RSS

Tag Archives: Thích Chân Quang

Nghi thức tang lể – Chùa Phật Quang

Trang 1 9 8 7 2 3 4 5 6 10 11 12 13 14 15

NGHI THỨC TANG LỄ
            ***
LỄ NHẬP LIỆM
NIỆM HƯƠNG

Nguyện đem lòng thành kính
Gửi theo đám mây hương
Phảng phất khắp mười phương
Cúng dường ngôi Tam Bảo
Thề trọn đời giữ đạo
Theo Phật Pháp làm lành
Cùng pháp giới chúng sanh
Cầu Phật từ gia hộ
Tâm Bồ Đề kiên cố
Chí tu học vững bền
Xa bể khổ nguồn mê
Chóng quay về bờ giác.

KỲ NGUYỆN :
Hôm nay ngày ….. tháng ….. năm ………. đệ tử chúng con thành tâm quỳ trước Phật đài tụng kinh cầu nguyện cho hương linh …………………………………….
Ngưỡng mong mười phương chư Phật, chư vị Bồ Tát phóng quang tiếp dẫn hương linh, quy y Tam Bảo, xả bỏ duyên trần, tu tập pháp lành, nương nhờ Phật lực để sớm vãng sanh về cõi an lạc.
Nguyện cầu tất cả chúng sanh đồng thành Phật đạo.
Nam Mô Siêu Lạc Độ Bồ Tát (3 lần)

CÚNG HƯƠNG
Giới hương, định hương, dữ huệ hương
Giải thoát, giải thoát tri kiến hương
Quang minh vân đài biến pháp giới
Cúng dường thập phương Tam Bảo tiền
Nam Mô Hương Cúng Dường Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần)
(đứng dậy cắm hương lên rồi chắp tay đứng thẳng tụng bài Tán Thán Phật hoặc hát bài Khúc Tán Ca Tôn Kính Phật)

KHÚC TÁN CA TÔN KÍNH PHẬT

Kính lạy Đấng Vô Thượng
Người là cành Hoa Sen
Nơi biển đời nhân thế
Người là nguồn thương yêu
Bao dung khắp muôn loài
Là mặt trời ban mai
Đem ánh sáng cho đời
Dựng lại niềm tin sâu
Nơi tăm tối u sầu.
Quỳ lạy bậc Chánh Giác
Thầy của khắp trời người
Lòng từ bi bao la
Cha lành chung bốn loài
Người là một đại dương
Mà con như giọt nước
Người là ngọn cao sơn
Mà con như hạt bụi.
Con xin đảnh lễ Người
Với trọn lòng thiết tha
Quy y và tôn kính
Xin đem trọn cuộc đời
Đi theo bước chân Người
Xa lìa bờ vô minh
Tìm về nơi giác ngộ
Xin theo trái tim Người
Để trải lòng thương yêu
Bao dung khắp muôn loài
Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật (2 lần)

TÁN THÁN PHẬT

Đấng Pháp Vương Vô Thượng
Ba cõi chẳng ai bằng
Thầy dạy khắp trời người
Cha lành chung bốn loại
Nay con nguyện quy y
Diệt trừ vô lượng tội
Dâng lên lời tán thán
Ức kiếp vẫn không cùng

Phật chúng sanh tánh thường rỗng lặng
Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn
Lưới đế châu ví đạo tràng
Mười phương Phật bảo hào quang sáng ngời
Trước bảo tòa thân con ảnh hiện
Cúi đầu xin thệ nguyện quy y

LỄ PHẬT
• Chí tâm đảnh lễ: Nam mô khắp mười phương hư không tất cả Chư Phật (1 lạy)
• Chí tâm đảnh lễ: Nam mô khắp mười phương hư không tất cả Chánh Pháp (1 lạy)
• Chí tâm đảnh lễ: Nam mô khắp mười phương hư không tất cả Hiền Thánh Tăng (1 lạy)

TÁN LƯ HƯƠNG

Hương trầm thơm đốt
Xông thấu mười phương
Lòng thành dâng cúng
Chư Phật tỏ tường
Mây lành hóa hiện
Mưa Pháp tràn tuôn
Thấm nhuần khắp cõi
Ba nẻo sáu đường
Nam Mô Hương Vân Cái Bồ Tát (3 lần)
Kính lạy mười phương Phật
Kính lạy mười phương Pháp
Kính lạy muời phương Tăng
Xin từ bi tiếp dẫn
Cho hương linh nơi đây
Thân nằm nhẹ hồn bay
Duyên trần thôi đã hết
Cho hương linh nương tựa
Về an trú già lam
Được thấu rõ đạo mầu
Quy y và siêu thoát
Cúi xin chư Hộ Pháp
Dạy dỗ cho hương linh
Biết tôn kính Phật Đà
Chư Bồ Tát từ bi
Chư Thánh Tăng giác ngộ
Cúi xin chư Hộ Pháp
Dạy dỗ cho hương linh
Dâng trọn cả lòng mình
Kính tin Ba Ngôi Báu
Cho hương linh ý thức
Tuân thủ các giới điều
Không phóng dật tự kiêu
Sống trong vòng khuôn phép
Dạy hương linh hiểu biết
Cuộc sống ở thế trần
Danh lợi tựa phù vân
Hèn sang như giấc mộng
Dạy hương linh hiểu thấu
Từ chấp ngã ban đầu
Lòng ích kỷ ăn sâu
Thành tham lam ác độc
Hương linh hiểu kiêu mạn
Làm ô nhiễm thân tâm
Làm phát khởi lòng sân
Khiến tan dần công đức
Dạy hương linh cẩn thận
Chớ chia rẽ con người
Chớ chỉ trích chê cười
Để cho người nhục nhã
Dạy hương linh thấu rõ
Ngũ uẩn vốn hợp duyên
Sanh diệt mãi triền miên
Có gì đâu quyến luyến
Dạy hương linh Nhân Quả
Báo ứng rất công bình
Thiện ác rõ phân minh
Bởi nhân nào quả nấy
Cúi xin mười phương Phật
Gia hộ cho hương linh
Được sáng suốt an lành
Hướng về nơi cao thượng
Hương linh giờ hiểu rõ
Cùng tĩnh niệm chắp tay
Trọn kiếp chẳng đổi thay
Nguyện tin sâu Tam Bảo
Hương linh sống hòa hợp
Tâm nhu nhuyến hiền hòa
Đầy nhân ái vị tha
Đầy yêu thương hỷ xả
Nguyện làm lành không mỏi
Ác đạo quyết xa rời
Tinh tấn chẳng buông lơi
Không biếng lười giãi đãi
Nguyện thấy mình hạt cát
Giữa sa mạc mênh mông
Là giọt nước thanh trong
Giữa đại dương bát ngát
Nguyện xóa dần chấp ngã
Đã trói buộc bao đời
Tình thương trải muôn nơi
Bằng trái tim rộng mở
Đạo đức thơm lan tỏa
Mọi ngõ ngách cuộc đời
Nguyện chân lý tuyệt vời
Chiếu soi trong hoàn vũ
Nguyện đời đời theo Phật
Muôn kiếp vẫn không cùng
Lòng quyết giữ thủy chung
Dù chông gai nguy khó
Kính lạy Mười Phương Phật
Chư Bồ Tát Thánh Hiền
Trong pháp giới vô biên
Phóng từ quang tiếp dẫn
Cho hương linh tĩnh lặng
Dứt bỏ hết duyên trần
Ba nghiệp hết tham sân
Ra khỏi vòng tăm tối
Cho hương linh thấy lỗi
Hết ích kỷ, mạn, nghi
Phát khởi tâm từ bi
Yêu thương và độ lượng
Cho hương linh hướng thượng
Quyết dõng mãnh tu trì
Thoát ái dục mê si
Tiến tu sâu thiền định
Cho hương linh trí tuệ
Không lui bước giữa đường
Tâm nhẫn nhục kiên cường
Đến tận cùng tuyệt đối
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần)
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát (3 lần)
Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát (3 lần)
Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát (3 lần)
Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát (3 lần)

HỒI HƯỚNG
Nguyện pháp giới chúng sanh
Cùng tinh tấn tu hành
Thoát chấp ngã vô minh
Đồng viên thành Phật đạo.

LỄ PHÁT TANG
Xướng: Gia quyến cùng quỳ trước linh đài
Lạy hương linh (2 lạy)
TÁN THÁN PHẬT
Đại từ đại bi thương chúng sinh
Đại hỷ đại xả cứu muôn loài
Tướng tốt soi sáng tự trang nghiêm
Chúng con trọn tâm thành đảnh lễ
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Đây vành khăn trắng ngang đầu
Tâm trung chữ hiếu niệm đầu chữ nhân
Lòng thành tưởng nhớ người thân
Anh em cha mẹ ân nhân họ hàng
Công cha nặng cao bằng non Thái
Nghĩa mẹ sâu Đông Hải trùng dương
Phu thê… duyên nợ đoạn trường
Cả đời nương tựa đôi đường cách xa
Tình huynh đệ ruột rà ràng buộc
Nghĩa họ hàng quyến thuộc tình thân
Vô thường già trẻ chẳng phân
Âm dương cách biệt sơ thân hai đường
Nay tử biệt sinh ly cách trở
Mà thế trần duyên nợ đa mang
Hương linh tỉnh ngộ hồi tâm
Nương theo Chánh Pháp ngập tràn tình thương
Cúi lạy Phật mười phương gia hộ
Rải lòng từ tiếp độ hương linh
Chánh tà phải biết phân minh
Nương nhờ Phật lực tâm linh sáng dần
Hương linh nguyện chân thành học Phật
Hiểu thế gian muôn vật đổi dời
Thoát vòng sinh tử luân hồi
Nhất tâm tĩnh niệm thảnh thơi an nhàn
Hương linh nguyện siêng làm việc thiện
Dứt tham sân, đoạn tận gian tà
Mở lòng từ ái vị tha
Độ người, giúp vật thoát ra thế trần
Dâng trọn vẹn lòng thành tưởng niệm
Chấp tay sen khấn nguyện mười phương
Nguyện trên chư Phật tỏ tường
Cho hương linh được về nương cõi lành
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (10 lần)
Nam Mô Đại Từ Di Lặc Tôn Phật (3 lần)
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát (3 lần)
Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát (3 lần)
Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát (3 lần)
Nam Mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát(3 lần)

TAM QUY Y
• Tự quy y Phật nguyện cho chúng sanh hiểu sâu đạo cả phát tâm vô thượng (1 lạy)
• Tự quy y Pháp nguyện cho chúng sanh thấu rõ Kinh tạng trí huệ như biển (1 lạy)
• Tự quy y Tăng nguyện cho chúng sanh tâm ý hòa hợp biết thương mến nhau (1 lạy)

Xướng: lễ vừa hoàn mãn
toàn gia quyến lạy hương linh hai lạy.

LỄ CÚNG HƯƠNG LINH
Xướng: Gia quyến cùng quỳ
trước hương linh lễ hương linh (2 lạy)

TÁN CÀNH DƯƠNG
Cam lồ nước mát
Rải khắp tam thiên
Cành dương huyền nhiệm
Muôn loài tựa nương
Lòng từ rộng lớn
Công đức khôn lường
Sen hồng hóa hiện
Tiêu hết oan khiên
Nam Mô Thanh Lương Địa Bồ Tát (3 lần)

Đây vật thực thơm ngon tinh khiết
Của gia đình dâng cúng hương linh
Biết bao ơn nghĩa ân tình
Tĩnh tâm thọ lãnh, hương linh an lành.
Thọ thực xong tâm thành nghe pháp
Hiểu thế gian vui ít khổ nhiều
Kiếp người như nắng buổi chiều
Như sương buổi sớm lắm điều đổi thay
Đời đau khổ bởi đầy mê muội
Ích kỷ sâu, lầm lỗi càng tăng.
Kiêu căng, làm bậy sống càn
Chẳng so tội phước, chẳng màng nghiệp duyên
Đời hạnh phúc khi lòng rộng mở
Trọn vòng tay giúp đỡ thương nhau
Từ tâm đức hạnh nhiệm mầu
Ác duyên chấm dứt về mau cõi lành
Hương linh phát tâm thành theo Phật
Đấng đại hùng, đại lực, đại bi.
Tin sâu giáo lý diệu kỳ
Cứu người biển khổ thoát ly ách nàn
Thọ thực xong an lành mãn nguyện
Cùng pháp mầu huyền nhiệm cao sâu
Hương linh hết khổ hết sầu
Hết tâm phiền muộn vui câu an nhàn.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (10 lần)
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát (3 lần)
Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát (3 lần)
Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát (3 lần)
Nam Mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát (3 lần)

PHỤC NGUYỆN
Hương linh vừa thọ thực đầy đủ và an lành
Vừa nghe lời pháp nhủ mau phát khởi tâm thành
Nguyện tin sâu Tam Bảo thề dứt ác làm lành
Nguyện phát khởi thiện tâm được rộng sâu trí tuệ
Nguyện tu hành tinh tấn dù gian khó không sờn
Nguyện khắp cả tam thiên đồng trọn thành chánh giác.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

TAM QUY Y

• Tự quy y Phật nguyện cho chúng sinh hiểu sâu đạo cả phát tâm vô thượng (1 lạy)

• Tự quy Pháp nguyện cho chúng sinh thấu rõ kinh tạng trí tuệ như biển (1 lạy)

• Tự quy y Tăng nguyện cho chúng sinh tâm lý hòa hợp biết thương mến nhau (1 lạy)

Xướng: lễ vừa hoàn mãn, gia quyến lễ tạ hương linh hai lạy.

Phật Giáo Thời Kỳ Đầu, Nguyễn Ước
Phật Giáo Nền Tảng Của Khoa Học, Hòa thượng Prayudh Payutto, Tỳ Kheo Thích Tâm Quang Việt dịch
Phật Học Tinh Hoa, Một Tổng Hợp Triết Lý, HT. Thích Ðức Nhuận
Phật Học Tinh Yếu, HT. Thích Thiền Tâm
Phật Giáo Dưới Mắt Nhà Trí Thức, Tỳ Kheo Thích Tâm Quang dịch

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Một 4, 2010 in Phật Giáo, Thích Chân Quang

 

Thẻ: ,

Nghi thức cầu siêu cho hương linh chết nước

Những Bài Kinh Tụng Hàng Ngày

Trang 1 9 8 7 2 3 4 5 6 10 11 12 13 14 15

 

        NGHI THỨC CẦU SIÊU
CHO HƯƠNG LINH CHẾT NƯỚC

LỜI NÓI ĐẦU

Tuy không thê thảm như chúng sinh ở dưới địa ngục, nhưng các vong linh chết dưới nước cũng bội phần khổ sở. Họ bị ràng buộc bởi chỗ chết mà không tự do thoát ra chỗ khác. Cảm giác đói và lạnh là nỗi bức xúc thường xuyên. Nhiều nỗi khổ khác rất chi tiết mà chúng ta không tiện nói ra hết vì e nhiều người không tin cho rằng mê tín. Sự ràng buộc bởi nghiệp chết nước cũng khá lâu dài, khiến họ cứ lẩn quẩn không thoát đi đâu được.
Những chúng sinh nhảy sông tự tử càng đau khổ nhiều hơn nữa. Họ tưởng chết rồi là không còn đau khổ vì chuyện thế gian, nhưng chết xong rồi mới biết làm ma chết nước thật là cay đắng, còn khổ hơn những chuyện đau khổ trên đời. Họ mới hối hận thà trước kia chịu đựng nhẫn nhục mọi điều để được sống mà làm phước, hơn là bây giờ không làm được điều gì để giải nghiệp.
Chỉ có những anh hùng tuẫn tiết vì đại sự thì không bị làm ma chết nước mà có thể tự tại đi nơi này nơi kia theo ý muốn của mình. Những người nhảy xuống nước cứu người để rồi chính mình lại bị chết đuối sau đó thì không bị ràng buộc dưới nước mà lại được phước sinh về cõi lành.
Còn những chúng sinh chết nước vì tai nạn đều bị ràng buộc rất lâu. Đó là do xưa kia họ cứ muốn dìm ai dưới nước. Bây giờ quả báo hiện ra là họ không đi đâu ra khỏi nước được.
Chúng ta cũng nghe danh từ dân gian “hà bá”. Đó là một viên chức nhỏ cai quản một vùng sông nước nào đó. Họ thường buộc các vong linh mới chết phải làm công việc coi ngó một khúc sông. Chỉ khi nào có người khác thay thế thì vong linh cũ mới được tự do rời đi.
Vì thương xót cho nỗi đau khổ của các chúng sinh mắc nghiệp chết nước nên chúng tôi soạn bài sám này để cầu giải nghiệp cho họ. Kính mong quý Tăng Ni và Phật tử ở gần vùng sông nước nên thỉnh thoảng ra bờ sông, bờ biển để tụng cầu siêu cho các vong linh chết nước. Được như vậy thì thật là âm dương đôi đường đều lợi, sống chết hai ngã đều an.
Nguyện mười phương pháp giới chúng sinh đồng thành Phật đạo.
Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

       SÁM CẦU SIÊU
HƯƠNG LINH CHẾT NƯỚC

(Chuẩn bị hoa quả, bánh trái, cơm nước, thức ăn, nhang đèn và đứng nơi gần bờ sông, bờ biển để tụng cầu siêu cho các vong linh chết nước.)

NIỆM HƯƠNG

Nguyện đem lòng thành kính
Gởi theo đám mây hương
Phảng phất khắp mười phương
Cúng dường ngôi Tam bảo
Thề trọn đời giữ đạo
Theo Phật pháp làm lành
Cùng pháp giới chúng sinh
Cầu Phật từ gia hộ
Tâm Bồ đề kiên cố
Chí tu học vững bền
Xa bể khổ nguồn mê
Chóng quay về bờ giác

KỲ NGUYỆN

Hôm nay, đệ tử chúng con vân tập về đây thành tâm trì tụng kinh “Sám cầu siêu cho những hương linh chết nước” nguyện mười phương chư Phật, chư Bồ Tát, chư Hộ Pháp phóng quang tiếp dẫn cho các hương linh đang chịu nhiều đau khổ vì mắc nghiệp chết nước về đây, thọ thực no đủ, nghe thấu lời kinh, phát khởi tâm thành quy y Tam Bảo, tinh tấn tu hành cùng tất cả chúng sinh đều trọn thành Phật đạo.
Nam Mô Siêu Lạc Độ Bồ Tát (3 lần)

CÚNG HƯƠNG
Giới hương, định hương, dữ huệ hương
Giải thoát, giải thoát, tri kiến hương
Quang minh vân đài biến pháp giới
Cúng dường thập phương Tam bảo tiền.
Nam Mô Hương Cúng Dường Bồ Tát (3 lần)

TÁN THÁN PHẬT

Đấng Pháp vương vô thượng
Ba cõi chẳng ai bằng
Thầy dạy khắp trời người
Cha lành chung bốn loại
Nay con nguyện quy y
Diệt trừ vô lượng tội
Dâng lên lời tán thán
Ức kiếp vẫn không cùng
Phật chúng sanh tánh thường rỗng lặng
Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn
Lưới đế châu ví đạo tràng
Mười phương Phật bảo hào quang sáng ngời
Trước bảo tòa thân con ảnh hiện
Cúi đầu xin thệ nguyện quy y.

LỄ PHẬT
• Chí tâm đảnh lễ: Nam mô khắp mười phương hư không tất cả Chư Phật (1 lạy)
• Chí tâm đảnh lễ: Nam mô khắp mừời phương hư không tất cả Chánh Pháp (1 lạy)
• Chí tâm đảnh lễ: Nam mô khắp mười phương hư không tất cả Hiền Thánh Tăng (1 lạy)

KHAI KINH

Pháp vi diệu rất sâu vô lượng
Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu
Con nay nghe được xin trì tụng
Nguyện hiểu Như Lai nghĩa nhiệm mầu.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần)

SÁM HỐI CHO HƯƠNG LINH
Thầy chủ lễ xướng:
Hương linh:……………………….
Đại chúng hòa theo:
Từ trước lỡ tạo nhiều ác nghiệp
Vì tham sân si mạn gây nên
Phát ra lời nói với việc làm
Hôm nay hương linh xin sám hối
Nam Mô Cầu Sám Hối Bồ Tát (3 lần, 3 lạy)

LẠY PHẬT QUY Y CHO HƯƠNG LINH
Thầy chủ lễ xướng:
Hương linh: ……………………..
Đại chúng hòa theo
Chí thành đảnh lễ mười phương Phật
Trí tuệ Từ bi che khắp nơi
Công đức thần oai trùm ba cõi
Cha lành Thầy dạy cả trời người
Hương linh với trọn lòng tôn kính
Muôn kiếp ngàn đời nguyện Quy y
Thân tâm từ đây cúng dường Phật
Vâng theo Chánh pháp để tu trì.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (1 lạy)
Nam Mô Đại Từ Di Lặc Tôn Phật (1 lạy)
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát (1 lạy)
Nam Mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát (1 lạy)
Nam Mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát (1 lạy)
Nam Mô Đại Lực Đại Thế Chí Bồ Tát (1 lạy)
Nam Mô Mười Phương Tất Cả Chư Phật Bồ Tát Hiền Thánh Tăng (1 lạy)

Tụng tiếp:

Quy y Phật rồi quy y Pháp
Lời dạy sâu mầu của Như lai
Khiến người lìa mê và thoát khổ
Chân lý muôn đời không đổi thay
Hương linh từ đây tôn kính Pháp
Trì tụng, khắc ghi để thực hành
Và nguyện ngàn sau muôn kiếp tới
Pháp lành đem độ khắp nơi nơi.

Nam Mô Phật Đà Vô Lượng Vô Biên Chánh Pháp (1 lạy)
Nam Mô Tam Thế Như Lai Tứ Diệu Đế Kinh (1 lạy)
Nam Mô Tam Thế Như Lai Bát Chánh Đạo Kinh (1 lạy)
Nam Mô Mười Phương Chư Phật Tứ Vô Lượng Tâm Kinh (1 lạy)
Nam Mô Mười Phương Chư Phật Vô Ngã Tối Thắng Kinh (1 lạy)
Nam Mô Mười Phương Chư Phật Bát Nhã Siêu Việt Kinh (1 lạy)
Nam Mô Mười phương Hiền Thánh Lưu Truyền Chân Chính Giáo Ngôn (1 lạy)

Tụng tiếp :

Quy y Pháp rồi quy y Tăng
Những vị xuất gia hành đúng pháp
Thay Phật giáo hoá giữa cuộc đời
Trí tuệ Từ bi như trăng tỏ
Hương linh từ đây tôn kính Tăng
Thường theo các chùa để nghe Pháp
Âm thầm ủng hộ chốn già lam
Yên ổn tu hành không chướng nạn.

Nam Mô Ma Ha Ca Diếp Đại Thánh Tăng (1 lạy)
Nam Mô Xá Lợi Phất Đại Thánh Tăng (1 lạy)
Nam Mô Mục Kiền Liên Đại Thánh Tăng (1 lạy)
Nam Mô A Nan Đà Đại Thánh Tăng (1 lạy)
Nam Mô Bồ Đề Đạt Ma Tổ Sư (1 lạy)
Nam Mô Điều Ngự Giác Hoàng Tổ Sư (1 lạy)
Nam Mô Hư Vân Đại Lão Thiền Sư (1 lạy)
Nam Mô Thập Phương Tam Thế Hiền Thánh Tăng (1 lạy)

CẦU SIÊU CHO HƯƠNG LINH
Kính lạy Phật từ bi cứu khổ
Phát thần oai tế độ chúng sinh
Năm xưa vương vấn tội tình
Bỏ thân chết dưới dòng xanh nước đầy
Bao năm tháng đọa đày khổ sở
Đêm mùa đông lạnh giá khôn nguôi
Bơ vơ đói kém chưa vơi
Lạc loài nhìn thấy dòng đời chảy xuôi

Theo bờ bụi sống chui sống rúc
Dưới gầm cầu lúc đục lúc trong
Cùng bèo trôi dạt lông bông
Gió to mưa lớn biển sông hãi hùng
Có khi chết nơi dòng nước thối
Chịu xiết bao rác rưởi tanh hôi
Khổ sầu chưa phút nào thôi
Nghiệp ràng buộc chặt chẳng dời đi đâu
Có khi chết biển sâu sóng cả
Thân nát tan tôm cá rỉa ăn
Dập dềnh theo sóng trôi lăn
Không bờ không bến nhọc nhằn điêu linh
Có khi tự gieo mình xuống nước
Cứ tưởng rằng chết được là yên
Nào ngờ cái chết tự quyên
Còn thê thảm gấp bội lần trước đây.
Nghiệp chết nước thật đầy cảnh tội
Do thuở xưa lầm lỗi gây nhân
Bây giờ sám hối ăn năn
Cầu xin Phật tổ ân cần thứ tha.
Hương linh nguyện thiết tha theo Phật
Lòng chí thành chuyên nhất quy y
Thênh thang đạo lộ từ bi
Mục tiêu Vô ngã bước đi đến cùng.

Vâng lời Phật mở lòng thương quý
Đến vạn loài pháp giới chúng sinh
Mong cho tất cả sinh linh
Thoát vòng khổ nạn, yên bình hân hoan
Hương linh nguyện muôn ngàn kiếp tới
Lòng không màng danh lợi thế gian
Tránh xa thù hận bạo tàn
Vượt qua ích kỷ dối gian tị hiềm.

Đối với Phật một niềm tôn kính
Giữ thân tâm chân chính cúng dường
Nghìn đời chỉ một con đường
Hướng về giác ngộ, hoằng dương đạo mầu
Nhờ Phật lực thẳm sâu rộng lớn
Đưa hương linh về chốn thanh lương

Xa lìa cảnh khổ thảm thương
Từ nay thệ nguyện kiên cường tiến tu.
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát (21 lần)

PHỤC NGUYỆN

Hôm nay, đệ tử chúng con vì chúng sinh bị mắc nghiệp chết nước mà trì tụng kinh này, nguyện mười phương chư Phật, chư Bồ Tát, chư Hộ Pháp gia hộ cho các chúng sinh bị đọa ở chốn này sớm thoát tội khiên, quy y Tam Bảo, khởi được Từ tâm, tạo công đức lành để hưởng phước nhơn thiên và tiến tu giải thoát.
Nguyện cho tất cả chúng sinh đều tin theo Phật Pháp, tránh xa điều ác, làm các việc lành, huân tu đạo đức, tinh tấn thiền định, tất cả đều thành tựu vô thượng Bồ Đề viên mãn chánh giác.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

TAM QUY Y

• Tự quy y Phật nguyện cho chúng sanh hiểu sâu đạo cả phát tâm vô thượng (1 lạy)
• Tự quy y Pháp nguyện cho chúng sinh thấu rõ kinh tạng trí tuệ như biển (1 lạy)
• Tự quy y Tăng nguyện cho chúng sinh tâm ý hòa hợp biết thương mến nhau (1 lạy)

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Một 4, 2010 in Phật Giáo, Thích Chân Quang

 

Thẻ: ,

Quy Y Tăng là gì? – TT Thích Chân Quang

Quy Y Tăng là gì ?

                                                          Thích Chân Quang

Tăng là những người xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình và xem tất cả chúng sinh là gia đình của mình. Đây là ý nghĩa người Tăng lý tưởng, đúng nghĩa mẩu mực. Tại sao chúng ta phải tôn kính những vị Tăng tu hành chân chính? Vì các vị là những người dành trọn cả cuộc đời cho đạo, họ có thời gian học và thực hành lời Phật dạy, nên họ có kinh nghiệm hơn chúng ta. Chúng ta tôn thờ Phật, tôn thờ Pháp, nhưng giáo pháp của Phật mênh mông như biển cả, vời vợi như núi cao mà vi tế sâu sắc như hang sâu, vực thẳm. Chúng ta không thể hiểu dể dàng nếu không được nghe giải thích bởi những vị tu hành có kinh nghiệm. Do đó nhờ những vị tăng tu hành xuất gia có kinh nghiệm mà chúng ta được nghe giải thích lời Phật dạy một cách thấu đáo, những chi tiết phù hợp Vì tâm tính, ngôn ngươ, thời đại chúng ta đang sống và nhờ vậy chúng ta thấm nhuần được giáo Pháp của Phật. Dù chúng ta một lòng tôn thờ Phật, tôn thờ Pháp, nhưng nếu không có chư Tăng sống động giửa thế gian này thì chúng ta không thể nào đến với Phật Pháp được. Sức mạnh của đạo Phật chúng ta dựa vào đạo lý chứ không dựa vào tổ chức chặt chẽ như nhiều tôn giáo khác. Vì vậy ở vào những thời đại có những bậc chân sư xuất hiện thì đạo Phật được hưng thịnh, nếu ở vào thời đại nào không có những bậc chân sư khai thông đạo lý thì đạo Phật lại suy tàn. Vì sức mạnh dựa trên đạo lý, mà đạo lý dựa vào những bậc xuất gia chân chính, do đó giá trị của chư tăng, giá trị của người đem cả cuộc đời này sống vì đạo, thực hành đạo là vô cùng quý giá. Vì thế chúng ta cũng phải Quy Y Tăng và phải biết đặt lên đó lòng tôn kính vô bờ bến.

Khi chúng ta đã Quy Y Tăng, ngoài thầy bổn sư của chúng ta, chúng ta cũng phải tôn thờ 10 phương tăng, tất cả các vị tu hành chân chính.

Và khi đã Quy Y Tăng, chúng ta không được giao lưu gần gủi với những bạn ác, thầy tà, nghĩa là những người có tâm hạnh không tốt, đạo đức không tốt dù họ có năng lực, uy quyền.

Vì ở nơi những người này chúng ta sẽ không học được những điều tốt đẹp, sẽ không tạo thêm được công đức trên con đường tu hành của chúng ta. Chỉ khi nào đạo lực của chúng ta vững vàng, chúng ta có khả năng giáo hoá họ thì chúng ta mơi đến những người xấu đó để giáo hoá. Còn trong khi đang nương tựa học hỏi, chúng ta nên tránh những người thầy tà, bạn ác.

                                                                Thích Chơn Quang (Chùa Phật Quang)

ĐỌC THÊM

Thử Phân Tích Một Đoạn Văn của André Masson (Trần Chung Ngọc)
Trả Lời Ông Lưu Á Ni (Trần Chung Ngọc)
Tôi Đọc “Đất Việt” & “Hành Hương Đất Phật” của Phan Thiết (Trần Chung Ngọc)
Tôi Đọc BS Ngyễn Thị Thanh Trả Lời Câu Hỏi Don Lê… (Trần Chung Ngọc)

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Mười Hai 19, 2009 in Phật Giáo, Thích Chân Quang

 

Thẻ: ,

Quy Y Phật là gì ? – Thích Chân Quang

Quy Y Phật là gì ?

                                                  Tỳ Kheo Thích Chân Quang

Phật là ai? Phật được dịch nghĩa là Đấng giác ngộ. Đấng giác ngộ là ai ? Từ vô lượng kiếp xưa, Ngài cũng là người như mọi người mà kiếp cuối cùng trở thành Đức Phật còn gọi là Phật Thích Ca. Nhưng trong vô lượng kiếp, Ngài đã sống với lòng từ bi vô lượng, luôn luôn thương yêu trất cả chúng sinh và làm lợi ích cho chúng sinh không bao giờ mệt mỏi. Song song với việc sống, với lòng từ bi và làm lợi ích cho chúng sinh, Ngài luôn luôn nổ lực trong việc thực hành Thiền định. Hai yếu tố Thiền định và lòng từ bi đã tạo thành công đức tích lủy từ kiếp này sang kiếp khác cho đến vô lượng kiếp như vậy. Và ở duyên cuối cùng, nơi quả vị chín muồi này, Ngài đã trở thành một Đấng giác ngộ. Đôi khi chúng ta hiểu một cách đơn giản như vậy, nhưng thật ra sự giác ngộ này chứa đựng một giá trị tâm linh vô cùng to lớn. Chúng ta không thể dùng ngôn từ của thế gian để diển tả cho sự giác ngộ tột cùng này. Khi vô minh hoàn toàn chấm dứt, trí tuệ bừng sáng, Ngài đủ sức mạnh thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử, không một nghiệp lực nào có thể chi phối buộc Ngài phải trầm luân trở lại. Nơi sự giác ngộ này, cái chấp ngã kiên cố ngàn đời tan vở và biến mất, tâm Ngài phủ trùm vạn vật, trở thành chung đồng, chan hoà với tất cả chúng sinh. Cho nên ý nghĩa của sự giác ngộ này thật lớn lao vĩ đại, mà những ngôn từ bình thường của thế gian chỉ có thể gợi ý cho chúng ta chứ không thể nào diển tả đầy đủ được. Tuy Ngài đã giác ngộ, nhưng ở thế giới loài người đã ít biết đến Ngài trừ một số ít người có duyên với Ngài. Nhưng trong mười phương cỏi khác tất cả đều tôn vinh, ca ngợi, xưng tụng Ngài là Đấng chánh giác, là chổ dựa, là bậc Thầy của tất cả chúng sinh. Ở đây chúng ta thấy rỏ điều này, Đức Phật không phải là một vị thần linh từ một cỏi nào đến để có thể ban phước, giáng họa, Đức Phật cũng không phải là một Thượng đế đã tạo nên tất cả. Trong đạo Phật không co khái niệm thần quyền, tức là thượng đế đã tạo nên tất cả. VỚI sao? VỚI Đức Phật dạy rất kỹ rằng tất cả mọi điều đều do nhiều nhân duyên, do nhiều yếu tố hợp thành. Không có điều gì tự trở thành nên không hề có điều gọi là Đấng Thượng đế để có thể tạo nên tất cả. Do đó lời Đức Phật nói rất phù hợp với sự tiến bộ của khoa học. Hàng ngàn năm trôi qua, khoa học càng tiến bộ, thì lời nói của Đức Phật càng được chứng minh là đúng. Hầu hết các tôn giáo khác đều tin vào thần quyền, các tín đồ cho rằng có một đấng sáng tạo đã tạo ra tất cả, còn Đức Phật là con người, không phải là đấng sáng tạo nên không có gì cao siêu. Chúng ta không tranh cải hơn thua mà chỉ mỉm cười với điều gọi là đấng sáng tạo thật ra chỉ là huyền thoại chứ không thể nào có thật. Vì sao? Vì nếu có một đấng sáng tạo thì không lẽ đấng đó  tạo nên sự đau khổ cho con người như: chiến tranh, bệnh tật, thiên tai, và tội lổi trong lòng con người. Và không thể có một đấng toàn năng nào tạo ra tất cả bằng một cách rất hoàn hảo, có thể nói là ác độc. Do đó chúng ta vũng tin vào lý nghiệp duyên, trong đó tâm lý chúng sinh chính là khởi điểm tạo nên rất nhiều điều trong thế gian này. Và khi chúng ta Quy Y Phật, nghĩa là Quy Y Đấng giác ngộ, là đấng từ một chúng sinh, là một con người trở thành tuyệt đối. Như vậy không có một Đức Phật duy nhất cho toàn thể vuơ trụ mà bất cứ ai đi đúng như con đường Đức Phật dạy đều có thể chứng đạt được, đều trở thành tuyệt đối như Đức Phật. Và đây là một giá trị nhân bản mà không có một triết thuyết tôn giáo nào bằng hoặc hay hơn được. Điểm giá trị cao nhất ở Đấng giác ngộ không phải là một người duy nhất mà mở rộng cho tất cả chúng sinh, cho bất cứ người nào tìm thấy được chân lý, sống hợp, sống đúng với chân lý.

Nơi ý nghĩa Quy Y Phật, chúng ta được dạy rằng từ đây không được tôn thờ tà thần quỹ vật, nghĩa là khi đến đình miếu thờ các vị thần, chúng ta không được xem như đấng mình phải tôn kính tuyệt đối. Chúng ta chỉ cúi đầu đảnh lể trước sự giác ngộ, trước những con người đã giác ngộ, hoặc đang đi trên con đường giác ngộ, giải thoát chứ không cúi đầu đảnh lể trước một người không đi đúng con đường giải thoát , dù đó là một vị thần linh có quyền năng ban phước, giáng hoạ. Chúng ta không sợ hải họ dù chúng ta vẩn kính trọng họ, nhưng chúng ta chỉ kính trọng như kính trọng mọi người trong cuộc sống này, chỉ là tôn trọng chứ không phải tôn thờ. Đó là điều chúng ta được dặn khi Quy Y Phật.

                                                                            Tỳ Kheo Thích Chân Quang

Đọc Thêm

Lại Chuyện Bất Đắc Dĩ về Nguyễn Văn Lục
Lại Chuyện Bất Đắc Dĩ Về Tiến Sĩ Nguyễn Học Tập (Trần Chung Ngọc)
Lại Chuyện Bất Đắc Dĩ về Tú Gàn (1)
Lại Chuyện Bất Đắc Dĩ về Tú Gàn (2)
Lại Chuyện Ruồi Bu của Trần Trung Đạo (Trần Chung Ngọc)

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Mười Hai 19, 2009 in Phật Giáo, Thích Chân Quang

 

Thẻ: , ,

Quy Y Phật là gì ? -TT Thích Chân Quang

Quy Y Phật là gì ?

                                                  Tỳ Kheo Thích Chân Quang

Phật là ai? Phật được dịch nghĩa là Đấng giác ngộ. Đấng giác ngộ là ai ? Từ vô lượng kiếp xưa, Ngài cũng là người như mọi người mà kiếp cuối cùng trở thành Đức Phật còn gọi là Phật Thích Ca. Nhưng trong vô lượng kiếp, Ngài đã sống với lòng từ bi vô lượng, luôn luôn thương yêu trất cả chúng sinh và làm lợi ích cho chúng sinh không bao giờ mệt mỏi. Song song với việc sống, với lòng từ bi và làm lợi ích cho chúng sinh, Ngài luôn luôn nổ lực trong việc thực hành Thiền định. Hai yếu tố Thiền định và lòng từ bi đã tạo thành công đức tích lủy từ kiếp này sang kiếp khác cho đến vô lượng kiếp như vậy. Và ở duyên cuối cùng, nơi quả vị chín muồi này, Ngài đã trở thành một Đấng giác ngộ. Đôi khi chúng ta hiểu một cách đơn giản như vậy, nhưng thật ra sự giác ngộ này chứa đựng một giá trị tâm linh vô cùng to lớn. Chúng ta không thể dùng ngôn từ của thế gian để diển tả cho sự giác ngộ tột cùng này. Khi vô minh hoàn toàn chấm dứt, trí tuệ bừng sáng, Ngài đủ sức mạnh thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử, không một nghiệp lực nào có thể chi phối buộc Ngài phải trầm luân trở lại. Nơi sự giác ngộ này, cái chấp ngã kiên cố ngàn đời tan vở và biến mất, tâm Ngài phủ trùm vạn vật, trở thành chung đồng, chan hoà với tất cả chúng sinh. Cho nên ý nghĩa của sự giác ngộ này thật lớn lao vĩ đại, mà những ngôn từ bình thường của thế gian chỉ có thể gợi ý cho chúng ta chứ không thể nào diển tả đầy đủ được. Tuy Ngài đã giác ngộ, nhưng ở thế giới loài người đã ít biết đến Ngài trừ một số ít người có duyên với Ngài. Nhưng trong mười phương cỏi khác tất cả đều tôn vinh, ca ngợi, xưng tụng Ngài là Đấng chánh giác, là chổ dựa, là bậc Thầy của tất cả chúng sinh. Ở đây chúng ta thấy rỏ điều này, Đức Phật không phải là một vị thần linh từ một cỏi nào đến để có thể ban phước, giáng họa, Đức Phật cũng không phải là một Thượng đế đã tạo nên tất cả. Trong đạo Phật không co khái niệm thần quyền, tức là thượng đế đã tạo nên tất cả. VỚI sao? VỚI Đức Phật dạy rất kỹ rằng tất cả mọi điều đều do nhiều nhân duyên, do nhiều yếu tố hợp thành. Không có điều gì tự trở thành nên không hề có điều gọi là Đấng Thượng đế để có thể tạo nên tất cả. Do đó lời Đức Phật nói rất phù hợp với sự tiến bộ của khoa học. Hàng ngàn năm trôi qua, khoa học càng tiến bộ, thì lời nói của Đức Phật càng được chứng minh là đúng. Hầu hết các tôn giáo khác đều tin vào thần quyền, các tín đồ cho rằng có một đấng sáng tạo đã tạo ra tất cả, còn Đức Phật là con người, không phải là đấng sáng tạo nên không có gì cao siêu. Chúng ta không tranh cải hơn thua mà chỉ mỉm cười với điều gọi là đấng sáng tạo thật ra chỉ là huyền thoại chứ không thể nào có thật. Vì sao? Vì nếu có một đấng sáng tạo thì không lẽ đấng đó  tạo nên sự đau khổ cho con người như: chiến tranh, bệnh tật, thiên tai, và tội lổi trong lòng con người. Và không thể có một đấng toàn năng nào tạo ra tất cả bằng một cách rất hoàn hảo, có thể nói là ác độc. Do đó chúng ta vũng tin vào lý nghiệp duyên, trong đó tâm lý chúng sinh chính là khởi điểm tạo nên rất nhiều điều trong thế gian này. Và khi chúng ta Quy Y Phật, nghĩa là Quy Y Đấng giác ngộ, là đấng từ một chúng sinh, là một con người trở thành tuyệt đối. Như vậy không có một Đức Phật duy nhất cho toàn thể vuơ trụ mà bất cứ ai đi đúng như con đường Đức Phật dạy đều có thể chứng đạt được, đều trở thành tuyệt đối như Đức Phật. Và đây là một giá trị nhân bản mà không có một triết thuyết tôn giáo nào bằng hoặc hay hơn được. Điểm giá trị cao nhất ở Đấng giác ngộ không phải là một người duy nhất mà mở rộng cho tất cả chúng sinh, cho bất cứ người nào tìm thấy được chân lý, sống hợp, sống đúng với chân lý.

Nơi ý nghĩa Quy Y Phật, chúng ta được dạy rằng từ đây không được tôn thờ tà thần quỹ vật, nghĩa là khi đến đình miếu thờ các vị thần, chúng ta không được xem như đấng mình phải tôn kính tuyệt đối. Chúng ta chỉ cúi đầu đảnh lể trước sự giác ngộ, trước những con người đã giác ngộ, hoặc đang đi trên con đường giác ngộ, giải thoát chứ không cúi đầu đảnh lể trước một người không đi đúng con đường giải thoát , dù đó là một vị thần linh có quyền năng ban phước, giáng hoạ. Chúng ta không sợ hải họ dù chúng ta vẩn kính trọng họ, nhưng chúng ta chỉ kính trọng như kính trọng mọi người trong cuộc sống này, chỉ là tôn trọng chứ không phải tôn thờ. Đó là điều chúng ta được dặn khi Quy Y Phật.

                                                                                    Tỳ Kheo Thích Chân Quang

16. Nhớ Cội Nguồn
Download

17. Pháp Cụ 04
Download

18. Pháp Cụ 11
Download

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Mười Hai 18, 2009 in Bài Giảng, Thích Chân Quang

 

Thẻ: ,

TT Thích Chân Quang và các đối tượng chống phá

TT THÍCH CHÂN QUANG @ NHỮNG ĐỐI TƯỢNG CHỐNG PHÁ

                                                           HOÀNG CHƯƠNG

Vì sao tôi bỏ thời giờ để bàn đến chuyện cá nhân của một Tu sĩ Phật giáo? Vì tôi thực sự có cảm tình với những Phật sự mà TT Chân Quang đã làm trong nhiều năm qua. Nhắc đến tên TT Chân Quang có thể không lạ đối với đa số tín đồ Phật giáo tại Việt nam. Qua nhiều năm tích cực trong công việc hoằng pháp, hiện nay Thượng Tọa đã cho xuất bản hơn 600 đề tài thuyết giảng bằng đĩa hình VCD, DVD có phụ đề nhiều ngôn ngữ (con số, theo lời của Đại Đức Thích Thiện Thọ – Đoàn giảng sư TW, trong 1 CD nói chuyện tại Chùa Phật Quang). Việc ghi âm, ghi hình các bài thuyết giảng và phổ biến rộng rãi trong quần chúng Phật tử là một hình thức hoằng pháp hiệu quả mà từ trước đến nay ít Vị tôn túc suy nghĩ đến.

Nhưng nội dung trong các đề tài thuyết giảng của TT Chân Quang là gì? Theo những đề tài mà tôi đã có dịp nghe, nội dung chủ yếu là truyền tải những lời dạy trong Kinh Phật đến với bà con Phật tử. Thông qua việc ghi hình, ghi âm, những đề tài này cũng được minh họa bằng hình ảnh sinh động liên quan đến chủ đề Phật pháp, kèm theo những đoạn âm giảng nghĩa Kinh Phật theo cách của Thượng Tọa.

Với cách làm việc, cách hoằng pháp mang tính xã hội cao này, những bài giảng Kinh của Thượng Tọa đã được nhiều lứa tuổi, nhiều giới Phật tử tại Việt nam tiếp nhận một cách tích cực. Đối tượng tiếp nhận, nghiên cứu những đề tài thuyết giảng của Thượng Tọa Chân Quang gồm những ai? Theo như tôi biết được, gần như mọi giới trong xã hội, từ Bác nông dân ở miền quê, từ các Má buôn bán nhỏ ngoài chợ, từ các anh chị công nhân, từ các bạn sinh viên đến các anh công chức, cán bộ. Vậy, dù không có thiện cảm đi nữa, chúng ta cũng phải thừa nhận tính hiệu quả trong công tác hoằng pháp của TT Chân Quang.

Ngoài những lời truyền tải Kinh Phật đến với bà con Phật tử, thông qua các đề tài thuyết giảng, TT Chân Quang cũng có đề cập đến nhiều vấn đề xã hội có tính nhạy cảm. Những vấn đề nhạy cảm là giới hạnh của Tu sĩ; kêu gọi Phật tử yêu nước, tuân thủ pháp luật; nhắc đến lịch sử và truyền thống văn hóa dân tộc; bảo vệ truyền thống Phật giáo tại Việt nam, . . .

Những nội dung này chắc đã là trái ý một số đối tượng nhất định, đó là: số tu sĩ thiếu nghiêm túc; những người còn bất mãn chế độ hiện tại tại Việt nam; thế lực phản động người Việt; thế lực ngoại quốc muốn gây xáo trộn an ninh xã hội tại Việt nam.

Xem lại lịch sử nước nhà, ta thấy, khi quân xâm lược Tàu đặt ách đô hộ lên nước Việt ta, bọn họ liền có kế hoạch thủ tiêu truyền thống văn hoá bản địa bằng cách đập phá, tiêu huỷ các công trình văn hóa, văn vật mang tính lịch sử, giết hại hoặc bắt cóc về Tàu những vị anh hùng tài giỏi, yêu nước. Cũng vậy, khi Tây chuẩn bị xâm chiếm và đặt ách đô hộ lên nước ta, họ đã đưa nhiều đội quân tiên phong truyền đạo, truyền một loại tôn giáo làm công cụ văn hóa tư tưởng cho thực dân. Thông qua thế lực súng đạn, Tây đã xóa sổ một số Chùa chiền và xây dựng lên đó những Nhà thờ cho riêng tôn giáo công cụ đó.

Như vậy, kêu gọi tinh thần yêu nước, gợi lại truyền thống dân tộc ắt đã làm trái lòng của vài thế lực ngoại quốc, ắt đã làm trái lòng  vài phe nhóm người Việt không muốn Việt nam bình ổn và phát triển.

Trở lại câu chuyện về TT Chân Quang. Cách đây vài hôm, có hai người đã giới thiệu tôi vào một trang web hải ngoại, một trang web mang danh Phật giáo. Tuy nhiên khi đọc, tôi thấy quá nhiều điều bất ổn. Đây là một trang web đội lốt Phật giáo, xây dựng nên chỉ một mục đích là bôi nhọ Thượng Tọa Chân Quang. Chủ nhân trang web này là ai, nếu có oán thù cá nhân với TT Chân Quang đi nữa cũng không thể bỏ công sức để làm một việc khá công phu như vậy. Vậy, đằng sau trang web này chắc chắn là một tổ chức chính trị nào đó, họ không muốn TT Chân Quang tiếp tục công việc mà Thượng Tọa đang làm. Vì những việc Thượng Tọa đang làm có ảnh hưởng đến kế hoạch, ý đồ gì đó của họ.

Như trên có đề cập, một thế lực chính trị muốn nô dịch quốc gia dân tộc Việt nam thì họ cần phải tiêu huỷ truyền thống văn hoá Việt nam, mai một niềm tự hào về lịch sử dân tộc và tinh thần yêu nước của người Việt. Phật giáo Việt nam, tôn giáo truyền thống của dân tộc, cũng không nằm ngoài số nạn nhân của ý đồ này.

Trong trang web mà tôi đã đề cập, đáng tiếc là có nhị vị Hòa Thượng Từ Thông & Huyền Tôn cùng tham gia chiến sự. Phải chăng nhị vị HT đã bị thế lực này thao túng như ông Võ Văn Ái đã thao túng vài vị bên GHPGTN? So về tuổi tác, TT Chân Quang chắc chắn thuộc thế hệ sau của nhị vị HT, vậy vì lợi ích gì mà nhị vị đi làm những việc trái ngoáy như vậy ?!

Qua sự việc này, TT Chân Quang cần có những động thái cần thiết hoặc phía GHPGVN cũng cần có những điều nghiên rỏ ràng và đưa ra kết luận nhằm làm sáng tỏ vấn đề. Phật giáo Việt nam có Tăng đoàn, Giáo hội, TT Chân Quang chắc chắn cũng nằm trong tổ chức đó. Vậy, GHPGVN cần thể hiện trách nhiệm của mình với Phật tử, cần thể hiện trách nhiệm của mình với đồng đạo, đồng tu.

Là một Phật tử, tôi mong rằng Phật giáo Việt nam, GHPGVN cần phải được tổ chức một cách quy cũ, biết thể hiện trách nhiệm với từng thành viên trực thuộc. Vì quý Ngài, trên danh nghĩa, cũng được tổ chức thành một Giáo hội danh chánh, ngôn thuận.

Muốn hồi sinh, muốn phát triển, PGVN cần phải biết đoàn kết nội lực.

Kính.

HoàngChương.  “Hoang Chuong” <hoangchuong911@gmail.com> April 27, 2008

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Mười Hai 4, 2009 in Quan điểm, Thích Chân Quang

 

Thẻ:

7 Câu Hỏi về Thiền

7 câu hỏi về Thiền

(Thượng toạ Thích Chân Quang giảng)

Câu 1: Tại sao phải ngồi thiền đúng tư thế, giữ thân mềm mại bất động?

Ta buộc phải ngồi đúng tư thế kiết già mà mười phương, ba đời Chư Phật đều ngồi như vậy. Vì sao? Vì đó là cấu trúc của tâm và sinh lý phù hợp cho việc nhiếp tâm trong tu tập Thiền định. Nếu đứng, không thể đứng lâu và không vững. Nếu nằm thì giải đãi. Ngồi là tư thế trung dung giữa đứng và ngồi, đảm bảo chịu đựng được lâu. Đó là nói về sự cố gắng. Ngoài ra, trong cái ngồi đó mình phải bắt kiết già để khóa chân lại, hai tay nắm lại giữa lòng, không bung ra, lưng phải thẳng cho nên hợp lại với nhau và phù hợp với sinh lý của não nhất, khiến cho não dễ dàng được thanh thản. Tất cả các thế ngồi khác,như khi ngồi bán già hoặc ngồi trên ghế…đều không thể hỗ trợ cho việc nhiếp tâm vào sâu. Tư thế kiết già đảm bảo khoảng cách từ lòng bàn chân đến não là thích hợp nhất, đảm bảo để máu từ tim lên não và xuống lòng bàn chân, điều này có tính khoa học.

Tại sao phải thẳng lưng? – Thầy chỉ nói một ý vắn tắt. Sau này mọi người đi dậy người ta thì phải nói nhiều hơn.

Giữ thân mềm mại bất động. Vì mọi hoạt động của thân đều liên quan đến não. Do đó nếu thân nhúc nhích thì não sẽ bị động. Phải giữ toàn thân mềm mại, bất động để não được thư giãn. Đó là điều bắt buộc. Mà nếu ta gồng thân thì sao? – Thì não sẽ căng thẳng. Bởi vậy ta buộc phải giữ thân mềm mại, bất động để não bất động, thư giãn. Sự thật, tu thân chính là tu tâm. Ở đây có một điều lạ, đó là nói “Thiền là điều phục tâm” nhưng có nhiều nơi tu thiền mà trực chỉ thẳng vào tâm, nắm cái tâm tu luôn. Không ngờ cái đi thẳng lại là cái sai, không bao giờ thành công. “Đi vòng một khắc, đi tắt một ngày”. Chính cái đi vòng, đi từ cái nền theo thiên nhiên đã bày ra mà ta làm chủ được cái tâm mình. Ta muốn đi thật cao thì ta phải bò xuống thật thấp, muốn đi thật xa thì hãy đi thật chậm. Cũng vậy, muốn điều phục tâm, ta hãy lo chuẩn bị, sửa soạn thân cho thật kỹ. Vì thế, giữ thân mềm mại bất động chính là giữ cho tâm mình bất động, yên lắng và thư giãn.

Câu 2: Tại sao khi ngồi thiền phải cảm giác toàn thân, an trú toàn thân?

Giống như mình hồi nhỏ, khi mình học toán thì diện tích hình chữ nhật là cái gì? Là dài x rộng, mình không biết tại sao. Nhưng khi mình lớn lên tới lớp 12 thì phải biết tại sao. Do đâu biết tại sao? Do ta học Tích phân. Giống như hồi nhỏ ta học diện tích hình tròn thì bằng bình phương bán kính nhân với số Pi. Cứ học thôi, không biết tại sao. Nhưng tới lớp 12, ta phải biết tại sao, khi ta được học môn Tích phân thì ta biết tại sao nó như thế.

Thì cũng vậy, khi ta mới đến học Thiền thì căn bản là biết rõ toàn thân. Biết rõ thân này là vô thường, bắt đầu biết hơi thở. Biết hơi thở vào, biết hơi thở ra rõ ràng và không điều khiển. Ta cứ học vậy thôi, từ từ tâm ta thanh tịnh. Từ từ phá vỡ hết những phiền não cấu trúc trong não ta, ta đi vào thanh tịnh. Nhưng ta không cần biết tại sao. Nhưng mà khi không biết tại sao thì trong lòng ta vẫn có cái gì đó hồ nghi nhỏ nhỏ. Còn khi ta biết tại sao như thế thì ta rất vững lòng ứng dụng pháp môn của mình.

Bây giờ Thầy giải thích. Mình sẽ hiểu được các pháp môn khac họ tu đúng chỗ nào, sai chỗ nào.

Theo sinh lý học về não của y học, ghi trong y văn, thì nguyên vùng vỏ não của chúng ta, mỗi vùng vỏ não gánh một bộ phận cơ thể. Toàn cơ thể phía dưới đều được phản ứng trên vỏ não. Ví dụ chân nằm ở đây, ngón chân nằm ở kia, gan, thận, phổi, lá nách, phổi, cánh tay, lưng, bụng, đùi đều nằm trên vỏ não. Bây giờ ta dùng kim chích vào vùng vỏ não đầu gối thì đầu gối đau liền mặc dù không đụng tới đầu gối.

Hoặc là có những người bị tật nguyền mà mất chân vì lý do tai nạn, họ cứ thấy bị ngứa ngón chân cái, nhưng mà có để gãi không? Ngón chân cái không có để gãi nhưng vẫn bị ngứa, thì cái ngứa đó ở đâu? Vì vùng não của ngón chân cái còn. Vùng não bị cái gì đó nên ngứa ,nhưng nó phản ánh toàn thân là có ngón chân cái mà rờ không có chỗ nào để gãi hết. Ta hiểu như vậy, vỏ não của ta phản ánh cơ thể của ta. Nó có chức năng, trách nhiệm phản ánh toàn cơ thể của ta. Tự nhiên, bình thường và bình yên như thế. Thế nào khi ta sống mà ta bị căng thẳng, khi ta sống mà ta được thư giãn? Tức là vỏ não làm việc đúng chức năng của nó.

Ví dụ như là phần vỏ não thể hiện về cánh tay của ta mà nó được an trú nơi cánh tay của ta thì nó là thư giãn, nó bình yên. Nếu vỏ não đó buộc nó phải suy nghiệm về vấn đề khác thì nó trở nên căng thẳng dần, gọi là tâm ta động. Ta mệt, ta phải làm việc. Khi não ta làm việc nghĩa là gì? Là nó không thực hiện đúng với cái chức năng tự nhiên của nó, bắt đầu nó phải động qua vấn đề khác. Nhiều ý niệm khác đi vào. Như cái vùng đó chịu trách nhiệm về lưng nhưng vây giờ nó không chịu trách nhiệm về lưng nữa mà lúc đó đang suy nghĩ về người hàng xóm, về việc hơn thua, cãi lẫy… là nó rời khỏi chức năng đó. Gọi là não ta bắt đầu đi vào Stress, căng thẳng. Còn nếu vùng não của cái lưng mà nó phản ánh đúng cái lưng, an trú đúng cái lưng thì nó trở nên nhẹ nhàng, bình yên. Đây là mấu chốt phải hiểu được chỗ này mới hiểu sâu hơn nữa vào Thiền từ từ.

Nói lại, một ví dụ khác. Ví dụ như một người canh trước Chánh Điện, họ ngồi đó, biết hết mọi vấn đề từ hồi nào tới giờ rồi, như là cửa trên có mấy phần, cửa dưới có mấy phân, ai đi ra đi vô đều biết hết. Nhưng bây giờ họ ngồi đó mà không cho họ canh Chánh Điện nữa, bắt họ ngồi đó tính toán kế toán của chùa, thì lúc đó họ phải mệt hơn. Còn bây giờ không tính toán, cho họ về đứng yên đó trở lại làm công việc đúng chức năng thì họ thoải mái, bình yên lại liền.

Từng vùng não phản ánh mọi điểm trên toàn thân chúng ta, đó là mấu chốt làm cho mình định hay động. Vì thế, khi ngồi thiền mà ta an trú toàn thân, ta không nghĩ chuyện khác nữa, có nghĩa là cái vỏ não bình yên. Nó trở lại trạng thái tự nhiên của nó. Đó là bước thứ nhất để đi về phía thư giãn chứ Thầy chưa nói định. Đó là lý do tại sao ngày xưa Đức Phật bảo ta là phải cảm giác toàn thân, là để cho vỏ não trở lại đúng chức năng từng vùng của nó. Đó là công thức bí mật vô cùng. Bây giờ ta mới thấy sợ Đức Phật. Thời đó Đức Phật không thể giải thích vì khoa sinh lý học của não chưa ra đời. Nên Đức Phật dậy ta rất kỹ về điều này mà không giải thích. Đến hàng ngàn năm sau cũng không ai giải thích được. Rồi người ta bỏ luôn cái thân, vì cứ nghĩ tu tâm là nắm tâm mà tu, không ngờ rằng thân chính là gốc của tâm.

Sự thật, khi tu hầu như không ai an trú toàn thân cho kỹ mà luôn luôn bị rời khỏi thân. Rất nhiều lần tâm ta bị rời khỏi thân. Có 3 lý do khiến tâm bị rời khỏi thân:

- Vọng tưởng kéo ta đi, hễ động tâm là rời khỏi thân liền. Nguyên nhân này người mới tu thường hay bị.

- Khi tâm ta bắt đầu yên, rỗng sáng làm cho ta thích thú, ta chiêm ngưỡng, ngắm và an trú trong đó, ta cũng bị rời khỏi thân. Người tu tốt cũng dễ bị mất cái thân, mà mất thân là mất cái gốc, rồi sẽ bị loạn trở lại. Nguyên nhân thứ hai này người tu lâu thường bị mắc phải, khi gặp trạng thái rỗng sáng, thích thú là bỏ thân để an trú trong đó. Mà trạng thái đó nằm trên đầu. Vì thế lâu dần lực sẽ từ từ chạy lên đầu gây Tẩu hỏa nhập ma, điên loạn.

- Do ta không xác định vững lập trường phải an trú toàn thân. Ta còn mơ hồ về công phu là phải an trú toàn thân, tức là tâm ta lúc nào cũng phải an trú trên da của ta, không rời khỏi da. Ta không xác định lập trường rõ ràng nên bất cứ chuyện gì cũng làm cho ta không an trú toàn thân đầy đủ, vững chắc, rõ ràng, đầy đủ. Cho nên nói biết rõ toàn thân thì cũng chỉ biết hơi hơi thôi. Tâm vẫn bị để ý chỗ này, chỗ kia nên không an trú tòan thân một cách vững chắc, rõ ràng. Nhưng đừng chặt chẽ vì chặt chẽ thành ra dằn ép, nghĩa là phải thật nhẹ nhàng nhưng kỹ lưỡng.

Câu 3: Khi nào vọng tưởng khởi lên ta phải làm gì?

Chỉ cần trở lại an trú toàn thân, chỉ như vậy, đơn giản vậy thôi. Thật ra, ta biết được vọng tưởng để trở lại an trú toàn thân là ta đã có phước rồi nên mới sực nhớ là ta đang bị vọng tưởng để mà trở lại an trú. Còn ta không có phước thì sao? – Ta cứ đi mãi đi mãi. Nên chỗ này là nhờ cái phước mà ta gây tạo từ đời xưa cho đến đời này, ta cẩn thận từng chút một trong ý nghĩ, trong đời sống, mà đến khi vọng tưởng khởi lên ta sực nhớ mà nhớ rồi thì bắt đầu mỗi pháp môn đi theo pháp môn của mình. Người niệm Phật thì quay lại niệm Phật, người tri vọng quay lại tri vọng, hơi thở quay lại hơi thở, thoại đầu quay lại thoại đầu. Mình thì quay lại an trú toàn thân.

Khi ta an trú toàn thân đúng rồi, ta sẽ thấy một điều tự nhiên thế này ( điều này khí công gợi ý cho ta) ta từ từ an trú nhiều ở nơi vùng da bụng. Nhưng vùng da bụng không phải là tất cả mà chỉ giống như là một sự chữa trị cho ta, lâu nay ta cứ để tâm trên đầu, mắt nhìn theo sắc, tai theo tiêng, mũi đắm theo hương, đầu ta chạy ra ngoài theo ngoại cảnh. Cho nên ta an trú toàn thân một thời gian thì từ từ ta an trú phần da bụng. Khi có kết quả Thiền định thì ta lại an trú toàn thân. Nhưng ban đầu, cái tự nhiên cả ta thường là an trú nơi bụng. Vì thế, lúc đầu ta tập khí công là để gợi ý điều đó. Khi mà tự nhiên cũng đạt như vậy.

Ta an trú toàn thân sẽ hết vọng tưởng. Đây là điểm khác nhau của ta và các pháp môn khác. Thân là gốc của tâm. Khi ta an trú thì thân sẽ rỗng suốt, nhẹ nhàng.

Câu 4: Tại sao phải biết thân vô thường và biết sâu xa, biết cho tới khi mà xương sau này sẽ tan thành bụi bay mất?

Khi ta biết toàn thân thì não ta bình an lại, thư giãn lại, nhẹ nhàng lại. Nhưng thẳm sâu bên trong thì những bản năng vẫn còn nguyên vẹn. Bản năng là những ham muốn của thân, những khát vọng của cuộc sống, những cái cố chấp của tâm nó tiềm tàng là do ta chấp thân. Vì khi ta biết thân thư giãn rồi nhưng ta vẫn quý cái thân thì toàn bộ cái chấp vẫn tồn tại và phát triển. Khi biết rõ toàn thân có thể làm ta quý cái thân này. Và đây chính là chỗ khác nhau giữa đạo Phật và ngoại đạo. Ngoại đạo tu, họ cũng biết thân. Họ biết cái luân xa này, cái luân xa kia để khai mở từng luân xa nhằm đạt được quyền năng, vì vậy họ quý thân. Ngang chỗ này là phân biệt ra đạo Phật với ngoại đạo liền. Tại sao khác nhau giữa Thiền và Yoga, khí công của ngoại đạo. Cũng là chỗ này. Ta biết thân, ta quý thân, ta biết huyệt này huyệt kia, ta trở thành ngoại đạo. Ta biết thân nhưng biết thân này là vô thường thì lần lần ta phá tan hêt những bản năng, những cố chấp trong thẳm sâu, trong tâm hồn mình, trong cuộc đời mình luôn.

Ví dự như thế này, Thầy nói một cái ngặt nghèo nhất của người tu là vấn đề ái dục. Ái dục nó là bản năng tự nhiên. Nó mãnh liệt ghê lắm, không có gì cản lại được. Nhưng nếu ta ngồi Thiền ta thấy thân vô thường thời gian dài dài… thì những cái đó mất. Bắt đầu ta mới thấy được cái như Đức Phật nói là ví dụ như một người nam nhìn một người con gái đẹp, ta không hề quán họ là vô thường, không hề quán họ là bất tịnh, không cần, ta chỉ quán chính ta. Ta chỉ quán chính ta là vô thường. Nhưng bây giờ người con gái đẹp xuất hiện là mìn nhìn ra: người này đẹp như thế nhưng rồi nhan sắc họ sẽ tàn phai, tánh tình họ sẽ thay đổi, họ nhăn nheo, già nua. Ngày hôm nay thấy vậy ngày hôm sau nhìn khác. Hôm nay nhìn thấy người dịu dàng, bóng áo nâu in trên đường trăng, nhưng ngày mai nhìn thành ác quỷ không hay. Mọi chuyện trên đời là vô thường, thay đổi.

Mà nhìn cái đó xuất hiện chính là do ta quán thân vô thường, khi cái bản năng của ham muốn hết thì mình nhìn vấn đề ra rất là rõ và nhìn trùng hợp như Đức Phật đã dạy trong kinh. Nên cái quán thân vô thường lâu ngày nó phá dần các bản năng của ta hết. Và trong cái không chấp thân đó sẽ mở ra những cánh cửa trí tuệ, đi sâu vào tâm thức, phá những thói hư tật xấu, những bản ngã của ta. Những cái ngày xưa ta tham bây giờ hết tham, những cái ngày xưa ta sân bây giờ hết sân. Rất là vi diệu. Cho nên Thầy nói bước thứ nhất mà biết rõ toàn thân làm cho não chúng ta trở lại đúng chức năng, thư giãn.

Và nếu ta không thấy thân vô thường, ta quý thân thì những bản năng tiềm tàng vẫn nằm trong đó. Tuy thư giãn mà trong người đầy tham muốn thì vẫn ẩn chứa một sự sa đọa dữ dội về sau. Còn ta biết rõ toàn thân, rồi biết thân vô thường thì nó mất dần và hết luôn. Mà cái biết toàn thân luôn đi đôi với thân vô thường. Biết vô thường là biết đến mức độ nào? – Là biết tới khi thấy xương tan thành bột bay đi mất luôn. Luôn luôn phải biết cho tới cái đó, chứ không được biết một cách cạn cợt. Biết như vậy mới phá được cái chấp sâu thẳm trong bản năng ta được. Khi mới bắt đầu, ta phải mất vài phút để quán cho thật kỹ nhưng sau này, chỉ thoáng một sát na thôi là sẽ thấy suốt quá trình đó liền.

Câu 5: Tại sao biết hơi thở mà không điều khiển?

( Bài trả lời ba câu hỏi tại sao?)

Khi thần kinh thở được hưng phấn thì những vùng thần kinh não khác tự nhiên đi vào ức chế. Nghĩa là khi ta chú ý thở tự nhiện thì não không động tâm vì những chuyện khác, tự nhiên nó vào định. Ngành y học và thần kinh não đã phát hiện ra điều đó, rất phù hợp với Thiền cùa đạo Phật, cũng như với Yoga và khí công của Trung Hoa. Nhưng Yoga của Ấn Độ và khí công của Trung Hoa đều thua Thiền của đạo Phật ở chỗ là Thiền của Đạo Phật chỉ biết hơi thở mà không điều khiển.

Hơi thở phản ánh hoạt động của tâm thức. Ví dụ như ta động tâm những vấn đề bình thường thì hơi thở nó sẽ thở như thế. Ta căng thẳng tập trung thì hơi thở nó sẽ mạnh như thế, nếu ta có thêm cảm xúc, sợ hãi, thương ghét, hơi thỏ sẽ càng thấy rõ hơn nữa. Tức là mọi hoạt động của tâm thức được biểu hiện qua hơi thở. Vì vậy, khi ta biết hơi thở tức là ta biết hoạt động tâm thức ta. Ta không cân nhìn trực tiếp vào tâm ta đang vui hay đang buồn mà chỉ cần biết hơi thở ra vào thế nào là ta đang biết tâm của ta. Khi thở nhẹ nhàng, bíết tâm đang yên dần, khi hơi thở mạnh, biết tâm đang động.

Bây giờ nói ta thấy hơi thở mạnh nên kìm lại cho tâm êm lại, được không? Đó chỉ là cách chữa trên ngọn. Giống như nói tay mình thiếu đường chỉ này nên nghèo, lấy dao cắt một cái cho nó giầu vậy. Cho nên, hơi thở là biểu hiện của tâm, nhưng không phải là ta ép, điều khiển hơi thở mà làm tâm hết vọng tưởng. Đúng là kiềm chế hơi thở thì tâm yên, nhưng một nguy cơ thứ hai phát sinh, đó là sự tăng trưởng bản ngã. Cái ý điều khiển hơi thở sẽ làm tăng trưởng ngã chấp. Nên người mà ta thấy họ tu điều khiển hơi thở trong khí công hay Yoga ta thấy bản ngã họ tăng lên dần dần.

Còn những người khi thấy hơi thở mạnh, liền biết tâm mình động. Chỉ cái biết đó thôi là như đã sám hối rồi, nên chỉ lát sau hơi thở tự dịu lại, ta không điều khiển. Như vậy, tâm thức cũng giảm động mà không tăng trưởng bản ngã. Cái ưu việt của việc biết mà không điều khiẻn hơi thở là làm tâm thức lắng xuống mà không làm tăng trưởng bản ngã. Mấu chốt nằm ở chỗ này. Đó chính là lý do mà tại sao Phật dậy ta: “Hơi thở dài biết dài, hơi thở ngắn biết ngắn, hơi thở ít biết hơi thở ít, hơi thở nhiều biết hơi thở nhiều”. Chỉ cái biết đó thôi là đã điều chỉnh được tâm thức, còn nếu ta điều khiển, bản ngã tăng trưởng dần dần liền.

Những điều sâu xa trong việc tu tập như thế này là ưu việt của đạo Phật. Chúng ta may mắn được làm đệ tử của Đức Phật, có nói thế nào cũng không bày tỏ được hết lòng biết ơn của chúng ta với Đức Phật.

Qua một thời gian tu tập thì ta được rỗng suốt từ thân tới tâm. Lúc đó, những vọng tưởng manh nha thì ta biết hết. Tới chỗ này mới biết được cái tri vọng của Hòa thượng Thanh Từ. Mỗi pháp môn giao nhau ở chỗ tri vọng. Tu đúng rồi vọng tưởng khởi biết liền. Nhưng dù biết vọng tưởng rồi, nhớ đừng rời khỏi thân vì lúc đó nó nhử ta.

Khi công phu của ta vững rồi, rỗng suốt rồi thì ta sẽ bị hai nhược điểm là lúc đó mình rời khỏi thân mình để chiêm ngưỡng sự rỗng rang đó. Lúc đó ta rời khỏi cái thân là ta vi phạm nguyên tắc căn bản thứ nhất. Nghĩa là sao? Là não của ta lúc đó không còn an trú đúng chỗ của nó nữa. ta nhì cái rỗng, không để ý cái thân nữa, bắt đầu sai.

Cái thứ hai nữa là ta thích thú, ta quan sát cái vọng tưởng vì nó nhớm nhớm rồi tan biết liền làm ta rất thích thú cái công phu đó. Vọng tưởng tế vừa mới phát triển, ta thấy là phải buông liền. lúc đó ta không rời thân để nhìn tâm. Nó sẽ dụ ta nên hãy nhớ là nhiều lúc xuất hiện trạng thái rỗng suốt rồi những vọng tưởng vi tế xuất hiện, ta thấy, ta phát hiện ngay từ đầu thì chớ dại mà bỏ thân mình. Tiếp tục biết rõ toàn thân, biết thân vô thường, biết hơi thở vào ra mà không điều khiển. Cứ như vậy mà đi, giống như mũi thuyền phía trước nhưng mình điều khiển thuyền thì mình cầm cái bánh lái đằng sau. Đừng thấy mũi thuyền đi phía trước qua những thác những ghềnh, những qua bãi hoa đẹp thì ta đi điều khiển mũi thuyền. Ta ta có biến chuyển qua bao nhiêu trạng thái thì kệ nó, ta chỉ cần biết thân. Biết thân vô thường, biết hơi thỏ vào ra mà không điều khiển.

Hôm nay, thầy trả lời câu này, cũng là nâng cấp lý luận rất lớn về công phu tu tập Thiền của chùa ta cho đại chúng hiểu như vậy.

( Bài trả lời bẩy câu hỏi về Thiền)

Khi ta an trú toàn thân thì ta còn hơi chấp thân, khi ta biết thân vô thường thì trong thẳm sâu của thân ta tự nhiên buông lỏng, buông chấp ra là nhẹ liền. An trú thân là an trú tâm rồi, nhưng mà mình biết thân vô thường thì mức an trú sâu hơn, làm ta lỏng tâm ra liền. Khi tâm bắt đầu thanh thảnh thì ta thấy hơi thở vào hơi thở ra. Lúc này khi biết hơi thở rồi thì luôn luôn tự nhiên nó phải điều khiển. Đó là bệnh tự nhiên của chúng sinh, khi điều khiển hơi thở thì ý chí tăng lên và bản ngã cũng tăng lên. Người tu tập nhiều mà có điều khiển hơi thở thì sinh ra nóng nẩy. Vì vậy, ta thấy hơi thở nhưng không điều khiển. Nhưng nếu chỉ biết hơi thở thôi là một sai lầm. Đây là cái sai của rất nhiều bậc đạo sư trên thế giới. Khi ta thấy hơi thở hiện ra và ta chỉ còn biết có một hơi thở mà quên mất cái thân, ta sai liền. Nói gì thì nói, ta vẫn có điều khiển, mà muốn không điều khiển thì phải biết rõ toàn thân, biết thân vô thường, trong đó có biết hơi thở thì lúc đó ta mới biết hơi thở vào ra một cách thanh thản, tự nhiên mà không điều khiển.

Câu 6: Trong đời sống hàng ngày nếu phải lao tác, sắp xếp, tính toán thì phải dụng công thế nào?

Nhiều người trả lời trật câu này, cứ tưởng trong đời sống ta phải làm phước hay đạo đức. Đó là căn bản của Thiền, không cần nói lại.

Bây giờ mọi người nhìn Thầy, hướng về Thầy thì tâm hướng về đâu? Tất nhiên là hướng về Thầy, nhưng mọi người phải để lại một cái tâm ở nơi cái thân cho Thầy, nhẹ nhàng biết là đang giữ tâm lại ở thân. Khi mình bước vào làm việc, hoặc nghe người ta nói chuyện, tai vẫn nghe, miệng vẫn nói chuyện nhưng vẫn có cái tâm ở lại nơi thân mình.

Trong đời sống hàng ngày, ta phải dụng công như thế. Trong sổ nhật trình, ta ghi ngày hôm nay, trong khi làm việc mình đã ở lại với thân mình được nhiều hay ít hay luôn luôn bị mất, bị gián đoạn, bị hoàn cảnh lôi kéo, tác động. Làm sao mà suốt ngày, khi ăn cơm, khi nói chuyện mình vẫn giữ được một cái tâm nơi thân cho mình. Còn khi không có việc gì hết thì sao? Thì an trú thân hoàn toàn, thanh thản. Và luôn biết thân vô thường, hễ biết toàn thân là phải biết thân vô thường. Nếu công việc căng thẳng thì có một cái tâm biết thân. Nếu công việc không căng thẳng thì thêm ý niệm thân vô thường, còn nếu không có công việc thì hơi thở hiện ra luôn, giống như lúc ngồi thiền. Khi ngủ cũng như vậy. Trước khi ngủ ta có vài tâm nguyện gì đó tùy mỗi người rồi an trú thân và thấy hơi thở vào ra không điều khiển.

Câu 7: Kết quả Thiền định bắt đầu từ đâu?

Kết quả bắt đầu từ đâu. Mà sự thật do tâm, tâm an đến mức độ nào đó thì kết quả hiện ra nơi thân. Ở câu này, ai tu tới đây thì sẽ biết, sau đó nói Thầy nghe. Thầy không nói. Ta nghe người nào nói họ tu Thiền đạt tâm thế này thế kia mà không nói về kết quả của thân, ta biết người này đi lạc hướng, không có căn bản.

                                                        THÍCH CHÂN QUANG (Phật Quang)

MỘT SỐ BÀI GIẢNG AUDIO CỦA TT THÍCH CHÂN QUANG

07. Giúp nhau sinh kế
Download

08. Đạo đức giao tiếp
Download

09. Hãy tự mình thắp đuốc mà đi
Download

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Mười Hai 4, 2009 in Phật Giáo, Thích Chân Quang

 

Thẻ: ,

 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.