RSS

ẢNH HƯỞNG PHẬT GIÁO ÐỐI VỚI NHÂN LOẠI

24 Th7

ẢNH HƯỞNG PHẬT GIÁO ÐỐI VỚI NHÂN LOẠI
Nguyên tác: T.T.  Nyanatiloka Maha Thera
Chuyển ngữ: H.T. Thích Trí Chơn

 

Khoảng vài ba mươi năm trước đây, bất cứ người nào ở các nước Tây Phương có cảm tình với Phật giáo đều được coi là hạng người thiếu suy xét. Vào thời đó, người ta còn xem đạo Phật đại để như một tôn giáo đầy màu sắc thần bí lẫn mê tín dị đoan và không ai tin rằng Phật giáo sẽ có thể đóng một vai trò quan trọng trong sự hướng dẫn đời sống tinh thần cho các dân tộc Tây Phương như hiện nay. Có nhiều người Âu Châu, phần đông thuộc các tín ngưỡng đối lập, đã chỉ trích xuyên tạc Phật giáo, cũng như đã cố gắng thuyết minh cho những bạn bè của họ tin rằng ảnh hưởng của Phật giáo rất tai hại vì nó gieo rắc tư tưởng bi quan yếm thế cho con người. Do đó, dưới mắt họ, Phật giáo là một chướng ngại nguy hiểm cho mọi hoạt động xã hội và phát triển quốc gia. Tuy nhiên, những người có hiểu biết đạo Phật ít nhiều hoặc đã từng sống ở các quốc gia thuần túy theo Phật giáo chẳng hạn như Miến Ðiện, Thái Lan, nơi mà dân chúng cảm thấy cuộc sống hầu như được an lành và hạnh phúc nhất trên thế giới thì họ sẽ nhận thấy ngay những lời phê bình trên về Phật giáo của một số người Tây Phương là hoàn toàn vô căn cứ, sai hẳn sự thật.

Dưới đây, chúng ta sẽ thấy rằng, một học thuyết cao siêu toàn hảo như Phật giáo có thể gây nên những ảnh hưởng tốt đẹp cho tâm tính con người và đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho xã hội, quốc gia. Phật giáo luôn nhắc nhở con người nên tin ở mình, tinh tấn tu hành để tự giải thoát. Thật chưa có tôn giáo nào xác nhận tinh tấn là động lực chính giúp con người vươn đến cõi toàn thiện và trái lại giải đãi (biếng nhác) là nguyên nhân khiến con người phải sa đọa khổ đau như Ðức Phật đã dạy:

“Tinh tấn là đường dẫn đến Niết Bàn,

Giải đãi và trì hoãn là đường về sanh tử”

Chỗ khác đức Phật bảo:

 “Này các Tỳ Kheo! Nhờ ý chí cương quyết thiền định mà Ta đã giác ngộ và cũng do bởi sự tinh tấn chuyên tu mà Ta đã được giải thoát hoàn toàn. Hỡi các Tỳ Kheo! Nếu các con biết tinh tấn tu hành, không bao lâu các con cũng sẽ chứng được quả Bồ Ðề Vô Thượng.

Và trước khi nhập Niết Bàn, trong lời di chúc cuối cùng Đức Phật cũng dạy:

 “Các con hãy nỗ lực tinh tấn để tự giải thoát”.

Bởi thế, trên đường tu tập, người Phật tử luôn luôn trông cậy vào sự cố gắng của chính mình. Họ không ỷ lại vào một ngoại lực nào, vì họ thừa hiểu rằng không một ai, dù là đấng có quyền phép đến đâu có thể cứu giúp cho họ thoát khỏi được trong đời hiện tại, những nghiệp quả khổ đau mà họ đã lỡ gieo nhân từ tiền kiếp. Cho nên,

 ”Lành do ta mà dữ cũng do ta.

 Tịnh hay bất tịnh đều bởi ta.

 Không ai có thể làm cho người khác thanh tịnh được”.

Phật giáo dạy rằng, mỗi chúng ta phải chịu trách nhiệm lấy những hành động thiện hoặc ác mà chúng ta đã gây ra và cuộc đời hạnh phúc hay đau khổ cũng do tự bàn tay chúng ta xây dựng lấy. Vì:

  “Mọi hành động xấu đều không phải do cha mẹ, bạn bè của ta gây nên mà bởi ta đã tạo ra, cho nên chính ta phải gặt lấy những kết quả đau khổ đó”.

Người Phật  tử biết rằng không phải hoàn toàn ỷ lại vào sự giúp đỡ của đức Phật, Giáo Hội, hay của chư Tăng mà mình có thể giải thoát được, nên người Phật tử buộc phải trông cậy vào nỗ lực tu tập nơi chính bản thân để tự cứu lấy mình. Nhờ thế mà họ đạt được cao độ của tinh thần tự tín. Cũng không ai chối cãi được rằng, sự tin tưởng vào một đấng Thượng Đế hay bất cứ một năng lực tưởng tượng nào đều làm con người mềm yếu, mất hết đức tính tự tin và tự trách nhiệm. Trong khi đó trái lại, kẻ biết tự tin vào năng lực của chính mình họ sẽ trở nên cương quyết và mạnh mẽ.

Không những Phật giáo đã làm phát triển đức tánh tự tin nơi con người mà còn khuyên con người phải sáng suốt trước khi tin một điều gì. Phật giáo phủ nhận lối tin vào những tập tục mù quáng hay những quyền lực vu vơ. Muốn đạt được chân lý, giải thoát mọi khổ đau, con người phải tin tưởng vào khả năng giác ngộ và thiền định nơi chính mình. Ðức Phật dạy:

 “Ðừng tin vào một điều gì dầu điều ấy là lời khẩu truyền hay những tập quán. Đừng tin theo điều gì dù điều ấy do một bậc Thầy dạy lại. Những điều nào các con tự xét thấy là sai lầm, xấu xa sẽ gây đau khổ cho các con và mọi người khác thì các con hãy đừng tin theo.

 Một học thuyết nêu cao khả năng giác ngộ của con người như thế không thể nào gây ảnh hưởng tại hại cho nhân loại được.

Những tôn giáo phủ nhận lý trí cá nhân, buộc tín đồ mù quáng tin vào thần quyền, giáo điều hoặc những lễ nghi tập tục sai lầm, mới thật đưa con người vào con đường mê tín dị đoan, phá sản xã hội. Cho nên tinh thần con người chỉ tiến bộ được khi họ có tự do tư tưởng. Và ai cũng nhận thấy rằng, lòng tin mù quáng vào giáo điều, tín ngưỡng đã gây nên ở con người bệnh cố chấp và lòng phân chia hẹp hòi ích kỷ. Ngày nay họ còn nhớ tới xã hội thời Trung cổ (Middle Ages) với những hình phạt tra tấn, thiêu đốt chém giết, tàn sát con người một cách dã man cùng những cuộc Thánh chiến rùng rợn. Tất cả những hành động phi nhân này đều là kết quả của lòng tin cuồng nhiệt vào giáo điều của những tôn giáo Thần quyền. Nói tóm, mọi chủ trương độc tài tín ngưỡng và tàn bạo bao giờ cũng đưa xã hội con người đến cảnh suy vong, man rợ, phản tiến hóa vậy.

Trái lại, một nền tiến bộ tự do và hòa bình trong sự phát triển xã hội, đạo đức, kiến thức, nghệ thuật, khoa học và triết học chỉ có thể xuất hiện trong một quốc gia biết tôn trọng đức tánh khoan dung cũng như tự do tư tưởng con người. Và không thể thực hiện được trong một quốc gia mà nơi đó có sự kỳ thị về tôn giáo, chính trị hay sự tự do của con ngưòi bị bóp chết hoàn toàn. Bây giờ điều trên hết để giúp chúng ta phát triển đức tánh khoan dung này trong nhân loại là lòng từ bi, mà theo Phật giáo nó là nền tảng luân lý để xây dựng cho mọi sự tiến bộ xã hội và đạo đức con người. Đúng vậy, dân chúng những quốc gia thật sự theo Phật giáo đều thấm nhuần tinh thần từ bi này. Nó không phải là kết quả của đức tin mù quáng vào những giáo điều cố định mà là kết quả của sự hiểu biết chân chính rằng, tất cả chúng sanh từ loài người đến côn trùng đều có tương quan mật thiết: “Ta là tất cả chúng sanh, tất cả chúng sanh là ta”.

Bởi sự sống của ta với sự sống của mọi chúng sanh là một, nên con người không có quyền sát hại bất cứ sinh mạng nào. Không có tôn giáo nào trên thế giới đề cập đến lòng từ bi như Phật giáo. Nó thể hiện qua những lời kinh chân thành mà thường nhật chư Tăng tụng đọc với mục đích cầu nguyện cho chúng sanh không phân biệt chủng loại luôn thoát khổ được vui. Cho nên, tại các nước Phật giáo, kinh Từ Bi (Metta Sutta) đã được dùng tụng hàng ngày hai buổi sáng tối cho tất cả hàng chư Tăng, Ðại Ðức cũng như hàng Thượng Tọa, lớn cũng như nhỏ mà tôi xin trích một đoạn ngắn dưới đây:

Như bà mẹ chăm sóc bảo vệ hết sức đứa con độc nhất của mình.

Làm thế khi chúng ta đối với tất cả chúng sanh,

Hãy phát tâm từ bi rộng lớn,

Tràn khắp vũ trụ bao la,

Trên dưới mọi nơi,

Không còn những tâm niệm hận thù ganh ghét …..”.

Trong khi đó, những kẻ cuồng tín tin vào Thần quyền lại khuyên tín đồ:

 Hãy giết chết những kẻ thù của anh bất cứ nơi nào anh gặp chúng. Hãy tắm chúng trong máu đào bởi đó là hình phạt dành cho những kẻ bất tín”. 

Hay là

Hãy chiến đấu chống lại những kẻ thù của anh cho đến khi chúng chịu đầu hàng, cho đến khi nào chúng chịu tôn thờ Thượng Đế. Phải bắt chúng chịu mọi sự đau khổ của sự trả thù”

Như vậy, chúng ta thấy rằng ở đâu lời khuyên răn tàn bạo được chấp nhận thì nơi đó sẽ phát sanh những ảnh hưởng tai hại của sự cuồng tín, độc ác và có thể gây cho thế giới con người sự đau khổ và âu lo khủng khiếp. Ðiều ai cũng thấy là lòng từ bi và đức tánh khoan dung nói trên thường được nhắc đến trong các kinh điển Phật giáo, một đặc điểm mà ở các kinh sách những tôn giáo khác rất khó tìm thấy.

 Thật vậy, chưa có nhà truyền giáo tên tuổi nào của Phật giáo có ý tưởng phỉ báng hay sân hận chống đối những kẻ khác tín ngưỡng với mình, và cũng không bao giờ có sự kỳ thị về tôn giáo quốc gia hay chính trị nơi một dân tộc đã thực sự thấm nhuần chân tinh thần từ bi của Phật giáo. Nhờ thế mà không cần đến súng đạn hay giáo gươm, Phật giáo vẫn chinh phục được tâm hồn của hàng trăm triệu người trên thế giới. Trong lịch sử, như chúng ta đã biết, từ lúc Phật còn ở đời cho đến hôm nay, chưa có một giọt máu nào đã chảy nhân danh đức Phật hay bởi sự truyền bá giáo lý của Ngài. Nhưng với các tôn giáo khác thì sao? Thật không thể nào dẫn chứng hết ở đây tất cả những phương tiện man rợ mà một vài tôn giáo đã dùng đến để truyền bá đạo lý của họ.

Hơn nữa, Phật giáo cũng dạy rằng đức tin và những hình thức phát triển bên ngoài không hẳn hoàn toàn giúp người Phật tử đạt đến sự giác ngộ giải thoát và truyền bá Phật giáo bằng vũ lực có nghĩa là bành trướng những đức tính công bình và tình thương bằng hành động bất công và tàn bạo. Người Phật tử không xem sự cải giáo của tha nhân là quan trọng. Với một kẻ tự nhận mình là Phật tử hay không, điều ấy không mấy cần thiết đối với họ, bởi người Phật tử biết rằng, chỉ có chính bản thân họ học hiểu và thực hành giáo lý, họ mới đến gần được cứu cánh giải thoát của đức Phật.

Người Phật tử chỉ muốn tạo sự an lạc cho những kẻ khác bằng cách hướng dẫn họ trở về với ánh sáng đạo đức, trí tuệ cùng chỉ cho họ một con đường giải thoát khỏi mọi khổ đau mà thôi. Và ngay từ xưa, tinh thần từ bi này cũng đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến các dân tộc theo Phật giáo, khiến dân chúng thực hiện được nhiều công tác từ thiện hữu ích như thiết lập trên các quốc lộ những nhà tạm trú miễn phí cho khách bộ hành mỏi mệt, hoặc cung cấp thức ăn, nước uống cho người và vật; xây cất những nhà thương thí và phát thuốc không cho các bệnh nhân v.v…

Như vậy, có thể nói rằng thay vì gây ảnh hưởng tai hại cho loài người—như các quốc gia Tây Phương thường bày tỏ–trái lại, Phật giáo là một trong những tôn giáo của thế giới bao hàm nhiều phương pháp tốt đẹp nhất, có thể cải thiện và giáo dục tâm tánh con người. Nó đánh thức nơi con người đức tính tự trọng và tinh thần trách nhiệm bản thân. Phật giáo còn khích lệ sự tiến bộ tinh thần bằng cách tán dương năng lực suy tưởng của chính con người. Nó phổ biến trong nhân loại đức tánh khoan dung và giúp cho loài người thoát khỏi bệnh cuồng tín cố chấp hẹp hòi vì tín ngưỡng quốc gia. Nó phát huy trong nhân loại đức tính từ bi, tình huynh đệ, cùng dứt trừ được nơi con người lòng sân hận và bạo tàn.

Nói tóm, Phật giáo đã nêu cao tinh thần tự tín bằng cách dạy rằng số phận con người nằm trong tay của nó, và chính con người có đủ tìềm lực để phát triển những đức tánh tốt đẹp, hầu đạt đến qủa vị giải thoát, chứ Thượng Đế và đức Phật không bao giờ có thể giúp con người điều ấy. Cho nên, tự trọng, tự tín, khoan dung, từ bi, trí tuệ là những đức tánh tốt đẹp có thể tạo được cho nhân loại nhờ ảnh hưởng của Phật giáo. Và trong một quốc gia mà mọi dân chúng đều thấm nhuần những đức tính ấy thì chắc chắn là hạnh phúc, hòa bình sẽ hiện đến và một quốc gia như thế sẽ là một quốc gia kiểu mẫu cho toàn thế giới, một nhân gian tịnh độ vậy.

 

Trích tập “Influence of Buddhism On A People”

Phát hành tại Tích Lan (Sri Lanka)

Hòa Thượng Nhất Hạnh Trong Danh Sách

100 Nhân Vật Có Ảnh Hưởng Tâm Linh Lớn Nhất Thế Giới

Trí Tánh ĐH

15/4/2011

Ngày 1 tháng 3 năm 2011 vừa qua, nhà xuất bản Watkins Books tại thủ đô London (Anh quốc) đã phát hành ấn phẩm Mùa Xuân Watkins Review, số 26, trong đó, Ban Biên tập đã thiết lập danh sách của 100 nhân vật hiện nay còn sống, và đang có ảnh hưởng tâm linh lớn nhất trên thế giới. Cứ mỗi ba năm, Watkins Books lại cập nhật danh sách một lần để gửi đến 30.000 độc giả chọn lọc của nhà xuất bản.

Việc chọn lựa những tác giả và các giảng sư tâm linh, mà những đóng góp của họ trong lãnh vực tâm linh (và xây dựng ý thức tâm linh) đã tác động rông rãi trên thế giới, là một quá trình không đơn giản.

Khi thiết lập danh sách nầy, Ban Biên tập của Watkins Books đã căn cứ trên nhiều yếu tố mà ba yếu tố chính là:

– Nhân vật đó hiện đang còn sống.

– Nhân vật đó phải đóng góp đặc thù trong lãnh vực tâm linh và có tác động toàn cầu.

– Tên (hoặc hoạt động) của nhân vật đó được rất nhiều người tìm kiếm trên Google (hiển thị trong danh sách Nielsen Data quốc tế) và xuất hiện thường xuyên trong thế giới blogosphere.

Danh sách trong Ấn bản 2011 nầy có một số đặc điểm sau đây:

– Về giới tính thì 76% là đàn ông và 24% là đàn bà.

– Tuổi trung bình là 67 tuổi. Già nhất là Thiền sư Nhật bản Kyozan Joshu Sasaki, 104 tuổi, trụ trì một Thiền viện tại Mỹ. Trẻ nhất là tiến sĩ Vật lý Thiên thể học người Anh Jeff Foster, 30 tuồi, bỏ nghề và chu du khắp thế giới để xiển dương một cuộc sống “giác ngộ tâm linh”.

– Nhân vật đứng đầu bảng là ông Eckhart Tolle, người Canada, tác giả của 2 cuốn sách nỗi tiếng STILLNESS SPEAKS (Sức mạnh của Tĩnh Lặng, đã được Thiền sinh Nguyễn Văn Hạnh dịch ra tiếng Việt), The Power Of Now (SỨC MẠNH CỦA HIỆN TIỀN PHI THỜI GIAN – Hồ Kim Chung – Minh Đức biên dịch)A New Earth (Một địa cầu mới). Không cổ súy cho một tôn giáo nào tuy có vận dụng một số phạm trù triết học Phật giáo, ông Eckart Tolle chỉ triển khai hiện tượng biến đổi của ý thức như một tỉnh thức tâm linh mà ông cho là bước tiếp theo trong quá trình tiến hóa của con người.

– Nhân vật thứ nhìĐức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, người Tây Tạng.

– Nhân vật thứ ba là tiến sĩ Wayne W. Dyer, một chuyên gia Mỹ về kỹ thuật tư duy tích cực (positive thinking) và hiện đang diễn giảng Đạo Đức Kinh của Lão Tử.

– Nhân vật thứ tư là Thiền sư Thích Nhất Hạnh, người Việt Nam.

– Nhân vật thứ năm là Diễn giả và Tác giả Mỹ gốc Ấn Độ Deepak Chopra. Ông nguyên là một bác sĩ Sinh học Nội tiết (endocrinologist), nhưng sau đó chuyển qua nghiên cứu và thực hành ngành y khoa lấy quan hệ giữa thân và tâm làm phương pháp điều trị. Các tác phẩm rất thành công của ông là Ageless Body (Thân thể không già), Timeless Mind (Tâm thức phi thời gian) và The Seven Spiritual Laws of Success (Bảy định luật tâm linh để Thành công).

 

         

Eckhart Tolle

  Đạt Lai Lạt Ma 

Wayne Dyer 

Thích Nhất Hạnh

Deepak Chpra

 

Năm nhân vật tiếp theo trong Top-Ten của danh sách 100 vị nầy là nữ tác giả Mỹ Louise Hay, nhà văn Brazil Paulo Coelho, nữ điều hợp viên chương trình đàm thoại truyền hình Mỹ Oprah Winfrey, triết gia Mỹ về tiến hóa tâm linh Ken Wilber, và nhân vật thứ mười là nhà nữ sản xuất truyền hình Úc Rhonda Byrne.

Ngoài ra, trong số 90 nhân vật còn lại của danh sách nầy, cũng có một số trường hợp đáng lưu ý:

– Nhà làm phim người Chile Alejandro Jodorowsky đứng thứ 14. Những phim của ông thường mang nội dung tâm linh sâu sắc với một thông điệp xã hội rất tiền phong (avant garde) như El Topo (1970), The Holy Mountain (1973) và Santa Sangre (1989). Ông cũng đã thực tập Thiền quán một thời gian dài.

– Nhà cách mạng chống kỳ thị màu da Apartheid và trở thành Tổng thống Nam Phi Nelson Mandela đúng thứ 19.

– Tác giả Mỹ John Gray đứng thứ 24. Ông là tác giả của 17 cuốn sách đào sâu mối quan hệ phức tạp giữa người và người, mà tác phẩm nỗi tiếng nhất là Men are from Mars, Women are from Venus (1992)

– Tổng Giám mục Anh giáo Desmond Tutu đứng thứ 28. Ông là khôi nguyên giải Nobel Hòa Bình 1984, người Nam Phi, nỗi tiếng với lời tuyên bố: “Khi người da trắng đến, họ có cuốn Kinh thánh và chúng tôi có đất đai. Họ bảo chúng tôi nhắm mắt cầu nguyện Chúa. Khi mở mắt, chúng tôi có cuốn Kinh thánh, còn họ thì có đất đai của chúng tôi”.

– Giáo hoàng Biển Đức thứ 14 (Benedict XIV, tên đời là Joseph Alois Ratzinger trong danh sách), vị chủ chăn của giáo hội Công giáo La Mã, đứng thứ 34.

– Tác giả Mỹ Dan Brown đứng thứ 42. Hai tác phẩm The Da Vinci CodeAngels and Demons, hư cấu về những âm mưu thâm cung bí sử của Giáo hội Công giáo La Mã, đã được dịch ra 28 thứ tiếng và tổng số ấn bản lên đến gần 100 triệu cuốn, chưa kể cả tỉ người đã xem hai cuốn phim phỏng theo truyện nầy.

– Nữ giáo sư ngành tôn giáo tỷ giảo người Anh Karen Armstrong, đứng thứ 53. Bà chủ xướng hòa đồng tôn giáo trên thế giới. Là một nữ tu sĩ Công giáo cởi áo, bà rất khắt khe với Giáo hoàng và giáo hội Công giáo La Mã. Ngoài những tác phẩm viết về Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, Do Thái giáo,… bà đặc biệt nỗi tiếng với tác phẩm Buddha (2001), viết về cuộc đời của Đức Phật Thích Ca lịch sử, để tặng em gái của bà là một Ni sư tu theo Phật giáo Đại thừa.

– Tác giả người Anh Stuart Wilde đứng thứ 66. Ông viết và thường đi thuyết trình về các đề tài Siêu hình học và Ý thức Nội tại. Ông đã viết 20 cuốn và được biết đến nhiều nhất là tác phẩm The Taos Quintet: Miracles, The Force, Affirmations, The Quickening

– Lạtma Tây Tạng Sogyal Rinpoche đứng thứ 82. Ngài là sáng lập viên Hệ thống Mật viện Quốc tế Rigpa, gồm hơn 100 trung tâm trên 23 quốc gia. Ngài cũng là tác giả cuốn sách nỗi tiếng The Tibetian Book of Living and Dying, được dịch ra 30 thứ tiếng và phát hành trong 56 quốc gia.

[Xin đọc toàn bộ danh sách 100 nhân vật nầy tại http://www.watkinsbooks.com/review/watkins-spiritual-100-list ]

Nói chung, nhìn vào các nhân vật được liệt kê, ta thấy đa số đều là những học giả và hành giả tìm về, hoặc chịu ảnh hưởng của, đạo học Đông phương, mà Phật giáo là dòng chảy chính. Dòng chảy đó đã được vận dụng như khuynh hướng chủ đạo để vừa giải quyết các vấn nạn tâm linh vừa đề bạt một con đường sống sinh động mà an bình trong thời đại hôm nay.

Trí Tánh ĐHT

(Viết theo Watkins Review , 3/2011)


The 100 Most Spiritually Influential Living People

We’re delighted to share our début list of the 100 most spiritually influential living people, that was published in the Spring issue #26 of the Watkins Revieww.* Yes, we’ve taken up the not so simple task of naming the most popular authors and spiritual teachers, whose contribution in spirituality and spreading awareness is affecting us all.

We live in an age of lists – from groceries and obituaries to Facebook friends, resume facts, lists of city capitals and lottery numbers. Of course, lists that classify the past, are easier to compile than lists that attempt to predict the future. With the holy grail of sorting algorithms, the world is sure to be your oyster.

Lists help us organize, explore and perceive our environments. But are so many lists really necessary? It is very much in vogue to publish lists of people: Time Magazine publishes an annual list of the 100 people who most influence the world; Forbes publishes several lists including a Celebrity 100 list, the World’s 100 Most Powerful Women, and a list of 1000 Billionaires; Art Review’s Power 100 is an annual list of the worlds 100 most powerful collectors, artists, gallerists, etc…

The lists of lists of people, just keep going and going. However, the Watkins Review believes that an important list has been long overdue, and we are delighted to share with you our list of the 100 Most Spiritually Influential Living People. Lists of influential people contribute to the discourse and issues that each person represents, and the Watkins Review hopes that our list will nurture the debates surrounding contemporary spirituality.

There are several factors that were taken into account when compiling the list. Listed below are the main three:

1) The person has to be alive

2) The person has to have made a unique and spiritual contribution on a global scale

3) The person is frequently googled, appears in Nielsen Data, and highlighted in throughout the blogosphere. It’s interesting to think about the amount of times that a person is googled; in a sense, being googled is a form of digital voting, and illustrates just how often someone is being sought out.

*The Watkins Review magazine (published by and available from Watkins Booksat £4.99 or as a subscription) not only offers reviews of all the latest releases in the Mind, Body, Spirit field, but also features articles and interviews with leading authors. The Review is published three times a year and has a readership of over 30,000 people worldwide.

1. Eckhart Tolle 34. Joseph Alois Ratzinger 67. John Bradshaw
2. Dalai Lama 35. Krishna Das 68. Jeff Foster
3. Dr Wayne W. Dyer 36. Drunvalo Melchizedek 69. Patrick Holford
4. Thich Nhat Hanh 37. Sai Baba 70. Andrew Cohen
5. Deepak Chopra 38. Jack Kornfield 71. Vladimir Megre
6. Louise L. Hay 39. Pema Chödrön 72. Thomas Cleary
7. Paulo Coelho 40. T.K.V. Desikachar 73. Daniel Pinchbeck
8. Oprah Winfrey 41. Esther & Jerry Hicks 74. Jonathan Goldman
9. Ken Wilber 42. Dan Brown 75. Sonia Choquette
10. Rhonda Byrne 43. Z’ev Ben Shimon Halevi 76. Seyyed Hossein Nasr
11. James Redfield 44. Diana Cooper 77. Mother Meera
12. Neale Donald Walsch 45. Ram Dass 78. Barefoot Doctor
13. Doreen Virtue 46. Andrew Weil 79. Richard Bandler
14. Alejandro Jodorowsky 47. Satya Narayan Goenka 80. Robert Bly
15. Richard Bach 48. Jon Kabat-Zinn 81. Adyashanti
16. Alex Grey 49. Alan Moore 82. Sogyal Rinpoche
17. Byron Katie 50. Dan Millman 83. Li Hongzhi
18. Masaru Emoto 51. Bruce Lipton 84. Sri Bhagavan
19. Nelson Mandela 52. Peter Kingsley 85. Rupert Sheldrake
20. Bernie Siegel 53. Karen Armstrong 86. John & Caitlín Matthews
21. Caroline Myss 54. Judy Hall 87. Chogyal Namkhai Norbu
22. Brian Weiss 55. Colin Wilson 88. Kenneth Grant*
23. Mantak Chia 56. Joscelyn Godwin 89. Stanislav Grof
24. John Gray 57. James Lovelock 90. James Hillman
25. Gregg Braden 58. Satish Kumar 91. Clarissa Pinkola Estés
26. Stephen R. Covey 59. Shakti Gawain 92. Stephen Levine
27. Marianne Williamson 60. Elaine Pagels 93. Candace Pert
28. Desmond Tutu 61. Kyozan Joshu Sasaki 94. Barbara Ann Brennan
29. Mata Amritanandamayi 62. Gary Zukav 95. Coleman Barks
30. Philip Berg 63. Erich von Däniken 96. Robert Thurman
31. Ervin Laszlo 64. David Deida 97. B.K.S Iyengar
32. Andrew Harvey 65. Oberto Airaudi ‘Falcon’ 98. William Bloom
33. Don Miguel Ruiz 66. Stuart Wilde 99. Lynne McTaggart

Source: http://www.watkinsbooks.com/review/watkins-spiritual-100-list

Đăng trên Thư Viện Hoa Sen http://www.thuvienhoasen.org

Advertisements
 
Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Posted by trên Tháng Bảy 24, 2011 in Phật Giáo, Quan điểm

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: