RSS

Phật Giáo và Thiên Chúa Giáo

22 Th6

Phật Giáo và Thiên Chúa Giáo

(*1) Erik Zürcher
(Chuyển ngữ  Ðỗ Thuận Khiêm)

                                   (theo bản chính Pháp ngữ của Collège de France)

 

Lời người dịch :

    Tác phẩm “The Buddhist Conquest of China”, xuất bản từ năm 1959, cũng đủ chứng tỏ tác giả, Erik Zürcher, là một trong vài sử gia sáng giá nhất hiện nay về Phật giáo, nhất là Phật giáo Trung Hoa. Dưới đây là một bài tham luận của ông tại hội nghị chuyên đề được tổ chức bởi Pháp quốc Học hội (Collège de France) (*2: chú thích của người dịch), ngày 23 và 25.2.1988 (*3).
    Bị chinh phục bởi kiến thức quảng bác và cách so sánh rất tinh tế của tác giả, giúp thấy được những khác biệt nền tảng trong quá trình phổ biến và phát triển của Phật giáo và của Thiên Chúa giáo tại Trung Hoa, nên dịch ra đây với hy vọng người đọc sẽ rút ra được những điều bổ ích.

_________

PHẬT GIÁO VÀ THIÊN CHÚA GIÁO TẠI TRUNG HOA

Mọi cố gắng so sánh Phật giáo Trung Hoa (PGTH), vào thời kỳ kiến tạo và phát triển (từ thế kỷ 4 đến thế kỷ 6 TL.), với Thiên Chúa giáo (TCG), được truyền bá tại TH bởi những giáo sứ dòng Tên (*4) vào thế kỷ 17, mới nhìn có vẻ như vô ích và thừa thãi. Từ nội dung, hai tôn giáo này đã ít có chỗ so sánh được với nhau, ngay cả khi người ta cố qui cả hai dưới cụm từ tổng quát “giáo thuyết giải thoát”. Trong mỗi hệ thống, khái niệm “giải thoát” chứa đựng những ý nghĩa hoàn toàn khác nhau, đến không thích ứng nhau, làm cho mọi nổ lực phân tích đối chứng thành huyễn hoặc.

Từ cái nhìn có thể gọi là lượng, sự tương phản còn hiển nhiên hơn nữa. Suốt thời gian từ thế kỷ thứ 4 đến thứ 6, TH đã thực sự bị chinh phục bởi Phật giáo, và tôn giáo ngoại quốc này đã bám rễ trong tất cả những vùng đất của thế giới TH và trong mọi giai tầng xã hội, ở Bắc, lúc đó bị người Hung Nô chiếm lĩnh, cũng như ở Nam, nơi những vương triều địa phương còn tiếp kế. Ðến khi đế quốc thống nhất dưới triều đại nhà Tùy năm 589 T.L., Phật giáo đã trở thành luồng tư tưởng quan trọng nhất và sáng tạo nhất của văn minh TH.

Việc tiếp thu và tiêu hóa trọn vốn giáo thuyết có nguồn gốc Ấn Ðộ này đã đưa đến việc hình thành nhiều trường phái địa phương : với hàng mấy ngàn tự viện và đền thờ Phật giáo, mấy trăm ngàn tăng ni và nhiều triệu tín đồ. So sánh với PG vẻ vang đó, TCG của thế kỷ 17 thể hiện như cái gì nhỏ nhoi phụ thuộc : với vài chục giáo sứ dòng Tên bao quanh bởi những tập họp trí thức nhỏ bị lôi cuốn bởi tôn giáo thần khải (*5) đến từ Âu châu, và công trình cải đạo, được khai mào từ vài năm trước 1600, đã bắt đầu hụt hơi vào thế kỷ 18. Vào thời kỳ cực điểm của nó, TCG đếm được hơn 300.000 người cải đạo trên tổng số khoảng 140 triệu dân, tức là chưa tới 1 người TH trên 400.

Người ta có thể tự hỏi tầm quan trọng của một sự kiện lịch sử luôn luôn được đánh giá bởi tầm vóc của nó chăng. Dù sao đó chỉ là cuộc chạm trán đầu tiên của TH với văn hóa Âu châu vào buổi đầu của thời kỳ hiện đại, hay, chính xác hơn, với phiên bản của chủ thuyết Catô giáo được thích ứng hóa cho TH và được phối hợp với vài yếu tố khoa học, kỹ thuật và nghệ thuật Âu châu (*6). Nhưng điều lý thú của một cuộc chạm trán như vậy nằm ở chỗ các nền văn hóa, cũng như những con người, biểu lộ và thể hiện những tiên kiến luân lý và tri thức của mình : những gì, khác đi [nếu không có sự chạm trán], thường được che đậy. Trước TCG, Phật giáo đã đóng vai người khám phá.

Trong những năm qua, nhiều câu hỏi được nêu ra trong những công trình nghiên cứu đã lôi cuốn sự chú ý. Một trong những nghiên cứu đó, trước hết, là công trình sáng giá của Jacques Gernet, Chine et Christianisme, action et réaction (TH và TCG, tác hành và phản hành), lần đầu tiên, cho thấy một cái nhìn toàn diện, chính yếu từ phía người TH, trên những hiện tượng của sự giao tiếp này.

Ai tìm tòi khảo sát song song lịch sử hội nhập của PG, từ thế kỷ thứ 4 đến thứ 6, và lịch sử công cuộc cải đạo của giáo sứ dòng Tên, vào thế kỷ 17, không thể không lúng túng bởi câu hỏi căn bản : tại sao PG đã thành công trở nên một yếu tố thường trực của văn hóa TH, trong khi TCG chỉ có vai trò tạm bợ và ngoài lề vào các thế kỷ 17 và 18 ?

Câu hỏi trở nên rối rắm hơn khi đánh giá khung cảnh của hai cuộc chạm trán của TH với 2 tôn giáo ngoại quốc này, và khi so sánh những người đến từ một thế giới khác : những tu sĩ PG đến từ Trung Á và Ấn độ, những giáo sĩ dòng Tên đến từ hầu hết những quốc gia Catô giáo Âu châu. Tất cả đều khác biệt : vị thế xã hội, trình độ giáo dục, sự tuyển chọn làm người sứ giả, mối liên hệ với những quốc gia gốc của họ.

TU SỈ PHẬT GIÁO

Những tu sĩ PG đến từ nhiều trung tâm khác nhau; số người là bao nhiêu, không được biết, vì những tài liệu chỉ nói đến những người sáng giá nhất mà thôi (1). Trong cuộc sống dời đổi, họ đã đến TH băng qua Trung Á theo những đoàn thương buôn; bằng đường biển, họ xuống tại vài hải cảng ở miền Nam TH; hay đôi khi họ bị bắt theo trong những cuộc càn quét quân sự. Hiếm khi chúng ta biết được hoạt động truyền giáo của họ, ngoài việc thỉnh thoảng thấy họ nghiên cứu một vài bản kinh trong tự viện này nọ. Chắc chắn họ không được tuyển chọn cho một sứ vụ PG nào cả, và rất có thể phần lớn không bao giờ tưởng tượng sẽ chấm dứt cuộc đời mình ở TH (2). Họ đến với những bản kinh trên vai hay đã ghi trong trí nhớ, không có khả năng tự dịch những bản kinh đó, vì không biết tiếng Hoa : việc chuyển dịch những bản kinh thư PG là việc làm khó nhọc, được thực hiện với những thông ngôn và những trợ lý người Hoa. Và, trừ vài ngoại lệ hiếm hoi, những tu sĩ này không còn liên lạc với quê hương gốc của họ. Không ai gửi đến cho họ những kinh thư và hình tượng, không ai từ xa cho họ những chỉ thị và những khích lệ. Ngược lại, cũng không một phúc trình gởi về từ TH để thông tin cho những giáo quyền và quần chúng về những tiến bộ cùng những rủi ro của “Luật Thiện” (*7) xảy ra tại Ðại Trung Hoa xa xôi.

Giáo sĩ dòng Tên

Nếu so sánh những tu sĩ lang thang đó với những giáo sĩ dòng Tên của chúng ta, sự khác biệt nổi bật trên mọi mặt. Những giáo sĩ này tạo thành đội ngũ trí thức ưu tú được tổ chức kỹ càng, như là “tập họp đầu não” (brain-trust) “Chống – Cải Tổ” (Contre-Réforme) (*4). Họ nhận được sự đào tạo dài dẳng và khắt khe trên thuật hùng biện, triết học, giáo tập, thần học, thường được phối hợp với những kiến thức khoa học vững vàng trên những lãnh vực như toán học, thiên văn học hay cả y học. Một sự tuyển lựa khó khăn đặc biệt được áp dụng cho những sứ bộ tại Viễn Ðông : một số dự tòng cho sứ bộ tại TH phải trải qua 2, 3 lần bị từ chối trước khi được thu nhận. Rồi tại Ma Cao, họ phải trải qua một chương trình nghiên cứu Hoa ngữ, cả việc học Hoa văn cổ điển. Kiến thức về loại văn chương này không thể thiếu được vì 3 lý do : trước nhất, vì chiến lược gọi là thích ứng, được thừa nhận bởi những giáo sĩ dòng Tên mở đường đầu tiên, ghi rõ rằng các pe (*8) phải hội nhập tối đa có thể được vào giới ưu tú thượng lưu TH; thứ 2, để có thể sử dụng những trích dẫn lấy ra từ những kinh thư Khổng giáo trong việc rao giảng và bảo vệ đức tin; cuối cùng, để tự mình kiểm soát việc chuyển dịch những kinh sách Âu châu và sản xuất những kinh văn chính bản bằng chữ Hoa : như ở Âu châu, các ấn bản đều có câu “nihil obstat, imprimatur” (không gì trở ngại, được in), được chuyển dịch sang chữ Hoa dĩ nhiên (3).

Một hệ thống liên lạc vững chắc nối liền văn phòng phó sứ (vice-province) ở TH với hành dinh tổng quản (généralat) của giáo đoàn tại Rôma, qua ngã Ma cao và Goa, và sự trao đổi thừ từ thường xuyên giữa họ [các pe] với nhau. Trung ương được thông tin toàn bộ về tất cả những gì xảy ra ở TH nhờ những “Litterae annuae” (Thư hàng năm). Trong đó, ngoài những tin tức về những nơi cư trú của những sứ giả truyền giáo, còn thấy được những nhận định nhiều khi rất sáng suốt trên tình hình chung của TH, kèm với tất cả những biến cố mới nhất cùng với những diễn tiến chính trị (4). Từ những tin tức đó, trung ương phản ứng và đôi khi thay đổi những định hướng đã được ban hành. Cả quần chúng [Âu châu] cũng lưu tâm nhiệt thành đến tình hình của sứ bộ (*9). Quyển “l’Expeditio Christiana apud Sinas” (Cuộc Viễn Chinh TCG tại TH), của Nicolas Trigault, phát hành năm 1615 tức thì thành sách bán chạy nhất được dịch sang nhiều thứ tiếng và được đọc trên khắp Âu châu. Mặt khác, sứ bộ được cung cấp dồi dào kinh, sách, khắc bản, dụng cụ khoa học … : cũng chính Trigault, nhân chuyến trở về Rôma để bảo vệ chính sách thích ứng cho sứ bộ tại TH, và để chuẩn bị chuyến du hành truyền giáo kiểu “voyage de promotion” bằng cách viếng thăm nhiều vương triều và hầu quốc TH, đã trở lại TH cùng với 7.000 quyển sách in sẵn. Vào thời điểm đó, đây là một thư viện rất lớn và nó đã kích thích sự ngượng mộ của nhiều sĩ phu TH (5).

Thế là sự khác biệt giữa số phận của PG và của TCG tại TH càng trở nên khó hiểu. Làm sao giải thích được việc những tu sĩ tối tăm, không được đào tạo trước, không là đối tượng của một tuyển lựa nào, lại thành công chiếm trọn cảm tình của mọi người về cho PG, trong khi cuộc viễn chinh TCG, được chuẩn bị kỹ càng từ trước và được thi hành bởi những người có phẩm chất cao, lại chỉ có được một thành quả hết sức khiêm tốn và, cuối cùng, kết thúc bằng một thất bại ?

Dĩ nhiên người ta đã thử trả lời câu hỏi này và đã hình thành nhiều khảo luận để giải thích.

TẠI SAO THIÊN CHÚA GIÁO THẤT BẠI?

Ðầu tiên là những công trình của chính những giáo sĩ dòng Tên, được thực hiện từ thế kỷ 17 đến nay. Họ nói rằng, sứ vụ luôn đối đầu với hành động của những thành phần bài ngoại và phản động, bị đàn áp bởi hàng ngũ quan lại cố chấp không muốn thấy sự thật, phải chịu đựng sự ganh tị của những tu sĩ PG, nhưng sứ giả truyền giáo được hoàng đế [TH] nghe và tin tưởng. Tức là, dù luôn luôn khó khăn, công trình vẫn đầy hứa hốn. Nhưng tất cả đã bị hỏng bởi sự tranh chấp về những lễ nghi TH, được xui dục bởi những dòng tu khác thù nghịch với giáo sĩ dòng Tên và với chính sách thích nghi của họ. Sau những tranh chấp bất tận, chính sách thích nghi bị cấm ngặt bởi giáo hoàng và lệnh cấm được công bố tại TH bởi những khâm mạng toà thánh.

Giải thích này vừa đơn giản vừa bề ngoài. Sự đàn áp TCG ở TH vào thế kỷ 17 và 18 không trầm trọng lắm. Rõ ràng đã có vài chiến dịch chống TCG, nhưng không chiến dịch nào quá khắc nghiệt và cũng không kéo dài. Dù với nhiều nổ lực, những người khảo sát sử cũng chưa tìm thấy được một nạn nhân nào là giáo sĩ dòng Tên trong lưu ký của sứ bộ trước đây tại TH. Sự tranh chấp về những lễ nghi rất mãnh liệt và độc hại, nhưng gần như tuyệt đối chỉ diễn ra ở Âu châu. Và người TH, ngay những người đã cải đạo, dĩ nhiên, không thể biết được những gì xảy ra ở phân khoa thần học – Sorbonne [Paris]. Chỉ vào cuối thế kỷ 17, vì phạm phải sự bất cẩn lớn, cuộc tranh chấp này đã nổ ra tại triều đình Bắc Kinh, nhưng vào thời đó sứ vụ đã xuống dốc mà cuộc tranh chấp lễ nghi chỉ có hậu quả đẩy nhanh tiến trình.

Giải thích thứ hai nhấn mạnh trên chính sách cô lập văn hóa của TH suốt 2 triều đại cuối và trên cái gọi là “chủ nghĩa dĩ Hoa vi trung” (sinocentrisme), nghĩa là tư tưởng truyền thống cho rằng TH là trung tâm văn minh của thiên hạ. Vì là một ngoại thuyết, TCG trên nguyên tắc không thể được chấp nhận và bị đánh giá là thấp kém. Ngược lại, PG vào thời đó là tôn giáo đã hoàn toàn hội nhập mà từ 15 thế kỷ đã mất hết mọi liên hệ với những nguồn gốc không TH của nó. Lối giải thích này đã bị phủ nhận một phần, khi người ta ghi nhận được rằng sự bất ổn chính trị phổ biến vào cuối thời nhà Minh [1368-1644] đã có tác dụng vừa làm yếu khả năng kiểm soát tư tưởng của chính quyền, vừa mở cửa tình thần của nhiều sĩ phu đến với những tư tưởng mới. Chỉ bắt đầu dưới triều nhà Thanh, chế độ đa nghi và độc tài của người chinh phục Mãn Thanh, thái độ đóng kín hơn đối với người ngoại quốc mới được áp dụng và những công cụ kiểm soát mới được thiết lập lại. Khi đó, chính quyền khuyến khích một Khổng giáo chính thống và cứng nhắc, tạo ra một khung cảnh bất lợi đối với mọi trào lưu được xem là dị loại, và đặc biệt đối với TCG.

Vậy, cách giải thích thứ hai này có giá trị nhưng cũng chỉ một phần. Chủ nghĩa dĩ Hoa vi trung chắc chắn đã đóng vai trò quan trọng trong những hành động và những lời khích bác chống TCG : thuyết Thiên Chúa bị vứt bỏ không chỉ vì nó phi lý và phá hoại, nhưng cũng vì đó là phịa phỉnh của “man di bên ngoài”. Chấp nhận nó, TH giao mình cho mọi rợ;. Ðúng thế, ít nhất là từ thế kỷ 18 thái độ của chính quyền đối với TCG đã cứng kết. Nhưng lý lẽ cho rằng PG đã hoàn toàn hội nhập là không đứng vững. Thật vậy, chỉ cần trở về thời kỳ khi PG bắt đầu xâm nhập TH, người ta thấy lại cũng những chứng tích của loại chủ nghĩa dĩ Hoa vi trung này :;PG là sản phẩm sơ khai của man di dị đoan, một loại thoái hoa suy đồi của Lão giáo, có thể tốt đối với người Ấn, nhưng không thể chấp nhận được đối với người Hoa, vậy phải vứt bỏ càng nhanh càng tốt; (6). Sự thù nghịch xuất phát từ chủ nghĩa dĩ tộc vi trung trên mặt văn hóa (ethnocentrisme culturel) từ lâu đã là một thường xuyên của lịch sử PGTH, và nó đã khơi động những ngược đãi còn trầm trọng hơn những gì mà TCG chưa bao giờ là đối tượng. Dầu vậy, PG vẫn không ngừng triển rộng. Vậy, chủ nghĩa di Hoa vi trung là một trong nhiều nguyên nhân của những khó khăn mà TCG đã gặp ở TH, nhưng TCG phải nhận lấy về mình sự thất bại của chính mình.

Khía cạnh thứ 3 của câu hỏi đã được đưa ra ánh sáng bởi J. Gernet trong sách mà tôi đã nêu trên : đó là sự đối nghịch gần như không thể vượt qua được hiện hữu giữa tư tưởng triết học và tôn giáo nền tảng nhất của TCG và những tư tưởng truyền thống TH. Theo quan điểm này, những khái niệm và những tư tưởng chính yếu của TCG không thể được chấp nhận một cách nguyên vốn, bởi vì nó không tự cho phép hội nhập vào cái nhìn về thế giới của người TH. Ðó là toàn thể chủ thuyết nền tảng của TCG : một Thiên Chúa duy nhất, kẻ sáng tạo, toàn năng và đố kỵ, không chấp nhận một chúa nào khác bên cạnh mình (và khó hơn nữa, tập thể tiền hiền thư lại kiểu TH); vũ trụ, không như quan niệm TH được hình thành theo một tiến trình chuyển hóa thường xuyên và không theo ý chí của một ai, nhưng là một sản phẩm của ý chí Thiên Chúa, một sáng tạo toàn diện và duy nhất; sự hiện hữu trong con người một linh hồn bất tử và phi vật chất, bị bắt chịu lao khổ vì “tội nguyên thủy”, và chỉ có thể được cứu rỗi bởi ân huệ của Chúa; con người, một sáng tác đặc biệt, được tượng thành như một sinh vật độc đáo và đối nghịch với mọi tạo sinh vật khác; một chương trình của Thiên Chúa nhằm cứu chuộc toàn thể nhân loại, có vẻ như hoàn toàn vô bổ và độc đoán đối với người TH; lễ mình thánh, theo đó con người nhận ân huệ của Chúa bằng cách tiêu dùng thân thể Chúa (*10), dạng thánh thể hóa không thể hiểu được với người TH.

Sự tranh chấp giữa những nền văn hóa này, sự đối đầu giữa 2 khái niệm về thế giới và con người này, mà J. Gernet đã nhấn mạnh, chắc chắn là một thành tố rất quan trọng, tạo thành một trong nhiều mặt chính yếu của vấn đề. Nhưng, trước nhất, cần lưu ý đến những ngoại lệ được xác chứng trong lịch sử TCG tại TH : có những trường hợp cho thấy sự chấp nhận toàn bộ chủ thuyết TCG, sự lĩnh hội chủ thuyết đôi khi làm ngạc nhiên (7), sự thành tín và cả sự nhiệt thành. Thứ đến, chỉ cần trở về với thời gian trước đó khoảng từ 10 đến 15 thế kỷ để thấy lại tình trạng tương tự, như TCG của thế kỷ 17 đã trải qua, vì thuyết PG cũng cách biệt trên những điểm hoàn toàn nền tảng đối với truyền thống TH. Trước khi PG đến, những khái niệm tương tư như niết bàn không được biết đến, được hiểu như sự phá bỏ toàn bộ những ràng buộc và như sự đoạn tuyệt cuối cùng của mọi hiện hữu cá biệt, vì trong những quan niệm TH, cả những tên tuổi bất tử lớn nhất vẫn giữ một thể xác riêng và nguồn gốc cá nhân. Khái niệm nghiệp báo, kiểu đáp đền cứng nhắc đối với mọi hành động có ý thức của mỗi người, ngược hẳn với quan niệm TH về trách nhiệm được chia xẻ. Và nhất là rất khó cho người TH chấp nhận định chế cốt lõi của PG : tăng già, qui chế tự viện, cộng thể của những tu sĩ cắt đứt mọi liên hệ với cuộc sống trần gian và tự dấn mình vào một cuộc sống hoàn toàn cách biệt với cuộc sống thế tục, kèm với những giới kỵ riêng. Khó tưởng tượng được sự đối chọi lớn hơn sự đối chọi giữa PG và truyền thống TH. Thế nhưng TH đã có thể hấp thụ PG. Vậy rõ ràng văn hóa có sự co giãn rất lớn, một khoảng tự do khá rộng, cho phép tiếp thu những tư tưởng đến từ bên ngoài, cả khi những văn hóa này đối nghịch hẳn với những định kiến nền tảng nhất.

Thế là, câu hỏi vẫn còn nguyên vốn. Những giải thích được đưa ra có giá trị riêng và tất cả đều là phần mớ. Ðiều này không thể tránh được : việc thu nhận toàn bộ một hệ thống tư tưởng, những phương pháp thực hành và những định chế có nguồn gốc từ ngoài đến, bởi một nền văn hóa nào đó, là một quá trình khá phức tạp và khá khó hiểu, mà có thể không bao giờ tìm được giải thích toàn diện. Vì thế tôi trình bày, thêm vào những gì đã được đưa ra, một giải thích phần mớ khác : lưu ý đến những điểm khác biệt trong những định chế và tổ chức, giúp phân biệt cách truyền bá của PG và của TCG tại TH. Sự tương phản có thể được tóm tắt trong vài chữ : “sự phát triển tự phát khác với sự truyền bá có lãnh đạo”, “sự hình thành những tự viện khác với sự cứu vớt những linh hồn”, hay, một cách dễ hiểu hơn, “gieo rãi một định chế khác với truyền bá một đức tin”. Tôi tin đây là sự đối nghịch chính yếu đã đưa đến những hậu quả quyết định trên số phận của PG và của TCG tại TH thời tiền hiện đại.

Sự khác biệt định chế giũa PG và TCG

Cách lan rộng của PG có thể được xem như một thí dụ cổ điển của loại “phát triển bằng tiếp cận” : cách phát triển phân nhánh của rễ cây (*11). Hệ thống tự viện PG ẩn tàng một cơ chế phát triển tự động bắt đầu từ lúc những cộng thể tu sĩ định cư đầu tiên được thành hình. Theo quan điểm kinh tế, những nhóm tu sĩ này thuần túy sống bám, họp thành bởi những khất sĩ sống nhờ nơi biếu phẩm của người khác, cả đến lương thực hàng ngày. Vòng vi khất thực của mỗi nhóm (sima) bị giới hạn bởi đoạn đường mà bước chân trần của người tu sĩ có thể đi và về mỗi ngày, tức là rất hạn hốp. Mặt khác, vì sống nhờ vào khả năng biếu xén của người khác, tức là trong mức sản xuất dư thừa của xã hội thường rất hạn hốp trong mọi nền kinh tế tiền hiện đại, nên những cộng thể tăng già đó chỉ phát triển rất chậm và cần thiết phải đi kèm với tiến trình di trú. Số tu sĩ trội quá phải ra đi, theo những đường thương buôn lớn, để thành lập những tịnh cốc (vihara) mới của mình ở những nơi địa thế tốt : tại những vùng nông nghiệp giàu thịnh hay gần một thành phố lớn, ở giao điểm của những đường cái quan, hay tại những địa điểm linh thiêng có nhiều khách hành hương lui tới. Nói gọn : nơi nào có những tấm lòng rộng rãi, những mạnh thường quân.

Tiến trình này được lặp đi lặp lại mãi, và qui chế tự viện cứ thế lan rộng dần, trước tiên ở Ấn độ, sau đó ra ngoài, vì những mạnh thường quân cũng có trong số những nhà thương buôn đi khắp lục địa và các biển. Tại những vùng xa xôi, tiến trình này cũng được lặp lại một cách tự động và không gây sự chú ý. Cơ chế này hiệu nghiệm, nhưng nó không được lãnh đạo. Ðó là quá trình tự phát, không định hình, không chịu một giáo quyền nào vì không có trung ương cũng không được điều phối. Nó tùy thuộc nhiều nơi sự may rủi tình cờ : khi nào tìm được một nơi thích hợp, có những ông chủ rộng lượng, họ dừng lại ở đó và một điểm phát triển mới sinh ra. Trong thời kỳ đầu, hệ thống này phát triển ở trình độ quần chúng với những cộng thể nhỏ. Nhưng trong thời gian dài, những cộng thể PG tiếp xúc với hàng ưu tú thượng lưu và với triều đình. Vị thế xã hội của những mạnh thường quân mới cũng cao hơn dần, và hình thành nhiều tự viện lớn, giàu, có uy thế, với hàng trăm tu sĩ thường trú, tạo thành giới tu sĩ thượng lưu và tự viện của họ thành những trung tâm văn hóa PG lớn.

Chính bằng cách này, mở rộng dần hệ thống những cộng thể và những tự viện, mà PG lan tràn khắp Á châu. Cũng bằng cách này, phát triển định chế một cách chậm chạp và gần như không cảm nhận được, mà PG đã thâm nhập TH hồi đầu kỷ nguyên TL. Qua đó thấy được sự phát triển của tăng già là yếu tố quyết định. Công cuộc xây dựng PG ở TH, từ khởi đầu, không bằng sự phổ biến giáo thuyết cho người ngoại đạo, nhưng bằng sự xây dựng một tự viện, tự viện Bạch Mã (núi Bạch Mã) gần Luoyang (Lạc Dương). Và chứng cớ cụ thể duy nhất còn lại từ cộng thể nguyên khai này là bản ghi bằng chữ Ấn viết trên bờ thành một cái giếng, viết rằng: “giếng này được cúng dường cho toàn thể tăng già của mười phương thế giới” (8). Suốt 3 thế kỷ đầu của TL, sự gieo rãi của PG ở TH được tiến hành trong dân chúng. Ðến thế kỷ thứ 4, PG bắt đầu tiếp xúc với giới thượng lưu và, vào khoảng năm 400, những tự viện lớn đầu tiên đã được thành lập. Những tự viện này trở thành giàu có, nhờ những khoản tặng sản to lớn, và tiếp tục phát triển bằng cách hiển dương những hoạt động xã hội kinh tế : quản lý địa sản riêng, tích lũy vốn liếng, tổ chức hội chợ ở những “núi kính thành” (nơi hành hương), nhà in và nhà trọ.

PGTH cũng trở thành một quyền năng tôn giáo mạnh. Sức mạnh của nó rút ra từ định chế tự viện đặc biệt này. Ðó cũng là lý lẽ của sức đề kháng và sức chịu đựng lâu dài của PGTH, vì tự viện/đền thờ [trộn lẫn nhau] là định chế PGTH duy nhất sống còn suốt gần 2.000 năm nay, dầu luôn có những ngược đãi hạn kỳ. Nhưng điều đáng ngạc nhiên là sức mạnh tôn giáo to lớn này được tạo thành, nhưng không có một dạng lãnh đạo trung ương hay điều phối nào. PGTH luôn luôn là một đại dương với nhiều trung tâm mà mức độ lớn nhỏ rất khác nhau, những trung tâm lớn nhất được lèo lái bởi triều đình với đầy những tu sĩ có học thức, những trung tâm nhỏ nhất mọc trong những làng mạc và được chăm sóc bởi vài tu sĩ thất học. Tóm lại, một sức mạnh định chế lớn kết hợp với sự yếu kém về mặt tổ chức.

Không thể tưởng tượng được một tương phản lớn hơn sự tương phản giữa hình ảnh vô tổ chức và đa tâm này với hình ảnh một hệ thống được lãnh đạo và tổ chức tuyệt vời của cuộc viễn chinh TCG của những giáo sĩ dòng Tên của chúng ta tại TH vào thế kỷ 17. Ít có công trình nào có mức độ to lớn như thế, được suy nghĩ và chuẩn bị kỹ càng như thế, được theo dõi với nhiều chú ý và được thi hành với sự khôn khéo và thận trọng như thế. Nhưng dưới khía cạnh định chế, nhiệm sở của sứ bộ, gồm một nhà thờ Chúa nhỏ và là trú quán của 1 hay 2 giáo sứ với những người Hoa phụ việc, tạo thành một căn cứ vô cùng yếu, không cùng mức độ với những tự viện PGTH và cấu trúc cơ sở địa phương của chúng. Tuy nhiên đó cũng là điều không thể tránh được, vì những giáo sĩ dòng Tên không phải là thành viên của một đoàn thể tu hành, và vai trò thế tục của họ được tăng cường bởi sự tự tiếp nhận cách sống của sĩ phu TH (9). Và vì họ chủ ý đối chiếu cách sống này với cách sống của những tăng sĩ PG muốn thiết lập những tự viện.

Vì thế, trung tâm địa phương rất yếu : chỉ là nơi hành lễ, thuyết giáo và thảo bàn. Ðặc tính của một đoàn thể ngoại quốc của nó càng hiện rõ bởi vì chiến lược của sứ bộ loại trừ việc đào tạo giáo sĩ người Hoa. Nền tảng kinh tế lại rất yếu và đầy nhược điểm : hội thánh (*12) chỉ tồn tại nhờ một phần nhỏ biếu phẩm của tín hữu người Hoa, phần còn lại phụ thuộc trước nhất vào những khoản tiền to lớn gởi đến từ Ma cao. Hội thánh không bao giờ có cơ sở đất đai, nền tảng của mọi ổn định kinh tế tại TH. – mặt định chế, sứ bộ dòng Tên thể hiện hình ảnh hoàn toàn khác với hình ảnh của PG. Quá trình cải đạo cũng hoàn toàn khác : không phải là sự phát triển bằng tiếp cận, nhưng là sự bành trướng tầm xa; không phải là sự phổ biến tiệm tiến, nhưng là sứ chích thích vào (injection); không trên nền tảng kinh tế nội tại, nhưng bằng sự tiếp tế bởi một cuốn rún nối liền hội thánh TH với thế giới bên ngoài.

Trong sự bành trướng vắng bặt mọi điều phối của PG còn đưa đến một hệ quả quan trọng khác. Nó cho phép một sự phát triển với nhiều hình thái rất khác biệt : tại mỗi vùng, mỗi nơi, chủ thuyết và lễ nghi đã chịu ảnh hưởng của những truyền thống địa phương mà không bị chỉnh sửa hoặc đồng nhất hóa bởi một uy quyền trung ương nào. Vô số tục lệ địa phương đã được hội nhập không khó khăn, và hệ thống được hoàn toàn tự do để phát triển các dạng thức pha trộn và những đức tin tổng hợp. Tính đa dạng không kiểm soát này, tự do thích ứng với môi trường, góp phần lớn cho sức sống và sức bật của PG : nó có thể bám rễ khắp nơi và không kích thích phản ứng tẩy chay, đồng thời hội nhập vào nhiều truyền thống địa phương.

Như mọi người đều biết, tiến trình thích ứng tự phát này đã có trong TCG Tây phương thời trung cổ. Chính nhờ biết hội nhập vào những thực hành và những đức tin ngoại giáo [Âu châu] mà TCG phổ cập trong dân gian. Nhưng sau Công Ðồng Trente [1545-1563], khởi điểm của “Chống-Cải tổ”, giáo hội đã đoạn tuyệt với di sản truyền thống trung cổ : tôn giáo thần khải được rao truyền ở TH, bởi những giáo sĩ dòng Tên vào thế kỷ 17, là TCG thuần hành và cứng nhắc, giáo điều, được áp đặt trên giáo sứ bởi giáo hội và trên người TH bởi những giáo sứ. Ðây là một trong những hệ quả của cuộc viễn chinh TCG với tư cách là một chiến dịch có lãnh đạo. Việc thích ứng bị giới hạn, và dưới lớp áo sĩ phu che dấu lớp áo dòng của một người chi phối. Những uy quyền Rôma cấm ngặt những thực nghiệm bị xem là quá bạo dạn : như khi những giáo sĩ dòng Tên xin được phép hành lễ bằng tiếng Hoa (10). Khi Giulio Aleni, bối rối bởi bổn phận của người sĩ phu cải đạo phải tỏ lòng tôn kính đối với những vị thần thành hoàng, tìm được giải đáp tài tình là đồng hóa những thần này với những thiên thần hộ trì TCG, việc làm này bị đập tan ngay bởi lệnh cấm của giáo hoàng (11). Ngay trong nội bộ của sứ bộ tại TH, khuynh hướng đồng nhất hóa cũng đã ngăn trở sự thành hình những tập tục sống động nhỏ. Không thiếu những thí dụ cho thấy những đức tin và những thực hành TCG đã có thể bám rễ dễ dàng bằng cách này, đúng hơn, là bằng cách xây nền trên truyền thống thờ phượng ma quỉ của địa phương. Nhưng mới vừa thành hình nó đã bị phản bác và bị đè bốp dưới sức nặng của tính chính thống cố chấp. Một thí dụ lạ lùng và xúc động : vào năm 1638 tại Nam Kinh, một con đồng đang lên đã nhận được thông điệp có nội dung TCG, và tự động viết trên một miếng gỗ nhỏ, theo cổ truyền, để khuyến khích dân chúng tín ngượng nơi Thiên Chúa trên trời. Không bao lâu sau, những buổi chiêu hồn kiểu này, cách thực hành rất phổ biến của tôn giáo dân gian, đã phát triển thành một tín ngượng xây dựng trên sự hiện xuống định kỳ của tôn đồ Philippe từ các tầng trời, để đem những tín hữu đến sự tin tưởng tuyệt đối. Nhưng lối tín ngượng hoàn toàn có tính cổ truyền này đã phải bị chấm dứt sớm : ngay khi được báo tin, be Sambiasi, một người lão luyện với 50 năm kinh nghiệm tại TH, vội vàng lao vào đám con chiên lạc hướng và ra lệnh cấm tại chỗ những phép thuật quỉ yêu này (12). Việc đồng nhất hóa được áp đặt, việc loại trừ mọi tiểu dị và mọi thích ứng với truyền thống địa phương, là hậu quả của cuộc bành trướng kiểu chỉ huy : phải nhận mệnh lệnh từ bên ngoài, và những người thừa hành trông chừng nhau tại chỗ để tránh mọi rẻ hướng.

Sự khác biệt định chế giũa PG và TCG còn có trong mối quan hệ với những tín hữu thế tục. Trong PG, trung tâm của cuộc sống tôn giáo nằm trong tự viện : cuộc sống ngoài thế gian, được giải quyết trong chi tiết bởi những giới luật và chỉ để cho người tu sĩ rất ít tự do. Nhưng bên ngoài tự viện, tình trạng hoàn toàn khác biệt. Tín hữu thế tục PG lo cấp dượng cho tăng già và mặt khác chịu vài qui định luân lý có tính phổ quát, mà phần lớn, như qui định cấm giết người chẳng hạn, đã có sẵn trong luân lý thông thường. Ngoài ra, tín hữu thế tục PG có tự do hoàn toàn trong cuộc sống gia đình, xã hội, cả về tôn giáo, không bị đặt dưới sự can thiệp giáo quyền nào. Mỗi tín hữu thế tục PG không phải gắn bó với một đền thờ và không thuộc một giáo khu nào. Mỗi người có thể mời 1 hay nhiều tu sĩ, theo sự lựa chọn riêng để họ mang đến vài dịch vụ tôn giáo nào đó, và đáp đền hậu hỉ là đàng khác, nhưng không bao giờ một tu sĩ PG dám đến khiển trách ở nhà họ hay can dự vào công việc nội gia của họ. Ðó là sự vi phạm quái lạ trong cuộc sống riêng tư. Mối quan hệ thô cạn và ngăn cách này giữa tín hữu thế tục và định chế giáo quyền hình như phản ánh vai trò giới hạn mà tôn giáo ở TH nói chung đã đóng trong cuộc sống cá nhân, nhất là với nam giới. Tiểu sử mỗi người thường không mang một ghi chú nào về đức tin cũng như những hoạt động tôn giáo của họ (13). Người sĩ phu thực hành một tôn giáo, như thực hành những động tác hít thở hay theo đuổi cách ăn kiêng đặc biệt nào đó trong mục đích vệ sinh, kiểu như để tô điểm thêm cuộc sống. Là Phật tử, không có nghĩa là bám dính vào một niềm tin cho rằng nó sẽ đem lại một định hướng đặc biệt cho cuộc sống, đúng hơn, là tin nơi hiệu năng của những chỉ dẫn nào đó của Phật giáo.

Một lần nữa, sứ bộ dòng Tên cho thấy một hình ảnh hoàn toàn khác biệt : bổn phận của tín hữu, cũng như quan hệ của họ với hội thánh và với hàng giáo sĩ cho thấy rõ quan niệm đặc thù Tây phương. TCG thể hiện ở TH như một tôn giáo cực kỳ trói buộc. Mỗi tín hữu TCG phải gắn liền với hội thánh, là thành viện của một giáo khu, rửa tội, ghi sổ. Trong cuộc sống riêng tư, người này phải thuần phục dưới uy quyền thường trực của giáo sĩ. Sự kiểm soát của giáo quyền xâm nhập đến tận trong nhà và cấm họ hoàn thành một số bổn phận lễ nghi [có tính truyền thống] nào đó (*13). Khác hẳn với cuộc sống của tăng già, trong một không gian đóng kín và qui hướng về việc tu sửa chính mình, hoạt động của những nơi thường trú của các giáo sứ đối nghịch với khung cảnh bình thường của đời sống tôn giáo của người TH. Những giáo sĩ dòng Tên đưa vào TH một loại tôn giáo thế tục, hoàn toàn là bình thường ở Âu châu, nhưng chưa hề được biết đến ở TH và khó được chấp nhận.

Cuối cùng, sự bành trướng có lãnh đạo còn có hệ quả khác nữa : buộc những giáo sứ phải đóng cùng lúc 2 vai trò không thích ứng nhau. Chính sách thích ứng đã được vạch sẵn, với những nét chính ngay từ cuối thế kỷ 16, vào thời kỳ sứ bộ mới được thành lập tại TH, khi người ta chỉ biết rất ít về đất địa này. Ðây là một chiến lược tinh vi, những mâu thuẩn từ trong nguyên tắc :;Hãy vào TH và hãy cấu kết với sĩ phu thượng lưu và những quyền chức. Hãy kích thích óc tò mò của họ bằng những bản đồ thế giới, những đồng hồ tay, những kính viễn vọng, những lăng kính của quí vị, hãy chiếm lấy sự chiêm ngượng của họ nhờ những quyển sách được in ấn và bằng kiến thức của quí vị về toán học và thiên văn học. Hãy cư xử như một nhà thông thái và như một “quân tử”, và hãy giải thích giáo thuyết của chúng ta ở đó bằng cách sử dụng những chú giải, những từ vựng và những hình ảnh có thể làm cho họ hiểu được. Nhưng đồng thời đừng bao giờ quên rằng quí vị là giáo sĩ. Chỗ đứng của quí vị không chỉ ở “Hàn Lâm viện Khổng giáo”, nhưng ở giáo hội, trung tâm của cuộc sống tôn giáo. Khi bàn tay của quí vị vung lên, với cọ viết cũng như với bánh thánh, quí vị phải cùng lúc vừa là nhà thông thái vừa là giáo sĩ. TH- Âu châu, một kết hợp vai trò như vậy là hoàn toàn bình thường, nơi những giáo sĩ dòng Tên là một khả năng sáng chói, đặc thái của dòng này. Nhưng ở TH, 2 vai trò này không thể thích ứng nhau được. Người sĩ phu Khổng giáo có thể đảm nhận dễ dàng các mặt khoa học như y học, dược học, địa dư, và cả cơ khí. Hoạt động của những giáo sĩ dòng Tên trong những lãnh vực này không ra ngoài cái khung truyền thống của họ. Ngược lại, qui chế của sĩ phu ở TH tuyệt đối không điều hợp được với qui chế giáo sĩ, nghĩa là với qui chế của người chuyên môn về nghi lễ tôn giáo, đạo sĩ chuyên nghiệp và là trung gian giữa con người và những sức mạnh vô hình.

Trong PGTH vấn đề này không bao giờ được đặt ra. Có những tu sĩ PG là những nhà thông thái lớn, nhưng họ không ra khỏi lãnh vực chuyên môn của họ bao giờ. Một tu sĩ PG quảng bác là một học giả của tập thể PG, và ngay khi họ viết những tác phẩm, thí dụ như biên khảo về địa chí, kinh thư hay ngữ học, cũng không mang tính chất truyền giáo đặc biệt, dù những tác phẩm đó không bao giờ rời xa phạm vi PG. Vai trò chính yếu (vai trò mẫu – role pattern) của người tu sĩ, từ nhà học giả quảng bác đến ông từ chùa ở làng quê, đều đồng loại nhau. Bất luận chuyên môn riêng của mỗi người, họ vãn luôn luôn là những “chuyên gia về tôn giáo” (thầy chùa), tách biệt rõ rệt với giới sĩ phu bởi cách sống, phẩm hạnh cũng như bởi vị thế xã hội khá khiêm tốn của họ.

Nói nhung giáo sĩ dòng Tên, 2 vai trò mẫu của họ dị biệt nhau, và sự mù mờ này phá vỡ chiến lược của sứ bộ. Ðặc tính không thể hoà hợp được của 2 vai trò nói trên đã, không đợi lâu, quay lại chống phá chính họ, bởi vì nó cho phép đối thủ của họ lên án họ là tráo trở 2 lòng. Chúng ta đã nhắc đến tính không thể thích hợp được, nhưng ở đây không phải ở những tư tưởng nền tảng, mà ở tính không thích hợp của những định chế và những vai trò truyền thống. Chúng ta đã thấy rằng những nền văn hóa có sự co giãn rất lớn khi nó tiếp nhận những tư tưởng mới và, trong lãnh vực trí thức và tôn giáo, nó có thể chấp nhận dễ dàng sự sống chung của những quan niệm đối nghịch nhau. Nhưng khi đụng đến vai trò xã hội, nó không chấp nhận một thỏa hiệp nào có thể có những hệ quả tức thì trên trật tự xã hội : tại Âu châu, một pháp quan không thể kết hợp chức năng mình với nghề diễn tuồng múa rối; ở TH, không một sĩ phu nào tự thể hiện cùng lúc như thành viên của giới thượng lưu và như một chuyên viên về những sự việc tôn giáo.

Trên đây chúng ta đã nêu ra một loạt những đối nghịch : hội nhập tự phát bằng tiếp cận đối ngịch với sự đưa vào được suy xét kỹ càng từ bên ngoài; những tu sĩ ngoại quốc không được sự đào tạo đặc biệt đối nghịch với những giáo sĩ được đào luyện kỹ càng; cộng thể tự viện đối nghịch với những nơi thường trú lẽ loi; tập thể tín đồ thế tục độc lập ngoài tập thể tăng già đối nghịch với giáo hữu TCG thuần phục dưới sự kiểm soát của những giáo sứ; đa tâm đối nghịch với sự đồng nhất được áp đặt; vai trò “thầy chùa” được xác định và thuần nhất đối nghịch với vai trò đôi “giáo sứ – sĩ phu”. Quá nhiều đối nghịch, nhưng tất cả đều liên quan đến việc làm lệch hướng chính đặc tính của sứ bộ dòng Tên, dưới danh nghĩa là một công trình có lãnh đạo. Ðiều nghịch lý là chế độ chỉ huy chính là nguyên nhân của sự yếu kém và nhược điểm của TCG ở TH, ngược lại, PG đã rút ra sức mạnh và năng lực của nó từ khuyết điểm về điều phối, từ đặc tính của sự phát triển tự phát và từ sự vắng bặt mọi lãnh đạo trung ương.

Tôi đã cố gắng trình bày một phân tích bằng đối chứng tương phản. Có thể đặt dấu hỏi trên tính chính đáng của cách diễn đạt này, thế nhưng tôi tin rằng nó hữu ích, như là một công cụ nghiên cứu, giúp nhận diện những nét đặc trưng của một hệ thống và để đưa ra những câu hỏi mới. Vì chính trong sự đối đầu nhau mà những hệ thống biểu lộ những đặc thái chính yếu của chúng. Trong những nền văn hóa cũng như nơi con người, chính từ sự giao tiếp và tranh chấp nhau của chúng mà sự thật sinh ra./. (7.96)

Chú thích của tác giả.

1. Trong những tài liệu tự thuật, nhất là toàn bộ Cao Tăng Truyện, sinh hoạt của những tăng sĩ ngoại quốc gần như chỉ nhầm chuyên dịch kinh thư. Ngược lại, trong tất cả những tài liệu văn chương TH cùng thời thì đầy rẫy những đoạn liên hệ đến những tăng sĩ man di hồ tăng, có ghi chú nhiều hoạt động của họ, gồm thuật sĩ hay những tiên tri giỏi pháp quyền siêu nhiên. Xem nhận xét của chúng tôi trong “Perspectives in the Study of Chinese Buddhism”, Journal of the Royal Asiatic Society, 1982.2, trg. 161-176.

2. Một ngoại lệ rất thú vị : một nhóm ni sư Tích lan đến Quảng đông năm 426 bằng đường biển đã đưa vào TH truyền thống chính truyền của tổ chức tỳ khưu ni (T.2.063, Tỳ Khưu Ni Truyện, chg.2, trg. 939c và 941a; chg.3, trg. 942b)

3. Những tác phẩm được phát hành bởi những người cải đạo TH thoát khỏi kiểu cầu chứng giáo quyền này. Việc này được Giulio Aleni viết lại với những lời lẽ tốt đốp trong quyển Géographie du monde extérieur – Zhifang waiji (Hàng Châu, 1628), chg.2, trg. 4b.

4. Joseph Dehergne S.J. “Les Lettres Annuelles des missions jésuites de Chine au temps des Ming” (1581-1644). Archivum Historicum Societatis Iesu 49(1980), trg; 379-392.

5. E. Lamelle S.J., “La propagande du P. Nicolas Trigault en faveur des missions de Chine (1616)”, A.H.S.I. 9 (1940), trg. 49-120; P. Brunner, l’Euchologie de la mission de Chine : edito princeps 1628 et développements jusqu’à nos jours, Münster, Westf., 1964; F. Bontinck, La lutte autour de la liturgie chinoise aux XVIIè et XVIIIè siècle, Louvain, 1962.

6. Ðại cương về những lời lẽ dĩ Hoa vi trung mà chúng tôi đã trình bày trong The Buddhist Conquest of China, Leiden, 1959, trg. 264-280.

7. Nhiều thí dụ lý thú thấy được trong báo Kouduo richao, chứa đựng những trích dẫn đối thoại và những ghi chú trên những sự việc và những động tác của vị giáo sứ Giulio Aleni (1582-1649) ở Phúc Kiến. Tác phẩm này là tài liệu duy nhất về việc thực hành trong cuộc sống tôn giáo giữa hàng sĩ phu TH vào thời đại đó, được sắp xếp thành nhiều đoạn nối tiếp nhau bởi Li Jiubiao từ 2.1631 đến 7.1640.

8. J.Brough, “A Karosthi inscription from China”, Bulletin of the School of Oriental and African Studies 24 (1961), trg. 517-530.

9. Chỉ những định chế duy nhất, được thừa nhận vì đã được “Thiên Chúa giáo hóa”, phát triển dưới nhiều dạng cảm hứng TCG khác nhau là những hiệp hội cứu tế từ thiện được thành lập bởi những sĩ phu và thường được khích cảm bởi những tư tưởng từ bi PG. Ðể có những thí dụ lý thú về sự chuyển hóa một công trình PG thành một hiệp hội TCG, xem N. Standaert, Yang Tingyun, Confucian and Chritian in Late Ming China, Leiden, 1988, trg. 62-69. [PG đã có truyền thống cứu tế xã hội từ rất lâu trong lịch sử, trong khi truyền thống này chỉ mới bắt đầu từ vài trăm năm nay trong TCG – N.D.]

10. J. Jennes C.I.C.M., “A propos de la liturgie chinoise. Le bref Romanae Sedis Antistes de Paul V (1615)”, Neue Zeitschrift für Missionswissenschaft 2 (1946), trg. 241-254.

11. Kouduo richao II.20 và VIII.2. Sự ngăn cấm được báo cáo bởi L. Pfister S.J., Notices biographiques et bibliographiques sur les Jésuites de l’ancienne mission de Chine, Thượng Hải, 1932/34, trg. 140, n.1. theo Pfister, Aleni không có vai trò nào cả trong việc này : đó là những “quan lại TCG” đã hội nhập những thần thành hoàng với những thiên thần hộ trì những thành phố để cho việc thờ phượng của họ thành dễ hiểu. “Một sắc lệnh của Rôma đã lên án ảo tưởng này”.

12. Thời kỳ được báo cáo bởi Daniello Bartoli, Dell’Historia della Compagnia di Giesù: La Cina, Terra Parte dell’Asia, Rome, 1663, trg. 1127-1128.

13. Ngay cả trường hợp của Yang Tingyun, giáo hữu nhiệt thành và là 1 trong 3 “cột trụ của hội thánh TH” vào cuối thời nhà Minh, nhưng tài liệu chính thức không thấy ghi chú nào về những đức tin tôn giáo của ông. Xem N. Standaert, nói trên, trg. 5-21.

Chú thích của người dịch.

*1. Thiên Chúa giáo ở đây là Christianisme, còn được chuyễn ngữ theo lối phiên âm là Kytô giáo, bởi có chữ Christo, để chỉ chung các tôn giáo có tín ngượng nơi đấng Christ – Thiên Chúa, trong đó Cathlique chỉ là một. Catholique được tín hữu Việt Nam của nó gọi là Công giáo (cách gọi “đạo Công giáo” là dạng “bất thường”, vì trong tiếng Việt chỉ có hoặc đạo Hồi hoặc Hồi giáo, chứ không ai gọi “đạo Hồi giáo” bao giờ), nhưng để viết cho toàn thể người Việt, tôi chọn cách chuyển ngữ theo lối phiên âm là Catô giáo.

*2. Pháp quốc Học hội – Collège de France được vua François I thành lập tại Paris từ năm 1529, với tên gọi là Collège du roi, qui tụ những đầu óc chuyên ngành sáng giá nhất trong cũng như ngoài giới đại học của trí tuệ nước Pháp, để tự vệ chống lại những tấn công từ phía Sorbonne (khi đó còn nằm trong tay giáo hội Catô giáo Rôma). Ðây là một cơ sở giáo dục nằm ngoài hệ thống đại học, nhưng ngoài nhiệm vụ giáo dục : đem kiến thức khoa học vào văn hóa Pháp, từ lúc thành lập đến nay Học hội còn đóng vai “người giám hộ” (guardian) bảo vệ đặc thái nền tảng của văn hóa Pháp. Những kết quả nghiên cứu của Học hội luôn được trí thức khắp nơi xem như là tài liệu tham khảo có giá trị cao và, theo chỗ tôi biết, chỉ loại “điếc không sợ súng” mới chỉ trích bừa bải. Tôi vẫn ước mơ một “Việt Nam Học hội”, tương tự.

*3. Với chức năng “người giám hộ, Pháp quốc Học hội không thể không lưu ý đến sự phát triển của Phật giáo ngày càng rõ tại Âu châu và Pháp nên, ngoài việc nghiên cứu riêng, đã mời các đầu óc sáng giá nhất của thế giới thuyết trình về đề tài Phật giáo. Chỉ một số ít những nghiên cứu và thuyết trình được phổ biến ra đại chúng, như trường hợp của bài này (n.x.b. Julliard, Paris, 1990). Tuy tác giả vẫn là người chịu trách nhiệm trực tiếp trên công trình nghiên cứu của mình, nhưng tất cả những gì được Học hội phổ biến cho đại chúng Pháp đều được Học hội xét lọc và có trách nhiệm gián tiếp.

*4. Tôi dịch “mission catholique” là “giáo sứ” (với chữ S). Vẫn biết rằng, hoặc vì không rành chữ Việt, hoặc cố ý lập lờ làm lẫn lộn đen trắng, người ta dịch ‘Mission catholique vietnamienne’ là ‘Giáo Xứ Việt Nam’ (đây không phải là 2 tổ chức khác nhau ở cùng 1 địa chỉ, vì trên bản tin Giáo Xứ có viết rõ bằng 2 thứ tiếng Việt và Pháp : Cơ quan thông tin và liên lạc của Giáo Xứ Việt Nam vùng Paris – Bulletin mensuel d’information et de liaison đe la Mission catholique vietnamienne région parisienne).

Và “giáo sứ dòng Tên” là “missionnaires jésuites”, thuộc Société de Jésus (S.J.) hay Compagnie de Jésus, dòng Tên, do Ignace de Loyola (người Basque, thuộc Tây Ban Nha hiện nay, 1491-1556) thành lập ở Rôma từ năm 1539, với lời nguyện “hiến mình cho ý Chúa” và đặc biệt trung thành với cấp trên, và trên nhất là với Giáo Hoàng, chống lại các triết gia và tư tưởng “Ánh Sáng”. Ðược giáo quyền Catô giáo Rôma chính thức thành lập năm 1541, một năm trước khi lập lại tòa hình giáo (tribunal de l’Inquisition), với I. de Loyola là Général (Tổng Quản) đầu tiên. Hành dinh Tổng Quản (Généralat) đặt tại Rôma. Những giáo sĩ này được tuyển lựa và đào tạo rất kỹ, và được gọi là “soldats du Pape – quân của Giáo Hoàng” vì đây là một bộ phận rất quan trọng của chương trình “Contre-Réforme”, hay “Cải tổ Catô giáo” để chống lại phong trào “Cải tổ Phản Thệ giáo”(Réforme Protestantiste” – tư tưởng nền tảng của phong trào được ghi gọn trong câu : “cujus regio, ejus religio – đất địa nào, thần giáo nấy”). Sau những càn quét đẩm máu (với hàng triệu người Phản Thệ giáo là nạn nhân), vào thời kỳ Âu châu đi chiếm thuộc địa (được lãnh đạo để giảm bớt sự căng thẳng trong nội bộ Âu châu), đội “quân – giáo sĩ” này cũng đóng vai trò rất quan trọng, mà Jean Lacouture, trong quyển Jésuites, còn gọi là “les légionnaires de l’ombre – lính lê dương trong bóng tối”. Vào năm 1914 đội ngũ này có khoảng 20.000, tăng lên khoảng 34.000 vào năm 1969, sau đó giảm xuống, như hầu hết các dòng khác của Catô giáo Rôma.

*5. Chữ “tôn giáo”, đúng ra, gần nghĩa với chữ culte hơn và đã có từ rất lâu trong văn hóa Việt. Nhưng vì do sai lầm vô tình hay cố ý nào đó đã được dùng để dịch chữ religion. Vì hiểu rõ thế nào là religion – gồm : 1/ đức tin nơi Thần (Dieu) tạo ra và ngự trị muôn loài, 2/ giáo thuyết nền tảng là những lời do Thần mặc khải và 3/ một giáo quyền lãnh đạo thống nhất -, nên người Âu Mỹ xác định rằng : Phật giáo không phải một religion. Xác định này đúng, nhưng vì không lưu ý cách chuyển dịch sai lầm trên nên không ít người Việt đã sai khi cho là : Phật giáo không phải là tôn giáo; cũng vậy, Ðạo Thờ Ông Bà cũng không phải là tôn giáo. Xác định kiểu này ngược với cách hiểu thông thường và phổ quát của đại đa số người dân Việt về hai chữ tôn giáo. Chính sự khác biệt trong cách hiểu ngôn từ tạo sự cách biệt (nay đã thành hố thẳm) giữa đại khối người dân Việt với những người Việt ngoại (Tây, Mỹ, Tàu…) học; làm cho các thành phần người Việt không còn cảm thông được với nhau (thảm trạng của Việt Nam). Muốn xây dựng lại cộng đồng Việt Nam, nhất thiết phải xây dựng lại sự cộng thông trong nghĩa ngữ, tức là trên bình diện tư tưởng khái niệm và giá trị. Bằng cách nào ? Theo thiển ý, cách tốt nhất và dễ làm nhất là người ngoại học hãy cố gắng tìm về với đại khối dân tộc, rồi cải thiện và bổ túc sau, hơn là áp đặt lên đại khối này những gì mình tiếp nhận được từ bên ngoài (thời gian, không gian, lịch sử, chẳng hạn, trong cách hiểu của người Việt đâu có giống cách hiểu của người Tây phương về các chữ temps, espace, histoire của họ). Vấn đề “chính danh” được đặt ra, cùng với tinh thần tôn trọng hệ thống khái niệm của văn hóa truyền thống Việt Nam, mà trước mắt là tôn trọng ngôn từ. Do đó, chúng tôi dùng “tôn giáo thần khải”, hay “thần giáo”, để dịch chữ religion, vì mọi religion đều có tính duy thần (théiste) và mặc khải (révelée) xác định một quyền uy tuyệt đối, khác với “tôn giáo giác ngộ” (do con người giác ngộ lập nên, như Phật giáo) và với “tôn giáo nhân luân” (xuất từ luân lý đời thường của con người, như Ðạo Thờ Ông Bà Việt Nam).

*6. Cũng như tác giả, hầu hết người Âu châu ngày nay đều phân biệt rõ những gì của văn minh Âu châu – khoa học, kỹ thuật và nghệ thuật…, chỉ được sống lại và phát triển từ thời Phục Hưng đến nay – với những gì của Catô giáo – một thần giáo đến từ phương Ðông và đã ngự trị Âu châu suốt thời Trung Cổ, còn gọi là thời kỳ “đen tối” (ténèbres), kéo dài hơn 10 thế kỷ.

*7. Ðối xứng với chữ “Tin Lành” (Bonne Nouvelle), “Tin mừng được Cứu Chuộc”, “Luật Thiện” (Bonne Loi) là “Luật Nhân Quả”. Trong quyển Théorie pur du Droit (bản dịch pháp ngữ của quyển Reine Rechtslehre, rất nổi tiếng được dịch ra gần 20 thứ tiếng từ Âu sang Á – Henri Thévenaz, Neuchatel, Thụy sĩ 1988) Hans Kelsen nhận định :

“L’idée de causalité est probablement étrangère à la mentalité du primitif et elle n’apparaît qu’à un stade de civilisation plus avancé. Elle ne serait donc pas une idée innée, comme on a pu le supposer – Tư tưởng nhân quả có lẽ xa lạ với đầu óc của người chưa khai hóa và nó chỉ xuất hiện ở một thời kỳ văn minh tiến bộ hơn. Vậy nó không phải là bẩm sinh [nơi con người], như người ta đã từng nghĩ tưởng” (trg.30).

“Quand l’homme primitif sent le besoin d’expliquer les phénomènes naturels, il les considère comme des récompenses ou des punitions, suivant qu’ils se produisent en sa faveur ou à son détriment. (…) Une telle interprétation de la nature n’est donc pas causale, mais normative, fondée qu’elle est sur la norme sociale de la “rétribution” – Khi con người chưa khai hóa cảm thấy cần giải thích những hiện tượng tự nhiên, họ cho đó là những ban thưởng hay những trừng phạt, tùy theo những hiện tượng đó có ích hay có hại cho họ. (…) Diễn giải như thế về tự nhiên không phải là nhân quả, nhưng có tính qui chế, dựa trên qui định xã hội về sự “tưởng thưởng, hay “ân sủng” (trg.31).

Nguyên tắc nền tảng của luật nhân quả là : Cái gì có thực đều có những nguyên nhân (cũng có thực) tạo ra nó. Hay như cách nói, cũng là tiêu chuẩn của lẽ phải, của người Việt : “Ơn (oán) có đầu, oan (nợ) có chủ”; “Có tội phải đền, có nợ phải trả”; “Ai làm nấy chịu, ai cột nấy gỡ”. Như mọi người đều biết, nếu không có cái nhìn theo tinh thần của quan hệ nhân quả thì cũng không có khoa học. Nhưng trong khoa học, nhất là khoa học tự nhiên, quan hệ nhân quả hầu như chỉ vận hành theo kiểu đường thẳng và một chiều, khác với quan hệ “nhân quả luân hồi”, kiểu “kỳ đà là cha cắc ké, cắc ké là mố kỳ nhông, kỳ nhông là ông kỳ đà”. Mới đây, khi phải đối diện với sự phức tạp (hay phức hợp) của sự sống nói chung, và của sự sống xã hội nói riêng, Edgar Morin (trong Introduction à la pensée complexe, tuyển tập “Communication-Complexité, Paris, 1990, trg. 158) đưa ra 3 chìa khóa để đọc sự phức tạp; chìa khóa thứ 2, récursion organisationnelle, một số quan hệ nhân quả có thể vận hành theo chiều ngược lại, tức là quả lại là nhân và nhân lại thành quả; một cách dễ hiểu, đây là kiểu quan hệ tương sinh giữa con gà và trứng gà (với chìa khóa thứ 1 : trong toàn thể có thành phần và trong thành phần có toàn thể, hay quan hệ tương dung; và thứ 3 là quan hệ tương tác : chủ thể và đối tượng của sự nhận biết tác động lẫn nhau – Xem thêm Théorie générale des systèmes của Von Bertalanffy). Mỗi bước khai hóa của trình độ tri thức con người là mỗi bước con người bước vào một “thế giới mới”, và hình như con người đang bước dần đến cái “thế giới nhân duyên sinh” mà Phật Thích Ca đã nói từ cách đây 2.540 năm. Thật ra Phật Thích Ca chỉ là người đã chứng nghiệm lại một cách rốt ráo nhất và đã nêu một cách hoàn chỉnh nhất lý lẽ của thuyết “nhân quả luân hồi” đã có ở Ấn Ðộ từ trước, đồng thời với việc vạch ra một “con đường” giúp siêu vượt “thế giới nhân duyên sinh” này. Có thể nói rằng giáo thuyết của Phật thúc đẩy tiến trình khai hóa của tri thức con người; vì vậy PG chú trọng đặc biệt đến việc khai tâm mở trí, và xem nhố việc quản lý thân xác và đất đai – hột giống Phật, chắc hẳn, không gieo trên đất TH, cũng không trên thân xác, mà gieo trong tâm trí người TH. Việc khai tâm mở trí, tự bản chất, khác với việc lôi kéo người khác theo “đức tin” của mình, và vì trình độ tri thức của con người không phải là bẩm sinh, không bất biến và cũng không đồng đều nhau, nên cũng không thể đốt giai đoạn và cứng ngắc giáo điều được, mà phải tùy cơ ứng hợp.

*8. Chữ père vẫn được người Catô giáo dịch là “cha”, hay “đức cha”, tôi phiên âm là “pe”, với lý do : để tránh mọi hiểu lầm có thể xảy ra khi bài dịch này nhắm đến tất cả người Việt, vì các chữ : cha, mố, ông, cố, nhà thờ họ, Mố Việt Nam…, đều đã có những ý nghĩa rõ ràng trong cách hiểu và cách xử lý phổ thông của người Việt – đó là những khái niệm có tính định chế nhân xã, biểu trưng những giá trị rất là nền tảng, có thể nói là thiêng liêng, của văn hóa truyền thống Việt Nam (qua Ðạo Thờ Ông Bà) mà tôi phải tôn trọng – không thể áp đặt cách hiểu của một bộ phận nhỏ lên trên toàn thể người Việt được, vì vậy các chữ “đi lễ”, “theo đạo”… sẽ phải được xác định, tùy theo từng trường hợp, như : “đi lễ chùa”, “theo đạo Chúa”… Cũng đã đến lúc phải “trả lại cho toàn thể những gì của toàn thể và cho bộ phận những gì của bộ phận”, hay “trả lại cho Việt Nam những gì của Việt Nam, và cho Thiên Chúa những gì của Thiên Chúa”, như chính đức Giê-su đã dạy.

*9. Tại sao cả Âu châu lưu tâm nhiệt thành đến tình hình của sứ bộ? Vì cả Âu châu có đóng góp cho chi phí của cuộc viễn chinh này, để được chia phần lợi phẩm (butin, cũng có nghĩa là partage) về sau. Kiểu hợp tác này đã có từ tờhi viễn chinh thập tự quân (la croissade) – sách sử ngày nay còn ghi rõ cách thức góp và chia phần trong cuộc viễn chinh thập tự quân lần thứ tư, bắt đầu vào năm 1199 do Giáo Hoàng Innocent III lãnh đạo và Boniface de Montferrat điều khiển trực tiếp.

*10. Ðược tượng trưng bằng bánh thánh (thịt của Chúa) và rượu thánh (máu của Chúa) mà tín hữu Catô giáo được ăn và uống mỗi lần dự lễ Chúa. Có người nghĩ rằng có sự liên hệ giữa truyền thống này với việc làm ra các loại bánh cốm với hình dạng thú vật, có khi có cả đầu người hoặc con người, cho trẻ em ăn, như hiện thấy ngày nay (trong khi người ta vẫn cố dạy trẻ em tinh thần bảo vệ sự sống thú vật và con người !?!).

*11. Cũng được gọi là sự phát triển từ cơ sở hạ tầng, thể theo quan niệm : “nhân dân và xã hội có trước, uy quyền và nhà nước có sau”. ngược với quan niệm của cách phát triển “phong tước kiến địa”, gọi tắt là “phong kiến”. Theo cách thứ hai, phải có một uy quyền trung ương có sẵn, uy quyền này lãnh đạo, chọn một số người, phong tước và cấp phương tiện cho họ để đi kiến lập uy quyền trên những vùng đất khác.

*12. Nghĩa nguyên thủy của chữ église là “nơi tờh phượng”. Ðến khoảng thế kỷ thứ 5 nó được có thêm nghĩa khác là “cộng đồng những người theo Catô giáo”, hay giáo hội. Nhưng vì trong Catô giáo chỉ có một Giáo Hội duy nhất, do giáo quyền tại Rôma lãnh đạo, nên đối với những cộng đồng Catô giáo tại địa phương, ở đây là tại TH, chúng tôi dùng chữ “hội thánh”.

*13. Ðặc điểm này xuất phát từ vai trò “linh mục”, hay “chủ chăn” (berger) của giáo sĩ, đối diện với những “con chiên” (brebis), khác với khi họ đối diện với những con người. A.G. Haudricourt, trong Domestication des animaux, culture des plantes et traitement d’autrui (éd. l’Homme, Paris, tome 2, No. 1 Janvier-Avril 1962) và trong Les pieds sur terre (éd. Mataillé, Paris 1987), đã đối chiếu “cái nhìn thảo mộc” (la vision arborescente) cuả xã hội nông nghiệp Ðông phương với “cái nhìn đoàn lũ” (la vision grégaire) cuả xã hội chăn nuôi Tây phương và Cận Ðông : Sự phát triển cuả xã hội nô lệ, với nô lệ như là phương tiện sản xuất chứ không phải là sự tiêu pha sang trọng, chỉ có thể xuất hiện trong xã hội chăn nuôi… mà người ta phải điều động một cách có kỹ thuật. Với nông dân Trung Hoa, cây cối mọc tự nhiên, không cần phải đánh đập hay la ó đàng sau; các việc bón phân và làm cỏ đều không cần đụng chạm đến cây – người ta chỉ đụng đến cây khi gặt hái. Ðiều này giải thích tính khắc nghiệt trong quan hệ giữa người với người tại Tây phương ảnh hưởng siêu hình cuả nó là : vai trò cuả chăn nuôi trong việc tạo thành cá tính người Âu thể hiện trong Thánh kinh. Jahwe, vị Thiên Chuá đầy ganh tị…, bỏ nhiều thì giờ trong việc rèn luyện người Do Thái cuả ông bằng “đại hồng thủy”, thanh trừng người ngoại giáo; ông nêu ra các luật lệ, ông trừng trị người có lỗi, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc tự nhiên cuả kỹ thuật chăn rèn súc vật. Không nơi nào khác mà thần thánh lại mang hình dáng cuả người chủ chăn. Không thể có hình ảnh người chủ chăn trong huyền thoại Trung Hoa… Tương tự như vậy, người Do Thái cổ (Hébreux) trên bình diện tôn giáo, người Hy Lạp trên bình diện triết lý, người Rôma trên bình diện pháp lý phản ánh cùng một cách sống. Trong khi, từ muôn thuở, để giáo dượng con người, hay trẻ em, người Việt luôn dùng hình ảnh trồng cây để làm khuôn mẫu : “Trồng người như thể trồng cây” (trích dẫn và chú thích bởi Phan Tấn Lộc, trong Ðặc tính nền tảng của văn hóa truyền thống Việt Nam, Triết số 1, 1995)

http://cusi.free.fr/pgtd/chr0051.htm

 

Phật Giáo &Cơ Đốc Giáo

Đừng bỏ gốc rễ, đừng bắt người khác phải bỏ gốc rễ 

Bị chú: Các bạn trẻ đang đau khổ vì tình yêu dị giáo, các bậc cha mẹ đang có khó khăn khi con khi đang yêu một người khác đạo, xin hãy đọc bài này.

Sáng ngày 30/04/2007 lúc 9 giờ, thiền sư Nhất Hạnh cùng phái đoàn tăng thân quốc tế Làng Mai đã đến viếng thăm nhà thờ Phát Diệm.  Thiền sư và tăng thân đã được các linh mục, các nữ tu  và các giáo dân tiếp đón rất trọng thể.  Trong số các linh mục có mặt, có linh mục Phạm Ngọc Khuê, đại diện cho tòa giám mục Phát Diệm. Các nữ tu đã hát những bài hát chào mừng chúc tụng và một ban hợp ca gồm có khoảng 30 thanh niên và thiếu nữ cũng đã hiến tặng nhiều bài thánh ca rất linh động. Trong lời chào mừng  linh mục Phạm Ngọc Khuê đã nói rằng đây là một cuộc viếng thăm lịch sử của một phái đoàn Phật giáo quốc tế như thế tại nhà thờ Phát Diệm và thỉnh mời thiền sư Nhất Hạnh phát biểu đôi lời về vấn đề giao lưu giữa Phật giáo và Cơ Đốc giáo.  Đây là những phát biểu của thiền sư Nhất Hạnh và đáp từ của Linh Mục Phạm Ngọc Khuê.

Sư Ông Làng Mai:

Kính thưa các bạn, tôi đã từng có dịp đọc Phúc Âm với con mắt của một thiền sư. Chúng tôi đã từng có giao lưu với các linh mục và các vị mục sư. Chúng tôi đã từng sinh hoạt chung, những sinh hoạt này không phải chỉ là trao đổi ý kiến và kinh nghiệm mà còn là sống chung và tu tập chung. Chúng tôi xin phát biểu trên cơ bản đó. Chúng tôi cũng đã tham dự nhiều buổi họp, nhiều hội nghị đối thoại giữa đạo Phật, đạo Ki Tô và những đạo khác. Tôi nhớ ngày xưa có một thiền sư Việt Nam đã đọc kinh Dịch và đã trình bày kinh Dịch theo cái nhìn của một thiền sư. Ngày xưa tôi đã hứa với một số các bạn trẻ là sẽ trình bày Phúc Âm qua cái nhìn của thiền quán và may mắn là tôi đã làm được việc đó. Trong thời gian 40 năm ở nước ngoài chúng tôi đã từng ngồi thiền với các vị linh mục và các vị mục sư. Chúng tôi đã cùng hoạt động cho hòa bình, và trong khi hoạt động cho hòa bình chúng tôi có cơ hội chia sẻ với nhau những tuệ giác của chúng tôi về truyền thống mình. Trong quá trình giao lưu, tôi có viết được những tác phẩm có tính cách đối thoại giữa những người theo Phật giáo và những người theo Ki Tô giáo. Cuốn sách đầu tiên mà chúng tôi xuất bản về đề tài này là “Living Buddha, Living Christ”. Bản Hoa Ngữ mang tên là “Sinh Sinh Ki Tô, Thế Thế Phật” dịch ra tiếng Việt là: “Bụt Ngàn Đời, Chúa Ngàn Đời”, nghĩa là “Bụt Bất Tử, Chúa Bất Tử.” Cuốn sách đó là kết quả của một khóa tu mà chúng tôi tổ chức tại Đức, trong đó có 50% là Phật tử và 50% là tín hữu Ki Tô giáo. Chúng tôi đã gom lại những bài thuyết giảng và làm thành cuốn sách  Living Buddha, Living Christ. Cuốn sách này đã đi rất xa, đã đi vào các tu viện kín và chúng tôi cũng đã nhận được rất nhiều thư  các Cha và các Xơ từ các tu viện kín. Cuốn sách đó giúp cho người Phật Tử hiểu thêm đạo Ki Tô và giúp người Ki Tô hiểu thêm về đạo Phật. Công đức của sách này rất lớn. Ban đầu người ta đọc chỉ vì tò mò thôi, nhưng nhờ sự tò mò đó mà có cơ hội hiểu được một nền đạo đức mà lâu nay mình chỉ có một ý niệm  mơ hồ. Sau cuốn Living Buddha, Living Christ thì chúng tôi có cuốn Going Home, Buddha and Jesus as Brother. (Chúng ta hãy về nhà đi thôi, Bụt và Chúa là hai anh em). Sách này cũng được đón nhận một cách rất nồng nhiệt ở trong giới độc giả Tây Phương, Phật Tử cũng như Cơ Đốc giáo. Ở Mai Thôn Đạo Tràng tại Pháp, mỗi năm đến ngày giáng sinh, chúng tôi luôn luôn tổ chức lễ Giáng Sinh rất long trọng, tại vì đa số các thiền sinh  đều có nguồn gốc Ki Tô giáo. Ngày giáng sinh rất nhiều thiền sinh Tây phương về Đạo Tràng Mai Thôn như con cháu về nhà tổ phụ. Vì vậy vào đêm Giáng Sinh tôi luôn luôn  giảng một bài về Phật và về Chúa. Tôi nhớ có một linh mục tên là Thomas Kwan người Hồng Kông đã nghe được nghe một bài như vậy và vị linh mục này thấy rất tiếc, vì hôm đó chỉ có 600 người được nghe. Linh mục nói: “Tất cả các tín hữu Cơ Đốc giáo trên thế giới phải được nghe bài này. Để có thể thấy rõ Chúa và con đường của mình hơn”. Tôi đã sưu tập được 10 bài giảng Giáng Sinh như thế, làm được cuốn sách thứ hai gọi là Chúng ta hãy về nhà đi thôi, Bụt và Chúa là hai anh em. Rất tiếc là hai cuốn nói trên chưa được dịch ra tiếng Việt . Những người đến với chúng tôi trong các khóa tu tại Mỹ Châu và Âu Châu, đại đa số là những người tín đồ Công giáo, Tin Lành và Do Thái giáo. Chúng tôi khuyên họ không nên bỏ đạo gốc của mình. Chúng tôi biết do kinh nghiệm khi một con người mất gốc thì người đó không bao giờ có hạnh phúc thật sự được. Vì vậy khi họ tới thực tập theo pháp môn của đạo Phật chúng tôi  yêu cầu họ đừng bỏ gốc rễ của họ và khuyên họ sau khi tu tập thành công rồi, khi đã chuyển hóa được những bức xúc, khó khăn và giận hờn rồi thì hãy về với truyền thống của mình và hãy giúp truyền thống mình làm mới lại. Thanh niên bây giờ thấy được là giáo đường, nhà thờ chưa cung cấp được những giáo lý và những thực tập có thể đáp ứng được những khổ đau, những bức xúc của họ. Vì vậy không chỉ đạo Phật phải làm mới mà đạo Ki Tô cũng phải làm mới  thì mới đáp ứng được những nhu yếu của người trẻ hôm nay. Giới trẻ hôm nay bỏ nhà thờ mà đi rất đông. Điều tôi nói cũng rất trung thực với giáo lý của Phật tại vì Phật giáo luôn luôn có thái độ rất cởi mở, phá chấp. Mình không nên bám víu một giáo điều cho đó là chân lý tuyệt đối và để rồi xem  các giáo lý khác là tà đạo. Vì vậy thái độ của người Phật Tử là giang tay ra ôm lấy tất cả mọi người. Tình yêu trong đạo Phật là “Từ Bi Hỷ Xả.” Xả có nghĩa là inclusiveness, không loại trừ bất cứ người nào ra khỏi tình thương của mình, dù người đó không phải là đồng bào của mình, không phải theo tôn giáo của mình.  Tiếng pháp dịch là équanimité. Tôi quyết hành động theo tinh thần này tại vì hồi xưa các giáo sĩ tới Việt Nam truyền đạo đã bắt người Việt mình phải bỏ đi tôn giáo gốc của mình và điều đó đã gây đau khổ kkhông ít. Những người có gốc gác Cơ đốc giáo tới tu tập với chúng tôi rất hạnh phúc vì họ có cảm tưởng là họ được công nhận 100%, họ không cần phải từ bỏ niềm tin của họ, gốc gác văn hóa của họ. Sau một thời gian thực tập, họ có thể thấy, khám phá ra được những châu báu trong truyền thống của họ mà trước đây họ chưa thấy. Nhờ tiếp xúc với đạo Phật mà họ trở về và khám phá ra những châu báu trong các gia sản tâm linh ở Cơ Đốc giáo và Do Thái giáo. Điều đó làm chúng tôi rất vui mừng. Chúng tôi thường hay nói với các bạn Cơ Đốc giáo là cõi Tịnh Độ hay cõi Niết Bàn có mặt ngay trong giây phút hiện tại. Nếu chúng ta có trái tim tinh khiết, trái tim có năng lượng của niệm, định và tuệ, nếu chúng ta có mặt đích thực trong giây phút hiện tại thì chúng ta có thể tiếp xúc được với những mầu nhiệm của thế giới Cực Lạc, của Tịnh Độ  có mặt ngay trong giây phút hiện tại. Chúng ta không cần phải chết đi mới sinh về Tịnh Độ, mà có thể đi vào trong Tịnh Độ bằng mỗi bước chân, ngay bây giờ và ở đây. Giáo lý ấy được thực tập tại Mai Thôn Đạo Tràng, và chúng tôi cũng đã chia sẻ cho các bạn Cơ Đốc giáo và Do Thái giáo. Chúng tôi nói rằng các bạn không cần phải chết đi mới đi về nước Chúa. Nếu các bạn có tình thương, có ý thức sáng tỏ, có tâm rộng mở thì mỗi hơi thở và mỗi bước chân có thể đưa các bạn vào nước Chúa trong giây phút hiện tại. Thiên Quốc có mặt trong giây phút hiện tại. Trong đạo Phật các vị tổ có nói rằng Tịnh độ và Phật nằm trong trái tim của mình. Phúc Âm cũng nói như thế, Thiên Quốc nằm trong trái tim của mình và vì vậy mình đi tìm thiên quốc hay tịnh độ nơi khác và thời khác thì có thể sai.

Khoa học lượng tử bây giờ bắt đầu dùng danh từ phi cục bộ, tiếng Anh là “non-local”. Cái thực tại lượng tử là phi cục bộ, chúng ta không thể nào xác định vị trí của một lượng tử trong thời gian hoặc không gian. Bản chất của lượng tử là phi cục bộ. Chúng tôi nghĩ rằng ngôn ngữ ấy chúng ta có thể áp dụng cho Phật độ và cho Thiên Quốc. Thượng Đế, hay Thiên quốc là những thực tại phi cục bộ, chúng ta không thể xác định vị trí của nó trong không gian và thời gian, tại vì nó nằm trong trái tim của mình. Khi trái tim của mình đã sẵn sàng rồi thì là mình đang ở trong Thiên quốc, đang ở với Thượng Đế, không cần phải trông chờ điều đó trong tương lai. Chúng ta tu như thế nào, thực tập như thế nào để Thiên quốc có mặt trong giây phút hiện tại. Chúng ta tu như thế nào, thực tập thế nào để tịnh độ có mặt trong giây phút hiện tại. Và hạnh phúc không cần chờ đến tương lai. Hiện pháp lạc trú là một giáo lý Phật giáo. Nhà văn André Gide có nói một câu làm tôi rất thích. Ông nói Thượng Đế tức là hạnh phúc ( Dieu est bonheur ). Và ông nói thêm một câu nữa: “Thượng Đế có mặt cho chúng ta 24 giờ một ngày …”.  Những câu nói đó rất phù hợp với giáo lý đạo Phật. Nếu chúng ta đi sâu vào Phúc Âm, chúng ta cũng thấy chân lý đó, nghĩa là nếu chúng ta đem tâm trở về với thân mà nhận diện được tất cả những cái mầu nhiệm đang có mặt trong ta và xung quanh ta thì lúc đó ta đang ở trong Thiên quốc và ta đang tiếp xúc sâu sắc với Thượng đế. Nếu nhà thờ và nhà chùa có thể cung cấp được những giáo lý đó và đưa ra những phương pháp thực tập để con người có thể sống an lạc và hạnh phúc trong giây phút hiện tại thì người ta sẽ không cần đi tìm hạnh phúc ở sắc dục, tiền tài và danh vọng. Trong Phúc âm có câu chuyện một bác nông phu khám phá ra được một kho tàng chôn giấu ở trong một đám ruộng và sau đó đi về và bán đi những khu ruộng khác để chỉ mua một đám ruộng đó. Khi chúng ta đã tu và tiếp xúc được với nước Chúa và Chúa rồi thì chúng ta đâu cần những cái khác nữa, chúng ta đâu cần danh, không cần lợi, không cần sắc dục, không cần quyền lực, vì chúng ta đã hạnh phúc chán. Vì vậy cái giáo lý nào và sự thực tập nào giúp cho ta tiếp xúc được với Thiên chúa trong giây phút hiện tại thì đó là kho tàng châu báu của chúng ta. Hạnh phúc ấy chúng ta có thể đạt được trong giây phút hiện tại, không cần phải chết đi mới có. Nói chuyện với các bạn Do Thái giáo và Ki Tô giáo chúng tôi cũng chia sẻ cách thực tập, mỗi hơi thở mỗi bước chân của mình có thể đưa mình vào Thiên quốc mà đừng trông chờ Thiên quốc ở tương lai.
Tôi nhớ có một lần thăm viếng Đại Hàn tôi được tham dự vào một buổi giao lưu giữa người Kitô giáo và người Phật tử: đó là lần đầu tiên mà người Phật tử và người Cơ Đốc giáo tới với nhau. Tôi có đưa ra vấn đề có những thanh niên thiếu nữ khác tôn giáo yêu nhau. Bên này bắt bên kia phải bỏ đạo, phải chọn lựa. Đó là một  vấn đề còn tồn tại ở nhiều nước và ngay trong nước Việt Nam chúng ta. Và biết bao nhiêu cặp thanh niên thiếu nữ đã đau khổ tại vì thế. Tôi nghĩ rằng một người có thể rất hạnh phúc khi có hai gốc rễ, một gốc rễ Cơ đốc giáo và một gốc rễ Phật Giáo. Hai cái đó không nhất thiết phải loại trừ nhau. Tại vì mình hẹp hòi cho nên mình mới thấy hai cái khác nhau chống đối nhau. Nhưng nếu mình vượt lên, thấy được hai truyền thống có thể bổ túc cho nhau thì mình sẻ có một thái độ cởi mở hơn. Trong số các đệ tử của tôi có rất nhiều các thầy các sư cô có gốc Cơ đốc giáo và Do Thái Giáo, nhưng họ hạnh phúc vô cùng khi được tu tập và ôm ấp luôn cả hai truyền thống. Ngay trong phái đoàn của chúng tôi  có mặt hôm nay có một vị đại đức ngày xưa đã từng làm linh mục. Vị linh mục đó tới với đạo Phật và khám phá ra những phương pháp thực tập rất thiết thực có thể thực hiện được lý tưởng của Cơ đốc giáo. Chúng ta thấy có hai gốc rễ đôi khi lại hay hơn có một gốc rễ và vì vậy ngay trong đại hội đó tôi đã đề nghị khi hai thanh niên yêu nhau, một người thuộc về Cơ đốc giáo, một người thuộc về Phật Giáo thì cả hai gia đình nên cho họ cưới nhau với điều kiện hai bên công nhận truyền thống của người bên kia và nếu người con trai là Cơ Đốc Giáo và người con gái là Phật Giáo thì người con gái phải học thêm Cơ Đốc Giáo và người con trai phải học thêm Phật Giáo. Và đến ngày chủ nhật thì hai người cùng đi nhà thờ, đến ngày mồng một và ngày rằm thì hai người cùng đi Chùa. Và điều đó là điều chúng tôi đã thực hiện được ở Tây Phương. Tại sao chúng ta phải để cho các bạn trẻ tiếp tục đau khổ năm này qua năm khác ?. Và đó là tinh thần cởi mở mà chúng tôi đã thấy được rõ ràng khi đọc kinh Phật và kinh Thánh. Hôm nay tôi xin nói ra vài cái thấy của tôi cũng như một món quà hiến tặng qúy vị có mặt ở đây.

Sư cô Chân Không hỏi:

Như Sư ông đề nghị tức là khi một người Công giáo và một người Phật giáo thương yêu nhau thì người Phật tử nên học hỏi những gì tinh ba nơi Công giáo và gia đình phải đi nhà thờ vào những ngày Chủ nhật và đi chùa vào mồng một và ngày rằm. Con xin hỏi là quý vị linh mục có chấp nhận được như vậy không? hay là người Phật tử chỉ phải theo đạo của  người chồng, phải làm lễ rửa tội và phải từ bỏ đạo Phật? Con xin hướng câu hỏi này về cho các vị Tôn đức bên phía Công Giáo.

Cha Phạm Ngọc Khuê trả lời:

 Đây là một câu hỏi có thể nói là thật sự rất tế nhị và rất thời sự. Trước hết tôi xin được nêu lên nguyên tắc về giáo luật và kinh thánh. Thiên chúa không bao giờ ngăn cản con người tự nguyện nhất là trong việc hôn nhân gia đình thì không có bao giờ ngăn cản hai người thương yêu nhau. Giáo hội không bao giờ chặn ngăn hai người nam nữ yêu thương và tiến tới hôn nhân với nhau, điều đó là chắc chắn thuộc về giáo luật, không ai có quyền ngăn cản tình yêu của họ, vì đó là tuyệt đối. Nhưng tại sao lại xảy ra cái vấn đề giữa nam nữ tín đồ các tôn giáo khác nhau lại có những vấn đề mà người ta chưa đi đến chỗ kết hôn với nhau thì do đâu? Trong thực hành việc phục vụ hôn phối, đối với anh em trong Công giáo chúng tôi, đối với danh Chúa, đối với người tín đồ Công giáo cũng như giáo hội thì chúng tôi không bao giờ đặt vấn đề là phải trở thành người Công Giáo thì mới có thể cưới (nhau )về phía công giáo của mình (trở thành vợ chồng). Không bao giờ có vấn đề đó, chúng tôi luôn luôn tôn trọng tình yêu của họ. Và tôi nói với người nam hoặc người nữ là tình yêu của các anh chị là tình yêu tuyệt đối và chúng tôi tôn trọng. Tuy nhiên khi hai người quyết định yêu thương nhau thì đức tin của người tín đồ Ki Tô Giáo cũng như Phật giáo phải được tôn trọng bởi sự tự do của họ. Cũng như Thầy Thích Nhất Hạnh đã nói là họ phải sống cội rễ của họ họ mới thấy hạnh phúc. Và cái việc họ được chịu phép rửa tội là hoàn toàn tự do. Cho nên giáo hội chỉ nói một điều này. Khi tiến tới hôn nhân thì hai người phải hứa là tôn trọng  quyền lợi của nhau và niềm tin của mỗi người, và không được vi phạm. Vì vậy về phía tín đồ tôn giáo khác phải cam đoan, có thể nói là tuyên thệ  tôn trọng niềm tin vì đó là lãnh vực thiêng liêng và tự do tôn giáo, không ai được can thiệp. Tôn trọng niềm tin của tín đồ thiên chúa giáo, không được ngăn cản. Nếu họ giữ được như thế thì cuộc hôn phối đó được tốt đẹp và thành sự trước mặt Chúa và trước luật pháp . Luật thì như vậy, nhưng trong thực tế thì không luôn luôn được xảy ra như vậy. Hoàn cảnh của Việt Nam thì khác nữa, nghĩa là trong hoàn cảnh rơi rớt của chế độ phong kiến vẫn còn nhiều cho nên quý vị biết rõ là ở Việt Nam người nam có quyền hơn người phụ nữ. Mặc dù họ hứa như vậy, nhưng khi về nhà mà hai vợ chồng không có hòa thuận với nhau cơm không lành, canh không ngọt. Khi họ sống chung với nhau và nếu như có chiến tranh trong gia đình thì họ đổ lổi trên đầu người tín đồ của mình hoặc Ki Tô Giáo hoặc người Phật Giáo tôi không nói là về phía này hay phía kia. Nếu người chồng có quyền thì sẽ buộc người vợ không theo tín đồ của mình, theo tôn giáo của mình nữa. Và có thể có khó khăn trong gia đình. Chính vì vậy Giáo hội đặt ra điều kiện này, nếu một người tín đồ tôn giáo khác, lấy người Công giáo, rồi sau đó Phật tử, hay là người thờ ông bà không giữ lời tuyên thệ trung thành thì người tín hữu Công giáo có thể trình lên thẩm quyền nguồn Thánh có thể tháo cái hôn phối mà người ta đã cam kết chỉ vì nếu mà đe dọa đến cái niềm tin tự do của mình giáo hội phải bảo vệ con cái của mình. Quý vị phải hiểu là đây không phải là bắt buộc phải làm. Các gia đình đó là truyền thống của gia đình, hoàn cảnh của gia đình muốn con cái của mình giòng sớ, cũng như quý cô, quý ông bà cũng như quý vị muốn cho gia đình mình cùng một chiều cho dễ để việc đó cho dễ hơn. Về phía giáo hội thì không có đứng ngăn cản sự việc hôn nhân của họ. Xin quý vị hiểu rõ thì về luật giáo thì không ép buộc mà buộc một trong hai người phải tôn trọng tôn giáo của nhau. Phải dành ưu tiên nhất cho người bạn đời theo tôn giáo đó để thực hành niềm tin tôn giáo và không có ngăn cản  giữ đức tin riêng của họ.

Một cha hỏi :

Người thương gia trong kinh thánh tìm thấy viên ngọc quý và về bán tất cả gia tài để mua lấy viên ngọc quý đó, đây là một trang tin mừng rất hay của kinh thánh Tân ước, vậy xin hỏi giáo sư viên ngọc vùi trong thửa ruộng này dưới mắt Phật giáo là gì và đối với Công giáo diễn tả điều gì? Xin giáo sư vui lòng cho biết.

Sư Ông Làng Mai:

Trước hết tôi xin đề nghị thêm cho hai bên giáo hội Công giáo và Phật giáo phải có những văn bản rõ rệt về vấn đề hôn nhân dị giáo này. Nếu tôi là pháp chủ Phật giáo Việt Nam thì tôi sẽ cho phép những người con trai hay con gái Phật giáo lấy những người con trai hay con gái Công giáo và hai người  được học truyền thống của nhau, hai người cùng đi nhà thờ một lần, hai người cùng đi chùa một lần, hai người cùng được rửa tội một lần và hai người đều được quy y. Cha Thomas Kwan  một linh mục người Hồng Kông đã quy y ở Làng Mai nói sau khi quy y và thọ năm giới thì cha hiểu giá trị truyền thống của Cha nhiều hơn. Cha đã đem năm giới đó về dạy cho giáo dân của cha. Và đã giúp được rất nhiều người và thấy rõ là hai bên bổ túc cho nhau, không chống đối nhau.  Vì vậy khi một cặp thanh niên khác đạo muốn cưới nhau thì nên nói cho họ biết là cả hai người nên cùng được rửa tội và cùng được quy y. Hai cái đó không chống đối nhau. Nếu chúng ta cần 100 năm để các giáo hội đi tới sự thỏa thuận về văn bản đó thì cũng đáng tại vì các cặp thanh niên nam nữ đã khổ hơn 400 năm nay rồi, nếu cần 100 năm nữa để tới văn kiện đó cũng đáng để chúng ta chờ đợi. Nhưng trong cái thời đại toàn cầu hóa này, biết đâu, có thể vài ba tháng các giáo hội đã có thể ra một văn kiện như thế để làm các thanh niên bớt khổ. 

Cái kho tàng chôn giấu trong đám ruộng đó, tức là Thiên chúa, tức là Thiên quốc, mà trong Phật giáo gọi là Niết bàn, là Cực lạc, là Phật độ. Mỗi người có thể gọi cái kho tàng đó bằng một cái tên khác, nhưng mà nó cùng là một thực tại. Trong đạo Phật có giáo lý về Niết bàn như thực tại không sinh, không diệt, không tới, không đi, không còn, không mất, đó là nền tảng của tất cả các hiện tượng của vũ trụ.  Nếu không có cái đó thì tất cả các hiện tượng không có chỗ nào để trở về. Cái đó mình có thể gọi tương đương với Thiên chúa của Cơ đốc giáo. Tại vì Thiên chúa phải là bất sinh bất diệt, phi hữu phi vô, vô khứ vô lai. Ngôn ngữ của loài người của chúng ta không thể nào diễn tả được Thiên chúa. Nếu anh nói anh có thể diễn tả được Thiên chúa là gì, tức là anh còn nông cạn. Niết bàn là một thực thể cần phải chứng nghiệm. Nếu anh dùng những ý niệm, những ngôn từ để diển tả Niết Bàn thì anh sẽ không bao giờ có thể diễn tả được. Dùng những phương tiện hữu hạn mà diễn tả cái vô hạn, đó là việc không thể nào làm được. Niết Bàn hay Thượng đế cũng thế. Niết bàn, bản thể, chân như là thực tại không sinh không diệt; cái đó chính là Thiên chúa của Cơ đốc giáo. Cũng như cái mà người Việt chúng ta gọi là chuối thì người Pháp gọi là banane. Chuối và banane là hai danh từ để chỉ cho một loại trái cây. Chúng ta có thể gọi cái tuyệt đối bằng nhiều tên, nhưng thực tại không sinh không diệt là nền tảng của tất cả các hiện hữu. Ta có thể gọi đó là chân như, là pháp thân là niết bàn hay là Thượng đế. Chúng ta đừng mất thì giờ  vì những tên từ, chúng ta nên tiếp xúc trực tiếp với thực tại.

 

Quan niệm giải thoát trong Phật giáo & Gia-tô giáo

Trần Chung Ngọc


Trong cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng (Crossing The Threshold of Hope), Giáo hoàng John Paul II (JP II) đã có nhiều nhận xét sai lầm về Phật Giáo. Riêng về giáo lý giải thoát, JP II đã đưa ra một nhận định như sau:

“Tuy nhiên, cần phải nói ngay rằng giáo lý giải thoát của Phật Giáo và Ki-Tô giáo đối ngược nhau.”

(Nevertheless, it needs to be said right away that the doctrines of salvation in Buddhism and Christianity are opposed. p.85)

Nhận định trên của JP II có lẽ chỉ đúng trên mặt văn tự, và theo một nghĩa rất hẹp, vì tôi không tin rằng JP II đã nắm vững được giáo lý giải thoát của Phật Giáo. Thật vậy, giáo sư Phật học Ken Tanaka, linh mục gia tô Thomas Hand, và Thiền sư Alan Senauke, đều có chung một nhận xét: JP II không đủ kiến thức về Phật Giáo nên đã đưa ra những nhận định sai lầm nghiêm trọng về Phật Giáo. Và, dựa trên những lời phê phán sai lầm về Phật Giáo của JP II như: “bi quan, xa lánh cuộc đời, tiêu cực,” và vô nghĩa hơn nữa, “một thuyết cứu rỗi qua Giê-Su Ki-Tô tiêu cực” (negative soteriology), thì chúng ta thấy rằng sự đối ngược trong giáo lý giải thoát của Phật Giáo và Ki Tô giáo mà JP II nêu trên đã được dẫn xuất từ một quan điểm đặc thù Gia-Tô và từ những nhận xét sai lầm về Phật Giáo, chứ không phải là sự đối ngược về căn bản triết lý, suy lý, và thực nghiệm. Cho nên, để cho vấn đề được sáng tỏ, tôi xin viết một bài khảo luận nho nhỏ về quan niệm giải thoát trong Phật Giáo và Gia-Tô Giáo. Bài phân tích này dựa phần lớn vào những tài liệu hiện hữu, vào kinh điển Phật Giáo và Thánh Kinh Gia Tô, và nhất là dựa vào sự suy lý trong ánh sáng của luận lý học (logic), của khoa học và những hiểu biết thông thường (common sense). Tuy nhiên, tôi cần phải nói rõ một điều: Bài khảo luận này không phải là một bài thuộc môn học so sánh các tôn giáo, lại càng không phải là một bài so sánh giáo lý Phật Giáo và Gia Tô Giáo để phân định đúng sai, hay dở. Chúng ta không thể nào so sánh, hay nói khác đi, lấy một giáo lý làm chuẩn để phê phán một giáo lý khác, điều mà John Paul II đã làm khi viết cuốn Crossing The Threshold of Hope, vì từ tinh thần, triết lý cho tới các phương pháp hành trì, các tôn giáo đều khác nhau. Bài này chỉ có mục đích duy nhất là trình bày khách quan những sự khác biệt căn bản trong giáo lý giải thoát của Phật Giáo và Gia Tô Giáo, những mâu thuẫn tự tại trong các giáo lý này, nếu có, để cho bạn đọc có thể có một ý niệm rõ ràng hơn về vấn đề giải thoát trong hai tôn giáo.

GIÁO LÝ CỨU RỔI CỦA ĐẠO GIA TÔ

Chúng ta đã biết rằng Gia Tô Giáo là một đạo cứu rỗi (Salvation Religion), và Phật Giáo là đạo Giác Ngộ (Religion of Enlightenment). Sự khác biệt này hết sức quan trọng nếu chúng ta muốn đi sâu vào vấn đề giải thoát trong mỗi tôn giáo.

Nói một cách ngắn gọn, thì sự giải thoát trong Gia Tô Giáo là sự “giải thoát khỏi tội qua một Đấng Cứu Rỗi” (Salvation from sin through a Savior). Giáo lý giải thoát này được đặt căn bản trên một số tín điều mà các tín đồ Gia Tô phải tin, và đức tin này là tuyệt đối, không có bàn cãi, suy luận, hoặc hiểu. Thí dụ, trong cuốn Crossing The Threshold of Hope, John Paul II đã đưa ra một số tín điều như: “Thánh Phao Lồ ý thức thâm sâu rằng Chúa Ki-Tô là căn nguyên, là tuyệt đối.”, “Chúa Ki-Tô là bí tích của Thiên Chúa vô hình”, “Giáo Hoàng là một bí nhiệm” và khẳng định: “Điều mặc khải này dứt khoát, con người chỉ còn có thể hoặc chấp nhận, hoặc chối bỏ.” Cho nên các tín đồ Gia Tô chỉ còn có việc tin và tuân phục Giáo Hoàng. Lý trí hay khả năng suy luận của con người trở nên thừa thãi, vì không cần dùng đến trong một đức tin thuộc loại trên. Muốn được giải thoát, một tín đồ Gia Tô phải tin vào nhiều tín điều lắm. nhưng đại cương thì đức tin Gia Tô gồm có những tín điều chính trong Kinh Tin Kính của các Tông đồ (Apostle’s Creed):

1. Tin rằng có một vị Thần, được coi là Đấng Toàn Năng, Toàn Trí, Toàn Thiện, đã tạo dựng ra thế giới chúng ta đang sống, được coi là thế giới duy nhất, và loài người. Từ tín điều này, con người phải tin rằng Adam và Eve là Nguyên Tổ của loài người, có thể vì không muốn suốt đời bị ngu đần, không biết thế nào là phải là trái, nên cưỡng lời Thần ăn trái cây trên Cây Hiểu Biết để cho sáng mắt ra, biết thế nào là phải trái, nên bị coi là sa ngã gây thành tội Tổ Tông mà các thế hệ loài người cho tới ngày tận thế đều vướng phải cái tội tổ tông này và bị luận phạt.

2. Tin rằng Giê-Su (Jesus Christ) , một nhân vật lịch sử sống trong thời thống đốc Pontius Pilate, là người con duy nhất của Thần Gia Tô. , được phái xuống trần làm đấng cứu thế, để những người tin vào Người sẽ không bị luận phạt, được sống đời đời, lẽ dĩ nhiên sau khi chết.

3. Tin ở thuyết Chúa Ba Ngôi: Cha , Con và Thánh Ma (Holy Ghost) đều là một.

4. Tin rằng Giê-Su được sinh ra từ một trinh nữ (Virgin Birth) do phép Chúa Thánh Thần làm cho mang thai

5. Tin rằng Giê-Su đã chịu đóng đinh trên Thập giá để chuộc tội cho những ai tin người, chết xuống ngục tổ tông nhưng sống lại sau ba ngày, và sau đó bay lên trời ngồi bên phải Chúa Cha.

6. Tin rằng Giê-Su sẽ trở lại thế gian để phán xét và luận tội mọi người. Người nào tin Giê-Su thì được lên Thiên Đường, người nào không tin sẽ bị vĩnh viễn đầy hỏa ngục.

  1. Tin rằng giáo hội Gia Tô là hội Thánh
  2. Tin ở phép tha tội và tin xác chết loài người ngày sau sống lại

Trong khuôn khổ một bài báo hiển nhiên tôi không thể luận về những tín lý trên. Điều này đã có rất nhiều nhà Thần Học và các học giả chuyên về tôn giáo làm rồi. Tôi sẽ luận về từng điểm một trong Kinh Tin Kính ở một nơi khác. Ở đây tôi chỉ bình luận về vài điểm dựa theo những hiểu biết mới nhất hiện nay về tín ngưỡng Gia Tô Giáo.

Thực ra thì bây giờ không còn mấy người thực sự còn tin ở thuyết sáng tạo: thế giới hiện hữu là do một vị Thần tạo ra trong 6 ngày rồi nghỉ ngày thứ bảy. Tất cả những khám phá mới nhất của khoa học: từ căn nguyên của vũ trụ, cấu hình của vũ trụ cho tới tuổi của vũ trụ và loài người, thứ tự xuất hiện các sinh vật và thực vật v…v.. trên thế giới, đều hoàn toàn không phù hợp với những điều mô tả trong chương Sáng Thế của Thánh Kinh, chưa kể là những người viết Thánh Kinh, được coi là viết theo lời mặc khải của Thần, hoàn toàn mù tịt về vật lý, thiên văn, sinh học, địa chất học v…v…, và nhất là rất kém về phương diện đạo đức.

Robert Ingersoll, một tư tưởng gia lỗi lạc của Mỹ đã viết từ ngay cuối thế kỷ thứ 19 là:

“Có một người thông minh nào trên thế giới còn tin ở chuyện Vườn Eden (nơi Adam và Eve sa ngã. TCN)? Nếu anh thấy ai còn tin như vậy, hãy gõ lên trán họ, anh sẽ nghe thấy một tiếng vang” (có nghĩa là đầu óc những người này rỗng tuếch.TCN)

(Is there an intelligent man or woman now in the world who believes in the Garden of Eden story? If you find any man who believes it, strike his forehead and you will hear an echo.)

Thực ra, tòa Thánh Vatican và các giới chức lãnh đạo Gia Tô gần đây đã gián tiếp công nhận thuyết Big Bang nhưng lẽ dĩ nhiên đa số tín đồ kém hiểu biết đâu có biết tới điều này. Hơn nữa, đối với đám giáo dân đông đảo này Tòa Thánh vẫn chính thức rao truyền cho giáo dân phải tin vào thuyết sáng tạo. Tại sao vậy? Trước khi trả lời câu hỏi này chúng ta cần phải biết rõ một sự kiện:

Trong cuốn A Brief History of Time, Stephen Hawking, một vật-lý gia sáng danh nhất hiện nay về những thuyết vũ trụ của ông ta, đã kể như sau:

“Năm 1981, khi dự một cuộc hội thảo về vũ trụ học do các Cha dòng Tên tổ chức ở Vatican, tôi lại quan tâm tới vấn đề nguồn gốc và số phận của vũ trụ. Giáo hội Gia Tô đã phạm phải một sai lầm lớn đối với Galileo khi đặt luật lệ tôn giáo trên một vấn đề khoa học, tuyên bố là mặt trời quay xung quanh trái đất. Nay, nhiều thế kỷ sau, giáo hội quyết định mời một số chuyên gia để cố vấn cho họ về vũ trụ học. Cuối cuộc hội thảo, các tham dự viên được hội kiến với Giáo Hoàng. Ông ấy bảo chúng tôi rằng có thể nghiên cứu về sự tiến hóa của vũ trụ sau sự nổ bùng lớn (big bang), nhưng không nên tìm hiểu về chính sự bùng nổ lớn vì đó là lúc Sáng Tạo, do đó là tác phẩm của Thần. Tôi rất mừng vì ông ta không biết đề tài mà tôi mới trình bày trong cuộc hội thảo – có thể là miền không-thời-gian hữu định nhưng không có biên giới, nghĩa là không có lúc đầu, không có lúc Sáng Tạo.”

(In 1981 my interest in questions about the origin and fate of the universe was reawakened when I attended a conference on cosmology organized by the Jesuits in the Vatican. The Catholic Church had made a bad mistake with Galileo when it tried to lay down the law on a question of science, declaring that the sun went around the earth. Now, centuries later, it had decided to invite a number of experts to advise it on cosmology. At the end of the conference the participants were granted an audience with the Pope. He told us that it was all right to study the evolution of the universe after the big bang, but we should not inquire into the big bang itself because that was the moment of Creation and therefore the work of God. I was glad then that he did not know the subject of the talk I had just given at the conference – the possibility that space-time was finite but had no boundary, which means that it had no beginning, no moment of Creation.)

Chúng ta nên để ý rằng, khi mà Giáo Hoàng “cho phép” các khoa học gia tìm hiểu về sự tiến hóa của vũ trụ sau sự nổ bùng lớn thì ngài đã thừa nhận là vũ trụ sinh ra từ một “big bang”. Và như vậy là phủ nhận sự hiện hữu của Thần Gia Tô, vì “big bang” chẳng qua chỉ là sự nổ bùng của một dị điểm vô cùng nóng, vô cùng đặc. (Big bang is nothing else but the explosion of an infinite hot, infinite dense singularity). Sự bùng nổ này đột nhiên xảy ra và xảy ra trong một phần của một giây đồng hồ, cho nên khi Giáo Hoàng bảo “không nên” tìm hiểu về chính hiện tượng big bang, vì đó là lúc Thần sáng tạo, thì ngài cũng chỉ nói cho vui và để cho Ngài nghe thôi, vì ai cũng hiểu rằng hiện tượng big bang không thể nào phù hợp với thuyết sáng tạo trong Thánh Kinh theo đó Thần tạo ra vũ trụ trong 6 ngày. Nhưng tại sao Tòa Thánh lại vẫn duy trì thuyết sáng tạo trong Thánh Kinh và ngay trong cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng Giáo Hoàng vẫn khẳng định thuyết sáng tạo? Chúng ta hãy nghe G.W. Foote giải thích trong cuốn Những Chuyện Hư Cấu Trong Thánh Kinh (Bible Romances):

“Trong mọi nước theo Ki-tô giáo, quần chúng được dạy từ thưở nhỏ rằng Thần tạo ra vũ trụ trong 6 ngày và rồi nghỉ ngày thứ bảy. Nhưng mọi học sinh đều biết rằng thuyết này hoàn toàn sai, mọi khoa học gia coi thuyết này như là vô nghĩa, và giới giáo sĩ có học cũng đã bắt đầu giải thích khác đi. Nhưng họ phải giữ thuyết Sáng Tạo theo một nghĩa nào đó vì hai lý do chủ yếu. Thứ nhất, thuyết này đứng ngay trên ngưỡng cửa của Thánh Kinh, và nếu thuyết này chỉ là giả tưởng thì những gì tiếp theo nó không tránh khỏi mất giá trị. Thứ nhì, nó liên kết chặt chẽ với thuyết sa ngã của con người. Cả hai thuyết này hoặc cùng sống hoặc cùng chết với nhau. Nếu thuyết sa ngã của con người chỉ là một huyền thoại, thì Ki-Tô giáo sẽ trở thành thế nào? Mô thức giải thoát của Ki Tô giáo thật là vô nghĩa nếu không dựa trên thuyết sa ngã của con người. Không có thuyết sa ngã này, và lời nguyền rủa của Thần tiếp theo đó, sự cứu rỗi là một tín lý không có căn cứ, và Chúa Giáng Sinh, bị đóng đinh, và Phục Sinh là những sai lầm to lớn.

Thuyết Sáng Tạo, như chúng tôi sẽ chứng tỏ sau đây, là một thuyết không tự hợp, tự mâu thuẫn, và vô nghĩa. Thuyết này cũng trái nghịch với những sự thực hiển nhiên nhất trong khoa học.”

(In every Christian country the masses of the people are taught in childhood that God created the universe in six days and rested on the seventh. Yet every student knows this is utterly false, every man of science regards it as absurd, and the more educated clergy, are beginning to explain it away. But they must retain the Creation Story in some sense or other, for two very strong reasons. First, it stands at the very threshold of the Bible, and if it is a mere fiction it inevitably throws discredit on all that follows. Secondly, it is inseparably connected with the Story of the Fall. Both live or perish together. And if the Fall is to be regarded as a myth, what becomes of Christianity? The Christian scheme of salvation is unintelligible without the antecedent doctrine of the Fall of Man. Without the Fall, and the ensuing curse, the Atonement is a baseless dogma, and the Incarnation, the Crucifixion, and the Resurrection are gigantic mistakes.

The Creation Story, as we shall attempt to show, is incoherent, self-contradictory, and absurd. It is also discordant with the plainest truth of Science.)

Tuy vậy, một số đông đảo tín đồ Gia Tô vẫn tín ở thuyết sáng tạo bất kể những sự thực hiển nhiên của khoa học. Họ phải tin như vậy vì cái mà họ mong ước: được sống đời đời nơi Thiên Đường bên cạnh Chúa, sẽ trở thành một ảo vọng nếu họ thừa nhận thuyết sáng tạo chỉ là một huyền thoại. Nhưng sự thực thì họ có được Chúa cứu rỗi như họ đã được hứa hẹn hay không? Và Thiên đường ở đâu khi mà chính Giáo hoàng John Paul II đã khẳng định là Thiên đường không phải là một nơi chốn trên các tầng mây mà ở ngay trong tâm con người (cóp nhặt tư tưởng “Vạn Pháp duy tâm tạo” của Phật Giáo). Đối với dân tộc Do Thái thì tôi không biết chứ đối với những tín đồ Gia-Tô Việt Nam thì tôi cho đó chỉ là một ảo vọng. Tại sao tôi lại có thể khẳng định như vậy? Bởi vì tôi đã đọc kỹ cuốn Thánh Kinh, Cựu Ước cũng như Tân Ước. Tôi là người ngoại đạo, và người ngoại đạo có cái lợi là được tự do đọc cuốn Thánh Kinh với một đầu óc tỉnh táo và phân tích dựa theo luận lý, chứ không bắt buộc phải tin theo những lời giải thích Thánh Kinh một cách vô nghĩa, phản khoa học v..v.. của một số chức sắc Gia Tô da trắng và của giới giáo sĩ, mà mục đích chỉ là để củng cố quyền lực giả tạo trên thế gian trước đám tín đồ ít học.

Trong cuốn Thánh Kinh có tới bốn (4) Giê-Su khác nhau, vậy tôi không hiểu các tín đồ Gia Tô tin ở Giê-Su nào? Thứ đến, nếu các tín đồ Gia Tô tin rằng Giê-Su sinh ra từ Đức Mẹ Đồng Trinh (Virgin Birth) thì người không thể là Đấng Cứu Thế. Ngược lại, nếu họ tin Giê-Su là Đấng Cứu Thế thì không làm gì có chuyện Đồng Trinh. Tôi xin phân tích điều trên như sau:

Chúng ta biết rằng Cựu Ước liên hệ rất nhiều đến lịch sử dân tộc Do Thái, và Tân Ước là sự tiếp nối của Cựu Ước, hai Kinh này không thể tách rời nhau vì nếu tách rời thì vai trò cứu thế của Giê-Su trở nên vô nghĩa. Tất cả những chuyện trong Thánh Kinh đều xoay quanh vùng đất Do Thái và liên hệ đến lịch sử, truyền thống Do Thái. Theo truyền thống Do Thái thì đấng Cứu Thế (Messiah) phải thuộc giòng dõi của Vua David. Cũng vì vậy mà trong Tân Ước, Matthew và Luke đều kê ra gia phả của Giê-su là thuộc giòng dõi của Vua David, để chứng tỏ rằng Giê-Su đích thực là đấng Cứu Thế. Để cho vấn đề thật rõ ràng, tôi xin kê sau đây gia phả của Giê-Su, trích ra từ Tân Ước:

Theo Matthew 1:1-17 thì các thế hệ tiếp nối từ Vua David tới Giê-Su như sau: David, Solomon, Rehoboam, Abijah, Asa, Jehoshaphat, Jehoram, Uzziah, Jotham, Ahaz, Hezekiah, Manasseh, Amon, Josiah, Jeconiah, Shealtiel, Zerubbabel, Abiud, Eliakim, Azor, Zadok, Akim, Eliud, Eleazar, Matthan, Jacob, Joseph, Jesus. Tất cả là 27 thế hệ.

Nhưng theo Luke 3:23-38 thì các thế hệ tiếp nối từ Vua David tới Giê-Su như sau: David, Nathan, Matthata, Menna, Melea, Eliakim, Jonam, Joseph, Judah, Simeon, Levi, Matthat, Jorim, Eliezer, Joshua,, Er, Elmadam, Cosam, Addi, Melki, Neri, Shealtiel, Zerubbabel, Rhesa, Joanan, Joda, Josech, Semein, Matthathias, Maath, Naggai, Esli, Nahium, Amos, Matthathias, Joses, Jannai, Melki, Leci, Matthat, Eli, Joseph, Jesus. Tất cả là 42 thế hệ.

Tuy hai gia hệ trên hoàn toàn khác nhau nhưng cả hai cùng muốn chứng tỏ rằng Giê-Su là con của Joseph và là giòng dõi của Vua David, và vì vậy đích thực là đấng Cứu Thế, theo truyền thống Do Thái. Điều này được chứng minh bởi chính lời của Giê-Su trong Thánh Kinh: “Ta xuống trần để cứu rỗi dân Do Thái mà thôi”, như sẽ được trình bày trong một đoạn sau.

Tuy nhiên, vì muốn Thần cách hóa Giê-Su nên cả Matthew và Luke đều đưa ra một nguồn gốc khác của Giê-Su mà không nghĩ ra rằng cái nguồn gốc Thần Thánh này hoàn toàn bất phù hợp với tư cách “cứu thế” như đã nêu ở trên về giòng dõi Vua David. Theo Matthew 1:18-21 thì sự ra đời của Giê-Su được loan báo cho Joseph sau khi mẹ của Giê-Su có mang như sau: “Mẹ của Giê-Su là Mary, vị hôn thê của Joseph. Trước khi hai người ăn nằm với nhau thì Mary có mang. Joseph là người tốt bụng, không muốn làm to câu chuyện. Rồi có một thiên thần do Thần sai xuống báo mộng cho Joseph và an ủi Joseph là “đừng có sợ, cứ việc chấp nhận Mary làm vợ vì tác giả cái bầu của Mary là Thánh Ma (Holy Ghost) . Và Mary sẽ sinh ra một người con trai, đặt tên là Giê-Su, vì Giê-Su sẽ cứu dân tộc của hắn (nghĩa là dân tộc Do Thái) khỏi tội lỗi ” (for He will save His people from their sins) Nhưng theo Luke 1: 26-31 thì sự ra đời của Giê-Su được thiên thần Gabriel loan báo cho chính Mary trước khi Mary có mang: “Do ân sủng của Thần, Thánh Ma sẽ làm cho người có mang, và ngươi sẽ sinh một đứa con đặt tên là Giê-Su v…v..”

Như vậy chúng ta lại có thêm 2 tài liệu khác nhau về việc Giê-Su sinh ra cõi đời, tổng cộng là bốn, hay ít nhất cũng là ba Giê-Su khác nhau, nếu ta dễ dãi chấp nhận chuyện báo cho Mary trước khi có mang và báo mộng cho Joseph sau khi Mary có mang làm một. Vậy Giê-Su nào là đấng Cứu Thế. Chẳng có lẽ mỗi khi chúng ta muốn được cứu rỗi lại phải rút thăm xem đấng cứu rỗi là Giê-Su nào? Giê-su trong Matthew? Giê-su trong Luke? Và Giê-su nào trong Matthew hay Luke? Là con Joseph, giòng dõi của David, hay là con của Thánh Ma? Nhưng đây chỉ là chuyện nhỏ thôi, vì đức tin Gia Tô nó là như vậy, như JP II đã dạy: “Điều mặc khải này dứt khoát, con người chỉ còn có thể hoặc chấp nhận, hoặc chối bỏ.” Chấp nhận thì được lên Thiên Đường, chối bỏ thì xuống Hỏa Ngục.

Trong Phật Giáo, Bồ Tát không ngại vén ống quần, sắn tay áo, nhảy vào địa ngục để cứu vớt chúng sinh. Tuy không phải là một Bồ Tát nhưng tôi cũng theo gương các Người chọn con đường đi xuống Hỏa Ngục, vì theo tín ngưỡng Gia-Tô thì ở đưới đó có khoảng 4/5 dân số trên thế giới lận, trong đó có cả ông bà tổ tiên của những người mới theo GiaTô Giáo sau này, và gồm có những người đã chối bỏ những chuyện huyền hoặc, hoang đường, mâu thuẫn và coi những chuyện này là cả một sự mạ lỵ đối với những đầu óc có khả năng suy luận trí thức.

Nhưng then chốt của vấn đề là trong bốn nguồn gốc khác nhau của Giê-Su, nếu là sự thực, thì chỉ có thể có một là đúng, không thể nào đúng cả bốn, trừ khi cái con ngoáo ộp “Hỏa Ngục” nó làm cho chúng ta sợ đến nỗi mất cả lý trí. Như vậy, nếu chúng ta tin rằng Giê-Su là đấng Cứu Thế, nghĩa là Giê-Su là con của Joseph và là giòng dõi của Vua David, thì Giê-Su không thể là con của Thánh Ma, và chuyện Mary đồng trinh chỉ là một huyền thoại để Thần cách hóa Giê-Su. Ngược lại, nếu chúng ta tin Giê-Su là con của Thánh Ma, do sự xâm nhập bất hợp pháp của Thánh Ma vào Mary, thì Giê-Su không dính dáng gì tới Joseph hay giòng dõi của David, do đó chuyện Giê-Su là đấng Cứu Thế cũng chỉ là một huyền thoại để tôn vinh cái tư cách cứu thế của Giê-Su. Nói tóm lại, tôi đã chứng minh rằng: hai tín lý, Mary đồng trinh và vai trò cứu thế của Giê-Su có tính cách loại trừ hỗ tương. Có tín lý này thì không thể có tín lý kia. Nhưng những người Gia-Tô vẫn tin cả hai tín lý và không hề thắc mắc. Điều này cũng dễ hiểu vì họ đã được dạy như vậy từ thuở mới lọt lòng mẹ ra đời, những tín lý này đã có trong sữa mẹ, và lẽ dĩ nhiên họ không bao giờ đọc Thánh Kinh, đừng nói đến chuyện đọc nó với một đầu óc tỉnh táo suy luận và phân tích.

Như đã viết rõ trong Thánh Kinh, Giê-Su sẽ là đấng cứu thế của dân Do Thái (for He will save His people from their sins) và chỉ của dân Do Thái mà thôi. Cho nên tôi thật thương hại những người không phải là dân Do Thái mà cứ sống trong ảo vọng, mơ tưởng rằng sẽ được Giê-Su cứu rỗi và cho mình sống đời đời trên Thiên Đường bên cạnh Thần Gia Tô. Câu chuyện sau đây trong Thánh Kinh sẽ chứng tỏ rằng sự ước mơ trên đích thực là một ảo vọng. Chúng ta hãy đọc và đọc kỹ đoạn sau đây trong Tân Ước, Matthew 15: 21-28:

“Thế rồi Giê-Su đi tới vùng Tyre và Sidon. Và có một người đàn bà người Canaan đến từ vùng đó và kêu với Giê-Su “Hãy thương tôi, Chúa ơi, Con của David. Con gái tôi đang bị quỷ ám nặng.” Nhưng Người không thèm trả lời bà ta một tiếng. Và các đệ tử của Giê-Su tới và yêu cầu Giê-Su: “Hãy đưổi bà ta đi, vì bà ta cứ kêu cứu cùng chúng ta.” Nhưng Giê-Su trả lời: “Ta được phái xuống đây chỉ để cứu dân Do Thái mà thôi.” Rồi người đàn bà kia tới và thờ phượng Giê-Su và nói: “Chúa ơi, hãy giúp tôi.” Nhưng Người trả lời: “Lấy bánh của con dân Do Thái mà ném cho mấy con chó nhỏ ăn thì thật là chẳng tốt tí nào.” Và người đàn bà kia nói: “Đúng vậy, Chúa ơi, nhưng dù là những con chó nhỏ thì chúng cũng được ăn những mảnh bánh vụn rơi vãi từ trên bàn của chủ chúng xuống chứ.” Rồi Giê-Su trả lời: “Ô, Bà Già! Lòng tin của bà thật là lớn lao! Thôi tôi cũng chiều theo ý bà.” Và con gái bà ta hết bị quỷ ám ngay từ gìờ phút đó.”

(21. When Jesus went out from there and departed to the region of Tyre and Sidon. 22. And behold, a woman of Canaan came from that region and cried out to Him, saying, “Have mercy on me, O Lord, Son of David! My daughter is severely demon-possessed.” 23. But He answered not a word. And His disciples came and urged Him, saying, “Send her away, for she cries out after us.” 24. But He answered and said, “I was not sent except to the lost sheep of the House of Israel.” 25. Then she came and worshipped Him saying, “Lord, Help me!” 26. But He answered and said, ” It is not good to take the children’s bread and throw it to the little dogs.” 26. And she said, “True, Lord, yet even the little dogs eat the crumbs which fall from their masters’ table.” 28. Then Jesus answered and said to her, “O woman, great is your faith! Let it be to you as you desire.” And her daughter was healed from that very hour.)

Tôi xin để cho các độc giả tùy nghi nhận định về tư cách, đạo đức và lòng vị tha của Giê-Su trong câu chuyện trên. Tôi không hiểu các đồng bào Gia-Tô của tôi nghĩ thế nào khi đọc đoạn trên trong Thánh Kinh, không biết họ có lòng tin mãnh liệt như bà già trong câu chuyện kể trên và chấp nhận từ bỏ thân phận làm người của mình để được Giê-Su cứu rỗi hay không, dù bây giờ Giê-Su không còn trên thế gian nữa, và suốt 2000 năm nay, không có bằng chứng nào có thể chứng tỏ sự cứu rỗi của Giê-su là có thật. Nhưng Tiến Sĩ Madalyn O’Hair thì bình luận như sau:

“Trừ khi anh là người Do Thái, chẳng ai muốn anh trong tôn giáo này. Đối với người nào thực sự “thực tâm cảm thấy Giê-Su là đấng cứu thế của họ” tôi xin giới thiệu một nhà trị liệu các bệnh tâm thần”

(Unless you are a Jew, you are not wanted in this religion. For someone who really “truly feels in his heart that Jesus is his Savior” I would recommend a psychiatrist.)

Và, Frederick Heese Eaton bình luận như sau trong cuốn Scandalous Saints:

“Giê-Su thường nhắc nhở đệ tử là phải thương yêu nhau, và thương yêu ngay cả kẻ thù (John 13:35; Matthew 5:44) Nhưng khi một người đàn bà không phải là người Do Thái tới nhờ Giê-Su chữa lành bệnh cho con gái, thì Giê-Su lại bảo bà ta rằng, “Không thể lấy bánh của con dân Do Thái vứt cho chó ăn.” (Matthew 15:26) Nói một cách khác, ông nói, “Người phi Do Thái là đồ chó. Tại sao ta lại phải làm bất cứ gì cho ngươi?” Anh cảm thấy thế nào khi Jesus gọi anh là chó? Gọi người phi Do-Thái là đồ chó không phải là sự biểu thị của lòng thương yêu. Giê-Su thật là hỗn hào, kiêu căng và tự phụ khi gọi người đàn bà kia là chó. Vậy trong vấn đề thực hành, Thánh Giê-Su chẳng có chút gì là Thánh cả. Những sự kiện cho thấy Giê-Su thực sự ghét những người phi Do-Thái.

Thánh Paul viết rằng, theo lời mặc khải của Thần Gia Tô, “Giê-Su luôn luôn như vậy, ngày hôm qua, ngày hôm nay và cho tới mãi mãi, không bao giờ thay đổi.” (Hebrew 13:8) Vậy nếu anh dự định lên Thiên Đường ở cùng Giê-su đầy tình thương, và anh không phải là người Do Thái, anh nên nghĩ lại đi thì vừa.”

(Jesus repeatedly admonished his disciples to love one another, and even to love their enemies. (John 13:35; Matthew 5:44) Yet when a non-Jewish woman begged him to heal her daughter, Jesus told her, “It is not fit to take the children (of Israel’s) bread and to cast it to dogs.” (Matthew 15:26) In other words he said, “You non-Jews are dogs. Why should I do anything for you?” How would you like to have Jesus call you a dog? Calling people dog who were not Jews is hardly an expression of love. Jesus was insolent, arrogant and conceited in calling this woman a dog. So in actual practice, Jesus the Saint was not so saintly after all. The facts show that Jesus actually hated those who were not Jews.

Saint Paul writes, allegedly under inspiration of God, “Jesus Christ the same yesterday, and today, and for ever.” (Hebrew 13:8) So if you were planning to go to heaven to be with the loving Jesus, and you are not a Jew, you had better think it over again.)

Đó là đại cương về giáo lý giải thoát trong Gia-Tô Giáo với tất cả thực chất và những mâu thuẫn, hoang đường trong đó. Tôi cũng hi vọng những đồng bào Gia Tô của tôi hãy nghĩ lại và nghĩ kỹ về giáo lý này xem nó có hợp với người Việt Nam hay không, xem những lời hứa hẹn được Giê-Su cứu rỗi có khả thi hay không. Lẽ dĩ nhiên, họ phải ý thức được rằng, người Việt Nam không phải là người Do Thái, và dù có lấy một cái tên Do Thái thì họ cũng không thể biến thành người Do Thái để được Giê-Su cứu rỗi, nếu Giê-Su thực sự có thể cứu rỗi con người..

-oOo-

            GIÁO LÝ GIẢI THOÁT TRONG PHẬT GIÁO

Sau đây tôi xin sang phần trình bày về giáo lý giải thoát trong Phật Giáo. Phật Giáo luôn luôn quan niệm rằng: chúng sinh thì vô lượng, mà căn trí thì bất đồng, và mỗi người có một nghiệp riêng, cho nên không thể có một pháp môn giải thoát chung cho tất cả mọi chúng sinh. Người đời thường coi Đức Phật như là một vị lương y vẹn tài. Và một vị lương y thì không thể chữa bách bệnh bằng cùng một thứ thuốc, trừ phi là muốn lừa bịp những người ngu dốt, không đủ khả năng suy luận, nhắm mắt nhắm mũi mù lòa tin bướng tin càn (theo Thích Mật Thể). Tuy Đức Phật có khẳng định: “Cũng như nước biển chỉ có một vị mặn, giáo lý của ta cũng chỉ có một vi, vị giải thoát” nhưng con đường đi tới giải thoát không phải chỉ có một, và cái vị giải thoát cũng có thể không hẳn hoàn toàn giống nhau đối với tất cả mọi người. Phật Giáo nói tới con số 84,000 Pháp môn đi tới giải thoát và chúng ta nên hiểu đây là một con số tượng trưng, tuy có nhiều ý nghĩa, nhưng không phải là một con số toán học chính xác. Chúng ta thấy trong Kinh Lăng Nghiêm có 25 Pháp môn viên thông dẫn tới giải thoát. Và trong Kinh Hoa Nghiêm, Thiện Tài Đồng Tử đi cầu đạo đã gặp 53 vị Thiện-Tri-Thức, gồm đủ mọi thành phần trong xã hội, và được dạy cho 53 Pháp môn tiến tới giải thoát khác nhau. Chúng ta hãy đọc đoạn sau đây trong Phẩm “Nhập Pháp Giới” để có thể hiểu thêm về ý nghĩa giải thoát trong Phật Giáo. Muốn tiến tới giải thoát, con người trước hết cần phát tâm vô thượng Bồ Đề. Nhưng thế nào là phát Bồ Đề Tâm? Trong Kinh Hoa Nghiêm, Hải Vân Tỳ Kheo giảng như sau:

“Phát Bồ Đề Tâm là phát tâm đại bi, vì cứu khắp tất cả chúng sanh. Là phát tâm đại từ, vì giúp khắp tất cả thế gian. Là phát tâm an lạc, vì làm cho tất cả chúng sanh diệt tất cả khổ. Là phát tâm lợi ích, vì làm cho tất cả chúng sanh lìa ác pháp. Phát tâm ai mẫn, vì có ai kinh sợ thời đều giữ gìn. Phát tâm vô ngại, vì rời bỏ tất cả chướng ngại. Phát tâm quảng đại, vì tất cả các pháp giới đều đầy khắp. Phát tâm vô biên, vì khắp cõi hư không đều qua đến. Phát tâm rộng rãi, vì đều thấy tất cả Như Lai. Phát tâm thanh tịnh, vì trí không trái với pháp tam thế. Phát tâm trí tuệ, vì vào khắp biển nhứt-thiết-trí-huệ.”

Trên đây chỉ là một đoạn ngắn nói về Bồ Đề Tâm của Hải Vân Tỳ Kheo. Muốn biết rõ hơn về Bồ Đề Tâm, xin quý độc giả đọc 40 trang tuyên thuyết về Bồ Đề Tâm của Bồ Tát Di-Lặc trong Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm “Nhập Pháp Giới.”

Nhưng nếu đã phát tâm bồ đề rồi thì con người có thể làm những gì? Chúng ta hãy nghe Bồ Tát Phổ Hiền tuyên thuyết trong Kinh Hoa nghiêm, Phẩm “Nhập Bất-Tư-Nghị Giải-Thoát Cảnh Giới Phổ-Hiền Hạnh Nguyện”:

Thiện Nam Tử! Trong các thứ cúng dường, Pháp cúng dường là hơn hết. Pháp cúng dường là: Tu hành đúng theo lời Phật dạy để cúng dường; chịu khổ thế cho chúng sanh để cúng dường; nhiếp thọ chúng sanh để cúng dường; siêng năng tu tập căn lành để cúng dường; không bỏ hạnh Bồ Tát để cúng dường; chẳng rời tâm bồ đề để cúng dường.

Các Đức Như Lai như số cực vi trong tất cả cõi Phật khắp hư không pháp giới mười phương ba đời toan muốn thị hiện nhập Niết-Bàn, cùng các Bồ Tát, Thinh Văn, Duyên Giác, hữu học, vô học, cho đến tất cả các bậc thiện-tri-thức, tôi đều khuyên mời xin đừng nhập Niết-Bàn, xin ở lại đời trải qua số kiếp như vi trần trong tất cả cõi Phật, vì muốn cho chúng sanh được lợi lạc…

Bao nhiêu chúng sanh sai khác trong tất cả cõi ở mười phương Pháp-giới, hư không giới…trong các loài ấy, nếu là kẻ có bịnh thì tôi vì họ mà làm lương y, nếu ai bị lạc đường thì tôi vì họ mà chỉ cho con đường chánh, nơi đêm tối tôi vì họ mà làm ngọn đuốc sáng, người nghèo thiếu tôi làm cho được của báu. Bồ Tát bình đẳng lợi ích cho chúng sinh như vậy.

Vì sao thế? Vì Bồ Tát nếu có thể tùy thuận chúng sanh, thì chính là tùy thuận cúng dường các Đức Phật. Còn tôn trọng và thừa sự chúng sanh thì chính là tôn trọng và thừa sự các đức Như Lai. Nếu làm cho chúng sanh vui mừng thì chính là làm cho tất cả Như Lai vui mừng. Vì sao thế? Vì các đức Như Lai dùng tâm đại bi mà làm thể. Nhơn nơi chúng sanh mà sanh lòng đại bi, nhơn lòng đại bi mà phát tâm bồ đề, nhơn nơi tâm bồ đề mà thành bậc vô thượng chánh đẳng chánh giác (nghĩa là hoàn toàn giác ngộ, hoàn toàn giải thoát. TCN).

Ví như giữa chốn sa mạc có cây thọ vương to lớn, nơi gốc cây ấy được nước rưới nhuần, thì cành lá hoa quả thảy đều sum sê tươi tốt.

Cây thọ-vương bồ đề ở chốn sa mạc sanh tử rộng lớn cũng như vậy: tất cả chúng sanh là gốc rễ, Bồ Tát là hoa, Phật là quả. Dùng nước đại bi đượm nhuần gốc rễ chúng sanh thì có thể trổ bông Bồ Tát trí huệ và kết thành quả Phật toàn giác.

Vì sao thế? Bởi các Bồ Tát dùng nước đại bi làm lợi ích cho chúng sanh, thì có thể thành tựu quả vô thượng chánh đẳng chánh giác. Cho nên quả Bồ Đề thuộc về chúng sanh, vì nếu không chúng sanh, tất cả Bồ Tát trọn không thể thành đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác…

Từ sự lễ kính ban đầu nhẫn đến tùy thuận có bao nhiêu công đức, thảy đều đem hồi hướng cho tất cả chúng sanh khắp trong hư không Pháp giới. Nguyện cho tất cả chúng sanh thường được an lạc, không các bịnh khổ, muốn thực hành pháp ác thảy đều không thành, còn tu nghiệp lành thì đều mau thành tựu. Đóng chặt cửa của tất cả ác thú, mở bày đường chánh Nhơn-Thiên Niết-Bàn. Nếu các chúng sanh nhơn vì trước kia chứa nhóm các nghiệp ác, nên chiêu cảm tất cả quả rất khổ, tôi đều chịu thế cho, khiến chúng sanh đều được giải thoát, rốt ráo thành tựu quả vô thượng Bồ Đề…”

Đọc đoạn Kinh trên về hạnh nguyện của những người tu tập theo Phật Pháp chúng ta có thấy cái gì có thể gọi là tiêu cực, bi quan, xa lánh cuộc đời hay không? Hay trái lại, đó là những hạnh nguyện hết sức tích cực, vị tha, vị chúng sinh, rất cao cả của người Phật tử? Nhưng giải thoát trong Phật Giáo là giải thoát như thế nào? và giải thoát khỏi cái gì? Phật giáo quan niệm nguồn gốc của sinh tử là vô minh, và nguồn gốc của mọi khổ đau trên đời là vì ba độc: tham, sân, si. Cho nên, một cách đại cương, chúng ta có thể nói trong Phật Giáo, giải thoát là giải thoát khỏi bức màn vô minh để ra ngoài vòng sinh tử, và giải thoát khỏi tham, sân, si để sống an lạc trên cõi đời. Như trên đã nói, có nhiều con đường đi tới giải thoát, nhưng tựu trung không ngoài việc tu tập để có thể nhận thức được rằng:

“sáu trần là hư huyễn, chẳng thực, hay biến đổi. Kinh Kim Cương hình dung nó như mộng, như bọt, như bóng. Triệt để giác ngộ được tính chất hư huyễn chẳng thực của thế giới sáu trần thì sẽ được giải thoát tự tại. Nếu thân tâm ở cõi thế gian sáu trần mà không bị sáu trần quấy nhiều, dụ dỗ, mê hoặc thì sẽ chẳng sinh ra phiền não và được gọi là người giải thoát.” (“Phật Học Quần Nghi” , Thích Thánh Nghiêm)

Để có một ý niệm rõ ràng hơn về giải thoát quan trong Phật Giáo, sau đây tôi xin trích vài đoạn cốt yếu nói về giải thoát quan trong Phật Giáo trong cuốn Đại Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận của Tiến Sĩ Kimura Taiken, do Thích Quảng Độ dịch sang tiếng Việt:

“Lập trường chủ yếu của giải thoát quan Phật-giáo là vượt ra ngoài cõi Dục (Dục giới). Phật Giáo không thừa nhận thế-giới-quan Thần quyền, lại không thừa nhận cái “Ngã” cá nhân bất biến, mà chủ trương hết thảy đều do nhân duyên hòa hợp mà hiển hiện, và sở cứ của nhân duyên là ý chí của chúng ta. Do đó, nếu muốn được giải thoát, con người phải cắt đứt mọi nhân duyên, nghĩa là diệt hết dục vọng của ý chí. Theo các học phái khác, giải thoát tức là đưa cái tiểu ngã của cá nhân trở về với Đại ngã của một đấng sáng tạo ra vũ trụ. Nhưng Phật Giáo vì không thừa nhận Thần quyền, nên gọi giải thoát là Niết Bàn. Mà Niết-Bàn theo nghĩa đen là “dập tắt”, nghĩa là dập tắt hết dục vọng tồn tại và lấy đó làm lý tưởng cứu kính. Các Kinh điển Đại Thừa, nhất là Kinh Bát Nhã, đặc biệt thuyết minh về điểm này và mệnh danh là “Không”, “Không Không” rốt ráo là “Không”, đó là chân tướng của vũ trụ, và khi ta đã đạt được chân tướng ấy tức là đạt đến giải thoát, đến Niết Bàn…

Các học phái khác lấy siêu nhiên (supernatural) làm chủ nên không quá coi trọng đạo đức thế gian, nhưng Phật thì lấy từ bi làm chủ, chuyên đứng về phương diện đạo đức để giáo hóa loài người, đó là tiếng nói giải thoát. Tại Ấn Độ có nhiều tôn giáo nhưng chỉ có Phật-Giáo là lấy toàn thể nhân loại làm đối tượng để truyền giáo, và cũng chỉ có Phật Giáo mới có những giáo lý làm thỏa mãn nhu cầu tinh thần của mọi hạng người…

Tiến thêm một bước nữa mà khảo sát thì Phật, theo một ý nghĩa nào đó, có thể được coi là một nhà đề xướng hiện thực chủ nghĩa. Cái gọi là “giải thoát”, là “Niết Bàn”, nếu không có ích lợi gì đối với cuộc sống thực tế, thì tự nó cũng không có một ý nghĩa nào cả. Giải thoát hay Niết Bàn, theo Phật, không phải chỉ có thể đạt được sau khi chết, mà trái lại, nó có thể được chứng nghiệm ngay ở hiện tại, ngay trong giây phút, nghĩa là bất cứ trong giờ phút nào ta cắt đứt được mọi mối ràng buộc của tham lam, của dục vọng, khiến cho tâm hồn thanh thản, lâng lâng, tự tại, tự do, thì ngay giờ phút đó ta đã đạt đến cảnh giải thoát chân thực rồi…

Do đó, trong Phật Giáo, nếu nói đến giải thoát mà phủ nhận giá trị của thế giới hiện thực thì không những trái với đạo lý mà còn làm hại cho chính Pháp rất nhiều. Nhưng đây cũng lại là điểm vô cùng khó khăn, bởi lẽ vẫn sống trong thế giới hiện thực mà làm cách nào để đừng bị mê hoặc, lôi cuốn theo, để tìm cầu giải thoát khỏi hiện thực là một việc mà có lẽ không ai dám tự phụ làm một cách dễ dàng…

Coi đó ta thấy chủ nghĩa giải thoát của Phật Giáo, nếu chỉ nhìn bề ngoài, có vẻ như một chủ nghĩa “không tịch”, nhưng nếu căn cứ vào nhân cách hoạt động của đức Phật, do nhân cách đó mà tìm hiểu ý nghĩa chân thực của giáo lý Ngài, ta thấy Phật Giáo quyết không phải lấy hư vô làm lý tưởng, đó là điều không một nhà học Phật chân chính nào phủ nhận…

Như thế chung cục nhận Phật là vị Nhân-Cách-Thần, nhận Như Lai là chân ngã, rồi từ lập trường hiện tượng tức thật tại mà xướng lên thuyết “tức thân thành Phật”, cứ như thế giáo lý Phật-giáo bắt đầu triển khai. Mà cái đặc trưng nhất quán của chủ nghĩa giải thoát của Phật Giáo là ở chỗ tự mình tuyệt đối mãn túc, rồi vì hạnh phúc của thế giới, vì sự tiến bộ của nhân loại, đem hết sức mình ra làm việc với một tâm hồn thái nhiên tự nhược, nghĩa là không đam mê, không cố chấp, luôn luôn thanh thản tự do trước mọi hoàn cảnh.”

Đó là tóm tắt đại cương về giải thoát quan trong Phật Giáo. Chúng ta thấy rằng sự trình bày về giải thoát quan của Tiến Sĩ Kimurai Taiken rất sát với nội dung Kinh điển Phật Giáo.

Tôi hi vọng, tới đây, quý độc giả đã nắm vững phần nào căn bản khác biệt giữa giải thoát quan trong Phật Giáo và trong Gia Tô Giáo. Cái căn bản khác biệt này là trong Phật Giáo, Phật tử phải tự mình tu tập để tiến tới giải thoát và sự tu tập này đặt đối tượng trên phúc lợi của toàn thể chúng sanh. Trong Gia Tô Giáo, vì là một tôn giáo cứu rỗi, nên vấn đề đạo đức không quan trọng, và con người chỉ cần đặt tất cả vào một niềm tin ở một đấng siêu nhiên để mong cầu được giải thoát cho riêng mình: “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian đến nỗi ban con duy nhất (sic) của Ngài, để những ai tin vào Người sẽ không bị luận phạt, nhưng được sống đời đời.” (Crossing The Threshold of Hope, trang 76) , không cần phải thắc mắc hay bận tâm đến chuyện có thể chính ông bà tổ tiên của mình trước khi mình theo Đạo, và bà con họ hàng bạn bè hay mọi chúng sanh khác, vì không có cùng niềm tin như mình nên bị Chúa của mình đày vĩnh viễn xuống hỏa ngục.

Vị kỷ đối với vị tha, đó là một đối ngược.

Một đối ngược khác thường được minh họa bởi hình ảnh sau đây: giáo lý giải thoát của Phật Giáo là để cho những người tự tin, tự mình bước đi những bước chân an lạc vững vàng trên trường đời, và giáo lý giải thoát Gia-Tô là để cho những người thiếu tự tin, không thể tự mình bước đi những bước chân vững vàng trên mặt đất, không thể tự mình suy nghĩ, không dùng đến lý trí hay khả năng suy luận của con người, hay nói cách khác, theo nhận định của Robert G. Ingersoll:

“những người cần có một cặp nạng để lê lết trên cuộc đời, vì luôn luôn sợ sệt, nếu buông cặp nạng ra thì sẽ chới với, cho nên phải nương tựa và trông ngóng vào những quyền lực siêu nhiên cũng như những quyền lực giả tạo trên thế gian. ” (Xin đọc cuốn “Ingersoll, The Magnificient” ),

hoặc theo nhận định của Thống đốc tiểu bang Minnesota, Jessie Ventura, về Ki Tô Giáo:

“là một sự giả dối trống rỗng và là một cặp nạng cho những người có đầu óc yếu kém cần đến sức mạnh trong số nhiều” (Newsweek, Oct.11, 1999).

Sự phát triển ngày nay của Phật Giáo vào trong các xã hội Tây phương và trên khắp thế giới thực sự đã giúp cho hàng triệu người cất bỏ được cái cặp nạng làm mất phẩm giá con người này, và họ đã bắt đầu tự mình bước đi những bước vững vàng, an lạc trên mặt đất.

Viết bài này, một Phật tử bình thường như tôi cũng chỉ có một tâm nguyện: khuyến khích mọi người hãy tự mình bước đi những bước chân vững vàng, an lạc trên mặt đất. Nhưng tôi cũng ý thức được rằng, tâm nguyện là một chuyện mà duyên có hội đủ hay không lại là một chuyện khác. Lợi ích chỉ tới với những người có duyên.

http://www.buddhismtoday.com/viet/doi/007-quaniemgiaithoat.htm

 

 

Sách Lược Mới: Ve Vãn Phật Giáo

                                                                                                Lý Thái

03 tháng 01, 2010

 

Nhân đọc lá thư của Nguyễn Ý dưới tựa đề “Sách Lược Mới Sau Vụ Thái Hà“, tôi nhớ đến phong trào “Liên Tôn” trước đây, và bài viết nhan đề “Một bụi gai: Đạo Nào làm Minh Chủ?”. Người lương hay người theo Phật mắc phải cái quan niệm “đạo nào cũng dạy ăn hiền ở lành” vì chỉ nhìn những sinh hoạt thường ngày của nhà thờ, nhưng không biết về giáo lý độc tôn của họ, không rành về lịch sử Bá Quyền vá Bá Đạo dài hàng mấy nghìn năm của Vatican. Ngày nay, giàn hỏa không thể tồn tại, tòa án xử Dị Giáo rất dã man không thể tiếp tục hoạt động trong thế giới ngày nay, Vatican vẫn là đầu não của những chiến lược chiến thuật “nhung”, không thể nhìn bằng mắt thường.

 

2.- Giáo sĩ của nhà thờ Vatican đào mả những người đã chết lấy xác rồi đốt thành tro để trả thù. Chuyện này được ông Trần Quý kể lại trong cuốn Lòng Tin Âu Mỹ Đấy! như sau:

 “Vào thế kỷ 13, dân ở vùng Toulouse, miền Nam nước Pháp ngày nay nhận thấy Giê-hô-va độc ác, đúng là quỉ Satan mạo nhận là Thiên Chúa, chớ không phải là Thiên Chúa thật. Họ thấy vị thần ấy gớm ghiếc quá, bỏ không thờ nữa tuy họ vẫn kính thờ Jesus. Họ lập thành Giáo Hội Ca-tha-ri. Giáo Hội Công La (Giáo Hội La Mã) kết tội họ là tà đạo. Năm 1209, Giáo Hoàng Innocent III (1198-1216) ra lệnh thánh chiến để diệt họ. Vua chúa ở miền Bắc đất Pháp, ở đất Đức tuân lời, phái binh lính đến làm thành Thập Tự Quân để đánh bọn tà đạo. Rất đông tín đồ Jesus phe giáo hoàng tới trợ lực Thập Tự Quân. Đám quân này dưới quyền chỉ huy của giáo sĩ Amaud Amauri, đại diện giáo hoàng, bao vây thành Béziers. Thành bị hạ vào ngày 22 tháng 7 năm 1209. Toàn dân ở trong thành bị giết hết kể cả đàn bà và trẻ con. Tòa án đạo Jesus theo đuổi trừng phạt cả những người bị kết tội là tà đạo dù họ đã chết rồi. Chẳng hạn, năm 1329, tòa án đạo Jesus ở Carcassonne cho đào mả bẩy người phạm tội tà đạo, móc xác lên đốt đi; của cải của họ bị tịch thu, dòng dõi họ bị trừng phạt. Trần Quý, Lòng Tin Âu Mỹ Đấy! (Westminster, California: Đồng Thanh & Văn Nghệ, 1996), tr.132-133.  

3.- Tàn sát những người thuộc các tôn giáo một cách cực kỳ dã man gọi là trả thù cho Chúa. Chuyện được sách The Decline And Fall of The Roman Church ghi lại như sau:

Vị tướng chỉ huy chiến dịch tiêu diệt dân tà giáo Albigences tuyên bố: “Bất kể nam hay nữ, già hay trẻ, chức vụ lớn hay nhỏ, trước lưỡi gươm, họ đều như nhau.” Hiệp sĩ ngoan đạo Ca-tô tên là Roland, khi chỉ huy đạo quân tiêu diệt người Moors (Hồi Giáo) đã hô lớn khẩu hiệu “Tà giáo là những người xấu xa. Tín đồ Ca-tô là những người công chính ngay thẳng.” Khi tiến tới bao vây kinh thành Jerusalem, những người lính thập ác trong cuộc chiến Thập Ác Thứ Nhất hăng say với niềm tin rằng thiên thần đại diện cho Chúa đang chiến đấu bên cạnh họ. Thành tích của họ là 17 ngàn dân Hồi Giáo bị tàn sát dưới lưỡi gươm của họ ở ngay nơi đền thờ Solomon và tất những người Do Thái ở trong các giáo đường đều bị thiêu sống.”  Nguyên văn: “Neither sex nor age nor rank have we spared,” was the statement of the general who conducted the war against medieval heretics called Albigenses, “We have put all alike to the sword.” The new cry on the lips of Roland, the perfect Christian and the model knight, as he fought at Roncevaux against the hated Moors. “Paien unt tort e Christiens unt droit! (Pagans are wrong. Christians are right)”. And when the first crusaders came over a hill in Palestine and caught sight of the walls of Jerusalem, …. convinced that the angels of the Lord were fighting by their side. They put to death by sword 17,000 Muslims on the site of Solomon’s Temple and burned all Jews inside their synagogues.”Malachi Martin, Ibid, tr.111.[i]  

4.- Tàn sát dã man những người cùng thờ ông Jesus như họ, nhưng không chịu thuần phục Nhà Thờ Vatican. Chuyên này được sử gia Jack T. Chick ghi lại như sau:

“Ngày 22-8-1572 (Nhiều sách khác ghi là ngày 24/8/1572) bắt đầu xẩy ra một cuộc tàn sát đẫm máu ở nhà thờ St. Bartholomew. Đây là một trong những vụ tàn sát ghê gớm để tiêu diệt phong trào Tin Lành ở Pháp. Pháp Hoàng đã khôn khéo sắp đặt cuộc hôn nhân giữa người em gái của nhà vua với Đô Đốc Coligny, một nhân vật lãnh đạo của Tin Lành. Một bữa tiệc lớn được tổ chức ăn mừng lễ cưới. Sau bốn ngày, quân lính của tân lang Coligny được cho ăn uống no say, một hiệu lệnh được ban hành. 12 giờ đêm hôm đó, tất cả nhà cửa của những người Tin Lành ở trong thành phố đều bị bắt buộc phải mở cửa. Đô Đốc Coligny bị giết. Thi hài của ông bị liệng qua cửa sổ ra ngoài đường. Thủ cấp của ông bị cắt đem gửi cho giáo hoàng. Hai cánh tay và bộ phận sinh dục của ông cũng bị cắt. Rồi chúng lôi kéo phần còn lại của xác chết đi khắp các đường phố cả ba ngày trời. Sau đó, chúng treo ngược cái xác chết không đầu, không tay, không bộ phận sinh dục ở một nơi ngoại ô thành phố. Đồng thời, chúng còn tàn sát nhiều người Tin Lành khác nữa. Trong 3 ngày, hơn mười ngàn dân Tin Lành (ở Paris) bị giết hại. Những xác chết này bị liệng xuống sông và máu nạn nhân lênh láng chẩy thành dòng ra tới tận cửa sông giống như một dòng máu. Trong cơn hung hãn này, chúng có thể giết cả những người đồng đạo của chúng nếu nạn nhân bị nghi ngờ là không mạnh tin vào Giáo Hoàng. Từ Paris, bịnh dịch tàn sát vì lòng cuồng tín như vậy lan tràn ra khắp nơi trong nước Pháp. Tính ra có tới hơn tám ngàn nạn nhân nữa bị sát hại. Rất ít người Tin Lành thoát khỏi tai họa trong cơn hung hãn của chúng.”

 

Nguyên văn: “On August 22, 1572, the bloody St. Bartholomew massacre began. This was to be one fatal blow to destroy the Prostestant movement in France. The King of France had cleverly arranged a marriage between his sister and Admiral Coligny, the chief Protestant leader. There was a great feast with much celebrating. After four days of feasting the soldiers were given a signal. At twelve o’clock midnight, all the houses of the Protestants in the city were forced open at once. The admiral was killed, his body thrown out of a window into the street where his head was cut off and sent to the pope. They also cut off his arms and privates and dragged him through the streets for three days until they finally hung his body by the heels outside the city. They also slaughtered many other well kown Protestants. In the first three days, over ten thousands were killed. The bodies were thrown into the river and blood ran through the streets into the river until it appeared like a stream of blood. So furious was their hellish rage that they even slew their own followers if they suspected that they were not very strong in their belief in the pope. From Paris, the destruction spread to all parts of the country. Over eight thousand more people were killed. Very few Pretestants escaped the fury of their persecutors.”) Jack T.Chick, Smokescreens (Chino, CA: Jack T. Chick, 1983), tr. 14-17.

 

5.- Chuyện “Trả thù của Chúa ở Ái Nhĩ Lan vào năm 1641”. Chuyện này cũng được sách Smokescreens ghi lại với nguyên văn như sau:

Một vụ tàn sát người tập thể tương tự như vậy cũng xẩy ra ở Ái Nhĩ Lan vào năm 1641. Bọn tín đồ Da-tô chủ mưu chọn ngày 23 tháng 10 là ngày lễ kỷ niệm Ignatius Loyola, người sáng lập ra Dòng Tên: Chúng dự trù một cuộc tổng nổi dậy trong toàn quốc. Tất cả những người theo đạo Tin Lành đều phải bị giết ngay tức thì. Để làm cho những người Tin Lành không chú ý đến việc làm của chúng, chúng tỏ ra rất là tử tế với họ. Sáng sớm ngày vùng dậy, bọn chủ mưu đều có võ trang đi lùng bắt những người Tin lành. Gặp người nào là chúng giết người đó, không một chút thương xót. Những người Tin Lành này chưng hửng trong kinh hoàng. Họ đã sống trong yên bình từ nhiều năm. Giờ đây, gặp cảnh ngộ như vậy, họ không biết phải chạy trốn đi đâu. Những kẻ tàn sát họ lại là những người láng giềng, bạn bè và bà con của họ. Phụ nữ bị trói vào cọc (cột) lột trần đến thắt lưng, vú bị cắt đứt ra để máu chẩy cho đến chết. Những đàn bà mang thai thì bị trói và treo vào cành cây. Chúng mổ bụng nạn nhân lấy thai nhi ra để cho chó ăn. Trong khi đó thì những ông chồng của nạn nhân bị cưỡng bách phải đứng nhìn những cảnh dã man như vậy.” Nguyên văn: “A similar massacre occurred in Ireland in 1641. The conspirators picked October 23, the feast of Ignatius Loyola, the founder of the Jesuit Order. They planned a general uprising for the whole country. All Protestants would be killed at once. To throw them off guard while the plan was being made, extra acts of kindness were shown to the Protestants. Early in the morning the conspirators were armed and every Protestant they could find was immediately murdered. They showed no mercy. From children to the aged, they were killed. Even invalids were not spared. They were caught by complete surprise. They had lived in peace and safety for years and now find no place to run. They were massacred by neighbors, friends, and even relatives. Death often was the least they had to fear. Women were tied to posts, stripped to the waist, their breast cut off with shears and left to bleed to death. Others who were pregnant were tied to tree branches, their unborn babies cut out and fed to the dogs while the husbands were forced to watch.”)[ii] Jack T.Chick, Sđd., tr. 17

 

Qua chuyện tàn sát dân Tin Lành ở Ái Nhĩ Lan, chúng ta mới hiểu được tại sao anh em ông Ngô Đình Diệm và bọn Cần Lao Công Giáo lại chọn ngày 23/10/1955 để làm ngày truất phế Quốc Trưởng Bảo Đại.  

6.- Đào mả lấy xương cốt của kẻ cựu thù chính trị để trả thù một các cực kỳ dã man. Vụ này xẩy ra ở nước Anh. Vào năm 1661, họ đào mả của ông Oliver Cromwell (lãnh đạo chính quyền Anh từ ngày 16/12/1653 đến ngày 3/9/1658) chôn ở Wesminster Abbey lấy xác đem xiềng và treo vào một cây trụ tại Tyburn. Sau một thời gian (không biết là bao lâu), họ chặt lấy đầu đem cắm vào một cái sào, rồi đem bêu ở ngoài Tòa Thị Sảnh Wesminster (Westminster Hall). Còn cái xác thối rữa của ông thì họ đem quẳng xuống một cái hố. Cái đầu của ông vẫn bị bêu tại chỗ này cho đến năm 1685, rồi được thay đổi nhiều lần, trong đó có một lần được đem bán vào năm 1814 trước khi được đem chôn ở trong khuôn viên trường Đại Học Sidney Susex ở Cambridge vào năm 1960. “Finally, his disinterred body was thrown into a pit, while his severed head was displayed on a pole outside Westminster Hall until 1685. Afterwards the head changed hands several times, including the sale in 1814 to a man named Josiah Henry Wilkinson, before eventually being buried in the grounds of Sidney Sussex  College, Cambridge, in 1960.” Wikipedia, the free encyclopedia, – Oliver Cromwell (Death and posthumous execution.)

7.- Đào mả cụ Phan Đình Phùng….

 

8.- Chuyện “trả thù cho Chúa” vô cùng rùng rợn này mới xẩy ra trong thời Đệ Nhị Thế Chiến và cũng do sách Smokescreens ghi lại như sau:

 

 “Nạn nhân của bọn mật vụ Ustachi (đạo phiệt Gia-tô Croatia trong thời bạo chúa Ante Pevalich) không những bị tra tấn tàn nhẫn về thể xác, mà còn bị hành hạ đau đớn về tinh thần và lương tâm nữa. Một trường hợp vô cùng dã man và tàn ác chưa từng thấy như trường hợp dưới đây đã được ghi lại và phối kiểm qua nhiều nhân chứng có tuyên thệ: “Tại Nevesinje, bọn mật vụ Ustachi càn bắt hết tất cả cha mẹ (vợ chồng) và bốn người con của một gia đình người Serb (theo đạo Chính Thống). Người cha bị giam riêng ở một chỗ khác, người mẹ và 4 người con bị giam ở một chỗ khác. Suốt trong 7 ngày giam giữ, chúng không cho nạn nhân ăn uống gì hết. Rồi thì chúng mang đến cho người mẹ và 4 đứa con mỗi người một miếng thịt nướng khá lớn và nước uống thừa thãi. Sau nhiều ngày không được ăn uống, những người bất hạnh này ăn hết sạch miếng thịt nướng đó. Sau khi ăn xong, bọn mật vụ Ustachi mới nói với gia đình nạn nhân rằng đó là thịt người cha của họ.” Nguyên văn: “The atrocities of the Ustachi far surpassed mere physical torture. Their victims were tormented emotionally as well. An example of the unprecedented brutality is recorded by the sworn testimony of several witnesses regarding the following incident. At Nevesinje, the Ustachi arrested one whole Serbian family consisting of father, mother and four children. The mother and children were separated from the father. For seven days they were tortured by starvation and thirst. Then they brought the mother and children a good-sized roast, and plenty of water to drink. These unfortunates were so hungry that they ate the entire roast. After they finished, the Ustachi told them that they had eaten the flesh of their father.”)[iii] Jack T.Chick, Sđd., tr 32.

9.- Trong thời Kháng Chiến 1945-1954, lính đạo Phát Diệm dưới quyền chỉ huy của Linh-mục Hoàng Quỳnh bắt được ba người ngoại đạo ở các làng bên. Chúng cho rằng nạn nhân là Việt Minh và tra tấn họ cực kỳ dã man. Sáng hôm sau, các nạn nhân bị điệu ra cột cờ ở trước sân chợ và bị đánh đập hết sức man rợ với chủ tâm để khủng bố tinh thần những người trong chợ. Sau đó, chúng đâm chết một trong ba nạn nhân này, phanh ngực, móc mật đem hòa với rượu và moi lấy gan đem nướng, rồi ngồi nhậu hả hê với nhau. Sau đó, hai nạn nhân còn lại bị bắn chết, và cả ba nạn nhân đều bị chúng chặt lấy đầu đem xâu vào một cái sào, rồi đem cắm ở bên vệ đường ở đầu làng….

 


[i] Malachi Martin, The Decline And Fall Of The Roman Church (New York: G.P. Putnam’s Sons, 1981), tr. 110-111

[ii] Ibid., tr. 17.

[iii] Ibid., tr. 32.

Advertisements
 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: