RSS

ÐỨC PHẬT VÀ GIÁO PHÁP CỦA NGÀI – Ernest K. S. Hunt, 1962- Tịnh Minh dịch Việt, 1992 – 5

18 Sep

ÐC PHT VÀ GIÁO PHÁP CA NGÀI – 5

Ernest K. S. Hunt, 1962

Tịnh Minh dịch Việt, 1992


           

 

 

Lesson 39

Testing the Way – II

History is full of the records of men and women who have followed the Buddha’s way and their lives are shining lights of love, goodness, and happiness. They bear witness to the truth of the Buddha’s teaching and they speak from experience for they have tried it and found it good.

A wise salesman once said : “I do not have to advertise my goods; my customers do the advertising for me”.

These words are very true for if we have found something which is good our natural impulse is to tell others about it. If they refuse to believe us of course we cannot force them to benefit by our discovery.

The Lord Buddha does not attempt to force us to listen to him. He merely tells about what he has discovered and leaves it up to us to choose whether we care to learn about it or not.

There are many ways by which we can test the Lord Buddha’s teaching. Here are three ways. Firstly – by examining the lives of those who are really his followers. Secondly, by seeing if his teachings agree with the laws of life. Thirdly, by looking at them in the light of our own experiences.

To examine the lives of Buddhists one must take a country where Buddhism has been the religion for a long time. Japan, Burma, Ceylon, and Siam are all good places in which to study, the influence of Buddha in the lives of the people.

The gentle, courtesy and upright lives of the Japanese; the happy, loving and peaceful natures of the Burmese and Siamese; the morality and the common sense behaviour of the people of Ceylon all show that Buddhism has indeed proved to be the genuine article and has given these people a high example of right conduct.

If happiness is the result of good thoughts, words and actions then indeed must these nations have found the secret of right living for they are the happiest peoples in the world.

If we try the second test we will see that the truths which are the foundation of the Lord Buddha’s teaching are the very laws of life itself. karma, the oneness of all life and the law of change are known and taught by all great scientists today.

Thirdly, let us take our own experiences. Have we ever found true happiness resulting from wrong doing? Can we ever escape from the Law of Change? Can we ever sow evil seeds and reap beautiful flowers?

These are only a few ways in which we are able to test the Master’s teaching. As we study more we shall be surprised to find how wonderful his teaching is and how true in every way.

 

QUESTIONS (17)

1. How can we be sure the Buddha found the right way?
2. Are we forced to walk the Path laid down for us by the Buddha?
3. How many ways are there of testing the Buddha’s teaching?
4. What is the first way of testing?
5. What is the second way of testing?
6. What is the third way?
7. What great truths are the scientists of today teaching that are foundations of Buddhism?

-ooOoo-

Bài 39

KIỂM NGHIỆM CON ÐƯỜNG – II

Lịch sử đầy ắp những lý lịch của các ông các bà đã theo Ðạo Phật và cuộc đời của họ đang rực rỡ ánh sáng yêu thương, hiền thiện và hạnh phúc. Họ minh chứng sự thật về giáo pháp của Ðức Phật và nói lên từ kinh nghiệm, vì họ đã hành trì giáo pháp và thấy kết quả rất tốt đẹp.

Một ông bán hàng khôn ngoan có lần nói: “Tôi không phải quảng cáo hàng hóa của tôi; khách hàng của tôi làm công việc quảng cáo cho tôi”.

Những lời tâm sự này rất đúng, vì rằng khi thấy cái gì tốt thì tự nhiên chúng ta muốn thông báo cho người khác biết. Nếu họ không tin thì dĩ nhiên là chúng ta không thể buộc họ tiếp nhận lợi ích từ sự khám phá của mình.

Ðức Phật không ra sức ép buộc chúng ta nghe theo Ngài. Ngài chỉ nói những gì Ngài đã khám phá và để cho ta tự do chọn lựa, quan tâm học tập hay không là tùy ý mình.

Chúng ta có thể kiểm tra giáo pháp của Ðức Phật bằng nhiều cách. Ở đây có ba cách. Trước nhất, quan sát cuộc sống của những người thật sự là đệ tử của Ngài. Thứ hai, xem xét giáo pháp Ngài có phù hợp với qui luật của cuộc sống không. Thứ ba, soi rọi chúng bằng ánh sáng kinh nghiệm của riêng mình.

Ðể quan sát đời sống của Phật tử, chúng ta phải chọn một đất nước mà Ðạo Phật là tôn giáo đã tồn tại từ lâu. Nhật Bản, Miến Ðiện, Tích Lan, Thái Lan là những nơi thích hợp cho việc nghiên cứu ảnh hưởng của Ðức Phật đối với cuộc sống quần chúng.

Nếp sống hòa nhã, lịch sự và chính trực của người Nhật; bản chất hoan hỷ, từ ái và ôn hòa của người Miến Ðiện và Thái Lan; hành vi đạo đức và ý thức cộng đồng của dân tộc Tích Lan, tất cả đều cho thấy rằng Ðạo Phật thực sự đã chứng minh là chân thật, đã ban cho các dân tộc đó một biểu mẫu chánh hạnh cao cả.

Nếu hạnh phúc là hậu quả của tư tưởng, ngôn ngữ và hành động tốt đẹp thì các dân tộc đó hẳn đã tìm ra bí quyết của cuộc sống chân chánh, vì họ là những dân tộc hạnh phúc nhất thế giới.

Nếu thử cuộc kiểm tra lần thứ hai, chúng ta sẽ thấy những sự thật làm nền tảng giáo pháp của Ðức Phật đích thị là qui luật của chính cuộc đời. Nghiệp cảm, cái chung nhất của mọi sinh mệnh, và định luật vô thường đã được tất cả các nhà khoa học vĩ đại ngày nay am tường và thuyết giảng.

Thứ ba, chúng ta hãy lấy kinh nghiệm của chính mình. Có bao giờ chúng ta thấy hạnh phúc thật sự phát xuất từ hành động sai lầm? Chúng ta có bao giờ thoát khỏi Ðịnh Luật Vô Thường? Chúng ta có bao giờ gieo hạt xấu ác mà hái hoa tươi đẹp?

Ðây chỉ là vài phương thức mà ta có thể kiểm tra giáo pháp của Ðức Bổn Sư. Khi nghiên cứu thêm chúng ta sẽ ngạc nhiên thấy giáo pháp của Ngài vô cùng tuyệt vời, vô cùng chân thật trong mọi phương diện.

CÂU HỎI (17)

1. Làm sao chúng ta có thể tin chắc rằng Ðức Phật đã tìm ra chánh đạo?
2. Chúng ta có bị bắt buộc đi theo con Ðường do Ðức Phật vạch ra cho chúng ta không?
3. Có bao nhiêu cách kiểm tra giáo pháp của Phật?
4. Cách kiểm tra thứ nhất?
5. Cách kiểm tra thứ hai?
6. Cách thứ ba?
7. Các nhà khoa học ngày nay đang thuyết giảng những sự thật cao quí nào là nền tảng của Ðạo Phật?

-ooOoo-

Lesson 39:
advertise (v) :
quảng cáo
bear witness to : làm chứng cho
behaviour (n) : hành vi, thái độ
benefit by (v) : tiếp nhận lợi ích từ
conduct (n) : hạnh kiểm
courtesy (n) : sự nhã nhặn
customer (n) : khách hàng
force (v) : bắt buộc, cưỡng ép
foundation (n) : nền tảng
impulse (n) : sự thúc đẩy
morality (n) : đạo đức, phẩm hạnh
record (n) : hồ sơ, lý lịch
result from (v) : bắt nguồn từ, phát xuất từ.
sense (n) : ý thức, trí giác
witness (n) : chứng cớ, bằng chứng

Lesson 40

The Bank of Life

Some of you, because you are still young, are very liable to think that we have said too much about the pain and sorrow of life and that this world in which we are living is not such a bad place after all.

If these thoughts have came into your minds it is but natural that you should ask why we dwell so much upon this sadness instead of speaking more about the joy and happiness of the world. Perhaps you even feel that the Buddha’s teaching is somewhat sad and gloomy; more suitable for older people who must soon die.

I will tell you the reason why the Lord Buddha keeps on reminding us about sorrow. It is not to make us sad and unhappy-far from it-it is to help us realize why such sadness exists and to enable us to live in such a way as to prevent it from coming into our own lives and spoiling them.

All this sorrow which we see around us is the result of ignorance. Ignorant thoughts, words and actions have in truth created this unhappy state of existence.

As the result of ignorance must always be suffering, so also the result of knowledge will always be happiness and peace. We all want to get as much joy and happiness out of life as we possibly can; we do not wish to suffer any more than we can help.

Nor do we really need to suffer at all if we live as we should do, in obedience to certain great laws. Life is meant to be joyful and pleasant. It is we who have put the pain and unhappiness into it by our own ignorance.

We get out of life exactly what we put into it plus the interest of experience. So if life is sad we must have placed into it thoughts, words and actions which brought about this sadness and pain. To put it in a different way, we must have lived ignorantly instead of wisely.

Life is like a great bank in which we may store our treasures of good thoughts, words and actions.

A person who has money in the bank may draw checks upon it and they will be honoured. That is to say, the bank will pay out the money when these checks are presented. A person, however, who has no money at all in the bank cannot write checks that will be honored. When such a check is presented at the bank it will not be paid but will be returned to the sender marked “no funds”.

In the same manner : if we present a check for happiness at the bank of life when we have only deposited ignorance, we will have our check returned to us marked “no funds”. But if, on the contrary, we have been wise and have put into this bank good thoughts, words and actions, we can easily present our check and know that it will be paid at once.

-ooOoo-

Bài 40

NGÂN HÀNG CUỘC ÐỜI

Một số các bạn, vì còn trẻ, rất có thể nghĩ rằng chúng ta đã nói quá nhiều về nỗi đau khổ của cuộc đời, và thế giới mà chúng ta đang sống đây, xét cho cùng, cũng không phải là nơi tồi tệ đến thế.

Nếu những tư tưởng này đi vào đầu óc các bạn thì tự nhiên là các bạn sẽ hỏi tại sao chúng ta chú trọng quá nhiều đến sự đau buồn mà không nói thêm đôi chút về sự hoan lạc, hạnh phúc của trần thế. Có lẽ các bạn còn cảm thấy giáo pháp của Ðức Phật hơi âu sầu, ảm đạm; chỉ phù hợp với các ông già bà lão sắp phải tiêu diêu.

Tôi sẽ cho các bạn biết lý do tại sao Ðức Phật luôn luôn nhắc nhở chúng ta về nỗi đau khổ. Không phải để làm cho ta đau buồn – trái lại là khác – mà để giúp ta nhận ra nguyên do tại sao nỗi khổ đau như thế vẫn tồn tại, và có thể giúp ta ngăn ngừa, không cho nó xâm nhập và làm hỏng cuộc sống của chính chúng ta.

Tất cả những nỗi khổ đau diễn ra chung quanh ta là hậu quả của vô minh. Tư tưởng, ngôn ngữ và hành động vô minh thực sự đã tạo ra trạng thái đau khổ cho cuộc sinh tồn.

Hậu quả của vô minh phải là đau khổ; cũng thế, hậu quả của trí tuệ sẽ là hạnh phúc, an lạc. Tất cả chúng ta đều muốn được nhiều an vui, hạnh phúc cho cuộc đời; chúng ta không hề mong chịu khổ đau bất hạnh.

Thật ra chúng ta cũng không cần phải gánh chịu khổ đau nếu chúng ta sống hợp với một số qui luật cao thượng. Ðời có nghĩa là an vui, hoan hỷ. Chính chúng ta đã đặt khổ đau vào cuộc đời bằng chính sự vô minh của mình.

Chúng ta nhận được từ cuộc đời đích thị những gì mà mình đã đặt vào đó cùng sự lợi lạc do kinh nghiệm. Vì vậy, nếu đời là đau buồn thì hẳn là ta đã đặt vào đó những tư tưởng, ngôn ngữ và hành động mang lại đau buồn, nói cách khác thì chúng ta hẳn đã sống một cách ngu muội chứ không sáng suốt.

Cuộc đời cũng giống như một ngân hàng to lớn, nơi chúng ta tàng trữ những kho báu tư tưởng, ngôn ngữ và hành động hiền thiện của mình.

Một người gởi tiền vào ngân hàng có thể rút các ngân phiếu và chúng sẽ được chi trả ngay. Nghĩa là ngân hàng sẽ trả tiền khi những ngân phiếu này được trình ra. Tuy nhiên, một người không có tiền bạc gì ở ngân hàng thì không thể viết ngân phiếu để được chi trả. Khi một ngân phiếu như thế trình ra tại ngân hàng thì sẽ không được thanh toán mà sẽ được phát hoàn cho người gởi với dấu hiệu “không tiền”

Tương tự như thế, nếu chúng ta trình thẻ nhận hạnh phúc tại ngân hàng cuộc đời mà mình đã ký gởi toàn là vô minh vào đó thì chúng ta sẽ được trả lại ngân phiếu với dấu hiệu “không tiền”. Trái lại, nếu ta khôn ngoan, ký gởi ngân hàng toàn những tư tưởng, ngôn ngữ và hành động hiền thiện, thì ta có thể dễ dàng xuất trình ngân phiếu và biết rằng nó sẽ được trả liền.

-ooOoo-

Lesson 40:
at once (adv) : ngay tức khắc
check (n) : ngân phiếu
deposit (v) : gửi tiền ở ngân hàng
draw (v) : kéo, vẽ, rút
dwell upon (v) : trụ lại
enable (v) : làm cho có thể
exist (v) : tồn tại, hiện hữu
fund (n) : tiền của
honour (v) : chi trả đúng hẹn
keep on (v) :
tiếp tục
liable (a) : có khả năng
on the contrary : trái lại
present (v) : trình bày
remind (v) : nhắc nhở
that is to say : nghĩa là
to put it in a different way : nói cách khác

Lesson 41

Start At Once

It ís foolish to grumble when things go wrong; when unhappiness and suffering come to us for we have only ourselves to blame for what we did to cause this misery and at other times we know very well what caused it.

Some of the causes of both the suffering or happiness of our present life could be traced back to former lives had we but the complete knowkedge and vision of our Lord Buddha.

The result of wrong doing or right doing does not always come at once but often takes many lives before it appears; just as a seed may remain in the ground a long time before it breaks through the earth.

Now do you see why the Master taught us so much about pain and suffering? Not to make us sad but to help us to escape it. A mother often warns her child against danger not to make him unhappy but to make him careful.

This is all a part of the first step on the Eight-fold Path. The right understanding of pain and its cause. The law of fire is that it burns. To place one’s hand into the flame would be foolish for it would cause needless pain and suffering.

So with all the laws of life. If we obey them we shall be happy; if we disobey or break them we shall be miserable.

The Lord Buddha does not walk the Path for us nor is it any use to pray to him to keep us from suffering. He has found for us the Path and he has told us how we should walk it; but the actual walking he leaves to us.

The reason there is so much sorrow in the world is that people have not the understanding that they must walk the Path for themselves. Many hope to escape from the trouble of walking it properly by praying to Gods or the saints to walk it for them; to take all the responsibility of life from them.

A person who does this is very foolish. He is really just as foolish as a hungry man who asks his friend to eat his dinner for him and expects to have his hunger satisfied.

“I am so hungry; please eat my dinner for me”. It would not be long before such a foolish person would starve to death.

“I have sown daisy seeds but please make violets grow instead of daisies”. “I have planted carrots but I want beans to come up” “I have done wrong actions but I want happiness to come from them”.

No, dear young people, this is all foolishness. Wrong brings wrong and right brings right always and no God or Gods can save you from the result of what you yourselves have thought, said and done.

Do not be discouraged! The future is yours to do with as you wish. Let us set about at once to sow good seeds; to place in the bank of life only that is right and wise. Then we may soon be free from the sorrows and the unhappiness which comes from ignorance.

-ooOoo-

BÀI 41

HÃY KHỞI SỰ NGAY

Khi sự việc diễn ra sai lầm hay khi khổ đau xảy đến mà ta càm ràm là dại dột; bởi vì chúng ta phải tự trách điều do chính mình gây ra đau khổ, và lúc khác thì mình lại biết rõ nguyên nhân đó.

Một số nguyên nhân gây khổ đau và hạnh phúc cho cuộc sống hiện tại của mình có thể được truy nguyên từ những tiền kiếp xa xưa nếu chúng ta có trí tuệ và cái nhìn viên mãn của Ðức Phật.

Hậu quả của việc làm sai lầm hay đúng đắn không phải lúc nào cũng xảy ra ngay mà thường thì phải trải qua nhiều kiếp sống mới xuất hiện; cũng như hạt giống có thể nằm dưới đất trong một thời gian dài trước khi trồi lên mặt đất.

Bây giờ thì các bạn thấy tại sao Ðức Bổn Sư thuyết giảng cho chúng ta quá nhiều về sự đau khổ? Không phải để gây buồn phiền mà chính là để giúp ta thoát khỏi cảnh khổ đau đó. Một người mẹ thường răn dạy con mình coi chừng nguy hiểm không phải là để làm cho con buồn phiền mà chính là để nhắc nhở con thận trọng.

Ðây là toàn bộ phần bước đầu của Bát Chánh Ðạo. Sự hiểu biết đúng đắn về khổ và nguyên nhân của khổ. Qui luật của lửa là đốt cháy. Thọc tay vào lửa là ngu dại, vì nó sẽ gây ra sự đau khổ vô ích.

Ðối với mọi qui luật của cuộc đời cũng thế. Nếu ta tuân theo chúng thì sẽ được hạnh phúc; nếu ta không theo hay vi phạm chúng thì sẽ bị khổ đau.

Ðức Phật không đi đường thay cho ta, cũng chả ích lợi gì cho việc cầu nguyện Ngài giúp ta thoát khỏi đau khổ. Ngài đã tìm ra Chánh Ðạo, Ngài cũng đã báo cho ta nên đi theo Chánh Ðạo đó như thế nào; nhưng bước đi đích thực thì Ngài dành hẳn cho chúng ta.

Nguyên nhân tại sao có quá nhiều đau khổ trên cõi đời này là vì người ta không hiểu rằng họ phải đích thân đi theo con Ðường đó. Nhiều người hy vọng tránh cảnh đi đứng phiền phức bằng cách cầu nguyện thánh thần đi thay cho họ, nhận lãnh mọi trách nhiệm về cuộc đời của họ.

Người nào làm như vậy thì thật là ngu xuẩn. Ngu xuẩn như một người đang đói lại nhờ bạn mình ăn thay, và mong rằng mình sẽ hết đói.

“Tôi đói lắm, xin vui lòng ăn thay cho tôi”. Một người đần độn như thế chẳng mấy chốc sẽ bị chết đói.

“Tôi đã gieo nhiều hạt cúc nhưng xin cho cây hoa tím, thay vì cây cúc, mọc lên”. “Tôi đã trồng nhiều cà rốt nhưng muốn rằng cây đậu vươn cao”. “Tôi đã phạm nhiều sai trái nhưng mong rằng hạnh phúc tựu thành”.

Không, này các bạn trẻ thân mến, đó chỉ là những ước mong ngu muội. Sai lầm mang lại sai lầm, chánh chơn mang lại chánh chơn thường hằng. Không một Thượng Ðế hay Thánh Thần nào có thể cứu các bạn thoát khỏi hậu quả của những gì mà chính các bạn đã suy nghĩ, nói phô và hành động.

Ðừng nản lòng! Tương lai đang chờ đón ý nguyện của các bạn. Chúng ta hãy khởi sự gieo trồng ngay những hạt giống hiền thiện; hãy ký gởi vào ngân hàng cuộc đời toàn những gì chân chánh, sáng suốt. Vậy là ta có thể sớm thoát khỏi cảnh khổ đau phát xuất từ vô minh ngu muội.

-ooOoo-

Lesson 41:
actual (a) : thật sự
blame (v) : khiển trách, đỗ lỗi cho
daisy (n) : cây hoa cúc
discourage (v) : làm nản lòng
disobey (v) : không vâng lời
flame (n) : ngọn lửa
grumble (v) : lẩm bẩm, cằn nhằn
miserable (a) : khốn khổ
obey (v) : vâng lời
pray to someone (v) : cầu nguyện ai
responsibility (n) : trách nhiệm
set about (v) : khởi sự, bắt đầu
starve (v) : chết đói
trace back to (v) : truy nguyên
violet (n) : cây hoa tím
vision (n) : sự nhìn thấy

Lesson 42

The Real Buddhist

The life of one who professes to be a Buddhist is governed by the understanding of the Oneness of All life, the law of karma, the law of becoming and keeps to the rules of the Eight-fold Path. He should be very happy, for he has replaced hatred with love, pining with cheerfulness, greed with charity and serves his fellow-man joyfully as the following verses testify.

Happy is the Buddhist’s fate;
For his heart knows not of hate;
Haters may be all around,
Yet in him no hate is found.
Happy is the Buddhist’s fate,
Him no greed will agitate;
In the world may greed abound,
Yet in him no greed is found.

Happy is the Buddhist’s fate,
He all pining makes abate;
Pining may be all around
Yet in him no pining’s found.
Happily then let us live,
Joyously our service give,
Quench all pining, hate and greed
Happy is the life we lead.

Buddhism teaches too, that we should stand together. The Lord Buddha said :

“A man that stands alone, having decided to obey the truth, may slip back into his old ways. Therefore stand ye together, assist one another, and strengthen one another’s efforts.

“Be like unto brothers; one in love, one in holiness, and one in your zeal for the truth.

“Spread the Truth and preach the doctrine in all quarters of the world, so that in the end all living creatures will be citizens of the Kingdom of Righteousness.

“This is the holy brotherhood, this is the temple the congregation of those who believe in me and have taken their refuge in the Name of Buddha”.

-ooOoo-

BÀI 42

PHẬT TỬ CHAÂN CHÁNH

Cuộc sống của người tự xưng là Phật tử sẽ được điều khiển bởi sự quán thông về cái Chung Nhất của Tất Cả Sinh Mệnh, về luật nghiệp báo, luật vô thường và giữ giới Bát Chánh Ðạo. Người ấy hẳn là rất hạnh phúc, vì họ đã thay lòng hận thù bằng tình yêu thương, tính câu chấp bằng tâm hoan hỷ, ý tham lam bằng hạnh nhân từ và sung sướng phục vụ tha nhân như những vần thơ bày tỏ sau đây.

Lành thay ta vui sống,
Từ ái giữa oán thù;
Giữa những người oán thù,
Ta sống không thù oán.
Lành thay ta vui sống,
Vô dục giữa khát khao;
Giữa những người khát khao,
Ta sống không khao khát.

Lành thay ta vui sống,
Hỷ xả giữa khích hiềm;
Giữa những người khích hiềm,
Ta sống không hiềm khích.

Lành thay ta vui sống,
Hoan hỷ giúp tha nhân;
Dập tắt tham, sân, hận,
Vui nguồn vui tuyệt trần.

Ðạo Phật cũng dạy rằng chúng ta nên đứng chung với nhau. Ðức Phật nói:

“Người nào đứng riêng lẽ một mình, dù đã quyết theo sự thật, người ấy cũng có thể tuột về đường xưa lối cũ. Vì vậy các bạn hãy chung lưng đấu cật, giúp đỡ lẫn nhau và củng cố nổ lực cho nhau.

“Hãy như anh chị em; hãy thương yêu thánh thiện và hăng hái tìm cầu chân lý”.

“Hãy truyền bá sự thật và thuyết giảng giáo pháp ra bốn phương trời để cho tất cả chúng sanh cuối cùng sẽ là những công dân của Vương Quốc Chánh Trực”.

“Ðây là tình huynh đệ thiêng liêng, là chùa tháp, là giáo hội của những ai tin ta và đã nương tựa vào Danh hiệu của Phật”.

-ooOoo-

Lesson 42:
abate (v) : xoa dịu
agitate ( v) : khích động
assist (v) : giúp đỡ
brotherhood (n) : tình huynh đệ, giáo hội
charity (n) : nhân đức, bác ái
cheerfulness (n) : sự hoan hỷ, sự vui mừng
citizen (n) : công dân
congregation (n) : giáo hội
creature (n) : sinh vật
effort (n) : sự nổ lực, sự cố gắng
fate (n) : số phận, định mệnh
greed (n) : tính tham lam
holy (a) : thần thánh, thiêng liêng
pining (n) : tính câu chấp, lòng ghim gút
profess (v) : tuyên bố
quench (v) : dập tắt
replace (v) : thay thế
righteousness (n) : chân thật, chính trực
slip (v) : trượt, tuột
take refuge in : quy y, nương tựa vào
temple (n) : đình, miếu, chùa
testify (v) : chứng tỏ, biểu lộ
trengthen (v) : củng cố
verse (n) : câu thơ, bài thơ
zeal (n) : nhiệt tâm, nhiệt huyết

Lesson 43

A Story of Tree Fairies

We saw in the last lesson that we should all stand together. There is a little fairy story called the Tree Fairies. It illustrates what is meant by standing together.

There was once a very wise fairy king. He ruled over the tree fairies. One day he called all the fairies before him and told them to choose whatever tree or bush suited them best, but he gave them this advice. Choose the trees that stand close togerther in the forest. I have chosen the great Oak tree that stands in the middle of the forest for my home; you had better live as close to me as possible. In any case avoid the trees that stand in the open.

The wise fairies followed the advice of their good king and chose the trees that stood together, but the foolish ones said :

“Why should we dwell so close together? Ler us go instead to the trees that grow in the fields outside the city”.

One day a great storm swept over the country. The trees that grew in the fields near the city were torn up by the roots for they had no shelter, but in the forest the trees were not injured for they stood so close together and so close to their king that the wind could not blow them down. The poor fairies whose trees were blown down went to the forest and told their troubles to the king. “It was because you would not listen to me”, he said.

“United forest-like should people stand. The storm blows down the lonely tree”.

QUESTIONS (18)

1. Why does the Buddha say so much about sorrow?
2. What causes suffering?
3. If our lives are unhappy whom should we blame?
4. Can we escape from the result of what we have thought, said and done?
5. Why should a Buddhist’s life be joyful?
6. Repeat one of the verses which tells about
the Buddhist’s fate.

7. What did Lord Buddha say about a man that stands alone?
8. What does the story of the tree fairies teach us?

-ooOoo-

Bài 43

TRUYỆN MỘC THẦN

Trong bài trước, ta thấy tất cả chúng ta nên đứng chung với nhau. Có một truyện thần thoại nhỏ gọi là Mộc Thần. Truyện này minh họa cho cái gọi là chung lưng đấu cật đó.

Thuở nọ có một thần vương rất sáng suốt. Ngài cai trị các mộc thần. Một hôm, ngài gọi tất cả các một thần đến trước mặt, bảo họ chọn một loại cây thích hợp nhất theo lời khuyên của ngài. Hãy chọn những cây đứng sát nhau trong rừng. Ta đã chọn cây sồi khổng lồ đứng giữa rừng để làm nhà; các ngươi nên sống gần ta được chừng nào tốt chừng đó. Dù sao thì cũng nên tránh những cây đứng trơ vơ giữa trời.

Những mộc thần khôn ngoan tuân theo lời khuyên của vị minh quân và chọn những cây đứng bên nhau, còn bọn ngu xuẩn thì nói:

“Tại sao chúng ta phải ở sát bên nhau? Chúng ta hãy đi đến những cây mọc trên các cánh đồng ngoài thành”.

Ngày kia có một cơn bão khủng khiếp quét qua vùng nông thôn. Cây cối mọc trên những cánh đồng gần thành đều bị trốc gốc vì không nơi nương tựa, còn trong rừng, cây cối không bị tổn thương, vì chúng đứng san sát bên nhau và cận kề với nhà vua đến nỗi không một ngọn gió nào có thể thổi ngã chúng. Những mộc thần khốn nạn, thấy cây cối bị gãy đổ, bèn đến rừng bày tỏ bao nỗi phiền muộn của mình với nhà vua. “Chỉ vì các khanh không nghe ta” ngài nói:

“Người ta nên đứng bên nhau như cây cối san sát trong rừng. Bão tố chỉ thổi ngã cây nào lẻ loi đơn độc”.

CÂU HỎI (18)

1. Tại sao Phật nói quá nhiều về đau khổ?
2. Việc gì gây ra đau khổ?
3. Chúng ta nên đổ lỗi cho ai nếu cuộc đời của chúng ta bị đau khổ?
4. Chúng ta có thể thoát khỏi hậu quả của những gì chúng ta đã suy nghĩ, nói năng và hành động không?
5. Tại sao cuộc đời của Phật tử nên hỷ lạc?
6. Hãy lập lại một trong các vần thơ nói về thân phận của Phật tử.
7. Ðức Phật nói gì về người đứng riêng lẻ một mình?
8. Truyện Mộc thần dạy ta những gì?

-ooOoo-

Lesson 43:
fairy (n, a) : nàng tiên, thần thoại
injure (v) : gây tổn thương
oak (n) : cây sồi
shelter (n) : chỗ nương tựa, nơi ẩn trú
sweep (v) : quét
tear up (v) : xé nát, nhổ bật
united (a) : liên kết

Lesson 44

Ideal – I

When we are young, we should be thinking carefully of what we intend to make of our lives; what we are going to keep before us. We must not mix up the words idea and ideal. Let us see what they mean. We sometimes speak of an ideal or thought that which is produced by the mind. We are thinking constantly, and that which we think is called an “idea”. The word “ideal” means a fixed idea, an idea that does not change, does not alter, but remains always the same. Our thoughts are continually changing. Now we are thinking of study, then of play; now of our home, then of our school. These are changing thoughts; but the thought that always remains with us, fixed steadily, that is part of what is called an “ideal”. It is not only this, but is a fixed idea that governs conduct, according to which the character is gradually shaped. Everyone of us should have an ideal – a fixed idea that shall govern our conduct. We should make for ourselves this ideal. Some of the things that should make a part of our ideal are the following : First of all, love of “our religion”. Every Buddhist boy and girl, man and woman should make part of his or her ideal, love of religion. But we cannot love that which we do not know, therefore we should study our religion and the life of the great Teacher who became the Fully Englihtened One. Then we should love “our home and the country” to which we belong. Everyone should make the work of his country part of his ideal. When we are learning history we are learning to be good citizens of our country.

 

 

QUESTIONS (19)

1. What is an idea?
2. What is an ideal?
3. What is the first quality we should have in our ideal?
4. Why should religion be the first quality?
5. What is the second quality?

-ooOoo-

Bài 44

LÝ TƯỞNG – I

Khi còn trẻ, chúng ta nên suy nghĩ chín chắn về những gì chúng ta định thực hiện cho cuộc đời mình; những gì chúng ta sắp duy trì trước mắt. Chúng ta không được lẫn lộn từ ý tưởng và lý tưởng. Chúng ta hãy xem chúng có ý nghĩa gì. Chúng ta đôi khi nói đến một lý tưởng hay ý nghĩ do tâm trí phát sanh. Chúng ta đang suy nghĩ liên miên, và cái mà chúng ta suy nghĩ đó được gọi là “ý tưởng”. Từ “lý tưởng” có nghĩa là ý tưởng nhứt định, một ý tưởng không thay đổi thì không biến đổi, nhưng luôn luôn tồn tại giống nhau. Ý nghĩ của chúng ta đang liên tục thay đổi. Khi thì nghĩ đến việc học hành, lúc thì nghĩ đến chuyện đùa giỡn; khi thì nghĩ đến nhà cửa, lúc thì nghĩ đến trường ốc. Ðây là những ý nghĩ đang thay đổi; nhưng ý nghĩ đó luôn luôn tồn tại với chúng ta, gắn chặt với chúng ta, đó là thành phần của cái được gọi là “lý tưởng”. Nó không chỉ như thế mà còn là một ý tưởng cố định, chi phối đức hạnh, và theo đó tính nết dần dần được uốn nắn. Mọi người trong chúng ta nên có một lý tưởng – một lý tưởng cố định, chi phối đức hạnh của mình. Chúng ta nên tạo cho chính mình cái lý tưởng này. Sau đây là một số sự kiện tạo nên thành phần lý tưởng của chúng ta: Trước nhất là phải yêu quí “tôn giáo của mình”. Tất cả các em nam nữ Phật tử, cư sĩ Phật tử phải tạo cho được thành phần lý tưởng của mình là yêu quí tôn giáo. Nhưng chúng ta không thể yêu quí những gì chúng ta không biết, vì thế chúng ta phải nghiên cứu tôn giáo và cuộc đời của Bậc Ðạo Sư đã thành Ðấng Giác Ngộ Hoàn Toàn. Kế đó là phải yêu quí “quê hương đất nước của mình”. Mọi người phải xây dựng quê hương mình thành thành phần lý tưởng. Khi học lịch sử là chúng ta đang học cách trở thành những công dân tốt của đất nước mình.

CÂU HỎI (19)

1. Thế nào là một ý tưởng?
2. Thế nào là một lý tưởng?
3. Phẩm chất đầu tiên của chúng ta phải có trong lý tưởng của mình là gì?
4. Tại sao tôn giáo phải là phẩm chất đầu tiên?
5. Phẩm chất thứ hai là gì?

-ooOoo-

Lesson 44:
constantly (adv) : liên miên
continually (adv) : liên tục

ideal (n) : lý tưởng
mix up (v) : pha trộn, lộn xộn
steadily (adv) : vững chắc

Lesson 45

Ideal – II

After love of religion and love of country other qualities must be cultivated. One is “truth”. The character which is not true is not good. We must be true in thought, in word in action. We must never tell a lie. It is cowardly, shabby and mean to do so, and if we tell lies, no one will trust us. Our word should be such, that all people around us will trust it. We should learn to be truthful in thought and in action. Truth must be part of our ideal.

The next thing that should be in our ideal in “courage”. We should learn to be brave; learn to stand up and stand out for our religion, Buddhism. Never to use our strength to hurt those weaker than ourselves. Love of “obedience” is another characteristic we should have in our ideal. No nation can get along without discipline and the time to learn is when we are young. Love of “purity” should also be in our ideal.

We should strive to be pure in thought, in word, and in deed. Learn to study well and learn to play well. If we say every morning : “I love my religion, I love my country; I will be obedient; I will be brave; I will be pure”. If we say that each day and try to live it, then we shall grow like our ideal, and become one with it. The thing that we think about, we become; for “all that we are is the result of what we have thought” so taught our great teacher, the Lord Buddha.

 

QUESTIONS (20)

1. What is the third quality we should have in our ideal?
2. Why is love of truth important?
3. What is the fourth quality?
4. Tell something about courage.
5. What is the fifth quality?
6. What is the sixth quality?
7. Now name all the qualities in the right order.
8. What did our Lord Buddha say about thought?

-ooOoo-

Bài 45

LÝ TƯỞNG – II

Sau lòng quí trọng tôn giáo và yêu thương đất nước, những đức tính khác cũng phải được vun trồng. Một là tính “chân thật”. Tính tình không chân thật thì không tốt. Chúng ta phải chân thật trong tư tưởng, ngôn ngữ và hành động. Chúng ta không bao giờ được nói dối. Nói dối là hèn nhát, xấu xa và đê tiện; và nếu chúng ta nói dối thì không ai còn tin tưởng mình. Ngôn ngữ của chúng ta phải như thật, như thật thì mọi người chung quanh ta sẽ tin tưởng ta. Chúng ta phải tập tính ngay thẳng trong ý nghĩ và trong hành động. Tính chân thật phải là thành phần của lý tưởng mình.

Ðiều kế tiếp phải có trong lý tưởng của chúng ta là tính “can đảm”. Chúng ta phải biết can đảm; biết hỗ trợ và xiển dương Ðạo Phật của mình. Ðừng bao giờ dùng sức mạnh gây tổn thương những ai yếu kém hơn mình. Quí trọng tinh thần “phục tùng” là đặc tính khác mà chúng ta phải có trong lý tưởng. Không một quốc gia nào có thể tiến bộ mà không tôn trọng kỷ luật, và thời gian học tập là khi chúng ta còn trẻ. Quí trọng tính “liêm khiết” cũng phải có trong lý tưởng của chúng ta. Chúng ta phải cố gắng để được liêm khiết trong ý tưởng, ngôn ngữ và hành động. Biết học hay và biết chơi giỏi. Nếu mỗi sáng ta nói: “Tôi yêu tôn giáo tôi; Tôi yêu đất nước tôi; Tôi sẽ phục tùng; Tôi sẽ can đảm; Tôi sẽ liêm khiết”. Nếu ta nói như vậy mỗi ngày và cố gắng sống hợp như thế thì chúng ta sẽ lớn mạnh như lý tưởng của mình, và lý tưởng với mình là một. Chúng ta suy nghĩ thế nào thì thành đạt thế đó; bởi vì “tất cả những gì chúng ta đang là là hậu quả của những gì chúng ta đã suy nghĩ”. Ðức Phật, Bậc Ðại Sư của chúng ta đã thuyết giảng như vậy.

CÂU HỎI (20)

1. Ðức tính thứ ba mà chúng ta phải có trong lý tưởng là gì?
2. Tại sao quí trọng sự thật là quan trọng?
3. Ðức tính thứ tư là gì?
4. Hãy kể đôi điều về tính can đảm.
5. Ðức tính thứ năm là gì?
6. Ðức tính thứ sáu là gì?
7. Hãy kể tất cả những đức tính theo thứ tự mạch lạc.
8. Ðức Phật chúng ta nói gì về tư tưởng?

-ooOoo-

Lesson 45:
brave (a) : dũng cảm
courage (n) : sự can đảm
cowardly (a) : hèn nhát
cultivate (v) : trồng trọt, tu dưỡng
discipline (n) : kỷ luật
get along (v) : tiến bộ

purity (n) : sự trong sạch, sự tinh khiết
quality (n) : phẩm chất, đức hạnh
shabby (a) : xấu xa, hèn hạ
stand up for (v) : phát huy, xiển dương
strive (v) : cố gắng, phấn đấu
tell (a) lie (v) : nói dối
trust (v) : tin tưởng

III- CATECHISM FOR SUNDAY SCHOOL

1. Of what religion are you?
2. What is Buddhism?
3. What does the word Buddha mean?
4. When did the Buddha Sakyamuni live?
5. Where was he born?
6. When was he born?
7. What was his family name?
8. Who were his parents?
9. What did the wise hermit Asita say about him when he was born?
10. What did the king do to try and stop the prince from becoming a Buddha and why?
11. Did this plan of the king succeed?
12. What did the prince think when he became aware of these things?
13. What did the prince decide to do?
14. Was it hard for him to leave his home?
15. How old was he when he left his home?
16. Where did he go after leaving his home?
17. Was he satisfied with their teaching?
18. How long did he continue to practice asceticism?
19. Did he find the Truth?
20. What did he decide to do then?
21. What did he do then?
22. Did he succeed this time?
23. How can we express the teaching of the Buddha in a few words?
24. Why do we mention suffering first?
25. Why do we bring love next?
26. Why do we mention peace last?
27. What did he teach in his first sermon?
28. What are the Four Noble Truths?
29. What does the statement “Life is full of suffering” mean?
30. What is the cause of this suffering?
31. Can this suffering be cured?
32. What is the name of that way?
33. What is the Eight-fold Path?
34. What do we mean by Right Understanding?
35. What do we mean by Right Purpose?
36. What do we mean by Right Speech?
37.What do we mean by Right Conduct?
38.What do we mean by Right Livelihood?
39.What do we mean by Right Endeavor?
40.What do we mean by Right Thought?
41.What do we mean by Right Meditation?
42.What is Karma?
43.What are the Three Guides which a Buddhist should take refuge in?
44. What are the Three signs of Buddhism?
45. What are the Five Precepts?
46. What does the lotus stand for?
47. How about images of the Buddha?
48. How did The Buddha Sakyamuni console his disciples just before his death?

-ooOoo-

III- BẢN CÂU HỎI CHO LỚP HỌC CHỦ NHỰT

1. Bạn theo tôn giáo nào?
2. Phật giáo là gì?
3. Từ Phật nghĩa là gì?
4. Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni sống khi nào?
5. Ngài sanh ở đâu?
6. Ngài sanh khi nào?
7. Họ của Ngài là gì?
8. Cha mẹ của Ngài là ai?
9. Hiền sĩ A-tư-đà (Asita) nói gì về Ngài khi Ngài ra đời?
10. Quốc vương đã làm gì để cố ngăn chận hoàng tử trở thành một Ðức Phật và tại sao?
11. Kế hoạch này của quốc vương có thành công không?
12. Hoàng tử nghĩ gì khi chàng ý thức được những điều này?
13. Hoàng tử quyết định làm gì?
14. Chàng có gặp khó khăn khi rời khỏi hoàng cung không?
15. Chàng bao nhiêu tuổi khi rời khỏi nhà?
16. Chàng đi đâu sau khi rời khỏi nhà?
17. Chàng có hài lòng với giáo pháp của họ không?
18. Chàng tiếp tục tu tập khổ hạnh bao lâu?
19. Chàng có tìm ra Sự Thật không?
20. Chàng quyết định làm gì sau đó?
21. Chàng làm gì sau đó?
22. Lần này chàng có thành công không?
23. Làm thế nào ta có thể trình bày giáo pháp của Ðức Phật trong một vài từ?
24. Tại sao chúng ta đề cập khổ trước?
25. Tại sao sau đó chúng ta mang lại tình thương?
26. Tại sao chúng ta nói an lạc sau cùng?
27. Ngài đã thuyết giảng những gì trong bài thuyết pháp đầu tiên của Ngài?
28. Bốn Sự Thật Cao Quí là gì?
29. Câu nói: “Cuộc đời đầy dẫy khổ đau” nghĩa là gì?
30. Nguyên nhân của sự đau khổ này là gì?
31. Sự đau khổ này có thể chữa trị được không?
32.Con đường đó tên gì?
33. Bát Chánh Ðạo là gì?
34. Thế nào là Chánh Kiến?
35. Thế nào là Chánh tư duy?
36. Thế nào là chánh ngữ?
37. Thế nào là chánh nghiệp?
38. Thế nào là chánh mạng?
39. Thế nào là chánh tinh tấn?
40. Thế nào là chánh niệm?
41. Thế nào là chánh định?
42. Nghiệp là gì?
43. Tam Bảo mà một Phật tử phải quy y là gì?
44. Tam pháp ấn của Phật Giáo là gì?
45. Ngũ giới là gì?
46. Hoa sen mang ý nghĩa gì?
47. Còn những hình ảnh của Ðức Phật thì sao?
48. Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni an ủi môn đệ của Ngài như thế nào trước khi Ngài nhập diệt?


 

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Chín 18, 2011 in Phật Giáo

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: