ có thể tham gia rồi thì vấn đề còn lại là công việc tổ chức, phân công, tập huấn, kiểm tra, điều chỉnh, khen thưởng vân vân… 

Ta sẽ phân ra làm hai hạng cư sĩ trong đạo Phật. Một hạng cư sĩ quy y Tam Bảo nhưng không gắn bó với Giáo Hội để làm Phật sự. Một hạng cư sĩ gắn bó với Giáo Hội để tham gia Phật sự, chịu khuôn phép, biết vâng lời, gắng tu tập. 

Chính hạng thứ hai này là chỗ dựa rất đắc lực cho Giáo Hội. Giáo hội phải có một chính sách thích hợp để tập hợp những cư sĩ ưu hạng này, để phát huy năng lực của hạng cư sĩ này trong việc hoạt động Phật sự và truyền bá chính pháp. Khi cư sĩ qua một thời gian “thử việc”, có thể gắn bó lâu dài với Giáo Hội để làm Phật sự, biết vâng lời, có đạo đức, chịu khuôn phép, họ cũng phải được cấp thẻ Cư sĩ Hộ đạo chính thức, giống như Tăng Ni được cấp Giấy Tăng Tịch (Chứng nhận Tăng Ni). Hoặc là họ được thầy trú trì tại chùa bảo đảm để được Giáo Hội cấp giấy, hoặc là họ được chức sắc của Giáo Hội bảo đảm cho cấp giấy. Những ai có thẻ Cư sĩ Hộ đạo này thì cũng được quyền bỏ phiếu bầu trong những kỳ bầu cử của Giáo Hội. Giáo Hội có thể tổ chức thi cử kiểm tra trước khi cấp thẻ, giống như phần sát hạch Tăng Ni giới tử trước khi quyết định cho đăng đàn thọ giới vậy. Họ cũng phải dự lễ phát nguyện dõng mãnh trước Phật để làm một Cư sĩ Hộ đạo chân chính suốt đời, với bao nhiêu lời nguyện, bao nhiêu quy luật mà Giáo Hội đưa ra.

Phật giáo VN không thích hợp có hình thức Tân Tăng, nhưng rất thích hợp có hình thức Cư sĩ đặc biệt này cùng tham gia gánh vác Phật sự và hoằng truyền chính pháp. Con số Cư sĩ đặc biệt này cần phải đông gấp 10 lần Tăng Ni, hoặc nhiều hơn càng tốt. Sở dĩ ta đưa ra con số này vì dựa trên ý nghĩa Tăng Ni là người chỉ đạo tổng quát, còn Cư sĩ là người thực hiện. Một người xuất gia có thể lãnh đạo mười người Cư sĩ như thế, tính theo tỉ lệ trung bình.

Hiện nay Giáo Hội chưa đủ sức cúng dường cho Tăng Ni hàng tháng để hỗ trợ việc tu học và làm Phật sự của Tăng Ni, nên cũng chưa đủ sức trợ cấp sinh hoạt phí cho Cư sĩ. Ai cũng đang phải nỗ lực tự thân để vừa lo cho mình vừa lo cho việc chung, thậm chí nhiều Cư sĩ vừa tham gia hoạt động Phật sự vừa còn phải lấy tiền cúng dường cho chùa nữa. Tấm lòng đó thật đáng ca ngợi; công đức đó chắc chắn được Tam Bảo chứng minh. Nhưng ta vẫn mơ ước ngày kia Giáo Hội có được ngân quỹ dồi dào để có thể cung cấp cho các chùa, có thể trợ cấp cho các Cư sĩ đã dành hầu hết thời gian lo cho Đạo.

Vào những ngày đầu của công cuộc chấn hưng PG, bác sĩ Lê Đình Thám cùng với các cộng sự của mình có lập ra hình thức Gia Đình Phật Hóa Phổ để tập hợp giáo dục các thanh thiếu niên Phật tử, sau này gọi là Gia Đình Phật tử. Chính thầy Tố Liên của ta cũng khen ngợi hình thức này và cho triển khai ở Hà Nội, Hải Phòng. Tổ chức GĐPT này đã làm nên nhiều công lao đối với sự nghiệp chung của Phật giáo VN. Tuy nhiên, chính hệ thống dọc với các cán bộ huynh truởng độc lập đã làm cho tổ chức này dần dần trở nên xa rời Giáo Hội và Tăng Ni, thậm chí các giáo trình giảng dạy của Tổ chức đã yêu cầu các đoàn sinh phải vâng lời huynh truởng hơn cả Tăng Ni, và cũng tự ý so sánh cấp hàm của mình tương đương với giáo phẩm thượng tọa, hòa thượng. Những khuynh hướng kiêu mạn ngấm ngầm đó bây giờ để lại di chứng khó chịu đối với toàn bộ nền Phật Pháp chung.

Rút kinh nghiệm về GĐPT trên, ta sẽ tổ chức lực lượng Cư sĩ Hộ đạo không có hệ thống dọc riêng biệt, Cư sĩ nào có duyên với chùa nào thì sẽ chịu sự lãnh đạo của chùa đó. Trụ trì sẽ chịu trách nhiệm về các hoạt động của Cư sĩ do mình lãnh đạo. Chức sắc nào bảo đảm cho Cư sĩ tham gia hoạt động thì sẽ chịu trách nhiệm về Cư sĩ đó. 

Muốn cho Cư sĩ hoạt động ổn định lâu dài, Giáo hội và các chùa cũng phải sắp xếp cho Cư sĩ được tu và học có chiều sâu dần dần. Không ai có thể làm việc Phật mà thiếu đạo lực được. Thiếu đạo lực tu hành, ta sẽ làm Phật sự với đủ thứ tham sân si, hơn thua, mưu tính, danh lợi, hiềm hận, bè phái, bị mua chuộc vân vân… Ngay cả Tăng Ni mà thiếu tu thiếu học thì cũng sẽ giống như vậy mà thôi. 

Định nghĩa lại cho chính xác thì Giáo Hội chính là môi trường để đệ tử Phật nương tựa nhau, giúp đỡ nhau tu hành và truyền bá chính pháp. Giáo Hội chỉ là phương tiện cho một cứu cánh cao hơn, đó là tu hành và hoằng hóa. Nhưng trong thực tế, sau nhiều công sức vất vả để tổ chức được Giáo Hội, nhiều vị đã xem Giáo hội là cứu kính mà bỏ quên mất cứu kính thật sự chính là tu hành và hoằng hóa. Thế rồi hàng loạt các sai lầm xuất hiện khi các ngài phân biệt giáo hội, cố chấp chức vụ của giáo hội, sẵn sàng nghe theo sự xúi giục của ngoại bang nếu họ hứa hẹn ủng hộ giáo hội của các ngài, thậm chí các ngài hành xử y như thế gian với đủ thủ đoạn thêu dệt, gian dối, vu khống…

Khi bắt tay chấn hưng PG, buộc các vị tôn túc phải tổ chức giáo hội vì có giáo hội rồi thì Tăng Ni và Phật tử mới có môi trường tu hành, làm việc, học tập, và có tiếng nói đáng kể với xã hội. Nhưng rồi không khéo Giáo hội sẽ trở thành một sự cố chấp mới, một trở ngại mới nếu chúng ta quên đi ý nghĩa đích thực của giáo hội là gì. Ngày nay có một số vị chức sắc cũng lợi dụng chức vụ của mình để tham nhũng gây phiền hà cho các chùa. Họ quên mất Giáo hội chỉ là công cụ cho mục tiêu tu hành hoằng hóa. Nếu nhớ rằng giáo hội chỉ là công cụ, là môi trường cho một mục đích cao cả hơn, đó là giúp nhau tu hành và hoằng hóa thì các vị chức sắc lãnh đạo Giáo hội phải ra sức giúp đỡ Tăng Ni và Phật tử đi theo mục đích đó, giúp cho Tăng Ni Phật tử cảm nhận được tình thuơng yêu đồng đạo ấm áp thân thương. Cũng như Giáo hội sẽ đứng vai trò trung gian điều phối các chùa giúp đỡ hỗ trợ nhau trong việc tu hành hoằng hoá, khiến cho Phật giáo trở nên gắn bó hòa hợp đúng như lời Phật dạy.

Ta có 2 cực đoan cần phải tránh trong quan niệm về Giáo hội. Thứ nhất, quan niệm cho rằng mục tiêu chính là tu hành nên nếu ai đủ sức tự tu thì không cần phải gắn bó với Giáo hội. Thứ hai, cố chấp Giáo hội như là cứu cánh đến nỗi không còn xem việc tu hành là quan trọng nữa.

Cực đoan thứ nhất, không cần gắn bó với Giáo hội, lại cũng là biểu hiện của sự yếu kém đạo lực. Nếu người tu mà không thể sống hòa hợp với nhau được thì phải biết có cái gì trục trặc trong kiến giải đạo lý tu hành. Một trong những biểu hiện của đạo lực chính là sống hòa hợp với nhau dễ dàng. Sống với nhau không vui vẻ hòa ái tức là có cái gì sai với đạo lý Phật dạy, cần phải điều chỉnh lại.

Cực đoan thứ hai, xem Giáo hội là tất cả, lại là một cố chấp khác, thường hiện hữu nơi những người có chức sắc của giáo hội, tồn tại nơi những ai đã dày công xây dựng giáo hội. Họ xem tổ chức giáo hội chính là tất cả Phật Pháp, xem tên gọi giáo hội là cao quý hơn cả, cố chấp tẳn mẳn tỉ mỉ từng quy định để bảo vệ sự thực hữu của giáo hội. Đó cũng là biểu hiện của một nội tâm sai lệch đạo lý, chưa thành tựu được công phu hàm dưỡng nội tại.

Công cuộc chấn hưng PG của những vị tôn túc như Hòa thượng Tố Liên từ những thập niên đầu thế kỷ 20 đã để lại những dấu ấn mạnh mẽ trên sự phát triển của Phật Pháp đến tận hôm nay, cả 3 miền Nam Trung Bắc, nhưng thật sự thì đã có sự trở ngại chứ không phải là liên tục. Trong miền Nam, qua thời kỳ Ngô Đình Diệm với chủ trương làm suy yếu PG, rồi qua thời kỳ Nguyễn Văn Thiệu vẫn nối tiếp sách lược của Diệm (mà tác giả Đỗ Mậu đã cho rằng Thiệu cũng chính là Diệm dù không có Diệm), PG đã bị cản trở rất nhiều.

Riêng miền Bắc với việc dồn mọi nỗ lực cho chiến tranh giải phóng thống nhất đất nước, đồng thời với hệ tư tưởng Marxism thiên về Duy vật, cũng không thích hợp cho các sinh hoạt của PG. Dù hòa thượng Tố Liên yêu nước và nhiệt thành với đạo, với bối cảnh như thế Người cũng đành phải lui về nghỉ ngơi, rồi thanh thản ra đi năm 1977.

Ngày hôm nay bỗng nhiên hoàn cảnh biến đổi kỳ lạ. Đảng Cộng Sản Việt Nam tiến hành đổi mới, đưa đất nước đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giữ vững an ninh chính trị, nâng cao tăng truởng kinh tế, nâng cao vị thế uy tín của VN trên trường quốc tế, phát triển dân chủ và đời sống cho nhân dân, công nhận giá trị của đạo Phật đối với văn hóa và tinh thần dân tộc, đã khích lệ cho PG một sự tiến bộ mới… Rồi các tôn giáo với sách lược truyền bá ồ ạt để thu hút quần chúng để có thể biến thành lực lượng chính trị đã gây áp lực lên PG phải có một cuộc chấn hưng lần thứ hai nếu không muốn bị gạt ra khỏi đời sống xã hội.

Hai yếu tố đó đã thúc đẩy PG phải chuẩn bị làm một điều gì đó, rất kỳ diệu, để phát triển PG sang một tầm cao mới, xứng đáng là một tôn giáo của nhân loại như Einstein đã ca ngợi.

Cuộc chấn hưng lần thứ nhất ở đầu thế kỷ 20; cuộc chấn hưng PG lần hai lại sẽ bắt đầu ở đầu thế kỷ 21, và sẽ bắt đầu tại VN.

Những ai sẽ là người có công trong cuộc chấn hưng PG lần thứ hai này sẽ tùy thuộc vào sự đánh giá của lịch sử, sẽ tùy thuộc vào trí tuệ và công lao của những vị đó. Cuộc chấn hưng lần này sẽ gay go không kém gì lần trước vì các tôn giáo bạn với thế lực mạnh mẽ của mình sẽ không muốn cho PG cất cánh, nên sẽ có nhiều phương thức tinh vi để gây chia rẽ, gây khó khăn cho những hoạt động của PG sắp tới. Tuy nhiên ta có quyền hy vọng rất nhiều.

Xin cám ơn chư tôn và quý khách đã chú ý theo dõi. Xin chúc quý vị vô lượng an lạc.  

Thích Chân Quang
Phật Tử Việt Nam

03-29-2007 08:56 

Cuộc chấn hưng lần thứ nhất ở đầu thế kỷ 20; cuộc chấn hưng PG lần hai lại sẽ bắt đầu ở đầu thế kỷ 21, và sẽ bắt đầu tại VN. Những ai sẽ là người có công trong cuộc chấn hưng PG lần thứ hai này sẽ tùy thuộc vào sự đánh giá của lịch sử, sẽ tùy thuộc vào trí tuệ và công lao của những vị đó. Cuộc chấn hưng lần này sẽ gay go không kém gì lần trước vì các tôn giáo bạn với thế lực mạnh mẽ của mình sẽ không muốn cho PG cất cánh, nên sẽ có nhiều phương thức tinh vi để gây chia rẽ, gây khó khăn cho những hoạt động của PG sắp tới.

Kính thưa chư vị tôn túc và các vị khách quý,

Vào những thập niên 20 và 30, phong trào chấn hưng Phật giáo đã dần dần hình thành rõ nét, được cho là bắt đầu ở miền Nam với nhân vật tiên phong là hòa thượng Khánh Hòa của chùa Tiên Linh, Bến Tre. Miền Trung nối bước, rồi sau đó là miền Bắc cũng đi theo. Tuy nhiên, khi đánh giá lại sự chấn hưng PG của VN, nhiều nhà sử học đã công nhận rằng tuy miền Bắc khởi sự chấn hưng sau, nhưng đã nhanh chóng đạt được nhiều kết quả tốt đẹp, có khi còn hơn cả 2 miền kia nữa. Kết quả đó có được cũng là do công lao đóng góp của một danh tài PG kiệt xuất là thầy Tố Liên, khi ấy hãy còn khá trẻ.

Tuy nhiên trước khi nói về những dấu ấn đặc biệt mà thầy Tố Liên đã tạo nên trong cuộc chấn hưng PG, ta hãy làm một cuộc lãng du quay ngược thời gian thêm một chút để nhìn thấy một nhân vật Nghệ An đã là tác nhân âm thầm cho cuộc chấn hưng PG của hòa thượng Khánh Hòa, đó là cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Huy. 

Nghệ An đã từng là đất Phật với hàng trăm ngôi chùa, và những cuộc trỗi dậy chống Pháp từ trong những ngôi chùa đó, ví dụ như cuộc nỗi dậy của tăng sĩ Vương Quốc Chính ở Hà Nội có lực lượng tham gia rất đông đảo của PG Nghệ An. Cụ Nguyễn Sinh Huy, cùng với những bạn bè đồng chí như Phan Bội Châu, sau này có thêm Phan Chu Trinh, cũng đều là những người uyên thâm kinh Phật, và đều chủ trương dùng PG trong công cuộc đấu tranh với Pháp. Sở dĩ các cụ có tư tưởng đó vì các cụ đã nhận ra vai trò của Ki tô giáo trong việc xâm chiếm và cai trị VN của Pháp. Vì thế muốn chống lại sự cai trị của Pháp thì ta cũng phải chấn hưng lại nền PG nước nhà để gọi là “giữ lại linh hồn” cho đồng bào trước sự xâm lăng về tín nguỡng của thực dân Pháp.

Sau này vào Nam, cụ Nguyễn Sinh Huy đã đến gặp gỡ rất nhiều các bậc cao tăng để bàn về việc chấn hưng PG. Cụ đã ghé thăm hòa thượng Huệ Đăng chùa Thiên Thai, Bà Rịa; hòa thượng Chí Thành chùa Phi Lai, Châu Đốc; hòa thượng Khánh Hòa chùa Tiên Linh, Bến Tre, vân vân… Cụ mất sớm vào năm 1929, nhưng từ đó hòa thượng Khánh Hòa đã phát động cuộc chấn hưng PG rất thành công. Dĩ nhiên không phải chỉ vì một cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Huy hay một hòa thượng Khánh Hòa có thể tạo nên cuộc chấn hưng PG mạnh mẽ khắp 3 miền như thế. Chính rất nhiều vị cao tăng tu hành âm thầm rải rác khắp đất nước đã nuôi dưỡng Phật chất cho các đệ tử của mình để chờ ngày các vị này đủ duyên đứng lên gánh vác sứ mệnh chấn hưng PG. Nhưng dù sao cũng đã có một cái vòng tròn độc đáo từ Nghệ An với Nguyễn Sinh Huy, Phan Bội Châu, đến Quảng Nam với Phan Chu Trinh, và nổi lên với Khánh Hòa ở Bến Tre. Rồi từ miền Nam như thế, phong trào chấn hưng lại chạy ngược ra Huế và các tỉnh miền Trung, rồi trở ra Hà Nội, để cho một Tố Liên dẫn đầu đoàn PGVN đi dự đại hội thành lập Hội Liên Hữu Phật Giáo Thế Giới năm 1950.

Bài tham luận này không kể lại các hành trạng đặc biệt của ngài Tố Liên nữa, mà chỉ nhân dịp tưởng nhớ về Ngài, xin có vài suy nghĩ về vai trò của Giáo hội, Sư tăng và người tại gia cư sĩ Phật tử trong thời đại hôm nay.

Kính thưa quý vị,

Sau khi chứng kiến những việc làm chấn hưng PG rất tốt đẹp của miền Nam và miền Trung, năm 1934, một số thượng tọa ở miền Bắc tiêu biểu như sư Trí Hải, Tâm Ứng, Tâm Bảo đã đi từ Hà Đông về Hà Nội để vận động thành lập một hội Phật giáo cho miền Bắc. Các vị tiếp xúc với các học giả, nhà văn Phật tử có uy tín thời bấy giờ trước khi phối hợp với các Sư Tăng. Những cư sĩ có tiếng tăm thời đó như Nguyễn Hữu Kha (hiệu là Thiều Chửu), Nguyễn Năng Quốc, Trần Trọng Kim (sau này làm thủ tướng thời gian ngắn), Bùi Kỷ, Cung Đình Bính, Trần văn Giáp, Dương Bá Trạc (hiện có tên đường ở tpHCM), Nguyễn văn Tố, Nguyễn văn Ngọc, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Trọng Thuật (Đồ Nam)… đã tham dự những buổi bàn bạc đầu tiên để đồng ý thành lập Bắc Kỳ Phật Giáo Hội. Điều đặc biệt là hầu hết những chức vụ nòng cốt đều do cư sĩ đảm nhiệm, ví dụ ông Nguyễn Năng Quốc là Hội trưởng, Nguyễn Văn Ngọc và Nguyễn Quốc Thanh là hội phó… Mặc dù sự vận động ban đầu là do quý thượng tọa sư tăng, nhưng chức vụ thì lại do cư sĩ, tuy hòa thượng Thanh Hanh vẫn được bầu làm thiền gia pháp chủ nhưng chỉ để chứng minh. Hội PG miền Bắc khác hơn hai miền kia chính là chỗ cư sĩ đảm đương chức vụ hầu hết. Còn tại miền Trung và miền Nam thì tỉ lệ giữa sư tăng và cư sĩ là không chênh lệch mấy. Ta có cư sĩ Lê Đình Thám ở miền Trung, Mai Thọ Truyền ở miền Nam, và nhiều vị cư sĩ đặc sắc cũng đã góp phần trong những ngày đầu chấn hưng PG. Như cư sĩ Lê Văn Định làm hội trưởng Hội VN Phật học ở Huế từ ngày đầu tiên đến 3 niên khóa liên tiếp. Hoặc bác sĩ Nguyễn văn Khỏe làm hội trưởng Hội Phật học Nam Việt từ khi thành lập năm 1950 cho đến năm 1952 thì giao lại cho thượng tọa Quảng Minh. Đến năm 1955 thì ông Mai Thọ Truyền lại đảm nhiệm hội trưởng cho đến khi mất năm 1973.

Sau này, vì cảm thấy việc cư sĩ lãnh đạo Hội PG có vẻ bất tiện nên năm 1949 thượng tọa Tố Liên đã vận động thành lập Hội Phật Giáo Tăng Già Bắc Việt để dành riêng cho sư tăng bên cạnh Hội Phật Giáo chung cả sư tăng và cư sĩ do cụ Bùi Thiện Cơ làm hội trưởng. Đến năm 1951 thì thượng tọa Mật Ứng được suy tôn làm Thiền gia Pháp chủ của Hội Tăng Già Bắc Việt. Ở trong miền Nam và miền Trung, sự lãnh đạo các tập đoàn PG cũng chuyển dần sang các vị xuất gia một cách tương tự.

Hiện nay thì hầu hết các chức vụ lãnh đạo trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam đều do Sư Tăng đảm trách, rất khác với những ngày ban đầu chấn hưng PG. Người bây giờ khó hình dung được tại sao lại có cái thời mà cư sĩ làm hội trưởng PG như thế. Nhưng việc gì cũng có cái lý do của nó. 

Sở dĩ cư sĩ lại nhận những chức vụ nòng cốt trong buổi đầu thành lập Hội Phật Giáo chỉ bởi vì ai cũng nhận thấy rằng đó là những cư sĩ nhiệt thành, có đạo đức, có trình độ, có kiến thức Phật học, có uy tín, và nhất là có kinh tế gia đình ổn định. Trong khi đó sư tăng thì ít người, chỉ quen ẩn tu, chưa quen xông xáo đối mặt với chính quyền, luật pháp và xã hội…, thậm chí sư tăng cũng ít có trình độ uy tín thuộc về xã hội. Nếu nói theo phạm trù Phật giáo thì sư tăng có thể có đức hơn cư sĩ, nhưng cư sĩ đã có phúc hơn sư tăng, ít ra trong giai đoạn như thế.

Ta cũng dễ thấy những điều tương tự khi có người cư sĩ nào đó thân tình với chùa, chăm lo cho chùa, có uy tín với bổn đạo, lâu ngày cũng được giao cho các nhiệm vụ quan trọng trong chùa như Thủ quỹ, giữ kho, thư ký, tri khách, trưởng ban hộ tự, vân vân… Ngày đó cũng vậy, chính hoạt động đầy hiệu quả từ trước của các cư sĩ với chùa và với xã hội đã khiến cho sư tăng cũng phải chấp nhận cho cư sĩ giữ chức vụ cao hơn mình trong Hội PG như thế.

Tình trạng đó không kéo dài được lâu vì khi sư tăng bước vào hoạt động tận tâm thì bỗng nhiên mọi người lại nhận ra rằng thực sự đã có những vị sư tăng đầy đủ tài đức có thể lèo lái con thuyền PG tiến tới một cách vững vàng. Thầy Tố Liên của chúng ta chính là một trong những hình ảnh đẹp ngời như thế.

Những bài viết liên tiếp trên báo Đuốc Tuệ đã dần dần định hướng cho đường lối hoạt động của Phật Giáo VN, chuẩn bị cho một cuộc bùng phát mạnh mẽ của PG trên nhiều phương diện. Khi nhiều người say đắm các kinh Đại thừa với tư tưởng Chân Không, thầy Tố Liên đã nhắc nhở họ về ý niệm Nhân Quả như là sự cân bằng giữa Không và Hữu; khi nhiều người quen niệm Phật cầu vãng sinh thì Thầy lại nhắc nhở hạnh nguyện dấn thân phụng sự cho đời, và xem niệm Phật cũng là cách để nhiếp tâm như Thiền vậy; khi mà các tự viện chỉ biết hướng về sơn môn tổ đình của riêng mình thì Thầy lại nhắc nhở tất cả hãy hướng về một Hội Phật Giáo chung để tập hợp sức mạnh chấn hưng PG.

Thầy đã vào Huế đàm đạo với các vị tôn túc và cư sĩ Lê Đình Thám nhằm học hỏi ở chư Tăng Huế những điều cần thiết áp dụng vào miền Bắc, trong đó Thầy đã ủng hộ việc thành lập đoàn thể Gia Đình Phật Hóa Phổ như một môi trường tập hợp lớp trẻ Phật tử để giáo dục dần dần. Rất nhiều rất nhiều những hoạt động của Thầy về từ thiện xã hội, cứu đói năm 1945, giáo dục bình dân, nuôi dưỡng trẻ mồ côi, hoặc giáo dục Tăng Ni, mở rộng Hội Phật giáo về các tỉnh đều khiến cho uy tín của sư tăng ngày càng nổi trội so với cư sĩ. Vì thế, theo luật Nhân Quả, từ đó vai trò của sư tăng cũng đương nhiên vượt lên cao hơn rất nhiều trong mắt mọi người. 

Nhưng không vì thế mà Thầy xem nhẹ vai trò của cư sĩ. Những công tác Phật sự tiếp theo, ngay cả những chuyến đi xuất ngoại họp với Phật giáo Thế giới, Thầy vẫn đề nghị danh sách cư sĩ tham dự với tỉ lệ cao. Điển hình là trong chuyến đi năm 1952 đến Tokyo Nhật Bản, Thầy đã lập danh sách xin phép xuất cảnh với chỉ 03 sư tăng là Tố Liên, Trí Quang, Quảng Minh, nhưng với 08 cư sĩ đi kèm.

Như ta biết, theo định nghĩa về Sangha, Tăng già, đó là một cộng đồng của những người xuất gia theo Phật, sống hiền lành thương yêu nhau để cùng tu hành cho lý tưởng giác ngộ giải thoát.

Định nghĩa như vậy thích hợp cho những cộng đồng nho nhỏ vừa phải, ở chung một địa điểm. Còn khi nhiều cộng đồng sư tăng ở nhiều nơi muốn tạo mối quan hệ mật thiết với nhau để hỗ trợ nhau, để giữ giềng mối Phật Pháp đồng nhất khắp nơi thì buộc ta phải phát triển thành một Giáo Hội Congregation, hoặc ta phải hiểu Sangha theo một khái niệm lớn hơn nữa.

Một hình thức Sangha tự phát theo dòng phái sơn môn vẫn luôn luôn tồn tại, theo đó, từ một vị thầy có uy tín, nhiều đệ tử nối tiếp tỏa ra nhiều nơi để trụ trì và giáo hóa, nhưng vẫn giữ mối quan hệ sơn môn khắng khít với nhau. Việt Nam tồn tại rất nhiều hình thức Sangha sơn môn như vậy. Tuy nhiên, Sangha sơn môn kiểu này không ổn định vì tùy thuộc vào uy đức để lại của vị tổ ban đầu. Có những dòng phái truyền thừa rất lâu như phái Liễu Quán phát tích từ Phú Yên; nhưng cũng có những dòng phái tắt sớm vì không có đệ tử xuất gia tiếp nối.

Nhiều dòng phái sơn môn kiểu đó, nếu không được tổ chức lại thì gây nên sự phân hóa cho toàn bộ Phật giáo. Những ai có lòng với cơ đồ chung của Phật giáo đều phải trăn trở cho sự hợp nhất tổ chức tất cả sư tăng thành một mối của Giáo Hội, mà những bậc tôn túc ngày đầu chấn hưng PG đều nhắm đến. Thầy Tố Liên cũng là người đau đáu vận động tổ chức cho sự hợp nhất toàn bộ sư tăng PG như thế.

Đến đây ta lại phát hiện ra một quy luật khác. Hầu như tổ chức giáo hội thì lấy địa phương hành chính làm đơn vị, chia ra từng tỉnh, huyện; nhưng sơn môn dòng phái thì lấy chùa làm đơn vị, mà chùa của sơn môn thì chạy khắp chỗ theo duyên, chẳng có theo trật tự hành chính gì cả. Thế là từ khi có Giáo hội, ta có 2 tổ chức song song tồn tại, một theo đơn vị hành chính quốc gia, một theo sơn môn dòng phái. Các chùa vẫn vui vẻ chấp nhận mình được quản lý bởi cả hai hệ thống như thế, một bên là Giáo hội chung lớn lao hơn, một bên là tình nghĩa tổ thầy. Các chùa vẫn vui vẻ làm các bổn phận mỗi khi có sự yêu cầu từ các hệ thống quản lý đó.

Theo quy luật của Nhân Quả và cuộc sống, ta thấy rõ ai là người ban bố giúp đỡ thì tất nhiên sẽ đứng vai trò cao hơn. Mối tương quan giữa sư tăng và cư sĩ cũng chịu sự chi phối của quy luật đó.

Cư sĩ là người giúp đỡ về tài vật cho sư tăng nên rất dễ trở nên có tiếng nói nhiều ảnh hưởng đối với sư tăng, nếu, ta nhấn mạnh chữ nếu, nếu sư tăng không có đạo lý gì để ban bố làm gương trở lại cho họ. Từ một số sư tăng âm thầm lặng lẽ rải rác trong các tự viện xa xôi không gây ảnh hưởng gì nhiều cho quần chúng, bất ngờ, qua cuộc chấn hưng PG, một số vị xuất sắc bước ra và trở thành sáng chói, thu phục được sự nguỡng mộ của quần chúng. Thế là, từ một PG với vai trò cư sĩ nổi trội đã biến thành một Hội PG với vai trò sư tăng lãnh đạo vững vàng. Chính thầy Tố Liên mới 47 tuổi đã được đưa lên làm chủ tịch Hội Tăng Ni Chỉnh Lý Bắc Việt năm 1949 cũng bởi vì bản lĩnh trí tuệ của Người thật sự chinh phục lòng kính nể của đại chúng.

Sau này nhiều Tăng Ni được học hành đàng hoàng nên nhân sự cho Giáo hội không thiếu, và Giáo hội hầu như được điều hành bởi Tăng Ni. Ai cũng cho như vậy là ổn định cả nên không thắc mắc gì. Nhưng nếu xét xa hơn một chút ta sẽ thấy vấn đề không đơn giản. 

Kể từ cuộc chấn hưng PG miền Bắc cho đến tận ngày hôm nay, ta vẫn hoàn toàn không nghe nhắc đến PG khu vực Tây Bắc. Ta đã bỏ trống khu vực đó quá lâu. Một số tôn giáo nguy hiểm đang ráo riết truyền bá lôi kéo tín đồ ở đấy và đe dọa an ninh chính trị cả khu vực. Bây giờ có muốn phát triển PG về hướng đó, ta cũng không đủ Tăng Ni đảm đương công việc. Một vài Tăng Ni có phát tâm về vùng xa thì không được các vị tôn túc của Giáo hội động viên giúp đỡ nên hiệu quả chưa cao. Chùa ở đô thị hay vận động tài chánh để trùng tu xây cất lớn, nhưng ít có vị nào vận động tài chánh để ủng hộ cho Tăng Ni đang hoằng hóa ở vùng xa.

Không khác gì Tây Bắc, khu vực Tây Nguyên Trung Bộ cũng đang thiếu Tăng Ni dấn thân hoằng hóa. Một vài vị phát tâm về vùng xa thì lại không được cả Giáo hội lẫn chính quyền địa phương nâng đỡ nên gặp rất nhiều khó khăn đến nỗi có người phải bỏ về lại thành thị.

Nói chung, PG chưa “phủ sóng” toàn bộ mọi miền đất nước, và trách nhiệm trước hết thuộc về Giáo Hội. Cuộc chấn hưng PG thời bấy giờ chưa đặt nền tảng đầy đủ cho sự phát triển PG đến tận những biên giới xa xôi. Ta không thể trách các vị tôn túc thời đó được vì hoàn cảnh đất nước ta khi đó chưa cho phép, mặc dù các vị đã tận tâm toàn ý cả, mặc dù các vị đã rất bản lĩnh vững vàng. Thầy Tố Liên của chúng ta ngoài việc phải lo xây dựng Giáo hội buổi đầu, phải lo liên kết với PG hai miền trong kia, phải lo thêm công việc đối với Phật Giáo Thế Giới, phải lo hoạt động từ thiện xã hội, phải lo ủng hộ cuộc kháng chiến của cả dân tộc… Nói chung Người đã quá tận tụy, đã quá tuyệt vời, ta không thể đòi hỏi gì thêm nữa.

Bây giờ ta phải đòi hỏi chính chúng ta. Ta phải làm gì để nối tiếp công lao của các vị tôn túc thời đó đã khổ công làm công cuộc chấn hưng PG như thế? Ta phải làm gì để con cháu ta sau này được hưởng một nền Phật Pháp tốt đẹp nhất?

Trong các vấn đề ta đặt ra, có vấn đề nhân sự là cơ bản nhất. Thiếu yếu tố con người là thiếu tất cả. Không có người lo việc cho Giáo Hội thì Giáo Hội là vô nghĩa. Muốn có nhân sự đầy đủ thì ta phải chăm lo việc giáo dục, hoằng pháp, song song với việc tổ chức thực hành tu tập cho mọi người từng bước chiến thắng tham sân si trong tâm hồn mình. Có học đạo lý rồi, có được tu tập rồi, ta còn phải tạo điều kiện cho người được bắt tay làm các công đức để tăng trưởng phúc duyên nữa.

Ba điều đó, học, thực hành, và gây tạo công đức khiến cho một người lớn mạnh trưởng thành đúng nghĩa trong giáo pháp của Như Lai. Từ đó ta mới có nhân sự giỏi để chung lo việc Phật Pháp.

Nhân sự ta muốn nói ở đây là cả sư tăng lẫn cư sĩ. Chuyện Phật Pháp mênh mông, Tăng Ni không đủ để đáp ứng toàn bộ, mà phải trông cậy rất nhiều vào lực lượng cư sĩ. Nhưng muốn cư sĩ tham gia gánh vác chuyện Phật Pháp thì ta phải quan tâm một số điều.

Cư sĩ rất bận rộn lo việc gia đình và xã hội nên chỉ những cư sĩ nào rất có tâm, rất có điều kiện mới có thể tham gia hoạt động Phật sự. Cái Tâm nhiệt thành đó có được là do hiểu sâu đạo lý. Ai hiểu sâu đạo lý của Phật rồi đều sẽ trở nên nhiệt thành lo cho Phật Pháp cả. Giúp cho cư sĩ hiểu sâu đạo lý là trách nhiệm muôn đời của Giáo Hội Tăng Ni.

Còn cái điều kiện mà ta nêu ra chính là thời gian, trí tuệ và tài vật. Nhưng ta cũng muốn nói về tài vật nhiều hơn. Cư sĩ có thoải mái về kinh tế thì mới giúp chuyện Phật Pháp được. Ta sẽ đổ thừa cho Nghiệp Duyên đời trước nên bây giờ người ta phải chịu nghèo hay giàu như thế. Thật ra nếu tất cả Phật tử biết giúp nhau làm ăn thì kinh tế ai cũng sẽ khá lên cả. Và cơ hội để góp sức cho hoạt động Phật sự sẽ có nhiều hơn. Muốn cho tất cả Phật tử biết tử tế giúp nhau sinh kế thì lại cũng là trách nhiệm của Giáo Hội Tăng Ni. Tăng Ni phải giáo dục cho Phật tử biết giúp nhau làm ăn, làm giàu, vì đó là thiện nghiệp rất lớn sẽ đem đến quả phúc rất bền bĩ. 

Rốt cục lại, để cho cư sĩ có tâm và có điều kiện cũng đều phải do Tăng Ni giáo hóa cả.

Khi cư sĩ có thể tham gia rồi thì vấn đề còn lại là công việc tổ chức, phân công, tập huấn, kiểm tra, điều chỉnh, khen thưởng vân vân… 

Ta sẽ phân ra làm hai hạng cư sĩ trong đạo Phật. Một hạng cư sĩ quy y Tam Bảo nhưng không gắn bó với Giáo Hội để làm Phật sự. Một hạng cư sĩ gắn bó với Giáo Hội để tham gia Phật sự, chịu khuôn phép, biết vâng lời, gắng tu tập. 

Chính hạng thứ hai này là chỗ dựa rất đắc lực cho Giáo Hội. Giáo hội phải có một chính sách thích hợp để tập hợp những cư sĩ ưu hạng này, để phát huy năng lực của hạng cư sĩ này trong việc hoạt động Phật sự và truyền bá chính pháp. Khi cư sĩ qua một thời gian “thử việc”, có thể gắn bó lâu dài với Giáo Hội để làm Phật sự, biết vâng lời, có đạo đức, chịu khuôn phép, họ cũng phải được cấp thẻ Cư sĩ Hộ đạo chính thức, giống như Tăng Ni được cấp Giấy Tăng Tịch (Chứng nhận Tăng Ni). Hoặc là họ được thầy trú trì tại chùa bảo đảm để được Giáo Hội cấp giấy, hoặc là họ được chức sắc của Giáo Hội bảo đảm cho cấp giấy. Những ai có thẻ Cư sĩ Hộ đạo này thì cũng được quyền bỏ phiếu bầu trong những kỳ bầu cử của Giáo Hội. Giáo Hội có thể tổ chức thi cử kiểm tra trước khi cấp thẻ, giống như phần sát hạch Tăng Ni giới tử trước khi quyết định cho đăng đàn thọ giới vậy. Họ cũng phải dự lễ phát nguyện dõng mãnh trước Phật để làm một Cư sĩ Hộ đạo chân chính suốt đời, với bao nhiêu lời nguyện, bao nhiêu quy luật mà Giáo Hội đưa ra.

Phật giáo VN không thích hợp có hình thức Tân Tăng, nhưng rất thích hợp có hình thức Cư sĩ đặc biệt này cùng tham gia gánh vác Phật sự và hoằng truyền chính pháp. Con số Cư sĩ đặc biệt này cần phải đông gấp 10 lần Tăng Ni, hoặc nhiều hơn càng tốt. Sở dĩ ta đưa ra con số này vì dựa trên ý nghĩa Tăng Ni là người chỉ đạo tổng quát, còn Cư sĩ là người thực hiện. Một người xuất gia có thể lãnh đạo mười người Cư sĩ như thế, tính theo tỉ lệ trung bình.

Hiện nay Giáo Hội chưa đủ sức cúng dường cho Tăng Ni hàng tháng để hỗ trợ việc tu học và làm Phật sự của Tăng Ni, nên cũng chưa đủ sức trợ cấp sinh hoạt phí cho Cư sĩ. Ai cũng đang phải nỗ lực tự thân để vừa lo cho mình vừa lo cho việc chung, thậm chí nhiều Cư sĩ vừa tham gia hoạt động Phật sự vừa còn phải lấy tiền cúng dường cho chùa nữa. Tấm lòng đó thật đáng ca ngợi; công đức đó chắc chắn được Tam Bảo chứng minh. Nhưng ta vẫn mơ ước ngày kia Giáo Hội có được ngân quỹ dồi dào để có thể cung cấp cho các chùa, có thể trợ cấp cho các Cư sĩ đã dành hầu hết thời gian lo cho Đạo.

Vào những ngày đầu của công cuộc chấn hưng PG, bác sĩ Lê Đình Thám cùng với các cộng sự của mình có lập ra hình thức Gia Đình Phật Hóa Phổ để tập hợp giáo dục các thanh thiếu niên Phật tử, sau này gọi là Gia Đình Phật tử. Chính thầy Tố Liên của ta cũng khen ngợi hình thức này và cho triển khai ở Hà Nội, Hải Phòng. Tổ chức GĐPT này đã làm nên nhiều công lao đối với sự nghiệp chung của Phật giáo VN. Tuy nhiên, chính hệ thống dọc với các cán bộ huynh truởng độc lập đã làm cho tổ chức này dần dần trở nên xa rời Giáo Hội và Tăng Ni, thậm chí các giáo trình giảng dạy của Tổ chức đã yêu cầu các đoàn sinh phải vâng lời huynh truởng hơn cả Tăng Ni, và cũng tự ý so sánh cấp hàm của mình tương đương với giáo phẩm thượng tọa, hòa thượng. Những khuynh hướng kiêu mạn ngấm ngầm đó bây giờ để lại di chứng khó chịu đối với toàn bộ nền Phật Pháp chung.

Rút kinh nghiệm về GĐPT trên, ta sẽ tổ chức lực lượng Cư sĩ Hộ đạo không có hệ thống dọc riêng biệt, Cư sĩ nào có duyên với chùa nào thì sẽ chịu sự lãnh đạo của chùa đó. Trụ trì sẽ chịu trách nhiệm về các hoạt động của Cư sĩ do mình lãnh đạo. Chức sắc nào bảo đảm cho Cư sĩ tham gia hoạt động thì sẽ chịu trách nhiệm về Cư sĩ đó. 

Muốn cho Cư sĩ hoạt động ổn định lâu dài, Giáo hội và các chùa cũng phải sắp xếp cho Cư sĩ được tu và học có chiều sâu dần dần. Không ai có thể làm việc Phật mà thiếu đạo lực được. Thiếu đạo lực tu hành, ta sẽ làm Phật sự với đủ thứ tham sân si, hơn thua, mưu tính, danh lợi, hiềm hận, bè phái, bị mua chuộc vân vân… Ngay cả Tăng Ni mà thiếu tu thiếu học thì cũng sẽ giống như vậy mà thôi. 

Định nghĩa lại cho chính xác thì Giáo Hội chính là môi trường để đệ tử Phật nương tựa nhau, giúp đỡ nhau tu hành và truyền bá chính pháp. Giáo Hội chỉ là phương tiện cho một cứu cánh cao hơn, đó là tu hành và hoằng hóa. Nhưng trong thực tế, sau nhiều công sức vất vả để tổ chức được Giáo Hội, nhiều vị đã xem Giáo hội là cứu kính mà bỏ quên mất cứu kính thật sự chính là tu hành và hoằng hóa. Thế rồi hàng loạt các sai lầm xuất hiện khi các ngài phân biệt giáo hội, cố chấp chức vụ của giáo hội, sẵn sàng nghe theo sự xúi giục của ngoại bang nếu họ hứa hẹn ủng hộ giáo hội của các ngài, thậm chí các ngài hành xử y như thế gian với đủ thủ đoạn thêu dệt, gian dối, vu khống…

Khi bắt tay chấn hưng PG, buộc các vị tôn túc phải tổ chức giáo hội vì có giáo hội rồi thì Tăng Ni và Phật tử mới có môi trường tu hành, làm việc, học tập, và có tiếng nói đáng kể với xã hội. Nhưng rồi không khéo Giáo hội sẽ trở thành một sự cố chấp mới, một trở ngại mới nếu chúng ta quên đi ý nghĩa đích thực của giáo hội là gì. Ngày nay có một số vị chức sắc cũng lợi dụng chức vụ của mình để tham nhũng gây phiền hà cho các chùa. Họ quên mất Giáo hội chỉ là công cụ cho mục tiêu tu hành hoằng hóa. Nếu nhớ rằng giáo hội chỉ là công cụ, là môi trường cho một mục đích cao cả hơn, đó là giúp nhau tu hành và hoằng hóa thì các vị chức sắc lãnh đạo Giáo hội phải ra sức giúp đỡ Tăng Ni và Phật tử đi theo mục đích đó, giúp cho Tăng Ni Phật tử cảm nhận được tình thuơng yêu đồng đạo ấm áp thân thương. Cũng như Giáo hội sẽ đứng vai trò trung gian điều phối các chùa giúp đỡ hỗ trợ nhau trong việc tu hành hoằng hoá, khiến cho Phật giáo trở nên gắn bó hòa hợp đúng như lời Phật dạy.

Ta có 2 cực đoan cần phải tránh trong quan niệm về Giáo hội. Thứ nhất, quan niệm cho rằng mục tiêu chính là tu hành nên nếu ai đủ sức tự tu thì không cần phải gắn bó với Giáo hội. Thứ hai, cố chấp Giáo hội như là cứu cánh đến nỗi không còn xem việc tu hành là quan trọng nữa.

Cực đoan thứ nhất, không cần gắn bó với Giáo hội, lại cũng là biểu hiện của sự yếu kém đạo lực. Nếu người tu mà không thể sống hòa hợp với nhau được thì phải biết có cái gì trục trặc trong kiến giải đạo lý tu hành. Một trong những biểu hiện của đạo lực chính là sống hòa hợp với nhau dễ dàng. Sống với nhau không vui vẻ hòa ái tức là có cái gì sai với đạo lý Phật dạy, cần phải điều chỉnh lại.

Cực đoan thứ hai, xem Giáo hội là tất cả, lại là một cố chấp khác, thường hiện hữu nơi những người có chức sắc của giáo hội, tồn tại nơi những ai đã dày công xây dựng giáo hội. Họ xem tổ chức giáo hội chính là tất cả Phật Pháp, xem tên gọi giáo hội là cao quý hơn cả, cố chấp tẳn mẳn tỉ mỉ từng quy định để bảo vệ sự thực hữu của giáo hội. Đó cũng là biểu hiện của một nội tâm sai lệch đạo lý, chưa thành tựu được công phu hàm dưỡng nội tại.

Công cuộc chấn hưng PG của những vị tôn túc như Hòa thượng Tố Liên từ những thập niên đầu thế kỷ 20 đã để lại những dấu ấn mạnh mẽ trên sự phát triển của Phật Pháp đến tận hôm nay, cả 3 miền Nam Trung Bắc, nhưng thật sự thì đã có sự trở ngại chứ không phải là liên tục. Trong miền Nam, qua thời kỳ Ngô Đình Diệm với chủ trương làm suy yếu PG, rồi qua thời kỳ Nguyễn Văn Thiệu vẫn nối tiếp sách lược của Diệm (mà tác giả Đỗ Mậu đã cho rằng Thiệu cũng chính là Diệm dù không có Diệm), PG đã bị cản trở rất nhiều.

Riêng miền Bắc với việc dồn mọi nỗ lực cho chiến tranh giải phóng thống nhất đất nước, đồng thời với hệ tư tưởng Marxism thiên về Duy vật, cũng không thích hợp cho các sinh hoạt của PG. Dù hòa thượng Tố Liên yêu nước và nhiệt thành với đạo, với bối cảnh như thế Người cũng đành phải lui về nghỉ ngơi, rồi thanh thản ra đi năm 1977.

Ngày hôm nay bỗng nhiên hoàn cảnh biến đổi kỳ lạ. Đảng Cộng Sản Việt Nam tiến hành đổi mới, đưa đất nước đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giữ vững an ninh chính trị, nâng cao tăng truởng kinh tế, nâng cao vị thế uy tín của VN trên trường quốc tế, phát triển dân chủ và đời sống cho nhân dân, công nhận giá trị của đạo Phật đối với văn hóa và tinh thần dân tộc, đã khích lệ cho PG một sự tiến bộ mới… Rồi các tôn giáo với sách lược truyền bá ồ ạt để thu hút quần chúng để có thể biến thành lực lượng chính trị đã gây áp lực lên PG phải có một cuộc chấn hưng lần thứ hai nếu không muốn bị gạt ra khỏi đời sống xã hội.

Hai yếu tố đó đã thúc đẩy PG phải chuẩn bị làm một điều gì đó, rất kỳ diệu, để phát triển PG sang một tầm cao mới, xứng đáng là một tôn giáo của nhân loại như Einstein đã ca ngợi.

Cuộc chấn hưng lần thứ nhất ở đầu thế kỷ 20; cuộc chấn hưng PG lần hai lại sẽ bắt đầu ở đầu thế kỷ 21, và sẽ bắt đầu tại VN.

Những ai sẽ là người có công trong cuộc chấn hưng PG lần thứ hai này sẽ tùy thuộc vào sự đánh giá của lịch sử, sẽ tùy thuộc vào trí tuệ và công lao của những vị đó. Cuộc chấn hưng lần này sẽ gay go không kém gì lần trước vì các tôn giáo bạn với thế lực mạnh mẽ của mình sẽ không muốn cho PG cất cánh, nên sẽ có nhiều phương thức tinh vi để gây chia rẽ, gây khó khăn cho những hoạt động của PG sắp tới. Tuy nhiên ta có quyền hy vọng rất nhiều.

Xin cám ơn chư tôn và quý khách đã chú ý theo dõi. Xin chúc quý vị vô lượng an lạc.  

Thích Chân Quang
Phật Tử Việt Nam

03-29-2007 08:56

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Mười Hai 20, 2009 in Bài Giảng, Phật Giáo

 

Nhãn: ,

Quan niệm về Ông Trời của người Việt

                             Quan niệm “Ông Trời” của người Việt

Từ ngàn xưa, dân tộc Việt Nam đã có nhiều ý niệm về “Ông Trời”. Những ý niệm đó đã được bộc lộ qua các câu ca dao tục ngữ hoặc trong thi phú của giới trí thức nho học uyên thâm mà ta thường gọi là “văn chương bác học”. Tuy nhiên, muốn hiểu ý nghĩa thật sự của Ông Trời Việt Nam chúng ta cần phải khảo sát văn chương bình dân vì chỉ trong văn chương bình dân tâm hồn chất phác của nông dân Việt Nam mới được thể hiện trọn vẹn và trung thực. Đối với các nhà nho chịu ảnh hưởng văn hóa Trung quốc thì Ông Trời là “Ngọc Hoàng Thượng Đế” mà người Hoa thường lập bàn thờ để thờ, hoặc có thể là “Hoàng Thiên” như trong câu “Hoàng thiên bất phụ hảo tâm nhân”. Điểm khác biệt giữa quan niệm của người Tàu về Ngọc hoàng Thượng đế (hoặc Hoàng Thiên) với quan niệm về “Ông Trời” của người Việt Nam là người Việt không tôn trọng Ông Trời. Ngay cách gọi Trời bằng “Ông” cũng đã là một cách diễu cợt. Người Việt Nam coi Trời không hơn ông hàng xóm: “Bắc thang lên hỏi ông trời!”.

Có lẽ chỉ có người Việt nam “dám” gọi Trời bằng Ông mà thôi vì chúng ta không hề thấy một cách gọi tương đương trong các ngôn ngữ khác. Chúng ta không hề thấy người Tàu gọi “Ngọc hoàng Thượng đế” là Ngọc hoàng tiên sinh, Thượng đế tiên sinh hoặc Hoàng thiên tiên sinh…. Chúng ta cũng không hề thấy người Anh hoặc người Pháp gọi Thiên Chúa là Mr. God! Monsieur Dieu!…. Hơn thế nữa, người Việt Nam còn tỏ thái độ xem thường ông Trời qua cách gọi Trời là “Con Tạo” hoặc “Trẻ Tạo Hóa”, thậm chí còn gọi con cóc là cậu ông trời!

– “Con cóc là cậu ông trời

Hễ ai đánh nó thì trời đánh cho” (Ca dao)

– “Trẻ tạo hóa đành hanh quá ngán” (Nhị Độ Mai)

– “Đố kỵ sá chi con tạo

Nợ tang bồng quyết trả cho xong” (Nguyễn Công Trứ)

Đối với người Việt Nam bình dân, “Ông Trời” cũng tương tự như “Ông Trăng” “Ông Sao” mà thôi, tuyệt nhiên không hề có ý nghĩa là Đấng Tối Cao hoặc Đấng Toàn Năng theo quan điểm của Kitô giáo.

Một sĩ phu nổi tiếng trong Phong trào Cần Vương là Trần cao Vân đã lột tả quan niệm của ông về “Ba Ngôi” trong vũ trụ là: Trời, Đất, Người (Thiên – Địa –Nhân) có mối tương quan đồng cảm và đồng dẳng qua bài thơ sau đây:

Trời đất sinh ta có ý không?

Chưa sinh trời đất, có Ta trong

Ta cùng Trời Đất, ba Ngôi sánh

Trời đất sinh ta một chữ Đồng

Đất nứt ta ra, Trời chuyển động

Ta thay trời mở đất mênh mông

Trời che đất chở, ta thong thả

Trời, Đất, ta đây đủ hóa công.

Đối với Hồi giáo, Do thái giáo và Ki tô giáo, các tín đồ đều được gọi là “những kẻ kính sợ Chúa” (God-fearers). Trái lại, người Việt Nam bình dân không hề “sợ Trời”. Họ tin rằng nếu con người cố gắng phấn đấu cũng có thể “thắng trời” như thường:

– Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều!

hoặc cứ liều làm theo ý mình và mặc cho trời muốn làm gì thì làm:

– Cũng liều nhắm mắt đưa chân

Thử xem Con tạo xoay vần đến đâu. (Nguyễn Du)

Ý niệm thông thường nhất của người Việt Nam về “Ông Trời” chính là bầu trời xanh vật chất ở trên đầu chúng ta. Đó là môi trường thiên nhiên của mọi biến chuyển về thời tiết như mưa nắng, gió bão v.v… thể hiện nổi bật ý niệm này là bài thơ “Vịnh Ông Trời” của Nguyễn Khuyến (1835-1909):

Cao cao muôn trượng ấy là Tao

Dẫu pháo thăng thiên chẳng tới nào

Nhắn bảo dưới trần cho chúng biết

Tháng ba, tháng tám tớ mưa rào.

Khi người Việt nam nói “trời mưa”, “trời nắng” thì chỉ có nghĩa là thời tiết mưa hay nắng chứ không hề có nghĩa là “Đức Chúa Trời mưa” hay “Đức Chúa Trời nắng”!

Nguyễn Bính có hai câu thơ rất hay:

Nắng mưa là bệnh của trời

Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng

Trời của Nguyễn Bính trong câu thơ trên cũng chỉ là thời tiết mà thôi. Trong những trường hợp khác, Trời được hiểu là Luật thiên nhiên trong vũ trụ như:

– Cha mẹ sinh con, trời sinh tính

– Trời sinh, trời dưỡng

– Trời sinh voi, trời sinh cỏ

Người Việt nam bình dân cũng quan niệm “Ông Trời” như số mệnh của con người hoặc số phận được quyết định bởi những yếu tố vuợt quá tầm kiểm soát của con người, chẳng hạn như:

Ngẫm hay muôn sự tại trời (số mệnh !)

Trời kia đã bắt làm người có thân

Bắt phong trần phải phong tràn

Cho thanh cao mới được phần thanh cao

Nguyễn Du

hay:

Trời sao ăn ở chẳng cân

Kẻ ăn không hết, người lần chẳng ra

Ông Trời cũng có thể được hiểu là luật Nhân Quả, nếu ta cố gắng tu thân và có lòng nhân ái, chắc chắn sẽ gặt kết quả tốt:

Trời sinh, trời ắt đã dành phần

Tu hãy cho bền, dạ có nhân

Nguyễn Bỉnh Khiêm

– Có trời mà cũng có ta

Tu là cõi phúc, tình là dây oan (Nguyễn Du)

Trên đây là những ý niệm của người Việt nam về ông Trời đã được thể hiện qua ca dao, tục ngữ và văn chương bác học, tuyệt nhiên không có ý nghĩa là Đấng Tòan Năng hoặc Thiên Chúa của đạo Kitô. Ông Trời trong tâm thức của người Việt nam luôn luôn chân chất hồn nhiên và rất hiền hòa, hòan tòan trái ngược với Thiên Chúa trong Kinh thánh Cựu ước là một ác thần hay đúng hơn là một ác quỷ.

Vả lại, nước ta vốn là một nước nông nghiệp, truyền thống dân giả Việt nam vốn tin vào Trời như sự tuần hoàn tự nhiên của vũ trụ thiên nhiên. Người nông dân luôn luôn phải quan sát thiên nhiên để đoán trước các biến chuyển về thời tiết hầu ứng dụng vào công cuộc trồng cấy:

Trông trời, trông đất, trông mây

Trông mưa, trông gió, trông ngày trông đêm

Trông cho chân cứng đá mềm

Trời êm bể lặng mới yên tấm lòng

Khi thấy người dân Việt nam hay nói đến Trời, các mục sư Tin lành và các tu sĩ Công giáo mừng khấp khởi như bắt được vàng. Các vị này đã hết sức trổ tài hùng biện để chứng minh rằng: Mỗi khi người Việt nam kêu “Trời ơi!” chính là lúc họ kêu cứu một đấng Thiên Chúa đang làm chủ trên vòm trời xanh!

Họ trí trá ca ngợi cái kho tàng bốn ngàn năm văn hiến của dân tộc Việt nam có một giá trị cao quí nhất là niềm tin vào ông Trời. Các mục sư Tin lành và các linh mục Công giáo truyền đạo ra sức gò ép ý niệm Ông Trời Việt nam vào ý niệm Thiên Chúa của đạo Kitô. Đây là một thủ đoạn gian trá nhằm vào mục đích xiềng xích trì trệ chất phác của người dân quê Việt nam vào những cái khung cứng ngắc của niềm tin giả tạo vào Thiên Chúa của họ.

Những hành động này hoàn toàn tương phản với tâm hồn chất phác của người dân Việt vốn chỉ tin tưởng vào Thiên Nhiên và Định Mệnh con người mà thôi.

Có nhiều trí thức và tu sĩ Công giáo khai thác ý niệm Ông Trời Việt nam để truyền đạo. Chúng ta có thể nêu lên một số trường hợp điển hình sau đây:

1. Linh mục (Lm) Trần cao Tường: Trên báo “Thế kỷ 21” số 125 tháng 9/99 có đăng bài “Đạo kính tổ tiên, điểm gặp gỡ chung cho các tín ngưỡng Việt” của Lm Trần cao Tường. Trong bài này, Lm Tường cố ý xuyên tạc đạo hiếu và Ông Trời để phục vụ cho mục tiêu truyền đạo. Lm Tường viết: “Có thể nói, niềm tin vào ông Trời đã có sẵn trong tâm thức người Việt trước cả khi các tôn giáo du nhập…” Cuối cùng, Lm Tường cố ý gán ghép ý niệm Ông Trời (tức Thiên Nhiên) của dân tộc Việt với ý niệm Thiên Chúa của đạo Kitô (The Christian God). Khi gán ghép như vậy, Lm Tường đã tự tố cáo sự hiểu biết nông cạn của mình vì thực sự ông ta không hiểu gì về sự khác biệt như nước với lửa giữa Ông Trời Việt nam và Thiên Chúa ba ngôi của đạo Kitô. Tôi sẽ phân tích rõ về sự khác biệt ở phần cuối bài này.

2. Trí thức Công giáo Nguyễn huy Lai: Ông lai là một trí thức Công giáo sinh trưởng tại Hà nội. Cuối thập niên 1920 ông du học tại Paris và đậu tiến sĩ luật năm 1935. Trong đầu thập niên 1930, ông viết sách “La Tradition Religieuse Spirituelle Sociale au Vietnam” (Truyền thống Tôn giáo Tâm linh Xã hội tại Việt nam) nhưng đến năm 1981 sách này mới được xuất bản lần đầu tại Pháp. Ông Lai qua đời năm 1992 tại VN, thọ 84 tuổi.

Báo Đất mẹ (số 103, tháng 2/2003, trang 23) trích dịch một phần sách của ông Lai, trong đó có đoạn viết: “Ông Trời được người Việt nam tôn kính không phải là một ông thần hộ mệnh mà là một Thiên Chúa Ngôi vị (Dieu personnel / Thiên Chúa Ba ngôi) ngự trị trên các tầng trời”. Trường hợp của trí thức Công giáo Nguyễn huy Lai cũng như Linh mục Trần cao Tường nói trên, cả hai đều không nhận ra sự khác biệt sâu xa giữa Ông Trời Việt nam và Thiên Chúa của đạo Kitô (tức Thiên Chúa Ba ngôi). Đây là sự khác biệt như hai thái cực tương phản khiến cho không một ai có thể đồng hóa được.

3. Linh mục Giuse Trương đức Kỷ tức Cao phương Kỷ, giáo sư môn thần học tại nhiều chủng viện Việt nam và Hoa kỳ, tác giả sách “Thiên Chúa giáo và Tam giáo”, 536 trang, xuất bản tại Mỹ năm 2000. Đây là một cuốn sách triệt để khai thác và xuyên tạc ý niệm Ông Trời để phục vụ cho nhu cầu truyền đạo Kitô.

Trong Lời giới thiệu, Lm Trần công Nghị (thuộc Hội đồng Chỉ đạo Liên tôn) đã viết về tác giả của cuốn sách như sau: “Sọan giả nêu ra những chân lý chung làm nền tảng mà bất cứ giáo phái nào cũng công nhận… mẫu số chung cho các tín ngưỡng của người Việt nam là niềm tin ở Ông Trời, tức Đấng Siêu Việt”.

Rõ ràng một điều là cả Lm Trần công Nghị lẫn Lm Cao phương Kỷ đã cương ẩu vì trong ca dao tục ngữ cũng như trong thi phú Việt nam chẳng có câu nào ca ngợi Ông Trời là “Đấng Siêu Việt” cả. Ngay danh xưng “Ông Trời” cũng đã hàm ý – phủ nhận cái ý nghĩa “Đấng Siêu Việt” rồi, vì liệu Lm Cao phương Kỷ có thể gọi Đấng Siêu Việt là “Ông Siêu Việt” được không? Nếu coi Trời là Đấng Siêu Việt thì tại sao người Việt nam lại gọi Trời là Con Tạo, Trẻ Tạo Hóa, con cóc là cậu ông Trời? Chẳng lẽ con cóc là cậu của Đấng Siêu Việt?

Nơi trang 4 sách dẫn chiếu, Lm Cao phương Kỷ ca ngợi cố đạo Alexandre de Rhodes là người am trường tín ngưỡng đặc biệt của Việt nam: “Cha Đắc Lộ đề cao niếm tin cổ truyền ở một Vị Thần Siêu Việt mà dân chúng thường kêu xin là Ông Trời.”

Quả thật, Đắc Lộ đã sáng tác ra danh từ “Đức Chúa Trời” và y là người đầu tiên xử dụng danh từ này trong nhiều trường hợp:

– Đắc Lộ lập ra hội “Nhà Đức Chúa Trời” có mục tiêu đào tạo các thầy giảng cho giáo hội Việt nam.

– Đắc Lộ dịch sách giáo lý bằng tiếng La-tinh “Cathéhismes” ra tiếng Việt, đó là sách “Phép giảng tám ngày cho kẻ muốn chịu phép rửa tội mà vào đạo thánh Đức Chúa Trời.”

– Đắc Lộ thay thế tiếng “Chúa Dêu” phiên âm từ tiếng La-tinh “DEUS” bằng danh từ “Đức Chúa Trời” trong các bài kinh nguyện của Việt nam. Thí dụ như kinh Kính Mừng trước kia được phiên âm từ tiếng La-tinh như sau: “Ave Maria, đầy ga-ra-xi-a, Đức Chúa Dều ở cùng bà…”.

Đắc Lộ là người đầu tiên đưa đạo Công giáo hội nhập vào văn hóa Việt nam bằng cách mô phỏng danh từ “Ông Trời” để sáng chế ra danh từ “Đức Chúa Trời” đã trở thành rất thông dụng trong quần chúng Công giáo Việt. Nhưng Đắc Lộ đã thất bại khi gò ép chứng minh Ông Trời là “Vị Thần Siêu Việt” mà Linh mục Cao phương Kỷ muốn chúng ta hiểu là Thiên Chúa của đạo Kitô (Christian God).

Trong thực tế, Matteo Ricci ở Trung-Quốc và cố đạo Đắc Lộ tại Việt nam đều không dám đề cập đến Thiên Chúa của đạo Kitô là Thiên Chúa Ba ngôi (Christian Gos is Trinity God) trong các sách giáo lý của họ. Bởi lẽ Thiên Chúa Ba ngôi là một thứ “toán học kỳ quặc”: Ba là Một, Một là Ba. Jesus là Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người, đồng thời cũng là Đức Chúa Cha tạo thành vũ trụ vạn vật và cũng là Đức Chúa Thánh thần, chồng của mẹ ông. Nói đúng hơn, Thiên Chúa Ba ngôi là một quái thai tư tưởng mà bản thân Matteo Rici và Alexandre de Rhodes cũng không hiểu nổi và cũng không thể giảng giải cho người khác hiểu được. Vì thế họ đành phải câm miệng.Tuy nhiên, Alexandre de Rhodes nhận thấy người Việt có phong tục ăn mừng suốt ba ngày trong dịp tết Nguyên đán nên y thực hiện quỉ kế là khuyên giáo dân dành ba ngày tết để tôn thờ Thiên Chúa Ba ngôi: Ngày mồng một tết tôn thờ Đức Chúa Cha, ngày mồng hai tôn thờ Đức Chúa Con (tức Jeus) và ngày mồng ba tôn thờ Đức Chúa Thánh thần. Trải qua trên ba thế kỷ, nhiều giáo xứ Công giáo Việt nam hiện vẫn còn giữ tập tục tôn thờ Thiên Chúa Ba ngôi trong ba ngày tết. Hành động này đã khiến cho giáo dân Việt nam mặc nhiên chấp nhập tín điều Thiên Chúa Ba ngôi mà không cần phải dùng lý trí để phân biệt đúng sai.

Tiếp tục tán láo trong chiều hướng gò ép nhằm cưỡng chế người đọc phải hiểu Ông Trời là Thiên Chúa, Linh mục Cao phương Kỷ viết: “Theo truyền thống cố hữu của dân tộc Việt nam thì niềm tin vào một Đấng Bề Trên đã được biểu lộ trong nghi lễ tế tự, ca dao tục ngữ, văn thơ và đặc biệt trong lời kêu cứu cầu xin chân thành đặt hết ước vọng của cuộc đời vào sự quan phòng của Ông Trời (sđd, Thiên Chúa giáo và Tam giáo, trang 387); “con người hướng tâm linh lên một Quyền lực Thiêng liêng làm chủ tể muôn loài…. đầy tình thương xót, có thể lắng nghe những lời cầu kinh:

Lạy Trời mưa xuống

Lấy nước tôi uống

Lấy ruộng tôi cầy

Lấy dầy bát cơm,

Lấy rơm đun bếp.”

(sđd, trang 392)

Linh mục Cao phương Kỷ đã trắng trợn cưỡng đoạt bài ca dao Việt nam “Lạy Trời mưa xuống” và biến nó thành một bài kinh nguyện (prayer) của đạo Công giáo!

Linh mục Kỷ nên nhớ rằng: tuyệt đại đa số dân Việt là những nhà nông, chuyện nắng mưa là vấn đề sinh tử đối với họ. Bài ca dao nói trên chỉ mô tả ước vọng của nông dân Việt nam mong sao cho mưa thuận gió hòa để họ được mùa và có gạo mà ăn. Đơn giản chỉ có vậy thôi! Khi người nông dân Việt nam nói: “Lạy Trời mưa xuống, lấy nước tôi uống, lấy ruộng tôi cày…” họ không hề quì gối chấp tay với nét mặt thẩn thờ mất trí như khi người Công giáo đọc kinh cầu Chúa. Vậy không thể nói người nông dân Việt nam “cầu kinh” với ông Trời!

Trong suốt cuốn sách dầy trên 500 trang, Linh mục Cao phương Kỷ luôn luôn bẻ cong ngòi bút để viết những lời cường điệu thô bỉ khiến người đọc phải “lợm giọng”. Tôi thật sự phải “lợm giọng” khi đọc những dòng sau đây:

“Lịch sử của vũ trụ, của nhân loại cũng là lịch sử Cứu Độ, vì tất cả mọi sự hiện hữu đều do Đấng Cứu Thế (Jesus) mà có. Không có Đấng Cứu Thế thì không có vũ trụ, không có lịch sử, không có nhân loại, nhân sinh.” (Sách đã dẫn, trang 113)

Tôi không biết trình độ trí thức của Linh mục Cao phương Kỷ tới mức nào mà viết lời ca ngợi Jesus như lời của một kẻ mê sảng: “Tất cả mọi sự hiện hữu đều do Jesus mà có”. nếu quả thật như vậy thì chuyện Jesus chết trên thập giá chỉ là một trò hề vì cây thập giá và đoàn quân La mã đóng đinh y trên núi Sọ đều là những sản phẩm do y tạo ra, tất cả đều do Jesus sinh ra và do y hoàn toàn làm chủ. Vậy làm sao y có thể là một nạn nhân phải chịu cực hình để chuộc tội thiên hạ? Ngay cả mẹ của Jesus cũng do Jesus đẻ ra hay sao?

Tôi mong Linh mục Cao phương Kỷ và Linh mục Trần công Nghị (cả hai đều là tiến sĩ thần học) hãy bình tâm coi lại Thánh kinh Tân ước, chỉ cần tìm ra vài câu nói điển hình của Jesus cũng đủ thấy Jesus là một kẻ khùng:

Nếu không phải là kẻ khùng thì tại sao Jesus lại dạy tín đồ: “Phúc cho ai không thấy mà tin”? Cái giá trị cao nhất khiến con người “linh ư vạn vật” là trí tuệ, vậy muốn xứng đáng làm người thì phải biết xử dụng trí tuệ suy xét mọi việc trước khi tin vào bất cứ điều gì. Jesus dạy tín đồ vứt bỏ cái giá trị quí báu nơi con người là trí tuệ để nhắm mắt tin bừa vào những điều y nói. Vậy y chẳng phải là một kẻ khùng hay sao?

Phải chăng hai tiến sĩ thần học Cao phương Kỷ và Trần công Nghị đã vâng theo “Lời u mê” mà vất bỏ trí tuệ của mình để viết nên cuốn sách “Thiên Chúa giáo và Tam giáo” và viết lời giới thiệu cho cuốn sách “cỏ rác” này?

Truyền thống cao quí của dân tộc Việt nam từ xưa đến nay là Đạo Hiếu. Nói đúng hơn, đó là truyền thống biết ơn các đấng sinh thành, các bậc tổ tiên và còn nới rộng ra tới các vị anh hùng dân tộc nữa. Vì thế mới có bàn thờ gia tiên trong mỗi gia đình, có đền thờ tổ, đền thờ Hai Bà Trưng, đền thờ Đức Thánh Trần v.v… Nhưng Jesus hoàn toàn không biết đến đạo hiếu là gì. Jesus đã công khai dạy các tín đồ của y như sau: “Bất cứ kẻ nào đến với ta mà không thù ghét cha mẹ vợ con và anh chị em, thậm chí không ghét bỏ cuộc sống của chính nó, thì không thể là môn đệ ta” (If any man comes to me and hate not his father, and mother, and wife, and children, and brother, and sisters, yea, even his own life, he can not be my discipline – Luke 14:26).

Vậy những kẻ tự xưng là tín đồ đạo Kitô (Christians) phải là những kẻ đại bất hiếu vì nếu không thù ghét cha mẹ thì không thể là môn đệ của Jesus! Chẳng những thế, họ còn phải thù ghét vợ con (bất nghĩa) và ghét cả anh chị em họ hàng (bất nhân) nữa! Thiên Chúa của đạo Kitô dạy các tín đồ những điều vô giáo dục như vậy sao? Vậy chính Jesus là tác giả của lời dạy đó là người như thế nào, nếu không phải là một người vô giáo dục? Theo tôi, nếu Jesus quả thực đã thốt ra những lời như vậy thì ông là một kẻ khốn nạn.

Ngoài ra, Jesus còn tuyên bố: “Ta không đem hòa bình cho thế gian nhưng chỉ mang gươm giáo mà thôi” (I came not to send peace to the world, but a sword – Revelation 22:11). Riêng về điều này thì Jesus nói đúng vì từ ngày có đạo Kitô đến nay, trên 200 triệu người đã bị giết chết bởi những dàn hỏa, các cuộc thập tự chinh và các cuộc chiến tranh do Kitô giáo trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra (Deceptions and Myth of the Bible – Lloyd M. Graham, p. 463).

Jesus đã hiển nhiên là một kẻ khùng, và là một kẻ gieo tai họa cho nhân loại như lời tự thú của chính hắn. Vậy Jesus có đáng được chúng ta tôn thờ hay chỉ đáng cho chúng ta “phỉ nhổ”?

Tôi yêu cầu Linh mục Cao phương Kỷ hãy lên tiếng trả lời câu hỏi này. Nếu linh mục khẳng định “Jesus đáng cho chúng ta tôn thờ” thì ông là một người đã mất hết lý trí và niềm tin của ông chỉ là một đức tin mù (a blind faith) ! Thật sự ông chỉ là một kẻ đáng thương hại mà thôi. Dầu sao chăng nữa tôi cũng nhận thấy Lm Cao phương Kỷ là một “trí thức” rất thông thạo Anh ngữ vì ông đã từng là giáo sư thần học tại nhiều chủng viện Công giáo Hoa kỳ nên tôi khuyên ông hãy tìm đọc cuốn sách best-seller của sử gia nổi tiếng Lloyd M. Graham, đó là cuốn Deceptions and Myths of the Bible. Mong ông hãy bình tâm suy nghĩ về những lời khuyên chí lý và chí tình của tác giả:

– “Hiểu đúng là do biết đúng chứ không do lòng tin” (Right understanding comes from knowing, not just believing. Page 419).

– “Cái gọi là Đức Tin chỉ là niềm tin vào cái không biết. Cái không biết cũng là cái không có thật. Đức tin vào cái không biết và không thật là sự điên rồ. Đó chỉ là niềm tin vào những sự phỏng đoán ngu ngốc của kẻ khác” (Faith is belief in the unknown. But since the unknown is likely the unreal also. Faith in the unknown is foolishness, only belief in other believers’ ignorant asumptions – page 413).

Nếu ông còn chút lương tri, chắc chắn ông sẽ nhận ra Lloyd M. Graham là vị thầy dạy về Đức Tin Thông Minh (Intelligent Faith) còn Jesus là một “kẻ khốn nạn” đã dậy các tín đồ và tông đồ của nó một thứ Đức Tin Mù (Blind Faith):

Phúc cho ai không thấy mà tin”!

(độc giả có thể tìm đọc hai trang viết tay rong bài viết Công giáo là Đạo Thờ Bò Cải Biến trong cuốn “ Thực Chất Đạo Công giáo và các Đạo Chúa” do GĐ xuất bản, Xuân 2003 – từ các trang 89-111).

Lịch sử đã chứng minh: Thiên Chúa Ba Ngôi là sản phẩm của công đồng Nicea nhằm tôn Jesus lên làm Ngôi Hai Thiên Chúa. Chính cái tín điều quái gở này đã phát sinh ra hai hệ quả sau đây:

1. Về ngoại hình, Thiên Chúa là một “quái vật ba đầu” gồm có đầu bò El (Chúa Cha) đầu Jesus (Chúa Con) và đầu con chim bồ câu (Chúa Thánh Thần).

2. Về đức hạnh, tín điều Thiên Chúa Ba ngôi đã biến Jesus thành một đứa con loạn luân với mẹ ruột y. Chẳng cần phải tìm bằng cớ ở đâu xa: Trong sách Chứng nhân Hy Vọng (trang 293) tác giả là Hồng y Nguyễn Văn Thuận đã viết về mối tương quan giữa bà Maria với ba ngôi Thiên Chúa như sau:

“Là nữ tử của Thiên Chúa Cha, Đức Mẹ đã trở thành mẹ của Ngôi Lời Nhập Thể (Jesus / Chúa Con) và là hiền thê của Chúa Thánh Thần”. Vì cả ba ngôi chỉ là một Thiên Chúa Duy Nhất (Tam Vị Nhất Thể) nên cùng một lúc bà Maria là con gái, mẹ, và vợ của Jesus. Ngược lại Jesus cùng một lúc vừa là Cha, là Con và là chồng của bà Maria. Nếu đã tin vào tín điều Thiên Chúa Ba ngôi thì đương nhiên phải tin Jesus là một thằng con mất dạy vì y đã loạn luân với mẹ ruột của y. Tôi thách đố toàn giáo hội Công giáo Việt nam phản bác lại điều này.

Ngoài ra, theo đúng tinh thần của Cựu ước thì Chúa Cứu Thế phải là người thuộc dòng dõi của vua David. Nếu Jesus là Chúa Cứu Thế thuộc dòng dõi David thì không thể là Con của Chúa Thánh Thần. Nếu thuộc dòng dõi vua David thì Jesus phải là con ruột của Giuse và như vậy thì bà Maria đã bị mất “chữ trinh đáng giá ngàn vàng” !

Ngược lại, nếu Jesus là con của Chúa Thánh Thần thì y không thể là Chúa Cứu Thế vì y không thuộc dòng David. Và như vậy Jesus cũng chẳng phải là Thiên Chúa mà chỉ là người thường như chúng ta. Vậy tại sao phải tôn thờ Jesus?

Tục ngữ Việt nam có câu “dấu đầu hở đuôi” để lột tả cái hậu quả đương nhiên của những kẻ chuyên môn dối trá bịp bợm. Dù sớm hay muộn, những điều dối trá cuối cùng cũng bị lật tẩy mà thôi.

Công cuộc lật tẩy mọi dối trá bịp bợm của Kitô giáo – gồm cả Công giáo lẫn Tin lành – là nhiệm vụ hàng đầu của mọi chiến sĩ văn hóa chân chính của dân tộc Việt nam trong giai đoạn hiện tại. Phơi bày bộ mặt thật, bỉ ối của Kitô giáo trước công luận rộng rãi trong và ngoài nước là một phương cách hữu hiệu để cứu nguy dân tộc và bảo vệ tiền đồ văn hóa của Tổ quốc.

Một trong những thái độ cần thiết của người chiến sĩ văn hóa là phải tự coi mình như một người lính gác giặc, luôn luôn đề cao cảnh giác để kịp thời phát hiện mọi tên gián điệp văn hóa của địch. Trong số các chiến sĩ văn hóa hàng đầu trong lãnh vực này, chúng ta phải kể đến nhà nghiên cứu văn hóa chính trị Lê trọng Văn qua nhiều tác phẩm của ông, đặc biệt là cuốn “Lột Mặt Nạ Những Con Thò Lò Chính Trị”, 455 trang, do tác giả xuất bản tại hải ngoại năm 1991. Tác giả đã dành ra 100 trang sách để lột mặt nạ tên gián điệp đội lốt thầy tu là Linh mục Lương kim Định trong nhiệm vụ thực hiện y khuôn sách lược lừa bịp của Vatican. Tác giả đã chỉ cho chúng ta thấy rõ cái thủ đoạn rất quen thuộc của bọn gián điệp là “tìm cách hòa đồng để rồi đồng hóa”. Điểm mặt những tên gián điệp văn hóa theo những tiêu chuẩn nói trên, tôi nhận thấy có hai tên đáng chú ý là:

1. Linh mục Cao phương Kỷ thuộc Dòng Đồng Công ở Carthage, bang Missouri, Mỹ, tác giả cuốn “Thiên Chúa giáo và Tam Giáo” mà tôi đã trình bày sơ lược ở phần trên của bài viết này. Nhân tiện tôi cũng xin nói thêm vài điều về Dòng Đồng Công. Dòng tu này được thành lập tại Bùi Chu vào đầu thập niên 1940 do lệnh của Giáo hoàng Pio XII. Chúng ta đã biết Pio XII đã nối tiếng là tên tội phạm chiến tranh đứng hàng thứ hai sau Hitler. Tên giáo hoàng phát xít này rất muốn công bố tín điều: “Đức Mẹ Đồng Công cứu cuộc” (the dogma of Co-Redemtrix) nhưng y đã không thực hiện được vì gặp phải những phản ứng mãnh liệt của Anh giáo, Chính thống giáo và các giáo phái Tin lành. Họ lý luận rằng: Chỉ một mình Jesus Christ có tư cách Thiên Chúa cứu chuộc loài người và Chúa không cần tới sự cộng tác của bất cứ ai, kể cả bà Maria, để hoàn thành công cuộc Cứu độ. Tín điều “Đức Mẹ Đồng Công cứu chuộc” đã làm hạ giá Chúa Jesus và là “chiếc đinh cuối cùng đậy nắp hòm của sự hòa giải giữa các giáo phái Kitô” (Newsweek số ra ngày 25-8-1997).

Do đó, Vatican đã phải tạm hoãn việc công bố tín điều Đức Mẹ Đồng Công nhưng đồng thời tìm nhiều phương cách chuận bị dư luận để sẽ công bố tín điều đó khi có cơ hội. Một trong những phương cách chuẩn bị dư luận là Vatican chỉ thị cho địa phận Bùi Chu lập ra dòng tu mang danh hiệu “Đức Mẹ Đồng Công Cứu chuộc”, gọi tắt là dòng Đồng Công – Pio XII và đồng bọn tại Vatican trong thời kỳ Đệ nhị Thế chiến đa số là người Đức rất hiếu chiến và cuồng tín cực đoan.

Tập đoàn phe cực đoan của Pio XII đã bị Gioan XXIII loại trừ khỏi giai cấp lãnh đạo chóp bu ở Vatican trong Công đồng Vaticano II năm 1962. Dòng Đồng Công là cặn bã của phe Pio XII còn rơi rớt lại đến ngày nay. Mặc dầu như rắn mất đầu nhưng những thày tu của dòng này vẫn giữ nguyên bản chất cuồn tín cực đoan rất nguy hiểm trong nghề gián điệp văn hóa. Tôi thiết nghĩ việc loại trừ mọi sinh hoạt của dòng Đồng Công dưới bất cứ hình thức nào tại Việt nam là điều cần thiết. Cuốn sách “Thiên Chúa giáo và Tam Giáo” của Cao phương Kỷ là một sản phẩm văn hóa của dòng tu phản động này.

2. Linh mục Trần công Nghị là người viết Lời giới thiệu cho cuốn sách của Cao phương Kỷ nói trên. Nghị sinh tại Phát Diệm, được gửi đi du học tại Rome năm 1967, thụ phong linh mục năm 1971 cũng tại Rome và được gửi đi du học tiếp tại Mỹ, sau đó trở lại Rome để lấy bằng Tiến sĩ Thần học. Trong thập niên 1990, Lm Nghị được cử làm đại diện cộng đồng Công giáo Việt nam tại địa phận Los Angeles. Từ 1997, Lm Nghị trở thành chủ nhiệm báo Dân Chúa kiêm Giám đốc VietCatholic Network (vietcatholic.net) với sự cộng tác của trên 200 linh mục và trí thức Công giáo (báo Công giáo Viet Tide số 55 tháng 8/2002, trang 20).

Để kết thúc bài viết này, tôi xin minh xác với quí vị độc giả về ba điều sau đây:

Điều thứ nhất: Xác định vấn đề ngôn từ và sự thật

Như đã nói ở đoạn trên, chiến sĩ văn hóa Lê trọng Văn đã chỉ cho chúng ta thấy thủ đoạn quen thuộc của bọn gián điệp văn hóa của Vatican là “Tìm Cách Hòa Đồng Để Rồi Đồng Hóa”. Linh mục Cao phương Kỷ đã áp dụng đúng thủ đoạn này trong cuốn sách “Thiên Chúa giáo và Tam Giáo” của y: Trước hết, y vận dụng và xuyên tạc ca dao tục ngữ Việt nam để ngụy biện cho rằng Ông Trời Việt nam là Đấng Siêu Việt. Bước kế tiếp, y xử dụng môn thần học nhảm nhí của Vatican để chứng minh Jesus chính là Đấng Siêu Việt đó:

– “Tất cả vạn sự vạn vật đều vận chuyển theo một chiều hướng là quy tụ lại nơi Chúa Cứu Thế (tức Jesus) như tâm điểm và tuyệt đỉnh của vũ trụ”, trang 168.

– “Chỉ nhờ vào đời sống và sự chết của Chúa Jesus mà nhân loại được tha tội và hy vọng được hưởng phúc trường sinh”, trang 171.

– “Nhân loại và vũ trụ đang biến hóa theo chiều bản vị hóa và đang đồng qui vào ngôi Vị Tối Cao, chính là Chúa Cứu thế (tức Jesus)”, trang 351.

– “Lịch sử của vũ trụ, của nhân loại cũng là lịch sử cứu độ vì tất cả mọi sự hiện hữu đều do Đấng Cứu Thế (Jesus) mà có. Không có Đấng Cứu Thế (tức không có Jesus) thì không có vũ trụ, không có lịch sử, không có nhân loại”, trang 113.

Tất cả những lý luận thần học ngu xuẩn nói trên chỉ là những lời nói vu vơ và hoàn toàn rỗng tuếch vì không có một cơ sở lý luận nào cả và tuyệt nhiên không có bằng cớ nào để chứng minh.

Có gì chứng minh là “vạn sự vạn vật đều qui tụ vào Chúa Cứu Thế Jesus như tuyệt đỉnh của vũ trụ”? Liệu có gì chứng minh là Jesus hiện đang còn sống để cho “vạn vật qui tụ” vào y như tâm điểm? Lịch sử khách quan chứng minh rằng: Tất cả các tử tội do La mã xử tử bằng cách đóng đinh trên thập giá đều bị vứt xác cho kên kên, ác thú và chó rừng ăn thịt. Tuyệt đối không có một xác tử tội nào được trao cho người nhà đem về chôn. Việc chôn xác Jesus trong hang đá rồi sau đó vài ngày Jesus sống lại lên trời để rồi sẽ xuống thế gian lần thứ hai trong ngày tận thế … là chuyện hoang đường tồi tệ và khốn nạn nhất trong lịch sử văn hóa của nhân loại.

Cái tư tưởng ngu xuẩn cho rằng “vạn vật đều qui tụ vào Jesus như tâm điểm vũ trụ” hoặc “nhân loại và vũ trụ đang biến hóa theo chiều bản-vị-hóa và đang đồng qui vào Ngội Vị Tối Cao, chính là Chúa Cứu Thế Jesu”…. chỉ có thể có trong những đầu óc thần học như Cao phương Kỷ, Trần công Nghị. Đầu của bọn ngu xuẩn này chẳng khác gì đầu tôm vì không có óc mà chỉ có phân mà thôi.

Bọn gián điệp ngu xuẩn này chẳng có một mục tiêu nào khác hơn là xử dụng các ngôn từ thần học hoang tưởng nhằm lường gạt những đồng bào ngờ nghệch dại khờ để xiềng xích trí tuệ của họ vào niềm tin Jesus là Đấng Siêu Việt và cũng là Ông Trời Việt nam.

Để đập tan luận điệu thần học vu vơ hoang tưởng của tên gián điệp Cao phương Kỷ, tôi đã chứng minh ca dao tục ngữ Việt nam không có một câu nào nói Ông Trời là “Đấng Siêu Việt”. Đồng thời tôi cũng chứng minh rằng: Jesus chẳng bao giờ là Đấng Siêu Việt, trái lại Jesus chỉ là một kẻ khùng, một kẻ khốn nạn, một kẻ mất dạy loạn luân với mẹ của y, một kẻ ngu như bò và y cũng là một kẻ gieo tai họa lớn nhất cho nhân loại.

Bọn linh mục ngu xuẩn làm gián điệp văn hóa cho Vatican xử dụng tòan những ngôn từ trống rỗng và vô nghĩa để lừa gạt những người nhẹ dạ cả tin. Trái lại, tôi xử dụng những ngôn từ thoạt đầu nghe chói tai nhưng nghĩ cho kỹ sẽ thấy những ngôn từ đó phản ảnh sự thật:

– Phúc âm Tân ước Mattew 1:18-24 nói về thiên thần Gabriel đến báo tin về việc giáng sinh của Jesus: “Này, một trinh nữ sẽ mang thai và sẽ sinh ra một con trai và sẽ được đặt tên là Emmanu-El” (Behold, a vurgin shall be with child and shall bring forth a son and they shall call his name Emmanuel).

Theo ngôn ngữ tiếng Hebrew thì Emmanuel có nghĩa là “Con bò El ở cùng chúng ta” (El with us – xin đọc thêm “Công giáo là đạo thờ bò cải biến” trên trang nhà GĐ tháng 6/2003). Chính Kinh thánh của đạo Kitô đã xác nhận Jesus là một con bò . Dù là bò đực, bò cái, bò mộng hay bò thần thì cũng là bò. Vậy tôi nói “Jesus là một thằng ngu ‘như bò’ vẫn còn nhẹ hơn là ‘một con bò ở cùng chúng ta : Emmanu-El)!

– Khi trình bày về mối tương quan giữa bà Maria và Thiên Chúa Ba ngôi ở đoạn trên, chúng ta đã thấy Jesus cùng một lúc vừa là cha, vừa là con và cũng là chồng của bà Maria! Vậy, theo đúng giáo lý Kitô giáo, Jesus đích thị là một đứa mất dạy loạn luân với mẹ. Nếu tín đồ Kitô giáo nào muốn phủ nhận cái sự thật đáng xấu hổ này thì họ chỉ có một con đường duy nhất là phủ nhận Thiên Chúa giáo ba ngôi và phủ nhận tính cách Thiên Chúa của Jesus, ngoài ra họ không còn con đường nào khác!

– Tôi đã căn cứ vào những lời của Jesus ghi trong Tân ước như: “Phúc cho ai không thấy mà tin”, “Ai không thù ghét cha mẹ, vợ con, anh chị em mình thì không xứng đáng là môn đệ ta….” Tôi khẳng định những lời trên đây đã thốt ra từ một thằng khốn nạn, một đứa vô giáo dục hoặc nhẹ nhất là thằng khùng! Tôi thách thức bất cứ ai không đồng ý với những ngôn từ tôi xử dụng để phản ảnh những thuộc tính của Jesus theo “Thánh kinh” hoặc giáo lý của đạo Kitô… thì xin hãy lên tiếng. Tôi thật sự cầu mong có một cuộc tranh luận rộng rãi về vấn đề này để mọi sự thật về Kitô giáo, cũng như về cá nhân Jesus, sẽ được sáng tỏ hơn nữa trong dư luận quần chúng trong và ngoài nước.

Điều thứ hai: Xác định giới hạn cho công việc truyền đạo của các người truyền giáo Kitô.

Khi nói “các người truyền giáo Kitô” là tôi muốn nói đến tất cả các tu sĩ Công giáo, các mục sư và các người làm công tác truyền giáo của đạo Tin lành (missionaries). Chúng ta cần nói cho họ biết: mọi người đều có quyền tự do tín ngưỡng nghĩa là muốn tôn thờ ai thì thờ, nhưng tự do tín ngưỡng không có nghĩa là tự do truyền đạo. Rất nhiều nước đã ban hành những đạo luật nhằm hạn chế việc truyền đạo, nhất là đối với Công giáo và Tin lành. Chẳng hạn như ở Nga thời Yelsin đã có đạo luật cấm truyền đạo Công giáo và Tin lành. Do thái cấm truyền đạo Kitô với hình phạt dành cho người vi phạm là 5 năm tù và 4200 đôla tiền phạt. Mới đây nhất, tại Ấn độ là nước có đa số dân theo Ấn giáo, mới ban hành đạo luật cấm cải đạo sang Kitô giáo (New anti-conversion laws in Hindu – majority India – Houston Chronicle, Saturday April 19, 2003, page 6E).

Các người Công giáo hay Tin lành muốn đưa Jesus lên Ngôi Hai Thiên Chúa hoặc đấng Siêu Việt, đấng Toàn Năng v.v… là quyền của họ. Nhưng những người truyền đạo Ktiô không có quyền bóp méo, xuyên tạc ý niệm Ông Trời của người Việt nam để cuối cùng gán ghép Ông Trời với Thiên Chúa Siệu Việt của đạo Kitô. Các người không được phép xử dụng những ngôn từ thần học mập mờ, huênh hoang, lươn lẹo để lừa gạt đồng bào và lôi kéo họ vào bóng tối tâm linh để cuối cùng biến họ thành tay sai mù quáng cho ngoại bang. Tất cả các âm mưu đen tối của các người đều sẽ bị các chiến văn hóa yêu nước theo dõi, phát hiện và sẽ giáng trả bằng những đòn đích đáng.

Điếu thứ ba: Xác định thái độ kiên quyết, không khoan nhượng đối với bọn gián điệp văn hóa lưu manh và ngoan cố.

Luôn luôn đề cao cảnh giác để sớm phát hiện những âm mưu phá hoại của bọn gián điệp là điều cần thiết tiên quyết nhưng sau đó chúng ta lại ngập ngừng hay e dè chẳng làm gì cả hoặc chỉ hành động hời hợt thì kết quả cũng chỉ là con số không. Chúng ta cần phải khẳng định rằng: bọn gián điệp văn hóa của Vatican hay của đế quốc Tin lành đều là bọn Việt gian cuồng tín, vọng ngoại, chuyên dùng các thủ đoạn lưu manh lừa gạt đồng bào để mở rộng nước Chúa, thực chất là mở rộng lãnh thổ của đế quốc. Bọn chúng đều là những kẻ thù nguy hiểm của dân tộc Việt nam. Do đó, thái độ thích hợp nhất đối với kẻ thù là chúng ta phải đấu tranh với chúng một cách kiên quyết không khoan nhượng nhằm mục đích cuối cùng là loại trừ hết mọi thứ “độc tố văn hóa” mà bọn chúng đã gieo rắc trên đất nước ta từ trước tới nay.

Chúng ta không nên nhẹ tay đối với bọn gián điệp văn hóa, bởi lẽ chúng tuy rất lưu manh trong hành động nhưng lại là những kẻ ngủ mê trên phương diện tâm linh. Nếu chúng ta đối xử với chúng bằng thái độ lịch sự nhẹ nhàng thì chẳng khác nào gãi ngứa cho chúng và chúng sẽ ngủ mê hơn nữa. Muốn đánh thức chúng dậy trong cơn ngủ mê chúng ta phải xối một thùng nước lạnh vào mặt chúng hoặc đập vào người chúng một cú thật mạnh như trời giáng thì may ra chúng mới tỉnh ngủ để nhìn thấy sự thật dưới ánh sáng mặt trời.

Câu hỏi trước nhất được đặt ra là: Làm thế nào để nhận diện một tên gián điệp văn hóa lưu manh và nguy hiểm? Đó là những tên đã được bọn đại lưu manh quốc tế ở Rome huấn luyện nhồi sọ và cấp cho học vị “tiến sĩ thần học”. Điển hình là những tên như Linh mục Cao phương Kỷ và Lm Trần công Nghị. Bọn này thực hiện đúng theo sách lược xâm lăng văn hóa Á châu của Vatican (Tông huấn Ecclesia in Asia của John Paul II).

Trong sách “Thiên Chúa giáo và Tam Giáo”, Cao phương Kỷ lươn lẹo ca ngợi Ông Trời là Đấng Siêu Việt, và dùng lý luận thần học nhảm nhí chứng minh Đấng Siêu Việt đó là Thiên Chúa Ba ngôi của đạo Kitô. Mục tiêu cuối cùng của họ là tạo cho đồng bào nhẹ dạ có ảo tưởng rằng: Thiên Chúa của đạo Kitô chẳng phải là ai xa lạ mà chính là “Ông Trời Siêu Việt” của mình và Đạo Kitô cũng không phải là một món hàng ngoại nhập mà là một niềm tin đã tiềm ẩn từ lâu đời trong lòng dân tộc Việt nam.

Đây là một thủ đoạn vô cùng thâm độc của Vatican do bọn tham mưu đại lưu manh nghiên cứu từ lâu và chỉ thị cho bọn gián điệp văn hóa thi hành.

Ngoài việc khai thác ý niệm Ông Trời phục vụ cho nhu cầu truyền đạo, Cao phương Kỷ còn xuyên tạc Tam giáo (Phật, Khổng, Lão) là các đạo đều có niềm tin vào Đấng Tối Cao như Kitô giáo. Việc đánh lận con đen Tam giáo với Kitô giáo là một chuyện hàm hồ đáng bị vạch mặt: Trước hết, cả ba đạo Phật, Khổng, Lão đều là những đạo của lý trí, nói đúng hơn thì đó là ba triết lý sống hoặc ba cách sống (ways of life). Cả ba không hẳn là ba tôn giáo vì không có giáo hội, không có giáo đồ và nhất là không có giáo điều (tín điều). Cả ba đạo Phật, Khổng, Lão đều coi trọng lý trí và khuyên mọi người phải vận dụng lý trí để suy xét mọi điều trước khi tin vào điều đó. Sở dĩ có “tam giáo đồng lưu” tại nước ta vì người dân Việt nam đã vận dụng lý trí để phân biệt những giá trị chung của cả ba tôn giáo để dung nạp vào văn hóa dân tộc và để cuối cùng làm thăng hoa đời sống của dân tộc.

Khác hẳn với đặc tính căn bản của Kitô giáo là loại bỏ lý trí (Phúc cho ai không thấy mà tin – lời của Jesus).

Toàn bộ hệ thống giáo lý của Kitô giáo là hàng loạt các tín điều được đưa ra để buộc các tín đồ phải chấp nhận vô điều kiện. Do đó, cái gọi là Đức Tin Kitô hoàn toàn chỉ là Đức Tin Mù. Trái hẳn với đức tin Tam giáo là đức tin sáng suốt vì là sản phẩm của lý trí.

Hậu quả của đức tin mù là các tín đồ Kitô luôn luôn phải sống trong mặc cảm tội lỗi, luôn luôn tự xưng là kẻ có tội nên cần có Chúa và bọn tu sĩ lưu manh cứu giúp!

Bọn lãnh đạo Kitô giáo trở thành những kẻ ngạo mạn kiêu căng, lúc nào cũng nghĩ rằng tôn giáo của mình là độc tôn và là duy nhất đúng. Điều này hàm ý rằng các tôn giáo khác với mình đều phải chết.

Trong thực tế của lịch sử dân tộc, Tam giáo đã góp phần củng cố nền độc lập của nước nhà, trong khi đó Kitô giáo đã đưa dân tộc vào vòng nô lệ thực dân Pháp hơn 80 năm và hiện nay một bộ phận của dân tộc (Công giáo) vẫn là những kẻ nô lệ tinh thần của đế quốc Vatican. Các vụ nổi loạn của những người thiểu số Tin lành ở miền cao nguyên chứng tỏ những tín đồ Kitô giáo luôn luôn làm nội tuyến cho ngoại bang và đi ngược lại quyền lợi thiêng liêng của tổ quốc.

Tất cả những tai họa đó đều do bọn gián điệp văn hóa gây ra. Cho nên thái độ cần thiết và cấp bách của các chiến sĩ văn hóa yêu nước là phải cương quyết chiếm lãnh thế chủ động trên diễn đàn văn hóa để giáng trả bọn kẻ thù của dân tộc những đòn đích đáng, buộc chúng phải câm miệng, cúi mặt gục đầu và không dám ngóc đầu dậy.

Charlie Nguyễn

Tháng 6.2003

-Xem thêm những bài viết khác về Ông Trời:

Có Jehovah trong Ca dao Việt ? !! (Thiên Lôi)

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Mười Hai 19, 2009 in Bài Giảng, Tin Lành, Vatican

 

Nhãn: , ,

Quy Y Phật là gì ? -TT Thích Chân Quang

Quy Y Phật là gì ?

                                                  Tỳ Kheo Thích Chân Quang

Phật là ai? Phật được dịch nghĩa là Đấng giác ngộ. Đấng giác ngộ là ai ? Từ vô lượng kiếp xưa, Ngài cũng là người như mọi người mà kiếp cuối cùng trở thành Đức Phật còn gọi là Phật Thích Ca. Nhưng trong vô lượng kiếp, Ngài đã sống với lòng từ bi vô lượng, luôn luôn thương yêu trất cả chúng sinh và làm lợi ích cho chúng sinh không bao giờ mệt mỏi. Song song với việc sống, với lòng từ bi và làm lợi ích cho chúng sinh, Ngài luôn luôn nổ lực trong việc thực hành Thiền định. Hai yếu tố Thiền định và lòng từ bi đã tạo thành công đức tích lủy từ kiếp này sang kiếp khác cho đến vô lượng kiếp như vậy. Và ở duyên cuối cùng, nơi quả vị chín muồi này, Ngài đã trở thành một Đấng giác ngộ. Đôi khi chúng ta hiểu một cách đơn giản như vậy, nhưng thật ra sự giác ngộ này chứa đựng một giá trị tâm linh vô cùng to lớn. Chúng ta không thể dùng ngôn từ của thế gian để diển tả cho sự giác ngộ tột cùng này. Khi vô minh hoàn toàn chấm dứt, trí tuệ bừng sáng, Ngài đủ sức mạnh thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử, không một nghiệp lực nào có thể chi phối buộc Ngài phải trầm luân trở lại. Nơi sự giác ngộ này, cái chấp ngã kiên cố ngàn đời tan vở và biến mất, tâm Ngài phủ trùm vạn vật, trở thành chung đồng, chan hoà với tất cả chúng sinh. Cho nên ý nghĩa của sự giác ngộ này thật lớn lao vĩ đại, mà những ngôn từ bình thường của thế gian chỉ có thể gợi ý cho chúng ta chứ không thể nào diển tả đầy đủ được. Tuy Ngài đã giác ngộ, nhưng ở thế giới loài người đã ít biết đến Ngài trừ một số ít người có duyên với Ngài. Nhưng trong mười phương cỏi khác tất cả đều tôn vinh, ca ngợi, xưng tụng Ngài là Đấng chánh giác, là chổ dựa, là bậc Thầy của tất cả chúng sinh. Ở đây chúng ta thấy rỏ điều này, Đức Phật không phải là một vị thần linh từ một cỏi nào đến để có thể ban phước, giáng họa, Đức Phật cũng không phải là một Thượng đế đã tạo nên tất cả. Trong đạo Phật không co khái niệm thần quyền, tức là thượng đế đã tạo nên tất cả. VỚI sao? VỚI Đức Phật dạy rất kỹ rằng tất cả mọi điều đều do nhiều nhân duyên, do nhiều yếu tố hợp thành. Không có điều gì tự trở thành nên không hề có điều gọi là Đấng Thượng đế để có thể tạo nên tất cả. Do đó lời Đức Phật nói rất phù hợp với sự tiến bộ của khoa học. Hàng ngàn năm trôi qua, khoa học càng tiến bộ, thì lời nói của Đức Phật càng được chứng minh là đúng. Hầu hết các tôn giáo khác đều tin vào thần quyền, các tín đồ cho rằng có một đấng sáng tạo đã tạo ra tất cả, còn Đức Phật là con người, không phải là đấng sáng tạo nên không có gì cao siêu. Chúng ta không tranh cải hơn thua mà chỉ mỉm cười với điều gọi là đấng sáng tạo thật ra chỉ là huyền thoại chứ không thể nào có thật. Vì sao? Vì nếu có một đấng sáng tạo thì không lẽ đấng đó  tạo nên sự đau khổ cho con người như: chiến tranh, bệnh tật, thiên tai, và tội lổi trong lòng con người. Và không thể có một đấng toàn năng nào tạo ra tất cả bằng một cách rất hoàn hảo, có thể nói là ác độc. Do đó chúng ta vũng tin vào lý nghiệp duyên, trong đó tâm lý chúng sinh chính là khởi điểm tạo nên rất nhiều điều trong thế gian này. Và khi chúng ta Quy Y Phật, nghĩa là Quy Y Đấng giác ngộ, là đấng từ một chúng sinh, là một con người trở thành tuyệt đối. Như vậy không có một Đức Phật duy nhất cho toàn thể vuơ trụ mà bất cứ ai đi đúng như con đường Đức Phật dạy đều có thể chứng đạt được, đều trở thành tuyệt đối như Đức Phật. Và đây là một giá trị nhân bản mà không có một triết thuyết tôn giáo nào bằng hoặc hay hơn được. Điểm giá trị cao nhất ở Đấng giác ngộ không phải là một người duy nhất mà mở rộng cho tất cả chúng sinh, cho bất cứ người nào tìm thấy được chân lý, sống hợp, sống đúng với chân lý.

Nơi ý nghĩa Quy Y Phật, chúng ta được dạy rằng từ đây không được tôn thờ tà thần quỹ vật, nghĩa là khi đến đình miếu thờ các vị thần, chúng ta không được xem như đấng mình phải tôn kính tuyệt đối. Chúng ta chỉ cúi đầu đảnh lể trước sự giác ngộ, trước những con người đã giác ngộ, hoặc đang đi trên con đường giác ngộ, giải thoát chứ không cúi đầu đảnh lể trước một người không đi đúng con đường giải thoát , dù đó là một vị thần linh có quyền năng ban phước, giáng hoạ. Chúng ta không sợ hải họ dù chúng ta vẩn kính trọng họ, nhưng chúng ta chỉ kính trọng như kính trọng mọi người trong cuộc sống này, chỉ là tôn trọng chứ không phải tôn thờ. Đó là điều chúng ta được dặn khi Quy Y Phật.

                                                                                    Tỳ Kheo Thích Chân Quang

16. Nhớ Cội Nguồn
Download

17. Pháp Cụ 04
Download

18. Pháp Cụ 11
Download

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Mười Hai 18, 2009 in Bài Giảng, Thích Chân Quang

 

Nhãn: ,

Nói với người xuất gia trẻ (2)

NÓI CHUYỆN VỚI NHỮNG NGƯỜI XUẤT GIA TRẺ (2)

                                                       Thích Nhất Hạnh (Làng Mai-Pháp)            

Hạnh phúc và chánh niệm

Bản chất của giới luật là chánh niệm. Nếu đã từng học hỏi và thực tập năm giới quý báu thì quý vị đã biết rằng tất cả năm giới đều phát xuất từ chánh niệm, tức là từ cái thấy và cái nhận biết của mình. Vì có chánh niệm về những khổ đau gây ra do việc không giữ giới cho nên ta đã phát nguyện giữ giới. Giới là sự biểu hiện cụ thể của chánh niệm. Ví dụ ta biết rằng ăn uống không cẩn thận sẽ gây ra khổ đau trong cơ thể. Nhờ chánh niệm ấy mà ta bắt đầu ăn uống trở lại cho đàng hoàng. Cái đó gọi là giới. Tất cả các giới, dầu là năm giới hay mười giới hay hai trăm năm mươi giới, đều phát sinh từ chánh niệm cả. Kinh dạy người xuất gia trong năm năm đầu nên chuyên môn học hỏi và thực tập giới luật. Điều này có nghĩa là người mới tu phải biết thực tập chánh niệm cho thật vững chãi. Giới luật không phải là những gò bó có tính cách hình thức; giới luật phải có chánh niệm làm nội dung. Chánh niệm nghĩa là ý thức được những gì đang xảy ra bây giờ trong giờ phút hiện tại. Đi thì biết là đi, ngồi thì biết là ngồi, nói thì biết là nói, nghe thì biết là nghe. Chánh niệm là Bụt, là năng lượng soi sáng cho từng giây phút của cuộc sống hằng ngày. Trong nếp sống chánh niệm ta có hạnh phúc. Trong những giây phút thực tập chánh niệm, Tâm Bồ Đề của ta được vận hành và nuôi dưỡng. Tâm Bồ Đề không phải là một khối năng lượng nằm yên trong ta. Một chiếc đồng hồ khi đã được lên giây thì liên tiếp chạy đều cả đêm ngày. Chánh niệm cũng thế. Nó là một thứ năng lượng điều khiển đời sống hàng ngày của ta. Nếu ta không phạm giới thì đó không phải là do ta cực nhọc tranh đấu để giữ giới, mà tại vì trong ta có Bồ Đề Tâm. Tại vì ta biết rằng nếu ta phạm giới thì tất cả sẽ tan nát hết. Cái ước vọng lớn của ta sẽ không thành. Nếu một chú Sa di không phạm giới thứ ba, không phải vì sư chú ấy đã cực nhọc tự đè nén mình để giữ giới, mà tại vì trong chú có tình thương. Cái tình thương ấy, cái chí nguyện ấy lớn quá nên sư chú biết rõ rằng nếu sư chú đi ngủ với một người phụ nữ thì cuộc đời tu hành của sư chú sẽ bị tan nát hết và cái chí nguyện lớn của sư chú cũng không bao giờ thành tựu được. Không những trong khi phạm giới, sư chú phá hoại đời tu của mình mà sư chú cũng phá hoại cuộc đời của người kia và gây thiệt hại cho gia đình và cho tăng thân của sư chú. Sở dĩ ta giữ giới được là nhờ ta có cái tâm thương yêu. Ta thương ta, ta thương gia đình ta, thương xã hội ta, thương thầy ta, thương tăng thân ta, thương nếp sống giải thoát của ta cho nên ta không phạm giới. Phạm giới là chết, nghĩa là chấm dứt đời sống và chí nguyện của một người xuất gia. Sở dĩ sư chú có cái biết đó là tại vì sư chú có chánh niệm. Chánh niệm ấy phát xuất từ tâm thương yêu. Nó là một nguồn năng lượng vĩ đại đã thúc đẩy ta trở thành một người xuất gia. Nguồn năng lượng này quan trọng vô cùng. Ta đừng để nó bị soi mòn trong cuộc sống hằng ngày. Thất niệm (lãng quên) là yếu tố làm soi mòn Tâm Bồ Đề của ta.

Ngay từ buổi đầu, người xuất gia trẻ đã được chỉ dẫn thực tập uy nghi trong sinh hoạt thiền môn; phải học đi, đứng, nằm, ngồi, mặc áo, quơ dép, rửa tay, làm thị giả, v.v…, như thế nào để mỗi cử động và tư thế đều phản chiếu được nếp sống vững chãi, thảnh thơi và ung dung. Nhưng uy nghi mà không phát xuất từ chánh niệm thì uy nghi chỉ là giả trang thiền tướng, nghĩa là chỉ có hình thức bên ngoài. Chánh niệm là bản chất của uy nghi. Không những chánh niệm là bản chất của uy nghi, chánh niệm còn là bản chất của giới luật và của cảnh sách. Bốn cuốn luật gọi là luật tiểu của các vị Sa di và Sa di ni đều là những hình thái thực tập chánh niệm.

Nếu trong đời sống hằng ngày người xuất gia có hạnh phúc, nếu môi trường xuất gia thuận tiện thì ngày nào người xuất gia cũng nuôi lớn Bồ Đề Tâm của mình. Nếu tu mà có hạnh phúc, an ổn và thảnh thơi, thì những dục lạc của thế gian không có đủ sức để làm cho người xuất gia xiêu đổ. Không có một thứ dục lạc nào ở ngoài thế gian có đủ sức mạnh hấp dẫn mình và kéo mình ra khỏi đời tu. Còn nếu ta đang thất bại trong chùa, nếu ta đang khổ đau với thầy và với anh chị em trong tăng thân, nếu ta đang nghi ngờ và giận hờn anh chị em trong tăng thân, thì đó quả là một tình trạng cực kỳ nguy hiểm. Người xuất gia trong trường hợp ấy sớm muộn gì cũng sẽ chấm dứt đời sống xuất gia của mình. Ta đã biết môi trường rất quan trọng. Người tu không thể ở một mình. Người tu không có thể tu học mà không có thầy, không có bạn. Người tu không thể chạy theo một cái ước muốn riêng, như đi học ở ngoài đời để cố thi đậu một cái bằng cấp. Nếu tôi không muốn các sư chú và các sư cô đi công tác Phật sự một mình, đó không phải là vì tôi nghi ngờ khả năng của sư chú hay của sư cô, cũng không có nghĩa là vì tôi không tin vào học trò của tôi, nhưng vì tôi biết rất rõ là khi được cùng đi với tăng thân thì sư cô hoặc sư chú sẽ vững mạnh hơn nhiều lắm.

Sơ tâm là hảo tâm

Hủy hình phi pháp phục
Cát ái, từ sở thân
Xuất gia hành Phật đạo
Nguyện độ nhất thiết nhân

Đó là bốn câu thơ rất đẹp ca ngợi chí hướng người xuất gia. Hủy hình có nghĩa là hủy bỏ cái vẻ đẹp trần tục bên ngoài. Tóc mình xanh mướt như vậy, nhưng mình đã cạo sạch. Phấn son và vòng xuyến, tất cả những thứ ấy mình đã gạt bỏ. Đó là một hành động rất cách mạng. Chỉ khi nào có một năng lượng rất lớn trong lòng thì người ta mới làm được chuyện ấy. Phi pháp phục tức là khoác lên chiếc áo pháp, nghĩa là áo của người tu. Cát ái tức là cắt đứt mọi ân ái buộc ràng. “Ái ân lưới nọ dang tay xé’’. Đó là một câu trong bài kệ truyền đăng tôi đã trao cho Sư chị Chân Viên Quang. Ta thấy đời sống lứa đôi không phải là cái hoài bão lớn của ta. Ta muốn làm hạnh phúc không phải cho một người mà cho rất nhiều người. Vì vậy ta không muốn bị vướng kẹt vào lưới tình ái. Vì vậy cho nên ta nói với người kia rằng anh muốn đi trên con đường của một vị Bồ Tát để có thể thương được tất cả mọi người, trong đó có em. Hoặc là ta nói với người kia rằng em muốn đi trên con đường của một vị Bồ Tát, em muốn hiến tặng trái tim này cho tất cả mọi người, trong đó chắc chắn là có anh. Đó gọi là cát ái, để không còn bị sợi giây ái ân ràng buộc. Mình chỉ cần một lát kéo và sợi dây ấy đứt. Đó là ý nghĩa của hành động cạo sạch mái tóc. Đó là ý nghĩa của hai chữ hủy hình. Từ sở thân là từ giã những người thân của mình, trong đó có cha mẹ, anh chị và em mình. Tại sao mình phải xa cha, xa mẹ, xa anh, xa em mà đi tu? Đó là tại vì mình có chí nguyện lớn. Những người đi làm cách mạng cũng chỉ làm như vậy mà thôi, nghĩa là cũng phải cát ái từ sở thân. Người đi tu đích thực là một nhà cách mạng. Người đi tu có một hoài bão lớn. Vì vậy cho nên người ấy có đủ năng lượng để chặt đứt sợi dây tình ái. Xuất gia hành Phật đạo là ra khỏi cái nếp sống gia đình để đi trên con đường của Bụt. Nguyện độ nhất thiết nhân là thề nguyền thương yêu và độ thoát cho tất cả mọi người, chứ không phải chỉ lo cho hạnh phúc một người. Khi đi lấy chồng hay là đi cưới vợ, người ta chỉ nguyện làm hạnh phúc cho một người, và mai này cho ba bốn người là nhiều, nhưng chưa chắc gì người ta đã làm được. Trong cuộc nhân sinh này, lắm khi sống với nhau chỉ có hai ba người mà người ta cũng tạo ra địa ngục cho nhau. Người xuất gia phải hết lòng trân quý tự do của mình. Nếu vướng vào vòng tình lụy, nếu đánh mất tự do của mình rồi thì người xuất gia đâu còn làm hạnh phúc cho ai được? Biết bao là hệ lụy, chìm đắm và khổ đau. Vì thấy được điều đó nên ta xót thương. Vì muốn có khả năng cứu vớt họ cho nên ta đã đi xuất gia. Ta thấy cái khổ tràn ngập quanh ta. Ta không muốn đi vào trong những nẻo đường tăm tối đó. Ta muốn đi tìm một con đường sáng, muốn tìm cách cởi trói cho ta và sau đó đi vào trong nhân gian để cứu giúp độ thoát cho người. Ước muốn này là Tâm Bồ Đề, là nguồn năng lượng lớn, hay tâm thương yêu lớn. Không phải là mình hết thương người mình thương. Không phải là mình bỏ người mình thương. Chỉ là vì mình không muốn thương bằng thứ tình thương chiếm hữu, hệ lụy, sầu đau. Thương như thế chỉ là để làm khổ cho nhau. Mình muốn tiếp tục thương, nhưng với một thứ tình thương mà trong đó cả người thương và người được thương đều bảo trì được toàn vẹn tự do của nhau, tự do cho nhau; một thứ tình thương có khả năng hiến tặng niềm vui và chuyển hóa đau khổ. Đây là thứ tình thương Bụt dạy. Hiến tặng niềm vui mà không gây khổ lụy là Từ. Chuyển hóa khổ đau là Bi. Tình thương mà không hệ lụy, tình thương mà trong đó tự do còn được bảo trì nguyên vẹn là Xả. Trong tình thương này, những người thương chỉ hiến tặng cho nhau niềm vui, mà không bao giờ kéo nhau vào vòng bi lụy. Đó là Hỷ. Chính vì muốn thương với tình thương mầu nhiệm ấy mà ta đã phát nguyện sống đời xuất gia.
Tôi có dịch tạm bài thơ trên, nhưng vì dịch thành bốn câu hơi khó nên tôi đã dùng tới sáu câu:

Bỏ cái đẹp trần thế
Cắt đứt dây ái ân
Xuất gia mặc áo pháp
Từ giã những người thân
Đi trên đường của Bụt
Nguyện độ hết xa gần

Bài dịch này tuy nói được hết ý của nguyên văn, nhưng không có được cái hùng tráng của nguyên văn. Bài thơ này cũng là để ca ngợi Bồ Đề Tâm. Bồ Đề Tâm là nguồn năng lượng căn bản cho người xuất gia. Nuôi dưỡng được nguồn năng lượng ấy thì dầu ở bên ta đang có bão tố, có sấm chớp, có muôn vạn khó khăn, ta vẫn còn có thể đứng vững được. Người xuất gia phải làm hết tất cả những gì mình có thể làm để bảo vệ Tâm Bồ Đề. Như ta đã biết, động lực thúc đẩy ta đi xuất gia là Bồ Đề Tâm, tức là tâm thương yêu. Nguồn năng lượng đẹp đẽ này có khi cũng được gọi là Sơ Tâm, nghĩa là Tâm Buổi Ban Đầu. Tâm Buổi Ban đầu là một trái tim tốt lành còn nguyên vẹn, còn lành lặn, còn nóng hổi, còn đẹp đẽ. Ta phải giữ gìn trái tim ấy cho mẹ, cho cha, cho tất cả mọi người, mọi loài, cho Bụt, cho Pháp và cho Tăng. Mà phương thức hay nhất để giữ gìn nó là sống và thực tập trong một môi trường thuận lợi. Tôi có phước duyên gìn giữ được sơ tâm. Tôi cầu mong quý vị cũng sẽ giữ được trái tim đẹp đẽ ấy mãi mãi, ngàn đời.
Viết thêm cho người xuất gia trẻ

Này người xuất gia trẻ, các em hãy lắng nghe tôi nói đây. Tôi biết có những người xuất gia trẻ hiện đang được sống trong một môi trường tu học thích ứng, được thầy thương yêu và tin cậy, được anh chị em đồng tu khuyến khích và nâng đỡ, được có cơ hội học hỏi và thực tập hằng ngày. Tuy nhiên số lượng những người may mắn ấy còn rất hiếm. Có thể đọc đến dòng chữ này em đang khóc. Tôi biết có rất nhiều người học tăng trẻ đang gặp nhiều khó khăn, kể cả những khó khăn về cơm áo. Tôi đã đi ngang qua những chặng đường như thế rồi, nên tôi hiểu họ.

Những khó khăn

Xuất gia, sống trong chùa hay trong học viện, chúng ta cũng có thể có những khó khăn như sống trong gia đình. Nếu trong đời sống gia đình, ta có thể có vấn đề với cha mẹ hay anh chị em, thì sống trong chùa cũng thế. Em có thể đang có khó khăn với thầy em, và hai thầy trò đang khổ. Có thể em đang có cảm giác thầy em không thương em, không hiểu em, và có thể thầy em cũng đang nghĩ là em không có đủ tinh thần trách nhiệm, không chịu nghe lời thầy. Việc truyền thông giữa hai thầy trò đã trở nên khó khăn, và cả hai thầy trò đang không có hạnh phúc. Em nghĩ là đời sống ở chùa bận rộn quá, em phải làm nhiều việc quá, em không có thời giờ để học hỏi và tu tập, mà chính thầy em cũng không có thì giờ học hỏi và tu tập. Em rất muốn được thầy em gửi em vào nội trú một Viện Phật Học để em có thể để hết thì giờ vào việc tu học, nhưng vì chùa neo người, thầy em chưa cho em đi. Các vị thân sinh ra em có thể đã không muốn em đi tu. Họ nói gia đình đang cần em chống đỡ mà em lại bỏ đi tu. Các vị nghĩ rằng đi tu là bỏ bê gia đình, và em rất lấy làm khổ tâm. Người khác đi xuất gia thì được gia đình yểm trợ tinh thần, còn em thì không. Em có thể đang có vấn đề với sư anh, sư chị hay sư em của em. Em trách họ không hiểu em, nặng lời với em, kỳ thị em, mách những khuyết điểm của em với thầy để thầy không thương em… Những vấn đề như thế có bản chất giống hệt như những vấn đề ngoài đời. Em khổ. Và sự kiện em đang khổ là một thua thiệt lớn cho em, cho tôi, cho tất cả tăng thân. Em khổ mà không chuyển hóa được cái khổ của em thì làm sao em đi trọn con đường tu học?

Có khi em bực mình nghĩ rằng hay là em nên ly khai tăng thân, ra lập một cái am nhỏ, kiếm vài bà bổn đạo yểm trợ tài chánh cho em, đủ để trả tiền nhà, tiền ăn và tiền đi xe buýt, để em có thể đi học. Em tự bảo: học Phật pháp và sinh hoạt với tăng đoàn là chuyện ta sẽ làm suốt đời, cần gì phải gấp gáp; bây giờ mình hãy lo học để đạt tới một trình độ văn hóa khá cao của thế học đã, rồi nghiên cứu Phật học sau cũng không muộn. Hơn nữa nếu có một cái bằng cấp tốt nghiệp đại học thì không những học Phật mau thành mà nói gì người ta cũng tin, tại vì mình đã đậu cử nhân, phó tiến sĩ hay tiến sĩ… Những tư tưởng như vậy làm em bất an, không an trú được trong nếp sống thường nhật. Những tư tưởng ấy lại rất tai hại, bởi vì chúng đang có thể kéo em ra khỏi con đường tu mà em không biết.

Con đường thoát

Nếu em đang ở vào một hoàn cảnh có nhiều khó khăn, tôi muốn em đừng vội ly khai môi trường hiện tại, bỏ thầy, bỏ chùa, bỏ chúng mà đi tìm nơi khác. Đừng đi vào dấu chân của những người đứng núi này, trông núi nọ. Có thể em đang mơ ước được vào nội trú Viện Phật Học, nhưng cũng có thể một người khác đang nội trú trong Viện Phật Học lại mơ ước được ra ở chùa ngoài như em. Nếu em chưa tìm ra một giải pháp thỏa đáng, thích hợp với những điều tôi căn dặn trong bài pháp thoại ngày 2 tháng 5 năm 1996 thì em phải tìm tới tham vấn một vị thiện tri thức mà em tin cậy. Vị thiện tri thức này có thể là một thầy hay một sư cô có tuệ giác, có đức độ, có an lạc. Em hãy trình bày lên vị ấy tất cả những nỗi lòng của em và những sự thực về hoàn cảnh em. Vị ấy sẽ chỉ cho em đường đi, nước bước em cần phải theo. Nếu tôi được em tham vấn, tôi sẽ nói rằng em cần thực tập để thiết lập ngay lại sự truyền thông với thầy em và với huynh đệ em càng sớm càng tốt. Em phải học hạnh đế thính (lắng nghe) và ái ngữ (ngôn từ hòa ái). Phải biết ngồi nghe một cách chăm chú, tĩnh lặng, phải học nghe với tâm không thành kiến, đừng tỏ vẻ nóng nảy, đừng có khuynh hướng phán xét và phản ứng; những năng lượng này một khi biểu hiện ra nét mặt, đôi mắt, hơi thở hay ra cử chỉ sẽ làm cho người nói không còn cảm hứng nói ra những điều người ấy muốn nói. Phải tập theo dõi hơi thở để giữ sự bình tĩnh trong lúc nghe, để tiếp thu được những điều mình nghe, dù những điều đang nghe không phù hợp với nhận thức sẵn có của em về sự thật. Em phải tập nghe thầy, nghe huynh đệ em theo cách ấy, và khoảng một tháng sau, sự truyền thông (communication) sẽ được tái lập giữa em và những người ấy. Khi em nói, em phải tập nói với ngôn từ hòa ái. Phải nói như thế nào để chứng tỏ mình đang bình tĩnh trình bày cho người kia thấy sự thật, chứ không phải là mình đang nói để tỏ lộ sự bực dọc hay bất bình của mình. Tuyệt đối không trách móc. Em chỉ nói về những khó khăn, những đau khổ của em thôi, và cầu xin sự giúp đỡ của người kia. Đế thính và ái ngữ là nội dung của giới thứ tư trong năm giới quý báu. Thực tập giới này em sẽ chuyển đổi được tình trạng, em có thể thuyết phục thầy và huynh đệ của em cùng góp sức chuyển hóa môi trường hiện thời thành một môi trường thích hợp hơn cho sự tu học, nghĩa là cho sự thực hiện lý tưởng cao đẹp của người xuất gia hảo tâm. Trong một Viện Phật Học, có thể cũng có những hiện tượng chống báng, phe phái, chia rẽ và kỳ thị. Nếu em là tăng sinh trong Viện Phật Học, hoặc giả nếu em là một vị giáo thọ trẻ của Viện Phật Học, em cũng phải thực tập như thế để dần dần chuyển hóa Viện Phật Học thành một môi trường thật sự thuận lợi cho sự thực hiện lý tưởng của người xuất gia. Tôi biết những lời tôi đang viết đây cũng sẽ được các vị sư trưởng của các chùa, các vị giáo thọ trong các Viện Phật Học đọc, tôi tin chắc quý vị cũng đang thao thức như tôi và như em trong vấn đề chuyển hóa môi trường tu học cho môi trường ấy trở thành thuận lợi, và như thế mọi người trong ban giám hiệu, ban giáo thọ cũng như tất cả các tăng sinh sẽ có hạnh phúc nhiều hơn trong đời sống tu học hằng ngày. Hạnh phúc của em rất cần thiết cho tôi và cho tất cả mọi người, vì vậy em không có quyền tiếp tục đau khổ. Nếu em tiếp tục đau khổ, chúng tôi sẽ mất em. Đau khổ cần thiết cho tuệ giác nếu ta biết quán chiếu nó, nhìn sâu vào bản chất nó, để tìm lối ra. Vì vậy đau khổ là một thánh đế, nghĩa là một sự thật linh thiêng. Nhưng nếu ta tự để đắm chìm trong khổ đau mà không thấy được bản chất và con đường thoát khổ, thì đau khổ không còn là một thánh đế nữa.

Ăn cơm có canh

Nhà sử học Anh Arnold Toynbee có tiên đoán rằng sự gặp gỡ giữa đạo Bụt và văn minh Tây phương sẽ là một biến cố quan trọng nhất của thế kỷ tới. Tôi tin rằng từ cuộc gặp gỡ đó một nền văn hóa mới cho nhân loại sẽ được khai sáng. Em phải chuẩn bị để đóng góp phần em vào biến chuyển lịch sử. Em phải áp dụng cho được giáo pháp của đức Thế tôn trong đời sống hằng ngày để chuyển hóa khổ đau của em và của tăng thân em. Tăng thân là đoàn thể tu học của mình, gồm có thầy và các sư anh, sư chị, sư em của mình. Tăng thân cũng là một thứ thân thể của mình. Nếu mỗi người đều có Phật thân và Pháp thân của mình thì đoàn thể tu học của mình cũng tức là tăng thân của mình. Phải hết lòng thực tập hơi thở và bước chân chánh niệm. Phải sống cho sâu sắc mỗi giây phút của đời sống hằng ngày. Phải biết tiếp xúc với những nhiệm mầu của sự sống trong em và chung quanh em trong từng giây từng phút. Phải tỉnh thức lại, phải thấy được trúc tím, hoa vàng, trăng trong và mây trắng là biểu hiện của Pháp thân mầu nhiệm. Phải sống cho được giáo lý hiện pháp lạc trú như thầy Tam Di Đề (Sammidhi), một vị xuất gia trẻ hồi thời của Bụt, rất được Bụt và tăng đoàn thương mến. Thầy La Hầu La (Rahula) là người trẻ đầu tiên được gia nhập vào giáo đoàn xuất gia, và đã được thầy Xá Lợi Phất trao truyền mười giới Sa di. Thầy La Hầu La sau này đã thành công như một trong mười vị đệ tử lớn của Bụt. Thầy A Nan (Ananda) cũng là một người xuất gia trẻ sống hạnh phúc đời sống xuất gia với một trái tim thương yêu trinh nguyên. Nhờ thông minh và trí nhớ phi thường của Thầy mà biết bao nhiêu kinh điển của Bụt đã được lưu truyền lại. Thầy Ly Bà Đa (Revata) em út của thầy Xá Lợi Phất vì thấy được lẽ vô thường và biến hoại của mọi nhan sắc, nên đã xin đi xuất gia từ hồi còn niên thiếu. Thầy sống rất thoải mái và hạnh phúc nơi những vùng núi rừng thanh tịnh. Thầy Tu Bồ Đề (Subhuti) em trai của trưởng giả Cấp Cô Độc cũng là người niên thiếu xuất gia, được Bụt khen ngợi là thông suốt phép Từ quán và Bi quán. Cả hai đều nhìn vào gương tu tập của người anh. Thầy Tu Na Ka (Sonaka) phát Tâm Bồ Đề ngay sau khi được nghe bài thuyết pháp ở tu viện Trúc Lâm, đã phải nhịn ăn nhiều tuần lễ, thân thể ốm mòn, mới được phép cha mẹ cho đi xuất gia. Các thầy Bà Đề (Bhaddiya) và A Nậu Lâu Đà (Anurudha) đều là con trai dòng quý tộc, đã bỏ quyền hành và giàu sang để xuất gia theo Bụt, sống đời giải thoát. Sư cô Liên Hoa Sắc (Uppalavana) và sư cô Thu Ba (Subha) đều là những thiếu nữ nổi tiếng là sắc nước hương trời, nhưng đã cắt bỏ mọi ân ái buộc ràng để trở nên người xuất gia, sống tu đạo với một quyết tâm ít ai bì kịp. Sư cô Tôn Đà Lợi Nan Đà (Sundarinanda) em cùng cha khác mẹ của Bụt, cũng đã đi xuất gia lúc chưa đầy hai mươi tuổi, và đã được Bụt khen là rất thành công trong công phu thiền tập… Các vị đều là những tấm gương sáng cho em.
Chúng ta không tu một mình. Chúng ta chỉ có thể tu với tăng thân. Không sống, không tu học và làm việc với tăng thân thì ta sẽ yếu lắm. Sống và tu học với tăng thân ta được tăng thân soi sáng và yểm trợ; đó thực sự là quy y Tăng. Quy y Tăng không phải chỉ là một đức tin mà là một sự thực tập hằng ngày. Nếu không quay về nương tựa Tăng, em sẽ đánh mất lý tưởng xuất gia đẹp đẽ của em trong một tương lai rất gần. Người Việt chúng ta đã có kinh nghiệm sâu sắc về tuệ giác này, cho nên chúng ta ai cũng biết câu “ăn cơm có canh, tu hành có bạn”.

Gia tài của Bụt

Là người xuất gia, là những người con gần gũi nhất của Bụt, em phải biết thừa hưởng gia tài của Bụt. Phải thực tập cho được những pháp môn căn bản để có hạnh phúc. Phải nắm vững các pháp môn thiền tọa, thiền hành, quán niệm hơi thở, ăn cơm chánh niệm, quán chiếu vô thường, quán chiếu vô ngã, quán Từ, quán Bi, nhận diện và chuyển hóa khổ đau, xây dựng tăng thân và làm hạnh phúc cho đời. Khi học kinh, nên luôn luôn tự hỏi: những tư tưởng này của kinh có dính líu gì tới đời sống hàng ngày của ta không, có giúp ta chuyển hóa khổ đau và tạo thành an lạc không? Cố nhiên là các kinh lớn như Kim Cương, Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Bảo Tích… chứa đựng nhiều tư tưởng siêu việt, nhưng mục đích học kinh không phải là để thưởng thức triết lý thâm uyên, lặp lại những tư tưởng ấy và đi tìm sự thỏa thích trong khi giải bày những tư tưởng ấy. Phật pháp là chiếc bè đưa ta qua sông; em phải sử dụng được chiếc bè để qua tới bến bờ của chuyển hóa và an lạc. Mục đích của người xuất gia không phải là để trở thành nhà Phật học hay nhà triết học, mà là trở thành một người an lạc, giải thoát, một vị đạo sư đích thực có khả năng độ đời. Cho nên em phải tránh con đường chất chứa kiến thức. Phải theo nguyên tắc thực học, thực tu, thực chứng. Em phải thấy được vô thường, vô ngã, từ, bi… là những dụng cụ quán chiếu để chuyển hóa khổ đau, chứ không phải là những lý thuyết. Nếu em biết cách quán chiếu vô thường, vô ngã, từ và bi, em sẽ phá được những nhận thức sai lầm (vọng tưởng) của em trong đời sống hằng ngày, sẽ trở nên hiểu biết và bao dung hơn, và tình thương trong em càng ngày càng lớn. Có tình thương thì cuộc đời ta mới có hạnh phúc. Những người chỉ có trách móc và hận thù trong tâm là những người đau khổ. Chừng nào em thấy chất liệu của Từ và Bi lớn lên trong em, chừng nào em nhận thấy em đã bắt đầu biết nhìn người khác bằng con mắt từ bi (từ nhãn thị chúng sinh) không còn khắt khe, không còn oán trách, thì em biết lúc đó em đã bắt đầu có nhiều hạnh phúc. Đây là một chuyển hóa lớn của người tu. Tôi đã từng đi trên 30 quốc gia trên thế giới, tổ chức những khóa tu học cho người bản xứ. Có những khóa tu kéo dài được ba tuần, nhưng cũng có những khóa tu rất ngắn, chỉ kéo dài có bốn hôm. Ấy vậy mà có những thiền sinh và gia đình họ sau bốn ngày tu đã được chuyển hóa, đã tìm lại được sự tha thứ, thương yêu, hài hòa trong lòng họ và trong gia đình họ. Người xuất gia không nên quên rằng mình có cái may mắn là được thường trú trong khung cảnh tu học: nếu để tháng ngày đi qua mà không hạ thủ công phu thì uổng phí cuộc đời xuất gia của mình. Người nông phu sau khi thí nghiệm một loại hạt giống, một loại phân bón hoặc một phương pháp canh tác mới mà không thành công thì chắc chắn sẽ thay đổi hạt giống, phân bón hoặc phương pháp canh tác ấy. Chúng ta cũng vậy. Nếu tu tập từ ba tới sáu tháng mà không thấy hoặc chưa thấy có chuyển hóa gì, ta phải biết là có một cái gì không đúng trong phương pháp tu học. Ta phải lập tức tìm thầy và bạn để tham vấn, tìm ra những pháp môn thích hợp và hữu hiệu cho ta. Tôi thấy có những người tu suốt mấy mươi năm mà nhận thức, cách sống và tập khí khổ đau vẫn không hề thay đổi. Thật là uổng phí cho họ và cho chính ta.

Bạn đồng hành của Bồ Tát

Thực tập Từ và Bi cho đúng phép, một ngày nào đó em sẽ thấy năng lượng từ bi trong em đòi em phải thể hiện qua hành động. Từ và Bi không phải là những nguyên tắc sống, đó là những năng lượng đòi hỏi được biểu hiện cụ thể bằng sự sống. Có thể em là một người xuất gia muốn biểu lộ từ bi qua công tác cứu trợ người nghèo đói, chăm sóc cô nhi, người khuyết tật, hoặc phục vụ tại các nhà thương và nhà tù. Những công tác này là những bài thuyết pháp đích thực, nếu quả thực công tác của em được thúc đẩy bởi động lực thương yêu. Mỗi cử chỉ săn sóc người ốm đau, người tàn tật hay người nghèo khó có thể là một lời pháp ngữ hùng hồn. Dù vị pháp sư thuyết pháp hay, nhưng nếu những lời vị ấy nói ra không phải là do năng lượng từ bi thúc đẩy thì bài pháp cũng chỉ là một công tác danh lợi, không phải là một bài thuyết pháp đích thực. Tôi rất không muốn sư cô và sư chú mải mê làm công tác xã hội mà quên mất mục đích thật sự của người xuất gia là tu tập để diệt trừ phiền não, chuyển hóa khổ đau. Em không nên để hết thì giờ vào việc xã hội. Phận sự của em không phải là bác sĩ, y tá hay cán sự xã hội. Em có thể phát nguyện làm việc mỗi tuần vài ba buổi tại các bệnh viện, trại giam hoặc nhà cô nhi, nhưng trong khi làm việc em phải làm cho thật có chánh niệm, luôn luôn trầm tĩnh, có đủ phong độ, uy nghi và không bao giờ đánh mất mình trong thất niệm. Nếu em biết theo dõi hơi thở và thực tập an trú trong giây phút hiện tại thì công tác giúp người của em cũng đồng thời là công phu tu tập, cũng quan trọng như thực tập ngồi thiền hoặc tụng kinh.
Tại các nước phát triển ở Âu và Bắc Mỹ Châu, rất nhiều bệnh viện có thánh đường và thiền đường để cho bệnh nhân và những người thân nhân của họ thực tập.

Có những giây phút bệnh nhân hoặc thân nhân của họ cần phải tĩnh tâm để cầu nguyện, như những lúc trước giờ giải phẫu, những lúc giải phẫu hay cấp cứu, những lúc chờ đợi hồi sinh… Thánh đường, niệm Phật đường hay thiền đường vì vậy rất cần thiết. Có những người xuất gia nguyện phục vụ trong ấy. Họ phải được học hỏi cách thức để có thể giúp người bệnh và thân nhân của họ đạt tới sự an tâm. Trong các nhà giam cũng vậy. Có những người tu được đào tạo để có thể phục vụ những người đang bị giam giữ. Căn bản tâm lý học, phương pháp an ủi và giải tỏa tâm lý rất cần thiết. Vào những nơi này để phục vụ, em sẽ có cảm tưởng là Bồ Tát Địa Tạng cũng cùng đang đi bên em để đem lại sự bình yên cho tâm hồn những người trong ấy. Em phải làm công tác với tất cả trái tim em, vì em đang là một vị bồ tát, bạn đồng hành của Bồ Tát Địa Tạng. Mà đã là Bồ Tát thì giây phút nào cũng tập luyện tỉnh thức, đừng để công việc kéo đi, lọt vào thế giới của thất niệm. Chúng ta nói chúng ta thực tập từ bi mà nếu chúng ta không có mặt tại những nơi có khổ đau như nhà thương và trại giam thì đó là một điều khó hiểu. Tại nhiều nước Tây Phương như Anh và Mỹ, sách của tôi viết được gửi vào các trại giam nhiều lắm, thỉnh thoảng những thành phần của chúng chủ trì dòng tu Tiếp hiện cũng vào thăm viếng các tù nhân để ủy lạo và hướng dẫn thiền tập cho họ. Tôi đã nhận được rất nhiều thư cám ơn của các độc giả trong tù. Nhiều vị nói trong tù họ thực tập tinh chuyên lắm, và tin tưởng nơi những phương pháp thực tập ấy, vì tâm hồn họ được an tĩnh và niềm tin của họ được hồi sinh. Các vị lãnh đạo giáo hội, các bậc sư trưởng của em thế nào cũng phải can thiệp với các cấp chính quyền để tại mỗi bệnh viện và nhà giam sẽ được thiết lập một thiền đường, và can thiệp với các Viện Phật Học để chuẩn bị huấn luyện một số tăng sinh sau này có thể phục vụ tại những nơi như thế.

Phẩm vật hiến tặng

Hiến tặng là hành động cao đẹp nhất của người tu. Phẩm vật hiến tặng có ba thứ: tài vật, pháp môn tu học và sự an vững của tâm hồn (tài thí, pháp thí và vô úy thí). Người xuất gia đâu có tài vật gì nhiều để hiến tặng? Chính nhờ đức độ và tình thương của ta mà thiên hạ đã tin cẩn và giao phó cho ta một ít tài vật của họ để ta làm công việc cứu trợ và ủy lạo. Pháp môn tu học mà ta đã từng thực tập và gặt hái kết quả là tặng phẩm rất quý của ta. Vì vậy nếu em có làm công tác xã hội thì đừng làm công tác xã hội suông, nghĩa là chỉ đóng vai trò của một tác viên xã hội. Vai trò của em là nhà tu. Vậy trong khi làm việc cứu tế em hãy tìm cách trao truyền cho người kia những phương pháp thực tập giúp họ vượt thoát khổ đau của họ. Em đừng nghĩ họ chỉ khổ đau vì thiếu cơm, thiếu áo, thiếu nhà ở, thiếu thuốc men. Họ đau khổ nhiều trong liên hệ giữa họ và những người quanh họ, họ đau khổ vì giận hờn, thất vọng, mặc cảm, ganh ghét, xung đột, v,v… Em đừng sợ bị mang tiếng là lợi dụng công tác xã hội để truyền đạo. Em có thể dùng ngôn ngữ không tôn giáo để giúp cho họ tháo gỡ những cái kẹt của họ. Phép thở, phép buông thư, phép lắng nghe, phép ái ngữ… ngoài đời người ta cũng dạy, cũng học, trong các tôn giáo khác cũng vậy. Pháp thí là bảo vật rất quý của người tu, đem hiến tặng hoài mà không bao giờ hao hụt. Vô úy thí là tặng phẩm thứ ba, đó là sự vững chãi, sự thảnh thơi và tuệ giác của em. Nếu em tu tập thành công thì càng ngày em càng vững chãi, càng ngày em càng có tự do nhiều hơn. Tự do đây không phải là tự do chính trị mà là tự do tâm linh. Em không bị sai sử và ràng buộc bởi bất cứ một tâm hành bất thiện nào: sự lo lắng, sự sợ hãi, sự hận thù, sự thèm khát, sự ganh ghét… Quán chiếu về vô sinh, em không còn sợ hãi, dù là cái chết. Ngồi bên giường người hấp hối, sự vững chãi và thảnh thơi của em giúp cho người đang hấp hối an tâm trở lại và thực tập chánh niệm cho đến giờ phút qua đời. Sự có mặt của em gây niềm tự tin và sự không sợ hãi. Đó là tại vì em đã có chất liệu vô úy, vững chãi và thảnh thơi nơi em. Tôi có những người học trò rất giỏi về việc thực tập nâng đỡ người hấp hối. Ví dụ như giáo thọ Chân Tiếp. Chị Chân Tiếp (Joan Halifax) là một nhà nhân chủng học nổi tiếng của Hoa Kỳ, nghiên cứu về văn minh người da đỏ. Chị là thành viên chúng chủ trì dòng tu Tiếp Hiện. Chị đã huấn luyện cho nhiều người trong việc hướng dẫn những người hấp hối. Các vị đều là những người có khả năng hiến tặng vô úy. Ta phải có khả năng hiến tặng vô úy cho người đời, trong những khúc quanh khó khăn nhất của đời họ, và khi họ hấp hối. Tôi có làm một bài hát lấy ý từ Tương Ưng Bộ với nhan đề là Ru Người Hấp Hối, một bài có thể đọc, tụng hay hát cho người hấp hối nghe, dù người đó đang tỉnh hay đã mê.

Thảnh thơi, tự do, đó là bảo vật quý giá nhất của người xuất gia, em đừng bao giờ đánh mất nó. Phải thực tập chánh niệm và nghiêm trì giới luật em mới bảo vệ được tự do mình. Những cám dỗ như danh vọng, quyền hành, sắc dục và tiền bạc chỉ là những con mồi bằng nhựa trong đó có móc một chiếc lưỡi câu sắc bén. Con cá tưởng con mồi nhựa là con mồi thật nên đớp lấy và bị lưỡi câu móc vào cổ họng.

Hạnh phúc của em không phải do những tài, sắc, danh, lợi ấy đem tới. Vướng vào chúng, em sẽ mất tự do. Hạnh phúc của em là chất liệu vững chãi, thảnh thơi, vô úy và tình thương. Mỗi ngày em phải bồi đắp và phát triển những yếu tố đó trong em.

Tay trong tay

Này người xuất gia trẻ, tôi đã có thể nhận ra em từ lúc em còn chưa xuất gia. Nhìn em tôi biết trong em có hạt giống tốt của người xuất gia. Và tôi thường tâm tâm niệm niệm để em có đủ nhân duyên đi xuất gia sớm. Em đã xuất gia rồi, tôi mừng biết mấy. Tôi làm đủ những gì có thể làm để tạo điều kiện cho em được học, được tu, được nuôi dưỡng chí hướng của em. Tôi xót xa khi thấy em buồn khổ. Tôi vui mừng hạnh phúc khi thấy em hạnh phúc. Tôi hãnh diện khi thấy em độ được gia đình, giúp thầy em xây dựng nên tăng thân, và bắt đầu có thể tạo dựng hạnh phúc cho người. Tôi lo lắng cho em, mong ước nuôi dưỡng được em như những chiếc lá đầu của cây chuối nuôi dưỡng những cuộn lá kế tiếp nằm trong lòng cây chuối. Em là niềm tin cậy của tôi. Em là con Bụt. Em là em tôi, là học trò tôi, là con tôi, là cháu tôi. Cho dù em chưa sinh ra, tôi cũng đã nhìn thấy em rồi. Mới thọ giới Sa di, Sa di ni hay đã thọ Giới Lớn, em là người xuất gia trẻ mang theo em chí hướng của Bụt. Em là sự nối tiếp của Bụt, là bảo bối của Pháp, là tinh hoa của Tăng. Là gái hay là trai, em cũng có thể mang lý tưởng Bồ Tát đi vào đời. Nói chuyện tâm sự được với em hôm nay, tôi thấy lòng nhẹ nhõm. Tôi không bi quan, không lo lắng, bởi vì tôi có đức tin nơi em. Tôi sẽ có mặt bên em mãi. Tay em trong tay tôi, tay tôi trong tay Bụt, chúng ta hãy vững chãi đi về tương lai.

                                                                                       Thiền Sư  Thích Nhất Hạnh

                                                                                             Làng Mai – Pháp(1996)

Một số bài giảng AUDIO của TT Thích Chân Quang

13. Người với Người
Download

14. Dẫu xây chín đốt phu đồ
Download

15. Hoa Sen Mọc lên từ lửa
Download

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Mười Hai 4, 2009 in Bài Giảng, Phật Giáo

 

Nhãn: ,

Nói với người xuất gia trẻ (1)

NÓI CHUYỆN VỚI NHỮNG NGƯỜI XUẤT GIA TRẺ (1)

                                                             Thích Nhất Hạnh

Tâm thương yêu

Kính thưa đại chúng, hôm nay là ngày mồng 2 tháng 5 năm 1996, chúng ta đang ở tại Xóm Thượng. Cách đây hơn một năm, tôi có hứa sẽ viết một cuốn sách nhỏ cho người xuất gia trẻ, nhưng trong suốt năm qua tôi đã không viết được. Mới ngày hôm kia đây, sư cô Đoan Nghiêm nói: “Tại sao Thầy không nói những điều Thầy muốn viết vào một bài giảng? Chúng con có thể đánh máy ra và chúng ta sẽ có một cuốn sách, rất mau.’’ Vì vậy hôm nay đề tài của bài pháp thoại là Nói Chuyện Với Người Xuất Gia Trẻ. Nói là trẻ, nhưng có những người bảy mươi tuổi như tôi cũng cảm thấy có liên hệ. Tôi thấy có những thầy tuổi chưa tới ba mươi mà đã có dáng dấp một ông cụ non, hai mắt lim dim như đang muốn đóng vai trò của một bậc hòa thượng đạo cao đức trọng. Tôi không nghĩ những người như thế là những người trẻ. Những người trẻ, theo tôi, là những sư chú và sư cô ăn mặc giản dị, sạch sẽ, mắt sáng, miệng sẵn sàng mỉm cười, có khả năng lắng nghe và học hỏi. Người nghe tôi có thể là một sư chú hay một sư cô đang hành trì giới Sa di, hoặc vừa mới thọ giới lớn, hoặc tuy thọ giới lớn đã lâu nhưng vẫn còn khao khát học hỏi và sẵn sàng thay đổi để đi tới. Khi một người đi xuất gia, ta biết rằng có một động lực nào đó đã thúc đẩy người ấy đi xuất gia. Động lực ấy trong đạo Bụt gọi là Bồ Đề Tâm, bodhicitta. Bồ Đề Tâm là một thứ năng lượng rất mạnh – chính nó đã đẩy chúng ta đi xuất gia. Không xuất gia thì ta chịu không nổi. Nó mạnh đến mức đó. Bồ Đề Tâm là một ước vọng. Và khi ước vọng đó quá lớn thì chúng ta không thể nào chịu đựng nó được và ta phải xuất gia. Trong suốt thời gian sống đời sống của người xuất gia, năng lượng ấy tiếp tục giúp chúng ta có sự tinh tấn, có sự cần mẫn. Nó là một thứ năng lượng giúp chúng ta có đủ nghị lực để vượt thắng được tất cả mọi khó khăn và giúp cho chúng ta có hạnh phúc. Vì vậy nuôi dưỡng Bồ Đề Tâm là một công trình thực tập rất quan trọng. Nếu Bồ Đề Tâm bị tiếp tục soi mòn bởi đời sống hàng ngày thì chúng ta sẽ chết – chết với tư cách của một người xuất gia. Cái ước muốn lớn của chúng ta, như thế, là không được thành tựu.

Chúng ta đã biết là trong đạo Bụt hiểu biết với thương yêu là một. Nếu không hiểu được người kia thì chúng ta không thể thương được người kia. Bi là thương, trí là biết. Bi và trí đi đôi với nhau. Không hiểu mà thương thì mình có thể làm cho người đau khổ. Tâm Bồ Đề là tâm hiểu biết mà cũng là tâm thương yêu. Vì vậy Bồ Đề Tâm có thể được dịch là tâm hiểu biết hay tâm thương yêu. Vì muốn thương yêu cho nên ta đã đi xuất gia. Ta đã thấy được những khổ đau trong cuộc đời. Chứng kiến những khổ đau đó, ta thấy trong tâm phát sinh tình thương. Ta muốn làm một cái gì, muốn sống như thế nào để có thể cứu độ được những người đang đau khổ quanh ta, cho nên ta đã đi xuất gia. Động lực xuất gia, như vậy, là tâm thương yêu. Tâm thương yêu buổi ban đầu rất hùng tráng, và vì thế chúng ta có cái cảm giác rõ ràng là nếu không đi tu thì chúng ta chịu không nổi. Tại vì cái năng lượng gọi là Bồ Đề Tâm đó hùng hậu vô cùng. Năng lượng ấy muốn chúng ta sống cuộc đời ta như thế nào để ta có thì giờ và khả năng làm vơi bớt những nỗi khổ quanh ta. Vì vậy cho nên Tâm Bồ Đề là một ước muốn lớn. Ước muốn đó cần được nuôi dưỡng. Còn nếu chỉ vì muốn trốn tránh những đau khổ trong cuộc đời mà đi tu thì động lực thúc đẩy ta đi tu không phải là nguồn năng lượng của Bồ Đề Tâm, vì tuy đã xuất gia, đã mặc áo người tu, nhưng ta không có cái năng lượng cần có của một người xuất gia.

Bồ Đề Tâm phải được nuôi dưỡng trong đời sống hàng ngày. Nếu không, nó sẽ bị soi mòn. Vì vậy sống đời xuất gia trong một môi trường không thuận lợi có thể là một nguy hiểm lớn. Nếu không có môi trường thuận tiện, không có tăng thân giỏi, không có thầy hay, không có pháp môn thực tập hữu hiệu, hoặc có vấn đề với thầy, giận sư anh, giận sư chị, giận sư em, ngày nào cũng khổ đau, cũng khóc, thì chỉ trong một thời gian nào đó thôi, ta sẽ thấy Bồ Đề Tâm của ta bị soi mòn và ta sẽ ra đời. Do đó cho nên vấn đề môi trường tu học là vấn đề rất quan trọng. Ta phải tìm ra được một môi trường trong đó Bồ Đề Tâm của ta được nuôi dưỡng hàng ngày. Trong suốt 54 năm qua, từ ngày tôi xuất gia, Bồ Đề Tâm của tôi chưa bao giờ bị lung lay cả. Vì vậy cho nên tôi tự cho là một ông thầy tu có hạnh phúc. Hạnh phúc căn bản nằm ở chỗ Tâm Bồ Đề chưa bao giờ bị lay chuyển. Tâm Bồ Đề của tôi chưa bao giờ bị lay chuyển, điều đó không có nghĩa là trên con đường học đạo và hành đạo, tôi chưa bao giờ gặp những khó khăn hoặc những sự kiện có thể làm cho mình nản chí, bi quan mà mất đức tin. Nhờ tôi biết cách nuôi dưỡng Bồ Đề Tâm mà tất cả những trở ngại và tiêu cực ấy đã không đủ sức làm cho Tâm Bồ Đề của tôi lay chuyển. Khi Tâm Bồ Đề đã bị soi mòn hay lay chuyển rồi thì những dục lạc của cuộc đời bắt đầu có thể làm lung lay chí nguyện tu học của ta, và ta có thể bỏ tu ra đời. Chúng ta đã chứng kiến việc những người xuất gia ra đời, trong nước cũng như ngoài nước. Nếu quán sát kỹ lưỡng, ta sẽ thấy rằng sở dĩ họ ra đời là tại vì họ đã không được sống trong một môi trường thích hợp cho sự tiến tu. Trong số các thầy trẻ đi qua Hoa Kỳ, sống tại tiểu bang California để đi học, số lượng những vị bị rơi rụng rất nhiều. Chúng ta đổ lỗi cho ai? Chúng ta chỉ có thể nói rằng vì hoàn cảnh không thuận lợi. Một ông thầy còn trẻ không sống với tăng thân, chỉ muốn đi học ngoài đời với mục đích là kiếm một cái bằng cấp, mỗi ngày không có vị thân giáo sư nhắc nhở, mỗi ngày phải tiếp xúc với những hiện tượng tiêu thụ và hành lạc trong cuộc đời, môi trường đó quả thật là một môi trường rất xấu. Ở trong nước cũng có những thầy và những sư cô trẻ cứ nghĩ rằng phải có một cái bằng cấp nào đó thì khi nói, khi làm người ta mới nghe, người ta mới tin. Nghĩ như vậy cho nên họ mới đổ dồn năng lượng vào chuyện đi học để có một cái bằng cấp. Có khi họ không ở chùa, có khi họ ra ở nhà thế gian để đi học. Rơi rụng, trong trường hợp này, là chuyện dĩ nhiên.

Môi trường tốt

Nếu ta chưa xuất gia mà đã có ý định muốn xuất gia thì chúng ta phải rất cẩn thận về điểm này. Môi trường nơi đó ta sẽ sống đời sống của một người xuất gia sẽ quyết định sự thành công hay thất bại của ta. Cho nên ta đừng vội vã quyết định. Phải tới với môi trường đó; phải đi thăm những môi trường khác. Và khi đã tìm ra được môi trường thích hợp, ta phải ở lại đó trong một thời gian, ví dụ ba tháng, và tập sống y hệt như những người xuất gia để xem thử trong thời gian ấy Tâm Bồ Đề của ta có được nuôi dưỡng hay không. Suốt trong ba tháng ấy, ta phải thấy mỗi ngày ta có được nuôi dưỡng bởi niềm vui của đời sống xuất gia hay không. Ta có cảm thấy yếu tố của vững chãi, của an lạc và của thảnh thơi được tăng tiến mỗi ngày hay không. Nếu ta thấy trong thời gian ấy mà Bồ Đề Tâm của ta được nuôi dưỡng thì ta biết rằng môi trường này là môi trường thích hợp cho sự xuất gia của ta. Còn không thì ta đừng hy vọng hão huyền. Nếu trong môi trường ấy mà Bồ Đề Tâm của ta không được nuôi dưỡng thì ta biết chắc chắn rằng xuất gia ở đây sẽ thất bại. Ở ngoài đời, khi đi cưới vợ hay lấy chồng, người ta không có cái cơ hội đó – không có cái cơ hội sống “thử’’ với người kia ba tháng để xem có hạnh phúc hay không, tại vì luật ở ngoài đời là phải làm đám cưới xong thì mới được sống chung. Ở tu viện thì trái lại, ta có cơ hội đem hết trí tuệ với trái tim của ta để kinh nghiệm, để xét đoán, để xem thử là tăng thân này (nghĩa là đoàn thể tu học này) có phải là môi trường thuận lợi cho đời sống xuất gia của mình hay không. Ta đến chùa và xin ở như là một người tập sự xuất gia. Ta làm tất cả mọi công việc, ta thực tập hầu hết những gì mà một người xuất gia đang thực tập, và cố nhiên trong thời gian đó ta sẽ có một cái thấy trực tiếp về sự thực của môi trường.

Sự nghiệp giác ngộ

Người đời ai cũng theo đuổi một sự nghiệp. Người xuất gia cũng có sự nghiệp của mình, nhưng sự nghiệp của người xuất gia rất khác với sự nghiệp ở ngoài đời. Ở ngoài đời, người ta cần có một bằng cấp, một địa vị, một danh tiếng để có thể gọi là thành công. Sống trong chùa với tư cách một người xuất gia, chúng ta không cần một cái bằng cấp, dầu là bằng cấp Cao Đẳng Phật Học, chứ đừng nói là bằng cấp cử nhân hay tiến sĩ. Có nhiều nhà tu cho sự nghiệp của họ là ngôi chùa của họ, là địa vị của họ trong giáo hội và trong xã hội. Có những nhà tu có bằng cấp tiến sĩ và rất bằng lòng với cái bằng cấp đó. Có người cho rằng sự thành công của họ là một ngôi chùa lộng lẫy, có nhiều bổn đạo lui tới. Họ làm hội trưởng hội Phật Giáo, họ làm viện chủ, họ làm hòa thượng, và có khi họ làm học giả. Họ cho xuất bản những cuốn sách rất có tính cách bác học, để chứng tỏ rằng họ có khả năng nghiên cứu thâm uyên. Hạnh phúc của họ nằm ở trong những thành tựu đó. Họ có thể được ca ngợi là một nhà học giả thâm uyên, như là một người đậu bằng cấp cao, như là viện chủ một ngôi chùa lớn có nhiều bổn đạo, nhưng những thành tựu đó không phải là mục đích của người xuất gia. Người xuất gia trẻ có nên ao ước địa vị của những người ấy không? Chúng ta phải chiêm nghiệm về vấn đề này rất kỹ, bởi vì trong giới những người xuất gia trẻ có rất nhiều người hiện đang hướng theo con đường này, dùng thời giờ và năng lượng của đời mình để chạy theo những cái bả danh lợi, dù là những bả danh lợi trong phạm vi nhà chùa. Cái năng lượng của sự ao ước đó thúc đẩy chúng ta đi học, đi nghiên cứu, đi vận động. Cái năng lượng đó không phải là Bồ Đề Tâm; cái năng lượng đó chỉ là tâm Danh Lợi được trá hình dưới Bồ Đề Tâm. Ước muốn làm nhà học giả Phật học, ước muốn làm một giáo sư Phật học nổi tiếng, ước muốn thi đậu một bằng cấp lớn, ước muốn làm viện chủ một thiền viện hoặc một tu viện lớn, ước muốn được người ta cung kính, trọng vọng và cúng dường, ước vọng ấy quyết không phải là Bồ Đề Tâm. Hiện giờ, có biết bao nhiêu người tu trẻ đang bị kẹt vào cái thế đó mà không tự biết, cứ nghĩ rằng mình đang thực sự tu đạo và phục vụ cho đạo. Trong khi đó, sự nghiệp của người xuất gia cao cả hơn một triệu lần. Đi xuất gia là để chuyển hóa những khổ đau của mình, để đạt tới hiểu biết lớn, tức là Đại Giác Ngộ, để đạt tới tình thương lớn, tức là Đại Từ Bi, để đạt tới cái tự do lớn, tức là Đại Tự Tại. Đây không phải là những danh từ, đây là những cái ta có thể thực hiện được bằng sự tu tập. Nhìn cho kỹ, ta thấy có những người có hiểu biết lớn, tình thương lớn và tự do lớn. Những người có hiểu biết, thương yêu và tự do là những người có hạnh phúc và khả năng ban phát hạnh phúc. Có những người có bằng cấp lớn, làm học giả nổi tiếng, làm viện chủ những ngôi chùa lớn nhưng không có những yếu tố đó. Họ không có hạnh phúc chân thực.

Khi ta thấy ta đã có thêm hiểu biết, thương yêu và tự do là ta đã có chuyển hóa. Sự chuyển hóa ấy là do công trình tu học của ta và nhờ đó ta biết là ta đã có khả năng độ người. Người khác đến học với ta không phải vì ta là viện chủ một ngôi chùa lớn, không phải vì ta có một hoặc hai, ba hay bốn cái bằng tiến sĩ, mà là vì ta có một cái gì mà người ấy không có, cái đó là đức độ của ta, tự do của ta, những pháp môn tu tập và chuyển hóa của ta, những pháp môn mà chính ta đã thực tập. Tại Làng Mai, mỗi mùa hè, mỗi mùa thu, người tới tu tập rất đông, trong số đó có rất nhiều người có bằng tiến sĩ. Những người ấy tới quyết nhiên không phải vì ta có bằng cấp tiến sĩ, mà vì ta có vững chãi, thảnh thơi, an lạc và giải thoát. Mục đích cao cả nhất của người tu là đem lại chất liệu của vững chãi, thảnh thơi và an lạc vào cơ thể và tâm hồn của mình, và nhờ vậy mà mình có khả năng độ người. Ta có thể giúp cho những người tới với ta vượt thoát những hố sâu của phiền muộn và khổ đau của họ. Mục đích của người xuất gia là để làm một vị thầy có khả năng đưa người ra khỏi nẻo khổ đau tăm tối của họ -đưa bằng đức độ mình, bằng trí tuệ mình, bằng giải thoát mình, bằng đạo đức mình, chứ không phải bằng tiền bạc và quyền thế. Đọc ở trong kinh Bát Đại Nhân Giác, dạy về tám điều giác ngộ của các bậc đại nhân, ta thấy câu “duy tuệ thị nghiệp’’, có nghĩa là chỉ có sự hiểu biết lớn mới là sự nghiệp duy nhất của người xuất gia. Sự nghiệp của người tu là sự hiểu biết lớn, mà như ta đã biết, hiểu biết lớn là thương yêu lớn. Hiểu biết ở đây là Bồ Đề, không phải là kiến thức có thể chất chứa trong khi học hỏi. Khi ta chất chứa những học hỏi ở nhà trường, hoặc ở Viện Cao Đẳng Phật Học, thì dầu những kiến thức đó là những kiến thức Phật học, chúng cũng chỉ là những kiến thức mà thôi. Người ta có thể nói thao thao bất tuyệt về kinh điển Tam Tạng, nhưng những điều người ta nói có thể không dính líu gì đến sự sống hàng ngày của người ta cả -người ta vẫn hẹp hòi, vẫn ganh tỵ, vẫn nhỏ nhen, vẫn sân si như thường -thì kiến thức, dầu là kiến thức Phật học, cũng có ích lợi gì cho người ta và cho chúng ta đâu? Kiến thức không phải là hiểu biết. Chính cái hiểu biết gọi là Bồ Đề mới giải phóng được cho ta khỏi những u mê, những khổ đau và giúp ta trở nên thảnh thơi, nhẹ nhàng và an lạc, giúp ta có khả năng tự độ và độ người. Đó là mục tiêu đích thực của người tu. Cho nên mỗi khi thấy các cô, các chú đang lao đầu vào chuyện đi học đời để có thể giật được một bằng cấp, chúng ta rất lấy làm thương cảm. Chúng ta biết rằng họ đang không đi đúng đường và sau này họ sẽ đau khổ và hối hận.
Có những trường Phật học trong đó người học tăng học hối hả, cố nhét vào đầu càng nhiều kiến thức càng tốt, mà không có cơ hội đem những gì mình học áp dụng vào đời sống hằng ngày. Những kiến thức này không được tiêu hóa. Người dạy nói rất nhiều, người nghe ghi chép rất nhiều, nhưng những điều được nói, được nghe hình như không có ảnh hưởng gì đến những đau khổ, khó khăn và xung đột trong tâm tư và trong đời sống hàng ngày của họ. Viện Phật Học tốt là nơi người học tăng có cơ hội dự pháp đàm, tiếp nhận những pháp môn thực tập và cùng thực tập với tăng thân của họ. Pháp môn phải chứng tỏ là có hiệu quả và có khả năng chuyển hóa thì đời tu học mới có hạnh phúc. Cũng như ở các trường y khoa, khoa học, mỹ thuật, sinh viên phải thực tập và thực tập phải thành công, Viện Phật Học cũng là một tu viện trong đó người học tăng phải thực tập cho thành công, nghĩa là chuyển hóa được khổ đau nội tâm và thiết lập được liên hệ tốt đẹp với các thành phần khác của tăng thân. Từ ba tháng đến sáu tháng mà không thấy có chuyển hóa gì trong thân tâm thì ta biết là pháp môn ta thực tập chỉ có giá trị hình thức. Ta phải lập tức đi cầu cứu với thầy và với bạn.

Hạnh phúc bây giờ

Khi có Bồ Đề Tâm, nghĩa là có cái ước muốn lớn thương người và độ đời, là chúng ta đã bắt đầu có hạnh phúc. Dầu ngoài trời có lạnh, dầu hoàn cảnh có khó khăn, dầu khổ đau còn đầy dẫy, nhưng nếu đã có năng lượng Bồ Đề Tâm trong ta thì ta đã có sức ấm và nghị lực để có thể đương đầu với mọi thứ khó khăn và đó đã là một cái hạnh phúc rồi. Ta có một con đường đi, và ta quyết tâm đi trên con đường ấy, điều này đã là hạnh phúc. Có những người không thấy đường đi, không biết mình phải đi về đâu. Những người ấy sống rất bơ vơ và trống lạnh. Đó là những người đau khổ. Có Bồ Đề Tâm là đã có một điều kiện căn bản của hạnh phúc.

Con đường Bụt dạy là con đường có thể đem lại hạnh phúc cho ta ngay vào giờ phút đầu của sự tu học. Chúng ta không cần phải đợi năm năm hay mười năm sau mới có hạnh phúc. Giáo pháp của Bụt rất mầu nhiệm; đó không phải là một hứa hẹn hão huyền về tương lai, đó không phải là cái mà ta chỉ có quyền tin; trái lại đó là điều ta có thể thực chứng. Giáo pháp của Bụt có tính cách “hiện thân thọ chứng’’, nghĩa là với cái thân thể của mình đây, mình có thể sờ mó được, kinh nghiệm được nó một cách trực tiếp. Tiếng Pali là sanditthika. Ditthi là thấy, thấy bằng chính con mắt của mình. Có khi ta dịch là “ư hiện pháp trung”, nằm ngay ở trong giây phút hiện tại. Ta không phải đợi năm hay mười năm, vì khi ta bắt đầu nắm lấy giáo pháp ấy để tu tập, giáo pháp ấy có hiệu quả ngay lập tức. Ta thấy được cái an lạc ngay trong khi ta thực tập. Giáo pháp của đức Thế Tôn lại có tính cách vượt thoát thời gian, akalika. Có thể dịch là “bất quán thời nhật’’. Tiếng Anh là “it’s not a matter of time’’. Ngay lúc sư chú nắm lấy hơi thở và thở trong chánh niệm thì sư chú đã thấy được cái giá trị của hơi thở chánh niệm, đã thấy được cái hiệu năng của hơi thở chánh niệm. Sự thực tập có hiệu lực trên thân và tâm của sư chú liền lập tức, và sư chú có thể có hạnh phúc ngay trong giờ phút đó. Nếu đã tu ba năm hay năm năm mà ta vẫn không thấy có hạnh phúc gì, thì điều đó chứng tỏ rằng ta đã không được học và tu trong một môi trường thích hợp. Ta không có một vị thầy có thể chỉ cho ta những pháp môn tu học để ta có thể có hạnh phúc ngay từ thuở ban đầu. Ta không có tăng thân để soi sáng và nâng đỡ cho ta trong sự thực tập hằng ngày và ta cũng không có pháp môn tu học. Không có Thầy và không có tăng thân thì ta rất khó thành công. Khi ta không cảm thấy có hạnh phúc trong đời tu học và nếu đời sống cứ kéo dài như thế thì Tâm Bồ Đề của ta sẽ bị soi mòn. Đó là sự lỗ lã lớn nhất trong cuộc đời người tu. Nếu một người tu đánh mất Bồ Đề Tâm của mình thì người tu đó được coi như là đã chết. Dầu người đó còn đi, còn đứng, còn ăn, còn ngồi, còn tụng kinh, nhưng thật sự người đó đã chết.

Kiến thức không phải là tuệ giác

Tuệ giác không phải là cái mà ta có thể thu thập được từ sách vở hay kinh điển mà là hoa trái của công phu thực tập. Thiền sư Huệ Năng là một người không có bằng cấp. Nhưng tại sao người ta đã tới nườm nượp với thiền sư để tu học? Đó là vì thiền sư có trí tuệ lớn, có hiểu biết lớn. Hiểu biết lớn này không phải do một trường đại học trao truyền, cũng không phải là do một Viện Phật Học đào tạo un đúc. Đó là hoa trái của sự tu tập và quán chiếu. Sư anh Nguyện Hải của nhiều vị ở đây cũng không có bằng cấp. Quý vị đã từng sống với Sư anh ở đạo tràng Mai Thôn và đã thấy Sư anh phát tuệ chỉ nhờ phép thực tập chánh niệm. Sư anh đã có thể làm những điều mà các sư em có bằng cấp tiến sĩ hay là cử nhân vẫn chưa làm được. Tuệ là cái được phát sinh ra do công trình tu học chứ không phải do công trình nghiên cứu. Khi có tuệ thì nhìn vào bất cứ một khổ đau nào, một vấn đề nào hay là một kinh điển nào, ta cũng có thể thấy được những điều mà những người khác không thấy. Cái này không do học hỏi. Tinh ba của đời tu học là nếp sống nội quán, nếp sống nội tĩnh, luôn luôn chiếu ánh sáng chánh niệm của mình vào bên trong. Khi đi, đứng, nằm, ngồi, nghe, nhìn, ăn, uống, ta phải lấy ánh sáng của chánh niệm để chiếu vào đối tượng thì tự nhiên trong mỗi giờ, mỗi phút của đời sống hằng ngày ta có thể sống sâu sắc và ta bắt đầu thấy được những điều mà người khác không thấy. Đó là phép lạ của ánh sáng chánh niệm. Ta thực tập được phép gọi là “hiện pháp lạc trú’’, sống an lạc và hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại. Nếu sư chú tu cho đúng phép, thì ngay trong tuần lễ đầu sư chú đã có hạnh phúc trong đời sống hằng ngày rồi. Đây là hiện pháp lạc trú. Đi vào nhà bếp, mỗi bước chân của sư chú đều có thể đem lại hạnh phúc cho sư chú. Trong khi lau nhà cầu, sư chú an trú trong chánh niệm, sư chú thấy lau nhà cầu cũng mầu nhiệm như ngồi thiền và sư chú có hạnh phúc. Mỗi động tác, mỗi ngôn ngữ, mỗi lời nói, mỗi cái nhìn, mỗi bước chân của người tu cần được đi theo chánh niệm. Đây không phải là lao tác mệt nhọc. Ta không đày ải ta hoặc bắt buộc ta làm một cái gì mà ta không thích. Mỗi bước chân chánh niệm là do ta tự ý bước với hơi thở chánh niệm của ta. Một bước chân như thế sẽ đem lại cho ta rất nhiều an lạc. Ta bước như bước trên Tịnh độ. Ngay trong tuần lễ đầu ta đã biết bồi đắp và vun bón sự vững chãi và thảnh thơi của ta. Một sư chú hay một sư cô trong khi đi, đứng và làm việc mà có sự vững chãi và thảnh thơi thì đã chứng tỏ là có hạnh phúc rồi, dầu các vị chưa thọ giới lớn, chưa được làm giáo thọ. Không cần phải đợi thọ giới lớn, không cần phải đợi làm Hòa Thượng, chỉ cần làm một Sa di là đã có thể có hạnh phúc. Đó là thực tập theo nguyên tắc hiện pháp lạc trú mà Bụt đã chỉ dạy. Nội cái chuyện ta giữ được niềm tin của ta là ta đã có hạnh phúc rồi. Có những người không có niềm tin. Có những người không có đức tin nơi thầy, nơi sư anh, sư chị và sư em của mình. Có những người không có đức tin nơi con đường của mình đi. Đi trên con đường tu học, nếu mỗi ngày ta có thể bồi đắp thêm được một chút thảnh thơi, vững chãi và an lạc thì càng ngày niềm tin của ta càng lớn và chính cái đó làm cho ta có hạnh phúc, dầu cho ta có ăn thiếu một chút hoặc mặc thiếu một chút. Còn nếu không có niềm tin ấy và hạnh phúc ấy thì dù có dư dả tài vật, chùa to, Phật lớn, bổn đạo ra vào nườm nượp, mình vẫn không có hạnh phúc như thường.

Tu cho mọi người

Còn gia đình? Còn xã hội? Người xuất gia không lẽ chỉ lo cho một mình thôi sao? Sự kiện ta đang sống với tư cách của một người xuất gia trong tăng thân và sự kiện mỗi giây phút ta đang thực tập vững chãi, thảnh thơi và hạnh phúc đã bắt đầu có tác dụng lập tức trên đời sống của gia đình ta và của xã hội ta rồi. Quý vị nào đã xuất gia, đã tu tập thì cũng đã chứng thực được điều đó. Trong chiếc áo của một người xuất gia, nếu ta đi được từng bước chân thảnh thơi, nếu ta ngồi được vững chãi, nếu ta tu học có hạnh phúc với tăng thân, thì dầu gia đình ta có đang bị rối rắm hay lung lay đến mấy cũng sẽ bắt đầu an định trở lại, tuy ta chưa trực tiếp làm gì cho gia đình ta cả. Cái quý nhất mà người xuất gia có thể hiến tặng cho gia đình là sự an lạc, vững chãi và thảnh thơi của mình, là tuệ giác và đạo đức của mình, chứ không phải là đi làm, đi bán thời gian để gởi tiền về mà gọi là giúp được gia đình. Những người xuất gia có hạnh phúc luôn luôn trở thành vị lãnh đạo tinh thần của gia đình mình; các vị có uy tín tinh thần, các vị có khả năng giải quyết được những hiện tượng rối rắm, chia rẽ, xung đột hay lung lay của gia đình các vị. Điều đó đã được chứng tỏ liên tiếp từ trường hợp này đến trường hợp khác. Ta ngồi yên đó, có vững chãi và thảnh thơi thì gia đình ta sớm muộn gì cũng sẽ được chuyển hóa, huống hồ là ta trực tiếp can thiệp vào bằng những pháp môn tu học. Còn nếu ta ăn không yên, ngồi không vững trong chiếc áo tu của ta thì gia đình ta sẽ còn tiếp tục lộn xộn. Khi trông thấy một người tu, một sư chú, một sư cô, vững chãi, thảnh thơi, đi đứng nhẹ nhàng, khoan thai và an lạc, những người ngoài xã hội đã bắt đầu cảm thấy ấm lòng, trong trái tim của họ bắt đầu có tin tưởng và hạnh phúc. Trong buổi nói chuyện công cộng tại cung Mutualité ở Paris tuần trước, khi tôi nói pháp thoại thì trên bục có khoảng bốn mươi các thầy và các sư cô ngồi rất vững chãi, thảnh thơi và tự tại. Quý vị ấy tuy không nói pháp thoại, nhưng quý vị cũng đang nói pháp thoại bằng cách thức có mặt của mình. Trong số một ngàn hai trăm người ngồi nghe, có khoảng mười phần trăm là người gốc Việt, và có vị đã kể lại rằng khi nhìn thấy các sư chú và sư cô ngồi thảnh thơi và an lạc như vậy nhiều người đã khóc, đã cảm động, đã hạnh phúc. Những điều các vị ấy chưa làm được thì nay các sư chú, sư cô đã và đang làm được cho họ. Đó là một niềm an ủi rất lớn cho các vị ấy. Chúng ta tu không phải là để cho riêng chúng ta, chúng ta tu là tu luôn cho tổ tiên, gia đình và con em chúng ta. Chúng ta cũng tu cho mọi người trong xã hội. Xã hội có thêm một người tu hạnh phúc thì phẩm chất đời sống của xã hội đã được nâng cao thêm. Vì vậy cho nên môi trường thuận lợi của người tu là môi trường trong đó ta có thể thực tập được chánh niệm. Có nhiều chùa chỉ biết sử dụng tài năng của người xuất gia để làm cho chùa có chân đứng vững vàng trong thành phố, nhất là những người xuất gia này đã có một ít học thức và tài năng ngoài đời. Khi các người này xuất gia, thầy trụ trì thường hay sử dụng tài năng của người ấy để lo điều hành việc chùa như làm thư ký, sử dụng máy điện toán, làm thủ quỹ, làm tri khách. Chùa nào cũng cần một người tri khách giỏi, có tài ngoại giao, một người có tài quản lý và tính toán. Vào chùa mà có những tài năng như thế thì ta thường được vị sư trưởng sử dụng, do đó ta trở thành rất quan trọng. Ta trở thành cánh tay phải của thầy. Có khi không có ta thì thầy sẽ cảm thấy như bị bó tay và không làm gì được. Đó là một tai nạn lớn cho người xuất gia. Cứ sống và phục vụ cho chùa như thế, mình sẽ có thể trở thành một vị quản lý giỏi, một vị viện chủ giỏi đấy. Mình có thể thành công như là một người lãnh đạo tổ chức, nhưng mình sẽ thất bại với tư cách một người xuất gia. Mình không trở thành một vị đạo sư có thể độ mình và độ người. Đó là một sự oan uổng cho chính mình, cho gia đình mình, cho cả thầy mình và cho cả tăng thân nữa. Vì vậy cho nên khi đi xuất gia, ta phải nhớ rằng cái tài năng phục vụ tổ chức của ta là thứ yếu. Ta phải để hết tâm lực của ta vào chuyện thực tập. Ta phải tập đi, tập đứng, tập nói, tập cười, tập ăn, tập thở; ta phải thực sự đi vào pháp môn hiện pháp lạc trú. Ta phải bồi đắp và vun bón cái vững chãi, cái thảnh thơi và cái an lạc của ta ngay từ những ngày đầu của cuộc đời tu học. Sử dụng tài năng của ta để làm việc cho chùa, điều đó tuy là cần thiết, có thể đem lại cho mình cái cảm tưởng là mình quan trọng, mình đang đóng vai trò của một bậc hộ pháp, nhưng điều đó cũng là một điều rất nguy hiểm. Mình có thể đang cô phụ cái chí lớn xuất gia của mình, đang cô phụ Bồ Đề Tâm của mình. Cho nên các vị mới xuất gia cần được khuyến khích là phải để hết cái tinh lực của mình vào trong việc thực tập hành trì chánh niệm. Trong khi chấp tác để phục vụ tăng thân và cơ sở tu học, phải xem chấp tác là sự thực tập, mỗi động tác và mỗi bước chân đều phải được soi sáng bởi chánh niệm. Đừng bao giờ ta để công việc lôi kéo ta đi vào thế giới của thất niệm.

                                                             Thích Nhất Hạnh (Làng Mai-Pháp)
Một số bài giảng Audio của TT Thích Chân Quang

10. Hơn và Kém
Download

11. Nhân và Duyên
Download

12. Kiếp Người
Download

 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Mười Hai 4, 2009 in Bài Giảng, Phật Giáo

 

Nhãn: ,