RSS

Tag Archives: Thích Chân Quang

Nghi thức tang lể – Chùa Phật Quang

Trang 1 9 8 7 2 3 4 5 6 10 11 12 13 14 15

NGHI THỨC TANG LỄ
            ***
LỄ NHẬP LIỆM
NIỆM HƯƠNG

Nguyện đem lòng thành kính
Gửi theo đám mây hương
Phảng phất khắp mười phương
Cúng dường ngôi Tam Bảo
Thề trọn đời giữ đạo
Theo Phật Pháp làm lành
Cùng pháp giới chúng sanh
Cầu Phật từ gia hộ
Tâm Bồ Đề kiên cố
Chí tu học vững bền
Xa bể khổ nguồn mê
Chóng quay về bờ giác.

KỲ NGUYỆN :
Hôm nay ngày ….. tháng ….. năm ………. đệ tử chúng con thành tâm quỳ trước Phật đài tụng kinh cầu nguyện cho hương linh …………………………………….
Ngưỡng mong mười phương chư Phật, chư vị Bồ Tát phóng quang tiếp dẫn hương linh, quy y Tam Bảo, xả bỏ duyên trần, tu tập pháp lành, nương nhờ Phật lực để sớm vãng sanh về cõi an lạc.
Nguyện cầu tất cả chúng sanh đồng thành Phật đạo.
Nam Mô Siêu Lạc Độ Bồ Tát (3 lần)

CÚNG HƯƠNG
Giới hương, định hương, dữ huệ hương
Giải thoát, giải thoát tri kiến hương
Quang minh vân đài biến pháp giới
Cúng dường thập phương Tam Bảo tiền
Nam Mô Hương Cúng Dường Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần)
(đứng dậy cắm hương lên rồi chắp tay đứng thẳng tụng bài Tán Thán Phật hoặc hát bài Khúc Tán Ca Tôn Kính Phật)

KHÚC TÁN CA TÔN KÍNH PHẬT

Kính lạy Đấng Vô Thượng
Người là cành Hoa Sen
Nơi biển đời nhân thế
Người là nguồn thương yêu
Bao dung khắp muôn loài
Là mặt trời ban mai
Đem ánh sáng cho đời
Dựng lại niềm tin sâu
Nơi tăm tối u sầu.
Quỳ lạy bậc Chánh Giác
Thầy của khắp trời người
Lòng từ bi bao la
Cha lành chung bốn loài
Người là một đại dương
Mà con như giọt nước
Người là ngọn cao sơn
Mà con như hạt bụi.
Con xin đảnh lễ Người
Với trọn lòng thiết tha
Quy y và tôn kính
Xin đem trọn cuộc đời
Đi theo bước chân Người
Xa lìa bờ vô minh
Tìm về nơi giác ngộ
Xin theo trái tim Người
Để trải lòng thương yêu
Bao dung khắp muôn loài
Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật (2 lần)

TÁN THÁN PHẬT

Đấng Pháp Vương Vô Thượng
Ba cõi chẳng ai bằng
Thầy dạy khắp trời người
Cha lành chung bốn loại
Nay con nguyện quy y
Diệt trừ vô lượng tội
Dâng lên lời tán thán
Ức kiếp vẫn không cùng

Phật chúng sanh tánh thường rỗng lặng
Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn
Lưới đế châu ví đạo tràng
Mười phương Phật bảo hào quang sáng ngời
Trước bảo tòa thân con ảnh hiện
Cúi đầu xin thệ nguyện quy y

LỄ PHẬT
• Chí tâm đảnh lễ: Nam mô khắp mười phương hư không tất cả Chư Phật (1 lạy)
• Chí tâm đảnh lễ: Nam mô khắp mười phương hư không tất cả Chánh Pháp (1 lạy)
• Chí tâm đảnh lễ: Nam mô khắp mười phương hư không tất cả Hiền Thánh Tăng (1 lạy)

TÁN LƯ HƯƠNG

Hương trầm thơm đốt
Xông thấu mười phương
Lòng thành dâng cúng
Chư Phật tỏ tường
Mây lành hóa hiện
Mưa Pháp tràn tuôn
Thấm nhuần khắp cõi
Ba nẻo sáu đường
Nam Mô Hương Vân Cái Bồ Tát (3 lần)
Kính lạy mười phương Phật
Kính lạy mười phương Pháp
Kính lạy muời phương Tăng
Xin từ bi tiếp dẫn
Cho hương linh nơi đây
Thân nằm nhẹ hồn bay
Duyên trần thôi đã hết
Cho hương linh nương tựa
Về an trú già lam
Được thấu rõ đạo mầu
Quy y và siêu thoát
Cúi xin chư Hộ Pháp
Dạy dỗ cho hương linh
Biết tôn kính Phật Đà
Chư Bồ Tát từ bi
Chư Thánh Tăng giác ngộ
Cúi xin chư Hộ Pháp
Dạy dỗ cho hương linh
Dâng trọn cả lòng mình
Kính tin Ba Ngôi Báu
Cho hương linh ý thức
Tuân thủ các giới điều
Không phóng dật tự kiêu
Sống trong vòng khuôn phép
Dạy hương linh hiểu biết
Cuộc sống ở thế trần
Danh lợi tựa phù vân
Hèn sang như giấc mộng
Dạy hương linh hiểu thấu
Từ chấp ngã ban đầu
Lòng ích kỷ ăn sâu
Thành tham lam ác độc
Hương linh hiểu kiêu mạn
Làm ô nhiễm thân tâm
Làm phát khởi lòng sân
Khiến tan dần công đức
Dạy hương linh cẩn thận
Chớ chia rẽ con người
Chớ chỉ trích chê cười
Để cho người nhục nhã
Dạy hương linh thấu rõ
Ngũ uẩn vốn hợp duyên
Sanh diệt mãi triền miên
Có gì đâu quyến luyến
Dạy hương linh Nhân Quả
Báo ứng rất công bình
Thiện ác rõ phân minh
Bởi nhân nào quả nấy
Cúi xin mười phương Phật
Gia hộ cho hương linh
Được sáng suốt an lành
Hướng về nơi cao thượng
Hương linh giờ hiểu rõ
Cùng tĩnh niệm chắp tay
Trọn kiếp chẳng đổi thay
Nguyện tin sâu Tam Bảo
Hương linh sống hòa hợp
Tâm nhu nhuyến hiền hòa
Đầy nhân ái vị tha
Đầy yêu thương hỷ xả
Nguyện làm lành không mỏi
Ác đạo quyết xa rời
Tinh tấn chẳng buông lơi
Không biếng lười giãi đãi
Nguyện thấy mình hạt cát
Giữa sa mạc mênh mông
Là giọt nước thanh trong
Giữa đại dương bát ngát
Nguyện xóa dần chấp ngã
Đã trói buộc bao đời
Tình thương trải muôn nơi
Bằng trái tim rộng mở
Đạo đức thơm lan tỏa
Mọi ngõ ngách cuộc đời
Nguyện chân lý tuyệt vời
Chiếu soi trong hoàn vũ
Nguyện đời đời theo Phật
Muôn kiếp vẫn không cùng
Lòng quyết giữ thủy chung
Dù chông gai nguy khó
Kính lạy Mười Phương Phật
Chư Bồ Tát Thánh Hiền
Trong pháp giới vô biên
Phóng từ quang tiếp dẫn
Cho hương linh tĩnh lặng
Dứt bỏ hết duyên trần
Ba nghiệp hết tham sân
Ra khỏi vòng tăm tối
Cho hương linh thấy lỗi
Hết ích kỷ, mạn, nghi
Phát khởi tâm từ bi
Yêu thương và độ lượng
Cho hương linh hướng thượng
Quyết dõng mãnh tu trì
Thoát ái dục mê si
Tiến tu sâu thiền định
Cho hương linh trí tuệ
Không lui bước giữa đường
Tâm nhẫn nhục kiên cường
Đến tận cùng tuyệt đối
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần)
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát (3 lần)
Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát (3 lần)
Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát (3 lần)
Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát (3 lần)

HỒI HƯỚNG
Nguyện pháp giới chúng sanh
Cùng tinh tấn tu hành
Thoát chấp ngã vô minh
Đồng viên thành Phật đạo.

LỄ PHÁT TANG
Xướng: Gia quyến cùng quỳ trước linh đài
Lạy hương linh (2 lạy)
TÁN THÁN PHẬT
Đại từ đại bi thương chúng sinh
Đại hỷ đại xả cứu muôn loài
Tướng tốt soi sáng tự trang nghiêm
Chúng con trọn tâm thành đảnh lễ
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Đây vành khăn trắng ngang đầu
Tâm trung chữ hiếu niệm đầu chữ nhân
Lòng thành tưởng nhớ người thân
Anh em cha mẹ ân nhân họ hàng
Công cha nặng cao bằng non Thái
Nghĩa mẹ sâu Đông Hải trùng dương
Phu thê… duyên nợ đoạn trường
Cả đời nương tựa đôi đường cách xa
Tình huynh đệ ruột rà ràng buộc
Nghĩa họ hàng quyến thuộc tình thân
Vô thường già trẻ chẳng phân
Âm dương cách biệt sơ thân hai đường
Nay tử biệt sinh ly cách trở
Mà thế trần duyên nợ đa mang
Hương linh tỉnh ngộ hồi tâm
Nương theo Chánh Pháp ngập tràn tình thương
Cúi lạy Phật mười phương gia hộ
Rải lòng từ tiếp độ hương linh
Chánh tà phải biết phân minh
Nương nhờ Phật lực tâm linh sáng dần
Hương linh nguyện chân thành học Phật
Hiểu thế gian muôn vật đổi dời
Thoát vòng sinh tử luân hồi
Nhất tâm tĩnh niệm thảnh thơi an nhàn
Hương linh nguyện siêng làm việc thiện
Dứt tham sân, đoạn tận gian tà
Mở lòng từ ái vị tha
Độ người, giúp vật thoát ra thế trần
Dâng trọn vẹn lòng thành tưởng niệm
Chấp tay sen khấn nguyện mười phương
Nguyện trên chư Phật tỏ tường
Cho hương linh được về nương cõi lành
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (10 lần)
Nam Mô Đại Từ Di Lặc Tôn Phật (3 lần)
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát (3 lần)
Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát (3 lần)
Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát (3 lần)
Nam Mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát(3 lần)

TAM QUY Y
• Tự quy y Phật nguyện cho chúng sanh hiểu sâu đạo cả phát tâm vô thượng (1 lạy)
• Tự quy y Pháp nguyện cho chúng sanh thấu rõ Kinh tạng trí huệ như biển (1 lạy)
• Tự quy y Tăng nguyện cho chúng sanh tâm ý hòa hợp biết thương mến nhau (1 lạy)

Xướng: lễ vừa hoàn mãn
toàn gia quyến lạy hương linh hai lạy.

LỄ CÚNG HƯƠNG LINH
Xướng: Gia quyến cùng quỳ
trước hương linh lễ hương linh (2 lạy)

TÁN CÀNH DƯƠNG
Cam lồ nước mát
Rải khắp tam thiên
Cành dương huyền nhiệm
Muôn loài tựa nương
Lòng từ rộng lớn
Công đức khôn lường
Sen hồng hóa hiện
Tiêu hết oan khiên
Nam Mô Thanh Lương Địa Bồ Tát (3 lần)

Đây vật thực thơm ngon tinh khiết
Của gia đình dâng cúng hương linh
Biết bao ơn nghĩa ân tình
Tĩnh tâm thọ lãnh, hương linh an lành.
Thọ thực xong tâm thành nghe pháp
Hiểu thế gian vui ít khổ nhiều
Kiếp người như nắng buổi chiều
Như sương buổi sớm lắm điều đổi thay
Đời đau khổ bởi đầy mê muội
Ích kỷ sâu, lầm lỗi càng tăng.
Kiêu căng, làm bậy sống càn
Chẳng so tội phước, chẳng màng nghiệp duyên
Đời hạnh phúc khi lòng rộng mở
Trọn vòng tay giúp đỡ thương nhau
Từ tâm đức hạnh nhiệm mầu
Ác duyên chấm dứt về mau cõi lành
Hương linh phát tâm thành theo Phật
Đấng đại hùng, đại lực, đại bi.
Tin sâu giáo lý diệu kỳ
Cứu người biển khổ thoát ly ách nàn
Thọ thực xong an lành mãn nguyện
Cùng pháp mầu huyền nhiệm cao sâu
Hương linh hết khổ hết sầu
Hết tâm phiền muộn vui câu an nhàn.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (10 lần)
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát (3 lần)
Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát (3 lần)
Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát (3 lần)
Nam Mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát (3 lần)

PHỤC NGUYỆN
Hương linh vừa thọ thực đầy đủ và an lành
Vừa nghe lời pháp nhủ mau phát khởi tâm thành
Nguyện tin sâu Tam Bảo thề dứt ác làm lành
Nguyện phát khởi thiện tâm được rộng sâu trí tuệ
Nguyện tu hành tinh tấn dù gian khó không sờn
Nguyện khắp cả tam thiên đồng trọn thành chánh giác.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

TAM QUY Y

• Tự quy y Phật nguyện cho chúng sinh hiểu sâu đạo cả phát tâm vô thượng (1 lạy)

• Tự quy Pháp nguyện cho chúng sinh thấu rõ kinh tạng trí tuệ như biển (1 lạy)

• Tự quy y Tăng nguyện cho chúng sinh tâm lý hòa hợp biết thương mến nhau (1 lạy)

Xướng: lễ vừa hoàn mãn, gia quyến lễ tạ hương linh hai lạy.

Phật Giáo Thời Kỳ Đầu, Nguyễn Ước
Phật Giáo Nền Tảng Của Khoa Học, Hòa thượng Prayudh Payutto, Tỳ Kheo Thích Tâm Quang Việt dịch
Phật Học Tinh Hoa, Một Tổng Hợp Triết Lý, HT. Thích Ðức Nhuận
Phật Học Tinh Yếu, HT. Thích Thiền Tâm
Phật Giáo Dưới Mắt Nhà Trí Thức, Tỳ Kheo Thích Tâm Quang dịch

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Một 4, 2010 in Phật Giáo, Thích Chân Quang

 

Thẻ: ,

Nghi thức cầu siêu cho hương linh chết nước

Những Bài Kinh Tụng Hàng Ngày

Trang 1 9 8 7 2 3 4 5 6 10 11 12 13 14 15

 

        NGHI THỨC CẦU SIÊU
CHO HƯƠNG LINH CHẾT NƯỚC

LỜI NÓI ĐẦU

Tuy không thê thảm như chúng sinh ở dưới địa ngục, nhưng các vong linh chết dưới nước cũng bội phần khổ sở. Họ bị ràng buộc bởi chỗ chết mà không tự do thoát ra chỗ khác. Cảm giác đói và lạnh là nỗi bức xúc thường xuyên. Nhiều nỗi khổ khác rất chi tiết mà chúng ta không tiện nói ra hết vì e nhiều người không tin cho rằng mê tín. Sự ràng buộc bởi nghiệp chết nước cũng khá lâu dài, khiến họ cứ lẩn quẩn không thoát đi đâu được.
Những chúng sinh nhảy sông tự tử càng đau khổ nhiều hơn nữa. Họ tưởng chết rồi là không còn đau khổ vì chuyện thế gian, nhưng chết xong rồi mới biết làm ma chết nước thật là cay đắng, còn khổ hơn những chuyện đau khổ trên đời. Họ mới hối hận thà trước kia chịu đựng nhẫn nhục mọi điều để được sống mà làm phước, hơn là bây giờ không làm được điều gì để giải nghiệp.
Chỉ có những anh hùng tuẫn tiết vì đại sự thì không bị làm ma chết nước mà có thể tự tại đi nơi này nơi kia theo ý muốn của mình. Những người nhảy xuống nước cứu người để rồi chính mình lại bị chết đuối sau đó thì không bị ràng buộc dưới nước mà lại được phước sinh về cõi lành.
Còn những chúng sinh chết nước vì tai nạn đều bị ràng buộc rất lâu. Đó là do xưa kia họ cứ muốn dìm ai dưới nước. Bây giờ quả báo hiện ra là họ không đi đâu ra khỏi nước được.
Chúng ta cũng nghe danh từ dân gian “hà bá”. Đó là một viên chức nhỏ cai quản một vùng sông nước nào đó. Họ thường buộc các vong linh mới chết phải làm công việc coi ngó một khúc sông. Chỉ khi nào có người khác thay thế thì vong linh cũ mới được tự do rời đi.
Vì thương xót cho nỗi đau khổ của các chúng sinh mắc nghiệp chết nước nên chúng tôi soạn bài sám này để cầu giải nghiệp cho họ. Kính mong quý Tăng Ni và Phật tử ở gần vùng sông nước nên thỉnh thoảng ra bờ sông, bờ biển để tụng cầu siêu cho các vong linh chết nước. Được như vậy thì thật là âm dương đôi đường đều lợi, sống chết hai ngã đều an.
Nguyện mười phương pháp giới chúng sinh đồng thành Phật đạo.
Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

       SÁM CẦU SIÊU
HƯƠNG LINH CHẾT NƯỚC

(Chuẩn bị hoa quả, bánh trái, cơm nước, thức ăn, nhang đèn và đứng nơi gần bờ sông, bờ biển để tụng cầu siêu cho các vong linh chết nước.)

NIỆM HƯƠNG

Nguyện đem lòng thành kính
Gởi theo đám mây hương
Phảng phất khắp mười phương
Cúng dường ngôi Tam bảo
Thề trọn đời giữ đạo
Theo Phật pháp làm lành
Cùng pháp giới chúng sinh
Cầu Phật từ gia hộ
Tâm Bồ đề kiên cố
Chí tu học vững bền
Xa bể khổ nguồn mê
Chóng quay về bờ giác

KỲ NGUYỆN

Hôm nay, đệ tử chúng con vân tập về đây thành tâm trì tụng kinh “Sám cầu siêu cho những hương linh chết nước” nguyện mười phương chư Phật, chư Bồ Tát, chư Hộ Pháp phóng quang tiếp dẫn cho các hương linh đang chịu nhiều đau khổ vì mắc nghiệp chết nước về đây, thọ thực no đủ, nghe thấu lời kinh, phát khởi tâm thành quy y Tam Bảo, tinh tấn tu hành cùng tất cả chúng sinh đều trọn thành Phật đạo.
Nam Mô Siêu Lạc Độ Bồ Tát (3 lần)

CÚNG HƯƠNG
Giới hương, định hương, dữ huệ hương
Giải thoát, giải thoát, tri kiến hương
Quang minh vân đài biến pháp giới
Cúng dường thập phương Tam bảo tiền.
Nam Mô Hương Cúng Dường Bồ Tát (3 lần)

TÁN THÁN PHẬT

Đấng Pháp vương vô thượng
Ba cõi chẳng ai bằng
Thầy dạy khắp trời người
Cha lành chung bốn loại
Nay con nguyện quy y
Diệt trừ vô lượng tội
Dâng lên lời tán thán
Ức kiếp vẫn không cùng
Phật chúng sanh tánh thường rỗng lặng
Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn
Lưới đế châu ví đạo tràng
Mười phương Phật bảo hào quang sáng ngời
Trước bảo tòa thân con ảnh hiện
Cúi đầu xin thệ nguyện quy y.

LỄ PHẬT
• Chí tâm đảnh lễ: Nam mô khắp mười phương hư không tất cả Chư Phật (1 lạy)
• Chí tâm đảnh lễ: Nam mô khắp mừời phương hư không tất cả Chánh Pháp (1 lạy)
• Chí tâm đảnh lễ: Nam mô khắp mười phương hư không tất cả Hiền Thánh Tăng (1 lạy)

KHAI KINH

Pháp vi diệu rất sâu vô lượng
Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu
Con nay nghe được xin trì tụng
Nguyện hiểu Như Lai nghĩa nhiệm mầu.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần)

SÁM HỐI CHO HƯƠNG LINH
Thầy chủ lễ xướng:
Hương linh:……………………….
Đại chúng hòa theo:
Từ trước lỡ tạo nhiều ác nghiệp
Vì tham sân si mạn gây nên
Phát ra lời nói với việc làm
Hôm nay hương linh xin sám hối
Nam Mô Cầu Sám Hối Bồ Tát (3 lần, 3 lạy)

LẠY PHẬT QUY Y CHO HƯƠNG LINH
Thầy chủ lễ xướng:
Hương linh: ……………………..
Đại chúng hòa theo
Chí thành đảnh lễ mười phương Phật
Trí tuệ Từ bi che khắp nơi
Công đức thần oai trùm ba cõi
Cha lành Thầy dạy cả trời người
Hương linh với trọn lòng tôn kính
Muôn kiếp ngàn đời nguyện Quy y
Thân tâm từ đây cúng dường Phật
Vâng theo Chánh pháp để tu trì.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (1 lạy)
Nam Mô Đại Từ Di Lặc Tôn Phật (1 lạy)
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát (1 lạy)
Nam Mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát (1 lạy)
Nam Mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát (1 lạy)
Nam Mô Đại Lực Đại Thế Chí Bồ Tát (1 lạy)
Nam Mô Mười Phương Tất Cả Chư Phật Bồ Tát Hiền Thánh Tăng (1 lạy)

Tụng tiếp:

Quy y Phật rồi quy y Pháp
Lời dạy sâu mầu của Như lai
Khiến người lìa mê và thoát khổ
Chân lý muôn đời không đổi thay
Hương linh từ đây tôn kính Pháp
Trì tụng, khắc ghi để thực hành
Và nguyện ngàn sau muôn kiếp tới
Pháp lành đem độ khắp nơi nơi.

Nam Mô Phật Đà Vô Lượng Vô Biên Chánh Pháp (1 lạy)
Nam Mô Tam Thế Như Lai Tứ Diệu Đế Kinh (1 lạy)
Nam Mô Tam Thế Như Lai Bát Chánh Đạo Kinh (1 lạy)
Nam Mô Mười Phương Chư Phật Tứ Vô Lượng Tâm Kinh (1 lạy)
Nam Mô Mười Phương Chư Phật Vô Ngã Tối Thắng Kinh (1 lạy)
Nam Mô Mười Phương Chư Phật Bát Nhã Siêu Việt Kinh (1 lạy)
Nam Mô Mười phương Hiền Thánh Lưu Truyền Chân Chính Giáo Ngôn (1 lạy)

Tụng tiếp :

Quy y Pháp rồi quy y Tăng
Những vị xuất gia hành đúng pháp
Thay Phật giáo hoá giữa cuộc đời
Trí tuệ Từ bi như trăng tỏ
Hương linh từ đây tôn kính Tăng
Thường theo các chùa để nghe Pháp
Âm thầm ủng hộ chốn già lam
Yên ổn tu hành không chướng nạn.

Nam Mô Ma Ha Ca Diếp Đại Thánh Tăng (1 lạy)
Nam Mô Xá Lợi Phất Đại Thánh Tăng (1 lạy)
Nam Mô Mục Kiền Liên Đại Thánh Tăng (1 lạy)
Nam Mô A Nan Đà Đại Thánh Tăng (1 lạy)
Nam Mô Bồ Đề Đạt Ma Tổ Sư (1 lạy)
Nam Mô Điều Ngự Giác Hoàng Tổ Sư (1 lạy)
Nam Mô Hư Vân Đại Lão Thiền Sư (1 lạy)
Nam Mô Thập Phương Tam Thế Hiền Thánh Tăng (1 lạy)

CẦU SIÊU CHO HƯƠNG LINH
Kính lạy Phật từ bi cứu khổ
Phát thần oai tế độ chúng sinh
Năm xưa vương vấn tội tình
Bỏ thân chết dưới dòng xanh nước đầy
Bao năm tháng đọa đày khổ sở
Đêm mùa đông lạnh giá khôn nguôi
Bơ vơ đói kém chưa vơi
Lạc loài nhìn thấy dòng đời chảy xuôi

Theo bờ bụi sống chui sống rúc
Dưới gầm cầu lúc đục lúc trong
Cùng bèo trôi dạt lông bông
Gió to mưa lớn biển sông hãi hùng
Có khi chết nơi dòng nước thối
Chịu xiết bao rác rưởi tanh hôi
Khổ sầu chưa phút nào thôi
Nghiệp ràng buộc chặt chẳng dời đi đâu
Có khi chết biển sâu sóng cả
Thân nát tan tôm cá rỉa ăn
Dập dềnh theo sóng trôi lăn
Không bờ không bến nhọc nhằn điêu linh
Có khi tự gieo mình xuống nước
Cứ tưởng rằng chết được là yên
Nào ngờ cái chết tự quyên
Còn thê thảm gấp bội lần trước đây.
Nghiệp chết nước thật đầy cảnh tội
Do thuở xưa lầm lỗi gây nhân
Bây giờ sám hối ăn năn
Cầu xin Phật tổ ân cần thứ tha.
Hương linh nguyện thiết tha theo Phật
Lòng chí thành chuyên nhất quy y
Thênh thang đạo lộ từ bi
Mục tiêu Vô ngã bước đi đến cùng.

Vâng lời Phật mở lòng thương quý
Đến vạn loài pháp giới chúng sinh
Mong cho tất cả sinh linh
Thoát vòng khổ nạn, yên bình hân hoan
Hương linh nguyện muôn ngàn kiếp tới
Lòng không màng danh lợi thế gian
Tránh xa thù hận bạo tàn
Vượt qua ích kỷ dối gian tị hiềm.

Đối với Phật một niềm tôn kính
Giữ thân tâm chân chính cúng dường
Nghìn đời chỉ một con đường
Hướng về giác ngộ, hoằng dương đạo mầu
Nhờ Phật lực thẳm sâu rộng lớn
Đưa hương linh về chốn thanh lương

Xa lìa cảnh khổ thảm thương
Từ nay thệ nguyện kiên cường tiến tu.
Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát (21 lần)

PHỤC NGUYỆN

Hôm nay, đệ tử chúng con vì chúng sinh bị mắc nghiệp chết nước mà trì tụng kinh này, nguyện mười phương chư Phật, chư Bồ Tát, chư Hộ Pháp gia hộ cho các chúng sinh bị đọa ở chốn này sớm thoát tội khiên, quy y Tam Bảo, khởi được Từ tâm, tạo công đức lành để hưởng phước nhơn thiên và tiến tu giải thoát.
Nguyện cho tất cả chúng sinh đều tin theo Phật Pháp, tránh xa điều ác, làm các việc lành, huân tu đạo đức, tinh tấn thiền định, tất cả đều thành tựu vô thượng Bồ Đề viên mãn chánh giác.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

TAM QUY Y

• Tự quy y Phật nguyện cho chúng sanh hiểu sâu đạo cả phát tâm vô thượng (1 lạy)
• Tự quy y Pháp nguyện cho chúng sinh thấu rõ kinh tạng trí tuệ như biển (1 lạy)
• Tự quy y Tăng nguyện cho chúng sinh tâm ý hòa hợp biết thương mến nhau (1 lạy)

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Một 4, 2010 in Phật Giáo, Thích Chân Quang

 

Thẻ: ,

Quy Y Tăng là gì? – TT Thích Chân Quang

Quy Y Tăng là gì ?

                                                          Thích Chân Quang

Tăng là những người xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình và xem tất cả chúng sinh là gia đình của mình. Đây là ý nghĩa người Tăng lý tưởng, đúng nghĩa mẩu mực. Tại sao chúng ta phải tôn kính những vị Tăng tu hành chân chính? Vì các vị là những người dành trọn cả cuộc đời cho đạo, họ có thời gian học và thực hành lời Phật dạy, nên họ có kinh nghiệm hơn chúng ta. Chúng ta tôn thờ Phật, tôn thờ Pháp, nhưng giáo pháp của Phật mênh mông như biển cả, vời vợi như núi cao mà vi tế sâu sắc như hang sâu, vực thẳm. Chúng ta không thể hiểu dể dàng nếu không được nghe giải thích bởi những vị tu hành có kinh nghiệm. Do đó nhờ những vị tăng tu hành xuất gia có kinh nghiệm mà chúng ta được nghe giải thích lời Phật dạy một cách thấu đáo, những chi tiết phù hợp Vì tâm tính, ngôn ngươ, thời đại chúng ta đang sống và nhờ vậy chúng ta thấm nhuần được giáo Pháp của Phật. Dù chúng ta một lòng tôn thờ Phật, tôn thờ Pháp, nhưng nếu không có chư Tăng sống động giửa thế gian này thì chúng ta không thể nào đến với Phật Pháp được. Sức mạnh của đạo Phật chúng ta dựa vào đạo lý chứ không dựa vào tổ chức chặt chẽ như nhiều tôn giáo khác. Vì vậy ở vào những thời đại có những bậc chân sư xuất hiện thì đạo Phật được hưng thịnh, nếu ở vào thời đại nào không có những bậc chân sư khai thông đạo lý thì đạo Phật lại suy tàn. Vì sức mạnh dựa trên đạo lý, mà đạo lý dựa vào những bậc xuất gia chân chính, do đó giá trị của chư tăng, giá trị của người đem cả cuộc đời này sống vì đạo, thực hành đạo là vô cùng quý giá. Vì thế chúng ta cũng phải Quy Y Tăng và phải biết đặt lên đó lòng tôn kính vô bờ bến.

Khi chúng ta đã Quy Y Tăng, ngoài thầy bổn sư của chúng ta, chúng ta cũng phải tôn thờ 10 phương tăng, tất cả các vị tu hành chân chính.

Và khi đã Quy Y Tăng, chúng ta không được giao lưu gần gủi với những bạn ác, thầy tà, nghĩa là những người có tâm hạnh không tốt, đạo đức không tốt dù họ có năng lực, uy quyền.

Vì ở nơi những người này chúng ta sẽ không học được những điều tốt đẹp, sẽ không tạo thêm được công đức trên con đường tu hành của chúng ta. Chỉ khi nào đạo lực của chúng ta vững vàng, chúng ta có khả năng giáo hoá họ thì chúng ta mơi đến những người xấu đó để giáo hoá. Còn trong khi đang nương tựa học hỏi, chúng ta nên tránh những người thầy tà, bạn ác.

                                                                Thích Chơn Quang (Chùa Phật Quang)

ĐỌC THÊM

Thử Phân Tích Một Đoạn Văn của André Masson (Trần Chung Ngọc)
Trả Lời Ông Lưu Á Ni (Trần Chung Ngọc)
Tôi Đọc “Đất Việt” & “Hành Hương Đất Phật” của Phan Thiết (Trần Chung Ngọc)
Tôi Đọc BS Ngyễn Thị Thanh Trả Lời Câu Hỏi Don Lê… (Trần Chung Ngọc)

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Mười Hai 19, 2009 in Phật Giáo, Thích Chân Quang

 

Thẻ: ,

Quy Y Phật là gì ? – Thích Chân Quang

Quy Y Phật là gì ?

                                                  Tỳ Kheo Thích Chân Quang

Phật là ai? Phật được dịch nghĩa là Đấng giác ngộ. Đấng giác ngộ là ai ? Từ vô lượng kiếp xưa, Ngài cũng là người như mọi người mà kiếp cuối cùng trở thành Đức Phật còn gọi là Phật Thích Ca. Nhưng trong vô lượng kiếp, Ngài đã sống với lòng từ bi vô lượng, luôn luôn thương yêu trất cả chúng sinh và làm lợi ích cho chúng sinh không bao giờ mệt mỏi. Song song với việc sống, với lòng từ bi và làm lợi ích cho chúng sinh, Ngài luôn luôn nổ lực trong việc thực hành Thiền định. Hai yếu tố Thiền định và lòng từ bi đã tạo thành công đức tích lủy từ kiếp này sang kiếp khác cho đến vô lượng kiếp như vậy. Và ở duyên cuối cùng, nơi quả vị chín muồi này, Ngài đã trở thành một Đấng giác ngộ. Đôi khi chúng ta hiểu một cách đơn giản như vậy, nhưng thật ra sự giác ngộ này chứa đựng một giá trị tâm linh vô cùng to lớn. Chúng ta không thể dùng ngôn từ của thế gian để diển tả cho sự giác ngộ tột cùng này. Khi vô minh hoàn toàn chấm dứt, trí tuệ bừng sáng, Ngài đủ sức mạnh thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử, không một nghiệp lực nào có thể chi phối buộc Ngài phải trầm luân trở lại. Nơi sự giác ngộ này, cái chấp ngã kiên cố ngàn đời tan vở và biến mất, tâm Ngài phủ trùm vạn vật, trở thành chung đồng, chan hoà với tất cả chúng sinh. Cho nên ý nghĩa của sự giác ngộ này thật lớn lao vĩ đại, mà những ngôn từ bình thường của thế gian chỉ có thể gợi ý cho chúng ta chứ không thể nào diển tả đầy đủ được. Tuy Ngài đã giác ngộ, nhưng ở thế giới loài người đã ít biết đến Ngài trừ một số ít người có duyên với Ngài. Nhưng trong mười phương cỏi khác tất cả đều tôn vinh, ca ngợi, xưng tụng Ngài là Đấng chánh giác, là chổ dựa, là bậc Thầy của tất cả chúng sinh. Ở đây chúng ta thấy rỏ điều này, Đức Phật không phải là một vị thần linh từ một cỏi nào đến để có thể ban phước, giáng họa, Đức Phật cũng không phải là một Thượng đế đã tạo nên tất cả. Trong đạo Phật không co khái niệm thần quyền, tức là thượng đế đã tạo nên tất cả. VỚI sao? VỚI Đức Phật dạy rất kỹ rằng tất cả mọi điều đều do nhiều nhân duyên, do nhiều yếu tố hợp thành. Không có điều gì tự trở thành nên không hề có điều gọi là Đấng Thượng đế để có thể tạo nên tất cả. Do đó lời Đức Phật nói rất phù hợp với sự tiến bộ của khoa học. Hàng ngàn năm trôi qua, khoa học càng tiến bộ, thì lời nói của Đức Phật càng được chứng minh là đúng. Hầu hết các tôn giáo khác đều tin vào thần quyền, các tín đồ cho rằng có một đấng sáng tạo đã tạo ra tất cả, còn Đức Phật là con người, không phải là đấng sáng tạo nên không có gì cao siêu. Chúng ta không tranh cải hơn thua mà chỉ mỉm cười với điều gọi là đấng sáng tạo thật ra chỉ là huyền thoại chứ không thể nào có thật. Vì sao? Vì nếu có một đấng sáng tạo thì không lẽ đấng đó  tạo nên sự đau khổ cho con người như: chiến tranh, bệnh tật, thiên tai, và tội lổi trong lòng con người. Và không thể có một đấng toàn năng nào tạo ra tất cả bằng một cách rất hoàn hảo, có thể nói là ác độc. Do đó chúng ta vũng tin vào lý nghiệp duyên, trong đó tâm lý chúng sinh chính là khởi điểm tạo nên rất nhiều điều trong thế gian này. Và khi chúng ta Quy Y Phật, nghĩa là Quy Y Đấng giác ngộ, là đấng từ một chúng sinh, là một con người trở thành tuyệt đối. Như vậy không có một Đức Phật duy nhất cho toàn thể vuơ trụ mà bất cứ ai đi đúng như con đường Đức Phật dạy đều có thể chứng đạt được, đều trở thành tuyệt đối như Đức Phật. Và đây là một giá trị nhân bản mà không có một triết thuyết tôn giáo nào bằng hoặc hay hơn được. Điểm giá trị cao nhất ở Đấng giác ngộ không phải là một người duy nhất mà mở rộng cho tất cả chúng sinh, cho bất cứ người nào tìm thấy được chân lý, sống hợp, sống đúng với chân lý.

Nơi ý nghĩa Quy Y Phật, chúng ta được dạy rằng từ đây không được tôn thờ tà thần quỹ vật, nghĩa là khi đến đình miếu thờ các vị thần, chúng ta không được xem như đấng mình phải tôn kính tuyệt đối. Chúng ta chỉ cúi đầu đảnh lể trước sự giác ngộ, trước những con người đã giác ngộ, hoặc đang đi trên con đường giác ngộ, giải thoát chứ không cúi đầu đảnh lể trước một người không đi đúng con đường giải thoát , dù đó là một vị thần linh có quyền năng ban phước, giáng hoạ. Chúng ta không sợ hải họ dù chúng ta vẩn kính trọng họ, nhưng chúng ta chỉ kính trọng như kính trọng mọi người trong cuộc sống này, chỉ là tôn trọng chứ không phải tôn thờ. Đó là điều chúng ta được dặn khi Quy Y Phật.

                                                                            Tỳ Kheo Thích Chân Quang

Đọc Thêm

Lại Chuyện Bất Đắc Dĩ về Nguyễn Văn Lục
Lại Chuyện Bất Đắc Dĩ Về Tiến Sĩ Nguyễn Học Tập (Trần Chung Ngọc)
Lại Chuyện Bất Đắc Dĩ về Tú Gàn (1)
Lại Chuyện Bất Đắc Dĩ về Tú Gàn (2)
Lại Chuyện Ruồi Bu của Trần Trung Đạo (Trần Chung Ngọc)

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Mười Hai 19, 2009 in Phật Giáo, Thích Chân Quang

 

Thẻ: , ,

Quy Y Phật là gì ? -TT Thích Chân Quang

Quy Y Phật là gì ?

                                                  Tỳ Kheo Thích Chân Quang

Phật là ai? Phật được dịch nghĩa là Đấng giác ngộ. Đấng giác ngộ là ai ? Từ vô lượng kiếp xưa, Ngài cũng là người như mọi người mà kiếp cuối cùng trở thành Đức Phật còn gọi là Phật Thích Ca. Nhưng trong vô lượng kiếp, Ngài đã sống với lòng từ bi vô lượng, luôn luôn thương yêu trất cả chúng sinh và làm lợi ích cho chúng sinh không bao giờ mệt mỏi. Song song với việc sống, với lòng từ bi và làm lợi ích cho chúng sinh, Ngài luôn luôn nổ lực trong việc thực hành Thiền định. Hai yếu tố Thiền định và lòng từ bi đã tạo thành công đức tích lủy từ kiếp này sang kiếp khác cho đến vô lượng kiếp như vậy. Và ở duyên cuối cùng, nơi quả vị chín muồi này, Ngài đã trở thành một Đấng giác ngộ. Đôi khi chúng ta hiểu một cách đơn giản như vậy, nhưng thật ra sự giác ngộ này chứa đựng một giá trị tâm linh vô cùng to lớn. Chúng ta không thể dùng ngôn từ của thế gian để diển tả cho sự giác ngộ tột cùng này. Khi vô minh hoàn toàn chấm dứt, trí tuệ bừng sáng, Ngài đủ sức mạnh thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử, không một nghiệp lực nào có thể chi phối buộc Ngài phải trầm luân trở lại. Nơi sự giác ngộ này, cái chấp ngã kiên cố ngàn đời tan vở và biến mất, tâm Ngài phủ trùm vạn vật, trở thành chung đồng, chan hoà với tất cả chúng sinh. Cho nên ý nghĩa của sự giác ngộ này thật lớn lao vĩ đại, mà những ngôn từ bình thường của thế gian chỉ có thể gợi ý cho chúng ta chứ không thể nào diển tả đầy đủ được. Tuy Ngài đã giác ngộ, nhưng ở thế giới loài người đã ít biết đến Ngài trừ một số ít người có duyên với Ngài. Nhưng trong mười phương cỏi khác tất cả đều tôn vinh, ca ngợi, xưng tụng Ngài là Đấng chánh giác, là chổ dựa, là bậc Thầy của tất cả chúng sinh. Ở đây chúng ta thấy rỏ điều này, Đức Phật không phải là một vị thần linh từ một cỏi nào đến để có thể ban phước, giáng họa, Đức Phật cũng không phải là một Thượng đế đã tạo nên tất cả. Trong đạo Phật không co khái niệm thần quyền, tức là thượng đế đã tạo nên tất cả. VỚI sao? VỚI Đức Phật dạy rất kỹ rằng tất cả mọi điều đều do nhiều nhân duyên, do nhiều yếu tố hợp thành. Không có điều gì tự trở thành nên không hề có điều gọi là Đấng Thượng đế để có thể tạo nên tất cả. Do đó lời Đức Phật nói rất phù hợp với sự tiến bộ của khoa học. Hàng ngàn năm trôi qua, khoa học càng tiến bộ, thì lời nói của Đức Phật càng được chứng minh là đúng. Hầu hết các tôn giáo khác đều tin vào thần quyền, các tín đồ cho rằng có một đấng sáng tạo đã tạo ra tất cả, còn Đức Phật là con người, không phải là đấng sáng tạo nên không có gì cao siêu. Chúng ta không tranh cải hơn thua mà chỉ mỉm cười với điều gọi là đấng sáng tạo thật ra chỉ là huyền thoại chứ không thể nào có thật. Vì sao? Vì nếu có một đấng sáng tạo thì không lẽ đấng đó  tạo nên sự đau khổ cho con người như: chiến tranh, bệnh tật, thiên tai, và tội lổi trong lòng con người. Và không thể có một đấng toàn năng nào tạo ra tất cả bằng một cách rất hoàn hảo, có thể nói là ác độc. Do đó chúng ta vũng tin vào lý nghiệp duyên, trong đó tâm lý chúng sinh chính là khởi điểm tạo nên rất nhiều điều trong thế gian này. Và khi chúng ta Quy Y Phật, nghĩa là Quy Y Đấng giác ngộ, là đấng từ một chúng sinh, là một con người trở thành tuyệt đối. Như vậy không có một Đức Phật duy nhất cho toàn thể vuơ trụ mà bất cứ ai đi đúng như con đường Đức Phật dạy đều có thể chứng đạt được, đều trở thành tuyệt đối như Đức Phật. Và đây là một giá trị nhân bản mà không có một triết thuyết tôn giáo nào bằng hoặc hay hơn được. Điểm giá trị cao nhất ở Đấng giác ngộ không phải là một người duy nhất mà mở rộng cho tất cả chúng sinh, cho bất cứ người nào tìm thấy được chân lý, sống hợp, sống đúng với chân lý.

Nơi ý nghĩa Quy Y Phật, chúng ta được dạy rằng từ đây không được tôn thờ tà thần quỹ vật, nghĩa là khi đến đình miếu thờ các vị thần, chúng ta không được xem như đấng mình phải tôn kính tuyệt đối. Chúng ta chỉ cúi đầu đảnh lể trước sự giác ngộ, trước những con người đã giác ngộ, hoặc đang đi trên con đường giác ngộ, giải thoát chứ không cúi đầu đảnh lể trước một người không đi đúng con đường giải thoát , dù đó là một vị thần linh có quyền năng ban phước, giáng hoạ. Chúng ta không sợ hải họ dù chúng ta vẩn kính trọng họ, nhưng chúng ta chỉ kính trọng như kính trọng mọi người trong cuộc sống này, chỉ là tôn trọng chứ không phải tôn thờ. Đó là điều chúng ta được dặn khi Quy Y Phật.

                                                                                    Tỳ Kheo Thích Chân Quang

16. Nhớ Cội Nguồn
Download

17. Pháp Cụ 04
Download

18. Pháp Cụ 11
Download

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Mười Hai 18, 2009 in Bài Giảng, Thích Chân Quang

 

Thẻ: ,

TT Thích Chân Quang và các đối tượng chống phá

TT THÍCH CHÂN QUANG @ NHỮNG ĐỐI TƯỢNG CHỐNG PHÁ

                                                           HOÀNG CHƯƠNG

Vì sao tôi bỏ thời giờ để bàn đến chuyện cá nhân của một Tu sĩ Phật giáo? Vì tôi thực sự có cảm tình với những Phật sự mà TT Chân Quang đã làm trong nhiều năm qua. Nhắc đến tên TT Chân Quang có thể không lạ đối với đa số tín đồ Phật giáo tại Việt nam. Qua nhiều năm tích cực trong công việc hoằng pháp, hiện nay Thượng Tọa đã cho xuất bản hơn 600 đề tài thuyết giảng bằng đĩa hình VCD, DVD có phụ đề nhiều ngôn ngữ (con số, theo lời của Đại Đức Thích Thiện Thọ – Đoàn giảng sư TW, trong 1 CD nói chuyện tại Chùa Phật Quang). Việc ghi âm, ghi hình các bài thuyết giảng và phổ biến rộng rãi trong quần chúng Phật tử là một hình thức hoằng pháp hiệu quả mà từ trước đến nay ít Vị tôn túc suy nghĩ đến.

Nhưng nội dung trong các đề tài thuyết giảng của TT Chân Quang là gì? Theo những đề tài mà tôi đã có dịp nghe, nội dung chủ yếu là truyền tải những lời dạy trong Kinh Phật đến với bà con Phật tử. Thông qua việc ghi hình, ghi âm, những đề tài này cũng được minh họa bằng hình ảnh sinh động liên quan đến chủ đề Phật pháp, kèm theo những đoạn âm giảng nghĩa Kinh Phật theo cách của Thượng Tọa.

Với cách làm việc, cách hoằng pháp mang tính xã hội cao này, những bài giảng Kinh của Thượng Tọa đã được nhiều lứa tuổi, nhiều giới Phật tử tại Việt nam tiếp nhận một cách tích cực. Đối tượng tiếp nhận, nghiên cứu những đề tài thuyết giảng của Thượng Tọa Chân Quang gồm những ai? Theo như tôi biết được, gần như mọi giới trong xã hội, từ Bác nông dân ở miền quê, từ các Má buôn bán nhỏ ngoài chợ, từ các anh chị công nhân, từ các bạn sinh viên đến các anh công chức, cán bộ. Vậy, dù không có thiện cảm đi nữa, chúng ta cũng phải thừa nhận tính hiệu quả trong công tác hoằng pháp của TT Chân Quang.

Ngoài những lời truyền tải Kinh Phật đến với bà con Phật tử, thông qua các đề tài thuyết giảng, TT Chân Quang cũng có đề cập đến nhiều vấn đề xã hội có tính nhạy cảm. Những vấn đề nhạy cảm là giới hạnh của Tu sĩ; kêu gọi Phật tử yêu nước, tuân thủ pháp luật; nhắc đến lịch sử và truyền thống văn hóa dân tộc; bảo vệ truyền thống Phật giáo tại Việt nam, . . .

Những nội dung này chắc đã là trái ý một số đối tượng nhất định, đó là: số tu sĩ thiếu nghiêm túc; những người còn bất mãn chế độ hiện tại tại Việt nam; thế lực phản động người Việt; thế lực ngoại quốc muốn gây xáo trộn an ninh xã hội tại Việt nam.

Xem lại lịch sử nước nhà, ta thấy, khi quân xâm lược Tàu đặt ách đô hộ lên nước Việt ta, bọn họ liền có kế hoạch thủ tiêu truyền thống văn hoá bản địa bằng cách đập phá, tiêu huỷ các công trình văn hóa, văn vật mang tính lịch sử, giết hại hoặc bắt cóc về Tàu những vị anh hùng tài giỏi, yêu nước. Cũng vậy, khi Tây chuẩn bị xâm chiếm và đặt ách đô hộ lên nước ta, họ đã đưa nhiều đội quân tiên phong truyền đạo, truyền một loại tôn giáo làm công cụ văn hóa tư tưởng cho thực dân. Thông qua thế lực súng đạn, Tây đã xóa sổ một số Chùa chiền và xây dựng lên đó những Nhà thờ cho riêng tôn giáo công cụ đó.

Như vậy, kêu gọi tinh thần yêu nước, gợi lại truyền thống dân tộc ắt đã làm trái lòng của vài thế lực ngoại quốc, ắt đã làm trái lòng  vài phe nhóm người Việt không muốn Việt nam bình ổn và phát triển.

Trở lại câu chuyện về TT Chân Quang. Cách đây vài hôm, có hai người đã giới thiệu tôi vào một trang web hải ngoại, một trang web mang danh Phật giáo. Tuy nhiên khi đọc, tôi thấy quá nhiều điều bất ổn. Đây là một trang web đội lốt Phật giáo, xây dựng nên chỉ một mục đích là bôi nhọ Thượng Tọa Chân Quang. Chủ nhân trang web này là ai, nếu có oán thù cá nhân với TT Chân Quang đi nữa cũng không thể bỏ công sức để làm một việc khá công phu như vậy. Vậy, đằng sau trang web này chắc chắn là một tổ chức chính trị nào đó, họ không muốn TT Chân Quang tiếp tục công việc mà Thượng Tọa đang làm. Vì những việc Thượng Tọa đang làm có ảnh hưởng đến kế hoạch, ý đồ gì đó của họ.

Như trên có đề cập, một thế lực chính trị muốn nô dịch quốc gia dân tộc Việt nam thì họ cần phải tiêu huỷ truyền thống văn hoá Việt nam, mai một niềm tự hào về lịch sử dân tộc và tinh thần yêu nước của người Việt. Phật giáo Việt nam, tôn giáo truyền thống của dân tộc, cũng không nằm ngoài số nạn nhân của ý đồ này.

Trong trang web mà tôi đã đề cập, đáng tiếc là có nhị vị Hòa Thượng Từ Thông & Huyền Tôn cùng tham gia chiến sự. Phải chăng nhị vị HT đã bị thế lực này thao túng như ông Võ Văn Ái đã thao túng vài vị bên GHPGTN? So về tuổi tác, TT Chân Quang chắc chắn thuộc thế hệ sau của nhị vị HT, vậy vì lợi ích gì mà nhị vị đi làm những việc trái ngoáy như vậy ?!

Qua sự việc này, TT Chân Quang cần có những động thái cần thiết hoặc phía GHPGVN cũng cần có những điều nghiên rỏ ràng và đưa ra kết luận nhằm làm sáng tỏ vấn đề. Phật giáo Việt nam có Tăng đoàn, Giáo hội, TT Chân Quang chắc chắn cũng nằm trong tổ chức đó. Vậy, GHPGVN cần thể hiện trách nhiệm của mình với Phật tử, cần thể hiện trách nhiệm của mình với đồng đạo, đồng tu.

Là một Phật tử, tôi mong rằng Phật giáo Việt nam, GHPGVN cần phải được tổ chức một cách quy cũ, biết thể hiện trách nhiệm với từng thành viên trực thuộc. Vì quý Ngài, trên danh nghĩa, cũng được tổ chức thành một Giáo hội danh chánh, ngôn thuận.

Muốn hồi sinh, muốn phát triển, PGVN cần phải biết đoàn kết nội lực.

Kính.

HoàngChương.  “Hoang Chuong” <hoangchuong911@gmail.com> April 27, 2008

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Mười Hai 4, 2009 in Quan điểm, Thích Chân Quang

 

Thẻ:

7 Câu Hỏi về Thiền

7 câu hỏi về Thiền

(Thượng toạ Thích Chân Quang giảng)

Câu 1: Tại sao phải ngồi thiền đúng tư thế, giữ thân mềm mại bất động?

Ta buộc phải ngồi đúng tư thế kiết già mà mười phương, ba đời Chư Phật đều ngồi như vậy. Vì sao? Vì đó là cấu trúc của tâm và sinh lý phù hợp cho việc nhiếp tâm trong tu tập Thiền định. Nếu đứng, không thể đứng lâu và không vững. Nếu nằm thì giải đãi. Ngồi là tư thế trung dung giữa đứng và ngồi, đảm bảo chịu đựng được lâu. Đó là nói về sự cố gắng. Ngoài ra, trong cái ngồi đó mình phải bắt kiết già để khóa chân lại, hai tay nắm lại giữa lòng, không bung ra, lưng phải thẳng cho nên hợp lại với nhau và phù hợp với sinh lý của não nhất, khiến cho não dễ dàng được thanh thản. Tất cả các thế ngồi khác,như khi ngồi bán già hoặc ngồi trên ghế…đều không thể hỗ trợ cho việc nhiếp tâm vào sâu. Tư thế kiết già đảm bảo khoảng cách từ lòng bàn chân đến não là thích hợp nhất, đảm bảo để máu từ tim lên não và xuống lòng bàn chân, điều này có tính khoa học.

Tại sao phải thẳng lưng? – Thầy chỉ nói một ý vắn tắt. Sau này mọi người đi dậy người ta thì phải nói nhiều hơn.

Giữ thân mềm mại bất động. Vì mọi hoạt động của thân đều liên quan đến não. Do đó nếu thân nhúc nhích thì não sẽ bị động. Phải giữ toàn thân mềm mại, bất động để não được thư giãn. Đó là điều bắt buộc. Mà nếu ta gồng thân thì sao? – Thì não sẽ căng thẳng. Bởi vậy ta buộc phải giữ thân mềm mại, bất động để não bất động, thư giãn. Sự thật, tu thân chính là tu tâm. Ở đây có một điều lạ, đó là nói “Thiền là điều phục tâm” nhưng có nhiều nơi tu thiền mà trực chỉ thẳng vào tâm, nắm cái tâm tu luôn. Không ngờ cái đi thẳng lại là cái sai, không bao giờ thành công. “Đi vòng một khắc, đi tắt một ngày”. Chính cái đi vòng, đi từ cái nền theo thiên nhiên đã bày ra mà ta làm chủ được cái tâm mình. Ta muốn đi thật cao thì ta phải bò xuống thật thấp, muốn đi thật xa thì hãy đi thật chậm. Cũng vậy, muốn điều phục tâm, ta hãy lo chuẩn bị, sửa soạn thân cho thật kỹ. Vì thế, giữ thân mềm mại bất động chính là giữ cho tâm mình bất động, yên lắng và thư giãn.

Câu 2: Tại sao khi ngồi thiền phải cảm giác toàn thân, an trú toàn thân?

Giống như mình hồi nhỏ, khi mình học toán thì diện tích hình chữ nhật là cái gì? Là dài x rộng, mình không biết tại sao. Nhưng khi mình lớn lên tới lớp 12 thì phải biết tại sao. Do đâu biết tại sao? Do ta học Tích phân. Giống như hồi nhỏ ta học diện tích hình tròn thì bằng bình phương bán kính nhân với số Pi. Cứ học thôi, không biết tại sao. Nhưng tới lớp 12, ta phải biết tại sao, khi ta được học môn Tích phân thì ta biết tại sao nó như thế.

Thì cũng vậy, khi ta mới đến học Thiền thì căn bản là biết rõ toàn thân. Biết rõ thân này là vô thường, bắt đầu biết hơi thở. Biết hơi thở vào, biết hơi thở ra rõ ràng và không điều khiển. Ta cứ học vậy thôi, từ từ tâm ta thanh tịnh. Từ từ phá vỡ hết những phiền não cấu trúc trong não ta, ta đi vào thanh tịnh. Nhưng ta không cần biết tại sao. Nhưng mà khi không biết tại sao thì trong lòng ta vẫn có cái gì đó hồ nghi nhỏ nhỏ. Còn khi ta biết tại sao như thế thì ta rất vững lòng ứng dụng pháp môn của mình.

Bây giờ Thầy giải thích. Mình sẽ hiểu được các pháp môn khac họ tu đúng chỗ nào, sai chỗ nào.

Theo sinh lý học về não của y học, ghi trong y văn, thì nguyên vùng vỏ não của chúng ta, mỗi vùng vỏ não gánh một bộ phận cơ thể. Toàn cơ thể phía dưới đều được phản ứng trên vỏ não. Ví dụ chân nằm ở đây, ngón chân nằm ở kia, gan, thận, phổi, lá nách, phổi, cánh tay, lưng, bụng, đùi đều nằm trên vỏ não. Bây giờ ta dùng kim chích vào vùng vỏ não đầu gối thì đầu gối đau liền mặc dù không đụng tới đầu gối.

Hoặc là có những người bị tật nguyền mà mất chân vì lý do tai nạn, họ cứ thấy bị ngứa ngón chân cái, nhưng mà có để gãi không? Ngón chân cái không có để gãi nhưng vẫn bị ngứa, thì cái ngứa đó ở đâu? Vì vùng não của ngón chân cái còn. Vùng não bị cái gì đó nên ngứa ,nhưng nó phản ánh toàn thân là có ngón chân cái mà rờ không có chỗ nào để gãi hết. Ta hiểu như vậy, vỏ não của ta phản ánh cơ thể của ta. Nó có chức năng, trách nhiệm phản ánh toàn cơ thể của ta. Tự nhiên, bình thường và bình yên như thế. Thế nào khi ta sống mà ta bị căng thẳng, khi ta sống mà ta được thư giãn? Tức là vỏ não làm việc đúng chức năng của nó.

Ví dụ như là phần vỏ não thể hiện về cánh tay của ta mà nó được an trú nơi cánh tay của ta thì nó là thư giãn, nó bình yên. Nếu vỏ não đó buộc nó phải suy nghiệm về vấn đề khác thì nó trở nên căng thẳng dần, gọi là tâm ta động. Ta mệt, ta phải làm việc. Khi não ta làm việc nghĩa là gì? Là nó không thực hiện đúng với cái chức năng tự nhiên của nó, bắt đầu nó phải động qua vấn đề khác. Nhiều ý niệm khác đi vào. Như cái vùng đó chịu trách nhiệm về lưng nhưng vây giờ nó không chịu trách nhiệm về lưng nữa mà lúc đó đang suy nghĩ về người hàng xóm, về việc hơn thua, cãi lẫy… là nó rời khỏi chức năng đó. Gọi là não ta bắt đầu đi vào Stress, căng thẳng. Còn nếu vùng não của cái lưng mà nó phản ánh đúng cái lưng, an trú đúng cái lưng thì nó trở nên nhẹ nhàng, bình yên. Đây là mấu chốt phải hiểu được chỗ này mới hiểu sâu hơn nữa vào Thiền từ từ.

Nói lại, một ví dụ khác. Ví dụ như một người canh trước Chánh Điện, họ ngồi đó, biết hết mọi vấn đề từ hồi nào tới giờ rồi, như là cửa trên có mấy phần, cửa dưới có mấy phân, ai đi ra đi vô đều biết hết. Nhưng bây giờ họ ngồi đó mà không cho họ canh Chánh Điện nữa, bắt họ ngồi đó tính toán kế toán của chùa, thì lúc đó họ phải mệt hơn. Còn bây giờ không tính toán, cho họ về đứng yên đó trở lại làm công việc đúng chức năng thì họ thoải mái, bình yên lại liền.

Từng vùng não phản ánh mọi điểm trên toàn thân chúng ta, đó là mấu chốt làm cho mình định hay động. Vì thế, khi ngồi thiền mà ta an trú toàn thân, ta không nghĩ chuyện khác nữa, có nghĩa là cái vỏ não bình yên. Nó trở lại trạng thái tự nhiên của nó. Đó là bước thứ nhất để đi về phía thư giãn chứ Thầy chưa nói định. Đó là lý do tại sao ngày xưa Đức Phật bảo ta là phải cảm giác toàn thân, là để cho vỏ não trở lại đúng chức năng từng vùng của nó. Đó là công thức bí mật vô cùng. Bây giờ ta mới thấy sợ Đức Phật. Thời đó Đức Phật không thể giải thích vì khoa sinh lý học của não chưa ra đời. Nên Đức Phật dậy ta rất kỹ về điều này mà không giải thích. Đến hàng ngàn năm sau cũng không ai giải thích được. Rồi người ta bỏ luôn cái thân, vì cứ nghĩ tu tâm là nắm tâm mà tu, không ngờ rằng thân chính là gốc của tâm.

Sự thật, khi tu hầu như không ai an trú toàn thân cho kỹ mà luôn luôn bị rời khỏi thân. Rất nhiều lần tâm ta bị rời khỏi thân. Có 3 lý do khiến tâm bị rời khỏi thân:

- Vọng tưởng kéo ta đi, hễ động tâm là rời khỏi thân liền. Nguyên nhân này người mới tu thường hay bị.

- Khi tâm ta bắt đầu yên, rỗng sáng làm cho ta thích thú, ta chiêm ngưỡng, ngắm và an trú trong đó, ta cũng bị rời khỏi thân. Người tu tốt cũng dễ bị mất cái thân, mà mất thân là mất cái gốc, rồi sẽ bị loạn trở lại. Nguyên nhân thứ hai này người tu lâu thường bị mắc phải, khi gặp trạng thái rỗng sáng, thích thú là bỏ thân để an trú trong đó. Mà trạng thái đó nằm trên đầu. Vì thế lâu dần lực sẽ từ từ chạy lên đầu gây Tẩu hỏa nhập ma, điên loạn.

- Do ta không xác định vững lập trường phải an trú toàn thân. Ta còn mơ hồ về công phu là phải an trú toàn thân, tức là tâm ta lúc nào cũng phải an trú trên da của ta, không rời khỏi da. Ta không xác định lập trường rõ ràng nên bất cứ chuyện gì cũng làm cho ta không an trú toàn thân đầy đủ, vững chắc, rõ ràng, đầy đủ. Cho nên nói biết rõ toàn thân thì cũng chỉ biết hơi hơi thôi. Tâm vẫn bị để ý chỗ này, chỗ kia nên không an trú tòan thân một cách vững chắc, rõ ràng. Nhưng đừng chặt chẽ vì chặt chẽ thành ra dằn ép, nghĩa là phải thật nhẹ nhàng nhưng kỹ lưỡng.

Câu 3: Khi nào vọng tưởng khởi lên ta phải làm gì?

Chỉ cần trở lại an trú toàn thân, chỉ như vậy, đơn giản vậy thôi. Thật ra, ta biết được vọng tưởng để trở lại an trú toàn thân là ta đã có phước rồi nên mới sực nhớ là ta đang bị vọng tưởng để mà trở lại an trú. Còn ta không có phước thì sao? – Ta cứ đi mãi đi mãi. Nên chỗ này là nhờ cái phước mà ta gây tạo từ đời xưa cho đến đời này, ta cẩn thận từng chút một trong ý nghĩ, trong đời sống, mà đến khi vọng tưởng khởi lên ta sực nhớ mà nhớ rồi thì bắt đầu mỗi pháp môn đi theo pháp môn của mình. Người niệm Phật thì quay lại niệm Phật, người tri vọng quay lại tri vọng, hơi thở quay lại hơi thở, thoại đầu quay lại thoại đầu. Mình thì quay lại an trú toàn thân.

Khi ta an trú toàn thân đúng rồi, ta sẽ thấy một điều tự nhiên thế này ( điều này khí công gợi ý cho ta) ta từ từ an trú nhiều ở nơi vùng da bụng. Nhưng vùng da bụng không phải là tất cả mà chỉ giống như là một sự chữa trị cho ta, lâu nay ta cứ để tâm trên đầu, mắt nhìn theo sắc, tai theo tiêng, mũi đắm theo hương, đầu ta chạy ra ngoài theo ngoại cảnh. Cho nên ta an trú toàn thân một thời gian thì từ từ ta an trú phần da bụng. Khi có kết quả Thiền định thì ta lại an trú toàn thân. Nhưng ban đầu, cái tự nhiên cả ta thường là an trú nơi bụng. Vì thế, lúc đầu ta tập khí công là để gợi ý điều đó. Khi mà tự nhiên cũng đạt như vậy.

Ta an trú toàn thân sẽ hết vọng tưởng. Đây là điểm khác nhau của ta và các pháp môn khác. Thân là gốc của tâm. Khi ta an trú thì thân sẽ rỗng suốt, nhẹ nhàng.

Câu 4: Tại sao phải biết thân vô thường và biết sâu xa, biết cho tới khi mà xương sau này sẽ tan thành bụi bay mất?

Khi ta biết toàn thân thì não ta bình an lại, thư giãn lại, nhẹ nhàng lại. Nhưng thẳm sâu bên trong thì những bản năng vẫn còn nguyên vẹn. Bản năng là những ham muốn của thân, những khát vọng của cuộc sống, những cái cố chấp của tâm nó tiềm tàng là do ta chấp thân. Vì khi ta biết thân thư giãn rồi nhưng ta vẫn quý cái thân thì toàn bộ cái chấp vẫn tồn tại và phát triển. Khi biết rõ toàn thân có thể làm ta quý cái thân này. Và đây chính là chỗ khác nhau giữa đạo Phật và ngoại đạo. Ngoại đạo tu, họ cũng biết thân. Họ biết cái luân xa này, cái luân xa kia để khai mở từng luân xa nhằm đạt được quyền năng, vì vậy họ quý thân. Ngang chỗ này là phân biệt ra đạo Phật với ngoại đạo liền. Tại sao khác nhau giữa Thiền và Yoga, khí công của ngoại đạo. Cũng là chỗ này. Ta biết thân, ta quý thân, ta biết huyệt này huyệt kia, ta trở thành ngoại đạo. Ta biết thân nhưng biết thân này là vô thường thì lần lần ta phá tan hêt những bản năng, những cố chấp trong thẳm sâu, trong tâm hồn mình, trong cuộc đời mình luôn.

Ví dự như thế này, Thầy nói một cái ngặt nghèo nhất của người tu là vấn đề ái dục. Ái dục nó là bản năng tự nhiên. Nó mãnh liệt ghê lắm, không có gì cản lại được. Nhưng nếu ta ngồi Thiền ta thấy thân vô thường thời gian dài dài… thì những cái đó mất. Bắt đầu ta mới thấy được cái như Đức Phật nói là ví dụ như một người nam nhìn một người con gái đẹp, ta không hề quán họ là vô thường, không hề quán họ là bất tịnh, không cần, ta chỉ quán chính ta. Ta chỉ quán chính ta là vô thường. Nhưng bây giờ người con gái đẹp xuất hiện là mìn nhìn ra: người này đẹp như thế nhưng rồi nhan sắc họ sẽ tàn phai, tánh tình họ sẽ thay đổi, họ nhăn nheo, già nua. Ngày hôm nay thấy vậy ngày hôm sau nhìn khác. Hôm nay nhìn thấy người dịu dàng, bóng áo nâu in trên đường trăng, nhưng ngày mai nhìn thành ác quỷ không hay. Mọi chuyện trên đời là vô thường, thay đổi.

Mà nhìn cái đó xuất hiện chính là do ta quán thân vô thường, khi cái bản năng của ham muốn hết thì mình nhìn vấn đề ra rất là rõ và nhìn trùng hợp như Đức Phật đã dạy trong kinh. Nên cái quán thân vô thường lâu ngày nó phá dần các bản năng của ta hết. Và trong cái không chấp thân đó sẽ mở ra những cánh cửa trí tuệ, đi sâu vào tâm thức, phá những thói hư tật xấu, những bản ngã của ta. Những cái ngày xưa ta tham bây giờ hết tham, những cái ngày xưa ta sân bây giờ hết sân. Rất là vi diệu. Cho nên Thầy nói bước thứ nhất mà biết rõ toàn thân làm cho não chúng ta trở lại đúng chức năng, thư giãn.

Và nếu ta không thấy thân vô thường, ta quý thân thì những bản năng tiềm tàng vẫn nằm trong đó. Tuy thư giãn mà trong người đầy tham muốn thì vẫn ẩn chứa một sự sa đọa dữ dội về sau. Còn ta biết rõ toàn thân, rồi biết thân vô thường thì nó mất dần và hết luôn. Mà cái biết toàn thân luôn đi đôi với thân vô thường. Biết vô thường là biết đến mức độ nào? – Là biết tới khi thấy xương tan thành bột bay đi mất luôn. Luôn luôn phải biết cho tới cái đó, chứ không được biết một cách cạn cợt. Biết như vậy mới phá được cái chấp sâu thẳm trong bản năng ta được. Khi mới bắt đầu, ta phải mất vài phút để quán cho thật kỹ nhưng sau này, chỉ thoáng một sát na thôi là sẽ thấy suốt quá trình đó liền.

Câu 5: Tại sao biết hơi thở mà không điều khiển?

( Bài trả lời ba câu hỏi tại sao?)

Khi thần kinh thở được hưng phấn thì những vùng thần kinh não khác tự nhiên đi vào ức chế. Nghĩa là khi ta chú ý thở tự nhiện thì não không động tâm vì những chuyện khác, tự nhiên nó vào định. Ngành y học và thần kinh não đã phát hiện ra điều đó, rất phù hợp với Thiền cùa đạo Phật, cũng như với Yoga và khí công của Trung Hoa. Nhưng Yoga của Ấn Độ và khí công của Trung Hoa đều thua Thiền của đạo Phật ở chỗ là Thiền của Đạo Phật chỉ biết hơi thở mà không điều khiển.

Hơi thở phản ánh hoạt động của tâm thức. Ví dụ như ta động tâm những vấn đề bình thường thì hơi thở nó sẽ thở như thế. Ta căng thẳng tập trung thì hơi thở nó sẽ mạnh như thế, nếu ta có thêm cảm xúc, sợ hãi, thương ghét, hơi thỏ sẽ càng thấy rõ hơn nữa. Tức là mọi hoạt động của tâm thức được biểu hiện qua hơi thở. Vì vậy, khi ta biết hơi thở tức là ta biết hoạt động tâm thức ta. Ta không cân nhìn trực tiếp vào tâm ta đang vui hay đang buồn mà chỉ cần biết hơi thở ra vào thế nào là ta đang biết tâm của ta. Khi thở nhẹ nhàng, bíết tâm đang yên dần, khi hơi thở mạnh, biết tâm đang động.

Bây giờ nói ta thấy hơi thở mạnh nên kìm lại cho tâm êm lại, được không? Đó chỉ là cách chữa trên ngọn. Giống như nói tay mình thiếu đường chỉ này nên nghèo, lấy dao cắt một cái cho nó giầu vậy. Cho nên, hơi thở là biểu hiện của tâm, nhưng không phải là ta ép, điều khiển hơi thở mà làm tâm hết vọng tưởng. Đúng là kiềm chế hơi thở thì tâm yên, nhưng một nguy cơ thứ hai phát sinh, đó là sự tăng trưởng bản ngã. Cái ý điều khiển hơi thở sẽ làm tăng trưởng ngã chấp. Nên người mà ta thấy họ tu điều khiển hơi thở trong khí công hay Yoga ta thấy bản ngã họ tăng lên dần dần.

Còn những người khi thấy hơi thở mạnh, liền biết tâm mình động. Chỉ cái biết đó thôi là như đã sám hối rồi, nên chỉ lát sau hơi thở tự dịu lại, ta không điều khiển. Như vậy, tâm thức cũng giảm động mà không tăng trưởng bản ngã. Cái ưu việt của việc biết mà không điều khiẻn hơi thở là làm tâm thức lắng xuống mà không làm tăng trưởng bản ngã. Mấu chốt nằm ở chỗ này. Đó chính là lý do mà tại sao Phật dậy ta: “Hơi thở dài biết dài, hơi thở ngắn biết ngắn, hơi thở ít biết hơi thở ít, hơi thở nhiều biết hơi thở nhiều”. Chỉ cái biết đó thôi là đã điều chỉnh được tâm thức, còn nếu ta điều khiển, bản ngã tăng trưởng dần dần liền.

Những điều sâu xa trong việc tu tập như thế này là ưu việt của đạo Phật. Chúng ta may mắn được làm đệ tử của Đức Phật, có nói thế nào cũng không bày tỏ được hết lòng biết ơn của chúng ta với Đức Phật.

Qua một thời gian tu tập thì ta được rỗng suốt từ thân tới tâm. Lúc đó, những vọng tưởng manh nha thì ta biết hết. Tới chỗ này mới biết được cái tri vọng của Hòa thượng Thanh Từ. Mỗi pháp môn giao nhau ở chỗ tri vọng. Tu đúng rồi vọng tưởng khởi biết liền. Nhưng dù biết vọng tưởng rồi, nhớ đừng rời khỏi thân vì lúc đó nó nhử ta.

Khi công phu của ta vững rồi, rỗng suốt rồi thì ta sẽ bị hai nhược điểm là lúc đó mình rời khỏi thân mình để chiêm ngưỡng sự rỗng rang đó. Lúc đó ta rời khỏi cái thân là ta vi phạm nguyên tắc căn bản thứ nhất. Nghĩa là sao? Là não của ta lúc đó không còn an trú đúng chỗ của nó nữa. ta nhì cái rỗng, không để ý cái thân nữa, bắt đầu sai.

Cái thứ hai nữa là ta thích thú, ta quan sát cái vọng tưởng vì nó nhớm nhớm rồi tan biết liền làm ta rất thích thú cái công phu đó. Vọng tưởng tế vừa mới phát triển, ta thấy là phải buông liền. lúc đó ta không rời thân để nhìn tâm. Nó sẽ dụ ta nên hãy nhớ là nhiều lúc xuất hiện trạng thái rỗng suốt rồi những vọng tưởng vi tế xuất hiện, ta thấy, ta phát hiện ngay từ đầu thì chớ dại mà bỏ thân mình. Tiếp tục biết rõ toàn thân, biết thân vô thường, biết hơi thở vào ra mà không điều khiển. Cứ như vậy mà đi, giống như mũi thuyền phía trước nhưng mình điều khiển thuyền thì mình cầm cái bánh lái đằng sau. Đừng thấy mũi thuyền đi phía trước qua những thác những ghềnh, những qua bãi hoa đẹp thì ta đi điều khiển mũi thuyền. Ta ta có biến chuyển qua bao nhiêu trạng thái thì kệ nó, ta chỉ cần biết thân. Biết thân vô thường, biết hơi thỏ vào ra mà không điều khiển.

Hôm nay, thầy trả lời câu này, cũng là nâng cấp lý luận rất lớn về công phu tu tập Thiền của chùa ta cho đại chúng hiểu như vậy.

( Bài trả lời bẩy câu hỏi về Thiền)

Khi ta an trú toàn thân thì ta còn hơi chấp thân, khi ta biết thân vô thường thì trong thẳm sâu của thân ta tự nhiên buông lỏng, buông chấp ra là nhẹ liền. An trú thân là an trú tâm rồi, nhưng mà mình biết thân vô thường thì mức an trú sâu hơn, làm ta lỏng tâm ra liền. Khi tâm bắt đầu thanh thảnh thì ta thấy hơi thở vào hơi thở ra. Lúc này khi biết hơi thở rồi thì luôn luôn tự nhiên nó phải điều khiển. Đó là bệnh tự nhiên của chúng sinh, khi điều khiển hơi thở thì ý chí tăng lên và bản ngã cũng tăng lên. Người tu tập nhiều mà có điều khiển hơi thở thì sinh ra nóng nẩy. Vì vậy, ta thấy hơi thở nhưng không điều khiển. Nhưng nếu chỉ biết hơi thở thôi là một sai lầm. Đây là cái sai của rất nhiều bậc đạo sư trên thế giới. Khi ta thấy hơi thở hiện ra và ta chỉ còn biết có một hơi thở mà quên mất cái thân, ta sai liền. Nói gì thì nói, ta vẫn có điều khiển, mà muốn không điều khiển thì phải biết rõ toàn thân, biết thân vô thường, trong đó có biết hơi thở thì lúc đó ta mới biết hơi thở vào ra một cách thanh thản, tự nhiên mà không điều khiển.

Câu 6: Trong đời sống hàng ngày nếu phải lao tác, sắp xếp, tính toán thì phải dụng công thế nào?

Nhiều người trả lời trật câu này, cứ tưởng trong đời sống ta phải làm phước hay đạo đức. Đó là căn bản của Thiền, không cần nói lại.

Bây giờ mọi người nhìn Thầy, hướng về Thầy thì tâm hướng về đâu? Tất nhiên là hướng về Thầy, nhưng mọi người phải để lại một cái tâm ở nơi cái thân cho Thầy, nhẹ nhàng biết là đang giữ tâm lại ở thân. Khi mình bước vào làm việc, hoặc nghe người ta nói chuyện, tai vẫn nghe, miệng vẫn nói chuyện nhưng vẫn có cái tâm ở lại nơi thân mình.

Trong đời sống hàng ngày, ta phải dụng công như thế. Trong sổ nhật trình, ta ghi ngày hôm nay, trong khi làm việc mình đã ở lại với thân mình được nhiều hay ít hay luôn luôn bị mất, bị gián đoạn, bị hoàn cảnh lôi kéo, tác động. Làm sao mà suốt ngày, khi ăn cơm, khi nói chuyện mình vẫn giữ được một cái tâm nơi thân cho mình. Còn khi không có việc gì hết thì sao? Thì an trú thân hoàn toàn, thanh thản. Và luôn biết thân vô thường, hễ biết toàn thân là phải biết thân vô thường. Nếu công việc căng thẳng thì có một cái tâm biết thân. Nếu công việc không căng thẳng thì thêm ý niệm thân vô thường, còn nếu không có công việc thì hơi thở hiện ra luôn, giống như lúc ngồi thiền. Khi ngủ cũng như vậy. Trước khi ngủ ta có vài tâm nguyện gì đó tùy mỗi người rồi an trú thân và thấy hơi thở vào ra không điều khiển.

Câu 7: Kết quả Thiền định bắt đầu từ đâu?

Kết quả bắt đầu từ đâu. Mà sự thật do tâm, tâm an đến mức độ nào đó thì kết quả hiện ra nơi thân. Ở câu này, ai tu tới đây thì sẽ biết, sau đó nói Thầy nghe. Thầy không nói. Ta nghe người nào nói họ tu Thiền đạt tâm thế này thế kia mà không nói về kết quả của thân, ta biết người này đi lạc hướng, không có căn bản.

                                                        THÍCH CHÂN QUANG (Phật Quang)

MỘT SỐ BÀI GIẢNG AUDIO CỦA TT THÍCH CHÂN QUANG

07. Giúp nhau sinh kế
Download

08. Đạo đức giao tiếp
Download

09. Hãy tự mình thắp đuốc mà đi
Download

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Mười Hai 4, 2009 in Phật Giáo, Thích Chân Quang

 

Thẻ: ,

Chánh đạo – TT Thích Chân Quang

CHÁNH ĐẠO

Bài giảng tại chùa Bửu Thắng, Krong Buk, Daklak
Hôm nay chúng ta sẽ nói với nhau về đề tài Chánh Đạo. Vì sao ta nói chuyện về Chánh Đạo? Bởi vì trên đời này có hai loại đạo: một là Chánh đạo, hai là Tà đạo.
Chánh đạo là đạo đúng đắn mà nếu ta tu theo được Chánh đạo đó thì ta sẽ làm những điều đúng, cuộc đời ta được hạnh phúc, Thần Thánh ở trên cao sẽ phù hộ cho ta để cuộc đời ta có nhiều may mắn, được phát triển, được giàu sang, được mọi điều tốt đẹp,… và thậm chí khi ta chết đi rồi ta sẽ được về nơi rất hạnh phúc, an lành.
Còn Tà đạo là gì? Tà đạo là những đạo sai lầm, dạy cho ta sai lầm, làm cho ta đối xử với mọi người xấu, ác thế là sau này ta mắc Quả báo làm cuộc đời ta không may mắn, Thần Thánh không phù hộ cho ta, đời ta gặp nhiều đau khổ và thậm chí khi ta chết đi rồi ta sẽ về một nơi rất đau khổ.
Cho nên sống trên đời này ai cũng cần có một đạo để đi theo và quan trọng là phải tìm cho ra một Chánh đạo để đi theo, đừng bao giờ để lầm mà đi theo Tà đạo.
Thường ta sẽ nghe nhiều người giới thiệu về đạo, khi đạo này khi đạo kia, và quan trọng là khi người đi giảng đạo họ cũng thường tự xưng họ là Chánh đạo. Mình nghe họ xưng họ là đạo đúng, là Chánh đạo cho nên đôi khi mình cũng không phân biệt được ai là Chánh đạo, Tà đạo; mình tưởng rằng ai cũng là Chánh đạo nhưng sự thật không phải vậy. Người nào cũng tự xưng mình là Chánh đạo, miệng nói Chánh đạo nhưng bên trong họ là Tà đạo. Đây là điều mà người Phật tử ta phải cẩn thận, phải tinh tế để nhận ra cái gì là Chánh đạo, cái gì là Tà đạo.
Ví dụ mình ở trong buôn làng, có một người đi tới để truyền đạo, họ cũng nói đạo của họ là cao siêu nhất, là chân chính nhất và nếu mình không có bản lĩnh, không có trí tuệ, gặp ai mình cũng tin thì có lẽ một lúc nào đó mình sẽ theo lầm một Tà đạo. Và nếu theo lầm Tà đạo rồi thì cuộc đời mình sẽ rơi xuống vực thẳm, coi như chìm trong hố sâu, xem như vứt vào giỏ rác luôn. Nhưng mình không biết, mình cứ tưởng mình đi con đường đúng, đi con đường hay. Nên vì vậy, người Phật tử phải có con mắt sáng, phải có trái tim sáng, phải có đôi tai rất thính để khi nghe người ta nói, nhìn người ta làm thì tâm mình hiểu ra ai là Chánh đạo, ai là Tà đạo. Chánh đạo là những cái đúng, cái hay, cái sâu xa mang lại lợi ích, hạnh phúc cho đời này và những đời sau. Còn Tà đạo, mới nói nghe có vẻ hay nhưng khi ta theo Tà đạo đó rồi, ta sẽ dần trở nên hung hăng, dữ tợn, chia rẽ rồi ta làm những điều xấu xa để khi ta chết đi rồi ta sống đều vào những nơi đau khổ. Nên quan trọng của cuộc đời con người chính là tìm ra một Chánh đạo để đi theo.
Vậy đạo Phật có phải là Chánh đạo không ạ? Đạo Phật là Chánh đạo nhưng đừng tưởng ai theo đạo Phật cũng đều là chân chính. Tại sao vậy? Bởi vì giữa danh nghĩa bên ngoài và thực chất bên trong của một con người là khác nhau. Nên có khi danh nghĩa bên ngoài là tốt nhưng cá nhân con người là xấu.
Ví dụ mình nói Nhà Nước ta tốt hay xấu? Nhà Nước ta tốt! Nhưng có phải ai cũng tốt không? Có những cán bộ vì động cơ cá nhân nên đã làm những chuyện sai quấy, thậm chí nhiều khi ăn hiếp dân. Vì vậy ta phải hiểu cái lớn là như thế, cái nhỏ là như thế mà không buồn. Ví dụ ta biết Nhà Nước ta là tốt, là Chánh đạo nhưng có một, hai cán bộ có những sai lầm như họ đến la mắng mình, ăn hiếp mình thì mình biết cá nhân con người này tuy là người của Nhà Nước nhưng cá nhân họ không phải là Chánh đạo, coi chừng người này là Tà đạo.
Đừng tưởng bên ngoài đúng thì cái gì cũng đúng hết. Ví dụ đạo Phật ta là Chánh đạo nhưng có phải ông thầy tu nào cũng chân chính không? Không! Có những ông thầy tu cũng phạm những sai lầm! Vì vậy ta đi theo con đường Chánh đạo nhưng không phải cá nhân nào ta cũng tin vì còn có người sai, người đúng lẫn lộn ở trong đó rất nhiều. Thấy họ xưng họ là Chánh đạo nhưng việc làm của họ nhiều khi lại là Tà đạo cho nên ta phải sáng mắt nhìn cho rõ! Ví dụ như có người vào buôn làng cho ta gạo, cho ta tiền, họ nói ngọt với ta, họ nói họ thương ta. Như vậy họ có phải là Chánh đạo không? Hành động thì rất giống Chánh đạo, vì khi ta đang thiếu thốn họ lại cho ta mấy chục ký gạo, cho tiền, nói tôi thương bạn lắm,… nhưng ta phải cẩn thận. Trên đời, giữa Chánh đạo và Tà đạo rất khó phân biệt! Họ cho mình tiền, họ nói thương mình nhưng sau đó lại xúi mình làm chuyện bậy thì đó chính là Tà đạo. Còn những người nào ban đầu họ cho mình gạo, cho mình tiền,… nhưng sau đó lại hướng dẫn mình làm những chuyện đúng với luật pháp quốc gia, đúng với đạo lý mà ông bà ta từ ngàn xưa để lại, họ hướng dẫn ta sống có đạo đức để sống với xã hội này yên vui thì ta biết đó là Chánh đạo. Tức hành động của họ là chân chính, tâm họ sáng nên hướng dẫn mình làm những điều đúng, còn những người ban đầu có vẻ như Chánh nhưng hành động về lâu về dài lại là Tà. Vì vậy ta phải rất cẩn thận!
Và nhiều khi những điều nào dễ hiểu coi chừng cũng không phải là Chánh đạo! Ví dụ như ngày xưa khi Đức Phật tu hành sau 6 năm khổ hạnh, rồi Ngài ngồi kiết già dưới cội bồ đề, 2 chân bắt chéo, 2 tay để lên lòng như vậy, bất động, lưng thẳng, mắt nhắm, Ngài nhập định, không ăn, không ngủ, không đi tới, đi lui suốt 49 ngày. Lúc đó ma ở trên trời hiện xuống phá Ngài, đầu tiên nó hiện thành những cô gái đẹp để dụ Ngài nhưng Ngài không động tâm, không nhúc nhích; sau nó hiện ra những tên cướp lấy cung tên đâm Ngài nhưng Ngài không nhúc nhích, cung tên không xâm phạm, không đụng vào cơ thể Ngài được. 49 ngày Ngài ngồi không nhúc nhích, Ngài đắc được thần thông cao siêu, hào quang chiếu sáng cả trời đất, khi Ngài đắc đạo rồi Ngài mới thấy hết trời đất vũ trụ này là như thế nào, lòng thương yêu của Ngài phủ trùm khắp chúng sinh trong cõi đời này nhưng Ngài cứ ngồi yên như vậy.
Lúc đó ông trời mới thấy Ngài đắc đạo rồi, hào quang chiếu sáng từ cõi đất lên đến cõi trời thì ông mới đến, chắp tay quỳ xuống thỉnh Ngài: “Kính bạch Đức Thế Tôn! Thế Tôn đã đắc đạo rồi mà chúng sinh còn u mê tăm tối, không hiểu thế nào là Chánh đạo, chúng sinh nhiều người còn bị Tà đạo làm mê muội cho nên con kính thỉnh Đức Thế Tôn thuyết pháp đem lại Chánh đạo cho chúng sinh để chúng sinh được sáng mắt, được mở lòng mà đi theo con đường Chánh đạo, nhờ đi theo con đường Chánh đạo này mà chúng sinh không bị rơi vào hầm lửa, không rơi vào hầm chông, không rơi vào nước sôi, không rơi vào đau khổ”.
Đức Phật mới nói thế này: “Này Phạm Thiên, Chánh đạo mà Như Lai đắc được rất là khó hiểu đối với chúng sinh”. Đúng là như vậy, đạo lý cao siêu khó mà hiểu được! Lúc đó ông trời mới quỳ xuống và chắp tay với Đức Phật: “Bạch Đức Thế Tôn! Đúng là Chánh đạo rất khó hiểu nhưng mà kính bạch Đức Thế Tôn, có những chúng sinh căn cơ cao cũng giống như hoa sen còn chìm trong mặt nước, sắp sửa vươn lên khỏi mặt nước, nếu Thế Tôn thuyết giảng Chánh đạo này thì chúng sinh đó cũng giống như hoa sen vượt khỏi mặt nước mà nở ra thành một đóa hoa đẹp ngời tỏa hương thơm ngát. Có những chúng sinh căn cơ thấp cũng như mụt sen còn nằm dưới sình nhưng mà nhờ Chánh đạo của Thế Tôn thuyết giảng sẽ từ từ ló lên khỏi bùn sâu, vươn lên từ từ trong ao nước, một ngày nào đó, một vài trăm năm sau, một vài ngàn năm sau cũng có thể vươn lên khỏi mặt nước trở thành một đóa hoa sen thơm ngát. Kính xin Đức Thế Tôn hãy vì chúng sinh mà cất lên lời thuyết pháp”. Phạm Thiên nói hay quá, Thế Tôn mỉm cười chấp nhận, giây phút Thế Tôn mỉm cười chấp nhận thuyết pháp thì đất trời rung động, Phạm Thiên mừng quá nên đảnh lễ Đức Thế Tôn 3 lạy, đi vòng quanh Thế Tôn 3 vòng để bày tỏ lòng tôn kính rồi biến mất trở về cõi trời để quan sát, theo dõi Đức Phật suốt 45 năm sẽ đi thuyết pháp như thế nào. Và đúng như vậy, 45 năm sau Đức Phật thuyết pháp tạo thành Chánh đạo mà ngày hôm nay ta gọi là đạo Phật và đạo Phật lan truyền suốt mấy nghìn năm nay.
Thế tại sao giáo Pháp là khó hiểu, không phải chúng sinh nào cũng có thể hiểu được? Bởi vì sự thật rất khó hiểu!
Ví dụ như khi ta còn bé ta thấy mưa trên trời rơi xuống ta mới hỏi ba mẹ ta “mưa từ đâu rớt xuống?”, người cha người mẹ không biết trả lời mới nói là ông trời khóc. Ta trả lời vậy cho nhanh, cho gọn.
Hỏi nước sông, nước suối ở trên nguồn từ đâu mà chảy mãi? Trả lời “ông trời nhổ nước miếng đó con|”.
Ví dụ như có một đứa bé đi ngoài đường bị tai nạn giao thông chết, hỏi sao bị xe tông chết vậy thì trả lời rằng ông trời sai xe cán nó chết… Cứ đổ thừa cho ông trời hoài! Vậy tại sao chuyện gì ta cũng đổ thừa tại ông trời? Bởi vì điều đó dễ trả lời! Nhưng cái gì dễ trả lời là cái đó sai, không đúng!
Bây giờ ta có thể trả lời mưa từ đâu rơi xuống. Ngày hôm nay ta biết rằng mưa là từ mây, mây gặp không khí lạnh đọng lại thành nước rơi xuống. Thế tại sao có nước sông chảy? Vì mưa rơi xuống, thấm vào rừng, rừng ứa vào mạch, mạch tập trung chảy vào một nguồn, một dòng tuôn xuống buôn làng ta để cho ta có nước tưới cá phê, tưới rẫy. Rồi bây giờ tại sao đứa bé bị xe tông cán chết? Tại ông tài xế lái xe ẩu mà cứ đổ thừa cho ông trời! Cho nên cái gì dễ trả lời là không đúng sự thật. Bởi vậy, Đức Phật chúng ta nói mọi chuyện trên đời do Nhân Quả, Nhân là hột, Quả là trái. Đức Phật dạy ta Nhân Quả này nghe khó hiểu hơn rất nhiều nhưng nó là Chánh đạo, là sự thật!
Nhân nào Quả nấy là như thế nào? Ví dụ khi ta trồng ớt thì ta phải có được trái ớt, ta trồng được hạt dưa thì ta có được trái dưa, ta trồng cà phê thì ta hái hạt cà phê. Cũng vậy, ta gieo xuống cuộc đời này hạt thương yêu thì cuộc đời ta gặp toàn thương yêu, đi đến đâu cũng được người ta thương yêu. Khi ta gieo hạt giúp đỡ thì mình sẽ hái được trái giúp đỡ, nghĩa là mình thấy ai khổ mình đến giúp, mình thấy ai bệnh mình phụ chữa bệnh người ta thì khi mình đi đến đâu cũng sẽ được người ta giúp đỡ, người ta không bỏ mình.
Ví dụ mình có việc gì đó mà lại bị lỡ đường, xe bị bể bánh, hết xăng, đứng chơ vơ giữa đồng ruộng, bụng thì đói, hoàn cảnh như vậy nhưng do phước mình đã gieo khi giúp đỡ hàng xóm trong buôn làng nên giờ trổ ra Quả báo khiến cho tự nhiên có người chạy qua hỏi mình “Anh làm sao mà đứng đó, trời thì bắt đầu tối, anh có vẻ xanh xao,…” Họ biết hoàn cảnh mình và giúp đỡ đưa mình về tới nhà. Như vậy, do mình gieo hạt giúp đỡ mọi người nên ngày nay mình được người khác giúp lại!
Quý Phật tử có mua vé số chưa? Có trúng số lần nào chưa? Nếu mình lỡ trúng số thì có phải ông trời cho mình trúng không? Không phải! Đó là tại Nhân gì đó mình đã gieo, hạt giống nào đó mình đã trồng dưới đất ngày xưa, khi mình thấy ai khổ quá mình đã đem cho người ta tiền hoặc trong làng mình có cái ổ gà, người ta đi ngang qua lại cứ bị té hoài, bữa đó mình không đi làm rẫy nữa mà lấy đất lấp cái hố đó lại cho con đường nó bằng phẳng để người ta đi qua đi lại bình an không té. Nhờ có một lần mình đã làm điều tốt nên mua vé số được trúng.
Nhân Quả đó là của chính mình, Phật cũng không cho mình, trời cũng không cho mình mà đó là luật Nhân Quả công bằng.
Ta gieo hạt gì ta sẽ hưởng trái đó, đó lá Chánh đạo.
Nhưng Chánh đạo này rất là khó hiểu. Ví dụ có một lần mình thấy hai người gây lộn với nhau rất ghê, có thể đánh nhau, mình đến can ngăn nhưng cuối cùng lại bị người ta đánh cho 2 cái. Mình nghĩ can người ta là tốt nhưng tại sao lại bị người ta đánh? Đây là do Nhân Quả mình đã gieo, đời xưa nào đó hoặc là kiếp trước cũng có một lần mình đánh ai đó 2 cái cho nên kiếp này mình can người ta đừng đánh lộn nhưng bị người ta đánh lại. Cho nên cái gì cũng có Nhân có Quả, mà Nhân Quả kéo từ nhiều kiếp, từ kiếp này qua kiếp kia.
Kiếp này qua kiếp kia là sao? Nghĩa là khi cha mẹ sanh ta ra bồng trên tay, chúng ta lớn lên từ từ rồi già chết là một kiếp. Nhưng một kiếp không phải là hết mà trước kiếp này ta cũng đã từng có một kiếp, ta cũng được sinh ra, lớn lên rồi già chết. Cứ hết kiếp này đến kiếp khác, ta được sinh ra, lớn lên già rồi chết. Điều đó đạo Phật gọi là luân hồi tái sinh. Ta cứ tái sinh từ kiếp này qua kiếp kia mãi như thế và đó là luân hồi vô tận rất là buồn chán. Mà trong luân hồi đó ta gieo Nhân nào lại gặt Quả đó… Nhưng kiếp này tái sinh qua kiếp kia rất là khó hiểu vì Chánh đạo là khó hiểu! Còn những ai giảng đạo cho ta nói những cái gì đơn giản, dễ hiểu coi chừng cái đó không phải Chánh đạo mà rất dễ rơi vào Tà đạo. Cho nên ai nói gì dễ hiểu quá ta đừng tin, mà phải hiểu Chánh đạo có gì đó khó khó đằng sau!
Ví dụ khi có ai đem tiền, đem gạo đến cho ta. Ta hãy suy nghĩ sao lại dễ như vậy, ở đâu có người đem gạo, đem tiền đến cho mình, nói thương mình? Cuộc đời không dễ như vậy! Chánh đạo không dễ như vậy! Ta phải cẩn thận vì đằng sau đồng tiền, bao gạo đó còn có cái gì nữa hay không? Cái phía sau đó mới là cái đáng sợ, mới là cái quan trọng mà ta phải hết sức cẩn thận! Cũng vậy, nếu ta trồng hạt giống thù ghét sẽ mọc lên cây thù ghét và ra trái thù ghét, nghĩa là nếu trong đời của ta, ta ghét người này, ghét người kia thì sau này khi đi đâu cũng bị người khác ghét bỏ mình bởi vì mình đã nuôi thù ghét ở trong lòng.
Nếu có người nào đó đến xúi ta, nói rằng: mình là người dân tộc, mình phải ghét người Kinh. Nếu ta tin theo họ, ta đã gieo hạt giống thù ghét xuống đất, hạt sẽ mọc lên cây thù ghét, mai mốt ta sẽ ăn trái thù ghét, nghĩa là đời ta đi đâu cũng bị người ta xua đuổi, thù ghét mình. Nếu ta gieo hạt giống đánh giết thì nó mọc lên cây đánh giết, nó sẽ mọc lên cây đánh giết, mai mốt ta sẽ phải ăn trái đánh giết đó, nghĩa là nếu ta hung hăng dữ tợn, gặp ai cũng đánh hoặc là tay ta cầm dao ta chém người nào, tay ta cầm súng bắn người nào, ta cầm trái nổ để quăng vào chỗ nào đó để ta giết người thì như vậy ta đã gieo hạt giống đánh giết xuống, sau này ta phải ăn trái đánh giết đó nghĩa là chính ta, gia đình ta sẽ bị khiến có người khác chém ta, bắn ta bù lại để trả lại Quả báo đó. Vì vậy, người đệ tử Phật không bao giờ được gieo Nhân đánh giết, không bao giờ mình cầm dao, cầm súng để bắn giết ai hết.
Lúc nào ta cũng nói chuyện bằng pháp luật, nói chuyện với nhau bằng tình thương yêu, có chuyện gì khúc mắc không bằng lòng với nhau thì gặp nhau mà bàn. Ví dụ như “bữa hôm trước con bò của tui qua nhà anh sao mà không biết giờ nó bệnh chết, giờ anh phải đền cho tui”, mình chỉ nói chuyện với nhau vậy thôi chứ không được cầm dao qua nhà người ta bắt đền con bò chết hôm trước rồi chém, giết người ta.
Không được gieo Nhân đánh giết một cách thô bạo mà phải bằng lời nói “không biết con bò nhà tui qua nhà anh rồi bị sao, giờ anh đền con bò cho tui”. Ban đầu người kia sẽ cãi “tui đâu biết, con bò nhà anh bịnh chết, sao anh qua đây bắt đền tui?”, nếu hai bên nói chuyện với nhau không được thì mình nên nhờ một già làng, một người lớn tuổi đứng ra phân xử dùm để xử làm sao cho công bằng chứ tuyệt đối không được cầm dao, cầm cây qua đánh người ta, vì như vậy là mình đã gieo Nhân đánh giết, sau này đi đâu mình cũng sẽ bị người ta đánh, người ta đập, người ta giết và đó là điều hoàn toàn không tốt tí nào. Đó là đau khổ! Vì vậy, mình không bao giờ được cầm vũ khí để đánh người, để giết người.
Tệ nhất là nếu người nào đó đưa cho mình khẩu súng, họ chỉ cho mình cách bắn, họ nói mình “Tập bắn đi! Ban đầu bắn thú rừng, sau này tìm người nào đó mà bắn!” thì đó là người cực ác, người đó là người rất ác độc, những người như vậy mình không được giao tiếp với họ, nếu cần mình phải báo chính quyền. Và ở giữa cuộc đời này có một người gieo Nhân đánh giết, xúi người ta giết nhau, đó là một người ác. Ta không được như vậy! Ta là đệ tử Phật, ta không được đánh giết ai! Ta là công dân của nước Việt Nam, ta chỉ muốn sống trong hòa bình, trong thương yêu, ta không bao giờ dại khờ mà gieo Nhân đánh giết lẫn nhau làm cho đời đau khổ và làm cho chính ta sau này sẽ bị Quả báo đau khổ.
Cũng như nếu ta gieo hạt giống đoàn kết, nó sẽ lên cây đoàn kết, mọc trái đoàn kết và ta sẽ hưởng trái đoàn kết đó cả đời. Nghĩa là nếu ta thấy ai chia rẽ, người này ghét người kia, người kia ghét người nọ, ta hãy đến và nói thế này “Sống trên đời, đừng ghét nhau, con người phải biết thương nhau, ở trong cùng làng cùng xóm là phải biết thương nhau, mà người khác làng cũng phải biết thương nhau, cả đất nước này phải thương nhau, phải đoàn kết với nhau, đừng ghét nhau, đừng chia rẽ với nhau”.
Nếu ta kêu gọi mọi người thương yêu nhau, đoàn kết với nhau như vậy, sau này ta hưởng trái phúc, ta hưởng trái đoàn kết là bạn bè ta đông vui, đi đâu ta cũng gặp người đông vui với mình chứ không bao giờ phải sống heo hút, cô độc. Ví dụ, có ông kia, miệng rất xấu, đi đâu cũng chia rẽ người ta, qua nhà người này nói xấu người kia, qua nhà người kia nói xấu người nọ, ông làm cho cả làng ghét nhau, không ai chơi với ai hết, tức là ông gieo Nhân chia rẽ, cô độc làm mọi người ghét nhau, không ai muốn nhìn mặt nhau hết. Lần đó, Quả báo đến với ông, ông nghe người ta rủ lên thuyền, ra biển chơi rất là thú vị, ông mua vé mất mấy triệu đồng; không ngờ Quả báo đến lúc trổ ra, bão tới đánh vỡ tàu, mỗi người trôi không sao, bão lắc làm tàu nghiêng, những người khác người ta bám vào tàu cứu được, ông đứng trên boong tàu, bão tới thổi ông bay xuống biển và còn bay thêm cái phao, ông ôm cái phao, trời gió bão làm tàu bay đi mất, ông ngồi bập bềnh trên phao trôi dạt vào một hoang đảo ở một mình trên đó. Trên hoang đảo đó, không một bóng người, ông phải đi tìm mạch nước, hứng nước mưa uống, bắt ốc ăn tầm bậy tầm bạ sống qua ngày. Mãi cho đến bốn năm sau, ông gầy yếu gần chết, mới có tàu đi ngang, ông kêu cứu, người ta thả phao vào cứu ông, ông phải trả Quả báo đó 4 năm như vậy là vì trong thời gian sống ở buôn làng ông đã làm người ta chia rẽ nhau.
Chúng ta cũng vậy nếu như mình gây chia rẽ làm người này ghét người kia, người kia ghét người nọ thì sau này ta cũng phải trả Quả báo là phải sống cô độc nơi rừng sâu, nơi hoang đảo. Còn nếu ta kêu gọi mọi người yêu thương nhau thì sau này bên cạnh ta lúc nào cũng có bạn bè yêu thương, cuộc sống ta tràn đầy niềm vui.
Nếu ta là cha, là mẹ, có con cái thì cũng phải dạy con mình Chánh đạo, mình nói rằng “Con bị chuyện gì xui thì đừng đổ thừa cho ông trời, ông trời không làm gì hết, mà con phải biết rằng xui hay hên là do Nhân Quả mà con đã gieo. Vì vậy con phải gieo hạt giống tốt để đời con được Quả báo tốt, con phải xúi mọi người thương yêu nhau, con phải giúp đỡ mọi người trong làng, trong xóm mình”.
Khi mình dạy con mình như vậy thì cuộc đời con mình sau này hạnh phúc, sung sướng. Chứ nếu thương con mình mà nghĩ rằng “mình để cho con mình nhiều mẫu rẫy, để cho con mình nhiều tiền” nhưng thật sự khi không để cho con mình trồng cây lành thì nó sẽ không được hưởng trái lành, dù để bao nhiêu đất nó cũng sẽ bán hết, dù mình có để tiền bao nhiêu nó cũng đánh bài hết. Vì vậy, thương con là biết dạy con Chánh đạo, đó là gieo Nhân gì sẽ hưởng Quả đó, phải gieo hạt thương yêu để được thương yêu, phải gieo hạt giúp đỡ để đi đâu nó cũng được giúp đỡ, phải gieo hạt đoàn kết để được đoàn kết, thương yêu chứ không bị sống cuộc đời lẻ loi, cô độc.
Bây giờ, sau một ngày ta lao động vất vả, ta ngoài đồng cuốc đất, trồng cây, nhặt củi, … làm việc rất vất vả. Đêm xuống ta trằn trọc không ngủ được, qua hôm sau ta sẽ rất mệt vì ngủ ngon mới có sức khỏe để nuôi gia đình, ông bà, vợ chồng, con cái ta. Mà tại sao lại không ngủ được? Có phải vì ta trồng cà phê không? Bởi vì Nhân nào Quả đó, trồng cây ‘làm người ta mất ngủ’ nên giờ mình không ngủ được! Nhưng có một điều làm ta mất ngủ dễ sợ, đó chính là tâm thù ghét!
Ta ghét người, ta sẽ không ngủ được, còn khi ta thương người đêm ta sẽ ngủ ngon. Mỗi tối khi đi ngủ, mình nên nhớ trong đầu lúc nào cũng “mình thương yêu hết tất cả mọi người”, như vậy mình sẽ chìm vào giấc ngủ ngon lành. Ông bà mình cũng có dạy:
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng”
Nhiễu là tấm vải, điều là màu nâu, nhiễu điều ở đây có nghĩa là một tấm vải màu nâu. “Nhiễu điều phủ lấy giá gương”, thường bàn thờ ông bà ta có để một tấm gương, trên bàn thờ có treo một tấm vải màu nâu lên trên đó tức là khi ta nhìn lên bàn thờ tổ tiên ta có che một tấm vải màu nâu có nghĩa là tượng trưng cho ông bà tổ tiên ta, đất nước ta, Tổ quốc ta, mọi điều thiêng liêng trong đời của ta ở đó nên ta phải nhớ một điều “Người trong một nước phải thương nhau cùng” cho nên dù là người Kinh hay người dân tộc, ta đều là người Việt Nam, ta cùng ở chung trong đất nước này, đó là đạo lý từ ngàn xưa để lại, đó là đạo lý từ lương tâm của ta thôi thúc ta, ra lệnh cho ta. Cho nên trong cuộc sống này, có khi người đồng bào dân tộc ta có những điều khó khăn, có những điều chưa biết thì người Kinh phải có trách nhiệm hướng dẫn, giúp đỡ cho đồng bào dân tộc ta làm ăn, mua bán chứ đừng bao giờ mà ép mua rẻ, bán mắc.
Lúc nãy, ta nói người chết rồi chưa phải là hết mà phải chờ bao nhiêu năm để đầu thai qua kiếp khác, sanh ra làm em bé rồi già chết, ta cứ tái sinh luân hồi vậy hoài, như vậy ông bà ta khi chết rồi là chưa hết mà cứ lẩn quẩn đâu đó, vô nhà hay ra ngoài sân, cha mẹ ta chết rồi có khi đầu thai qua làng bên cạnh mà mình không biết được, con mắt mình không thấy được mà chỉ có những người đắc đạo, các bậc Thánh mới thấy được. Nhưng trong khi ông bà ta chưa đi đầu thai thì ông bà cha mẹ ta còn ở gần bên ta, vì vậy ta cần phải thờ cúng ông bà cha mẹ ta, trong nhà ta phải có bàn thờ tổ tiên. Ngoài thờ Phật, phải có bàn thờ tổ tiên, trong mỗi bữa ăn phải có một chén cơm nhỏ nhỏ, gắp một ít thức ăn và khấn “mời ông bà, cha mẹ về ăn cơm với con”, đó là để bày tỏ lòng hiếu thảo của ta mà cũng là thực tế khi ông bà ta chưa đi đầu thai chắc chắn đang ở đâu đó. Đó là Chánh đạo!
Cho nên nếu ta dẹp bàn thờ tổ tiên, dẹp bàn thờ Tổ quốc thì ta là Tà đạo! Nếu trong nhà ta chưa có bàn thờ tổ tiên ông bà, phải lập bàn thờ tổ tiên để cho ông bà cha mẹ ta dẫu mất rồi vẫn thấy vui lòng, vẫn thấy ấm lòng vì biết con cháu mình vẫn thương, vẫn nhớ, vẫn kính mình. Chứ đừng có kiểu cha mẹ mình mất rồi, mình không thèm thờ cúng. Đó là con bất hiếu. Sau này, mình mất rồi, sẽ bị Quả báo lặp lại, con cháu mình bỏ bê mình, không thờ cúng mình, không cho mình ăn, mình phải làm con ma đói. Mình cũng chỉ cần cúng ngày một lần vào bữa ăn chính là buổi trưa, không cần cúng buổi sáng và tối, đó là tục lệ thờ cúng mà cũng là Chánh đạo!
Bây giờ, trong gia đình ta nên có bao nhiêu người con? Sau này, Nhà Nước mình thấy rằng gia đình nào đông con thì gia đình đó nghèo khó, vì nuôi một đứa con rất cực khổ, phải cho nó ăn, phải nuôi dạy nó thành người. Mình đông con quá thì sẽ nuôi dạy không xuể, bỏ nó lăn lóc nên nó ốm nhom nhách, nuôi không đành hoàng, dạy không đàng hoàng nên nó không biết đến Chánh đạo. Cuộc sống con mình sai lầm, không có hạnh phúc thì mình cũng đau khổ, cũng buồn theo. Nên chỉ cần ít đứa nhưng nuôi dạy cho đàng hoàng, phải dạy cho nó Chánh đạo để nó sống cho đàng hoàng, và nhờ vậy, sau này nó hạnh phúc, giàu sang thì mình cũng được vui lây.
Khi Nhà Nước thấy đông con làm gia đình nghèo nên Nhà Nước mới nói “Thôi, nhà mình sanh 2 đứa thôi để dễ nuôi, dễ dạy”. Mình dạy con mình thế này: “Con phải biết trồng cây phước đức để sau này con được hưởng trái phước đức, con phải thờ ông bà vì có hiếu với ông bà thì ông bà mới phù hộ, con phải thờ Phật để Phật dạy cho mình Chánh đạo. Hàng xóm cất nhà, con phải qua con phụ với người ta, sống trên đời phải có tình làng nghĩa xóm, con đường ở làng mà có hư thì con không cần phải đợi ai rủ, ai nhắc nhở, con phải ra sửa lại cho bà con mình được đi an toàn chứ không thôi, buổi đêm tối trời, người ta không thấy đường chạy xe, sẽ bị té ngã tội nghiệp”.
Người mà thấy đường bị hư, bị ổ gà vội ra lấp lại thì sau này sẽ không bao giờ bị tai nạn, cuộc sống sẽ luôn luôn được nhiều may mắn, hạnh phúc.
Thấy cái cầu đi qua suối mà bị hư thì phải bắc cầu qua suối cho người ta đi, phải bắc cầu cho chắc, cho an toàn chứ không được để dang dở giữa chừng vì khi mình làm dở dang thì sau này khi đi máy bay sẽ bị rớt giữa chừng. Cho nên mình phải bắc cầu đến nơi đến chốn và cho mọi người được đi an toàn, làm điều lợi ích như vậy thì những người đó sẽ được Quả báo sau này đi đâu hay được đi bằng máy bay, và đi cũng an toàn chứ không bị rớt máy bay giữa chừng. Nếu mình xây cầu lớn một chút thì sau này sẽ được Quả báo có máy bay riêng luôn.
Khi mình phụ cất nhà cho hàng xóm sau này mình sẽ được nhà cao cửa rộng! Còn những người phụ cất chùa cũng rất có phước vì chùa là nơi thờ Phật, là nơi quý thầy quý cô ở, là nơi Phật tử đến đây tu hành, sau này họ sẽ xây được nhà lầu. Cho nên ai ở đây mà có nhà lầu thì phải biết rằng trong kiếp xưa mình đã từng phụ giúp cất chùa. Đây là điều chắc chắn đúng, vì đó là Nhân Quả! Cho nên mình cần phải dạy cho con mình làm những điều phúc thiện và dạy con mình yêu nước.
Con mình từ nào đến giờ không biết đến đất nước Việt Nam của mình lớn như thế nào, lịch sử của 4.000 năm cha ông mình đã dựng lên như thế nào, đã bảo vệ đất nước này hào hùng như thế nào cho nên là cha mẹ ta phải dạy “Nè con! Đất nước Việt Nam ta rộng lớn chứ không chỉ có cái làng của ta đây, không chỉ có cái Đắc Lắc, cái Buôn Mê Thuộc này mà thôi, không phải chỉ có Đắc Nông, Gia Lai này mà thôi, mà nó từ miền Bắc xa xôi đến miền Nam thăm thẳm. Khi nào lớn lên, con có tiền, con hãy đi một chuyến thăm đất nước của mình, con hãy đến miền Bắc thăm thủ đô Hà Nội, về đến miền Nam thăm thành phố Hồ Chí Minh, về đến mũi Cà Mau xem mảnh đất cuối cùng của Tổ quốc, con sẽ thấy đất nước mình lớn lao, tươi đẹp như vậy và chúng ta là con của đất nước này. Một đất nước yêu thương mà cha ông ta đã phải khó khăn giữ gìn, xây dựng thì ngày nay ta cũng phải thương yêu, giữ gìn, xây dựng đất mước này cho con cháu ta được sống trong hòa bình, trong thịnh vượng”.
Phải dạy con mình tấm lòng yêu nước như vậy! Vì sao? Vì có những kẻ ác độc, Tà đạo đến xúi giục ta đừng yêu nước. Và trước khi những kẻ này đến xúi giục con ta, ta đã kịp dạy con ta lòng yêu nước, yêu đồng bào “người Kinh ở kia cũng là đồng bào với ta, người dân tộc ở đây cũng là đồng bào với ta người Việt Nam ở xa xôi miền Bắc cho dù ta chưa bao giờ gặp cũng là đồng bào của ta, người ở miền Nam xa xôi ta chưa bao giờ đặt chân tới cũng là đồng bào của ta, đất nước ta như thế, dân tộc ta như thế, đồng bào ta như thế, anh em ta như thế, con phải biết thương yêu đồng bào mình, đất nước mình”. Như vậy, khi có bất cứ ai xúi giục con ta làm điều ác, con ta sẽ không làm những việc Tà đạo, sai lầm được.
Phật dạy ta thế này: “Có những điều mắt ta thấy được, nhưng tâm ta bên trong không thấy được”. Thấy cái tâm mới khó, chứ mắt ta thấy bên ngoài rất dễ. Ví dụ như có con đường bị hư, mắt ta nhìn thấy ngay, thế là ta sửa lại cho bằng phẳng, mọi người dễ đi. Hay nóc nhà ta dột ta nhìn thấy được nên ta lấy tranh ta che lại cho đừng bị dột nữa, cái cây ngã xuống chận đường đi ta cùng rủ mọi người kéo cây qua một bên để thông con đường cho mọi người dễ đi, cái áo ta rách ta vá lại… Cái sai ở bên ngoài thì mắt ta thấy được, ta sửa được nhưng tâm ta thì ta không thấy, mà cái tâm ở đây mới khó. Hễ tâm ta ác, tâm ta xấu thì ta sẽ là con người xấu, con người ác, ta làm điều bậy bạ để sau này ta bị mắc Quả báo đau khổ, cho nên Phật dạy ta phải biết nhìn trong tâm mình để sửa cái tâm mình, cái mà ta không thấy nhưng ta biết ta sai chỗ nào, đúng chỗ nào để ta sửa cho chính xác. Đó là cái rất là khó!
Ở đây, ban đầu ta làm phước bên ngoài, cái gì sai ta thấy ta sửa nhưng Phật dạy ta phải tu ở trong tâm. Cho nên khi ông trời xuống quỳ trước Phật và thỉnh Đức Phật thuyết pháp thì Phật mới nói là “Giáo pháp này, Chánh đạo này rất khó hiểu! Bởi vì nói chuyện ở trong tâm, trong trái tim mình, trong lòng mình mà những cái đó mắt không thấy, chúng sinh không thấy thì không sửa được”.
Ông trời mới nói thế này: “Kính thưa Thế Tôn! Tuy tâm này không thấy được, rất là khó thấy để sửa được nhưng có nhiều chúng sinh có trí tuệ có thể thấy được, có thể sửa được. Cho nên xin Phật hãy giảng dạy giáo pháp để chúng sinh nhìn thấy tâm mình và sửa”.
Hôm nay khi ta ngồi nói với nhau về Chánh đạo và Tà đạo thì ta cũng phải nhắc lại lời Phật dạy để biết sửa ở trong tâm mình. Ví dụ tâm mình có cái nóng nảy là mình hay nổi xung lên chửi mắng, còn tâm mình có cái hiền lành là ai nói nặng nhẹ gì mình cũng không giận, mình cười trả lời nhỏ nhẹ. Nhìn vào tâm mình, mình phải biết là nóng nảy hay hiền lành, mỗi khi nóng lên có biết đó là nóng nảy, là sai không? Có dễ thấy tâm mình không ạ? Rất khó thấy, đúng như vậy!
Người nào mỗi khi giận lên biết tâm mình đang nóng, tâm mình đang giận, tâm đó sai, bỏ liền thì đó là người con ngoan của Phật, người đệ tử giỏi của Phật. Vì sao vậy? Vì người con ngoan của Phật, người đệ tử giỏi của Phật là người thấy được tâm mình, tâm mình như thế nào thấy đúng như vậy để kịp thời sửa liền. Cho nên, trí tuệ của một người đệ tử Phật xuất sắc là thấy được tâm mình! Ngay lúc nó vừa sai là thấy, sửa được liền, ví dụ người ta nói mình, mình nóng lên định chửi người ta, mình biết “à, tâm tui đang nóng đây, tui đang muốn chửi người ta đây, tâm này sai rồi, bỏ xuống, bỏ xuống, bỏ xuống”, nghĩa là mình bỏ cái nóng giận lại, chỉ cười trả lời nhẹ nhàng.
Ví như có người nào đó đập cửa nhà mình nói là sáng nay họ đi vắng, nhà họ bị mất gạo rồi nghe người này người nọ nói là mình lấy nên giờ họ qua đập cửa nhà mình mà đòi, trong khi mình đâu có ăn cắp đâu, mình là đệ tử Phật mình đâu có ăn cắp, mình biết ngay là người này đang nói bậy, ngay lúc đó mình nổi nóng lên định chửi lại rồi nhưng mình biết nóng lên chửi lại là cái sai, Phật dạy “phải nhìn thấy tâm mình”, mình thấy tâm mình nóng lên nên mình dằn xuống, buông xuống, bỏ xuống, mình mới trả lời rằng: “Anh bớt giận, tui không có ăn cắp của anh” trong khi ông kia cứ chửi tiếp: “Mày ăn cắp của tao, có người nói cho tao biết”, mình mới nói: “Đừng! Anh đừng giận! Tui là đệ tử Phật, tui không có ăn cắp của ai. Nếu nhà anh kẹt quá không có gạo tui sẽ chia bớt phần gạo cho anh nấu bữa nay, chứ tui thề với Đức Phật, tui không hề ăn cắp của ai, đây là bàn thờ của ông bà tui, tui thề với ông bà tui là tui không hề ăn cắp của ai”. Nói nhỏ nhẹ lại và người kia dịu xuống và cái phước của mình sẽ lớn lên, mình được trời Phật thương mình, phù hộ cho mình.
Còn khi mình nóng lên mà mình không biết mình nóng, mình chửi lại người ta, mình đánh lại người ta thì ông trời, Phật bỏ mình luôn, không thương mình nữa. Nên vì vậy phải nhìn thấy cái tâm của mình, phải sửa tâm nóng giận của mình thành tâm hiền lành.
Ví dụ tâm tham lam cũng vậy, mình thấy người ta mua được một chiếc xe đẹp, mình cũng muốn có chiếc xe nhưng thay vì làm ăn, dành dụm để có tiền mua xe, còn ở đây mình muốn cướp chiếc xe của người ta, ở đây khi mình khởi tâm đó lên thì mình là muốn giành chiếc xe của người ta thì đó là tâm tham lam, tâm ác, cái tâm đó vừa khởi lên ở trong bụng mình là mình bỏ liền, thấy liền, bỏ xuống, mình nói “không được tham lam tài sản của người khác, nếu muốn tự mình làm mà có, đừng tham, bỏ cái tâm tham lam đó xuống liền” thì ngay khi cái bụng mình vừa tham bỏ liền thì ở trên ông trời, Đức Phật thấy liền và thương mình. Cho nên ta phải thấy được tâm mình, người nào thấy được tâm mình thì người đó có trí tuệ!
Ví dụ trong làng trong xóm có người kia bệnh, có người nọ nghèo, con đường nọ hư, mình không để ý. Hỏi sao mình không để ý? Nói tui mắc đi làm ăn, tui mắc làm rẫy, tui mắc làm kiếm tiền nuôi gia đình tui nên tui không để ý, ai bệnh kệ, ai nghèo kệ, đường hư kệ thì mình biết nagy người này bị tâm ích kỷ. Tâm ích kỷ là tâm chỉ biết cho mình, chỉ lo cho mình mà không quan tâm đến những người xung quanh mình, đó là tâm xấu nên ta phải nhìn thấy liền.
Nếu ta sống qua một thời gian mà chỉ thấy mình chỉ lo cho mình, không lo cho ai hết, nhà kia hàng xóm bệnh mà sao mình không qua thăm, nhà kia làm hoài mà không thấy có ăn, quần áo rách rưới mà sao mình không qua thăm, mình biết như vậy tâm mình còn ích kỷ, bụng mình còn hẹp hòi, như vậy mình mới sửa mình , bỏ đi tâm xấu, mình đến chùa lạy Phật “bụng con nào giờ ích kỷ, chỉ biết lo cho bản thân, cho gia đình mà không quan tâm đến người bà con, làng xóm cho nên hôm nay con xin sám hối là từ giờ cái bụng con sẽ không hẹp hòi nữa mà từ đây bụng con sẽ mở lớn ra cho hết làng hết xóm này, con sẽ để ý đến những người chung quanh con sống như thế nào, ai nghèo thì con sẽ tới hỏi thăm, nếu giúp được gì thì con sẽ giúp, người bệnh thì con sẽ tới hỏi thăm xem con có thể đi hái thuốc hoặc mua thuốc được về cho người ta hay không hoặc nếu nhà người ta không có ai thì con sẽ đến nhà người ta nấu dùm người ta miếng cơm, miếng cháo” khi mình lạy Phật và nói như vậy thì mình dần không còn ích kỷ nữa, mà sẽ tốt lên từ từ. Đó là thấy được cái tâm mình để mà sửa!
Hoặc trong làng mình có một người đi học, lâu lâu về thăm nhà, người ta ghé qua thăm mình mà trong lòng mình ghét người đó vì người ta thì được đi học trong khi mình phải làm rẫy vất vả, mình nghĩ xấu cho người ta. Nhưng vì mình là đệ tử Phật nên khi tâm ghét của mình vừa khởi lên, mình thấy liền và biết cái ghét này là cái sai, Phật dạy mình không được ghét ai, ai mình cũng phải thương, con cháu mình đi học ở xa mình phải cầu cho nó học giỏi, học thành tài để nó được thành bác sĩ, kỹ sư. Mình phải dặn lòng “phải thương, phải thương, không được ghét”. Cho nên người nào thấy được tâm mình, thấy được tâm mình thì người đó có trí tuệ! Những người này khi chết sẽ được lên cõi trời!
Miệng của ta là nơi để ta đưa vào, đưa ra. Ta đưa vào thức ăn, nước uống nhưng đưa ra điều gì? Bây giờ nếu ta nói xấu người khác, nếu ta chửi bậy, nếu ta phản lại đạo của mình, nếu ta phản lại đất nước của mình ta sẽ đưa ra tội. Nếu ta bảo mọi người thương yêu nhau, chúng ta kêu gọi mọi người tin Nhân Quả, gieo Nhân gì gặt Quả đó, nếu ta kêu gọi mọi người hãy thờ kính Phật, thờ ông bà thì ta đưa ra phước. Có người chỉ đưa ra cái tội, còn ta là đệ tử Phật, dứt khoát ta chỉ đưa ra những phước, không đưa ra tội, chỉ nói những điều tốt tốt đẹp, kêu gọi mọi người thương yêu nhau, giúp đỡ nhau, tin vào Nhân Quả.
Tay ta cũng đưa vào và đưa ra. Ví dụ như tay ta đưa tiền vô, đưa ra có khi tội có khi phước. Nếu tay ta cầm súng, cầm dao giết người thì tay này đưa ra tội mà hễ khi tay này đưa ra tội thì kiếp sau ta bị chặt tay, không có tay nữa vì tay này phí lắm, vì tay này đã cầm đồ bậy bạ, còn những người nào mà tay chỉ làm điều phước, không bao giờ cầm vũ khí, tay này chỉ để bắc cầu cho người ta đi, chỉ để đắp đường, chỉ để chắp tay lại để mà lạy Phật thì người này mang phước ra cho cuộc đời, người này sẽ đời đời được giàu sang sung sướng, chết được lên cõi trời. Đó là Chánh đạo!
Ta nhớ thế này, người mà cùng là người Việt Nam ta gọi là đồng bào, người cùng đạo Phật ta gọi là đồng đạo. Như vậy, chúng ta ngồi đây có thể tay ta không có đồng tiền, tay ta không có đồng hồ nhưng chắc chắn chúng ta có 2 cái đồng, đó là tình đồng bào, đồng đạo ngồi chung quanh ta, và đó chính là niềm thương yêu, là hạnh phúc của ta trong suốt cuộc sống này và đó là Chánh đạo mà ta muốn nói với nhau. Nếu người nào yêu thương được hết đồng bào của mình, yêu thương được hết đồng đạo cảu mình thì người đó là người đi theo con đường Chánh đạo, khi chết rồi sẽ được đầu thai vào làm con torng 1 gia đình giàu có sung sướng hoặc sinh lên cõi trời. Còn người nào không có đồng đạo, không có đồng bào, ghét người này, ghét người kia thì người đó chết rồi đi về nơi đau khổ, khi đầu thai cũng sẽ vào nơi đau khổ hoặc còn sống trên đời cũng là đau khổ.
Hôm nay, ta nói với nhau bài Chánh đạo, Tà đạo là để hiểu rằng cái Chánh đạo hay Tà đạo là do tâm mình, trong tâm mình không có thù ghét, trong tâm mình không có giận hờn, không có ích kỷ, đó chính là Chánh đạo. Ai trong tâm cũng giống như vậy thì đó là Chánh đạo! Ngay cả khi người nào đó nói thương ta nhưng ta thấy trong tâm họ còn thù ghét thì ta biết người đó là Tà đạo, trong đời của ta, ta chỉ đi theo Chánh đạo mà thôi, dứt khoát không đi theo con đường Tà đạo vì đi theo Tà đạo là đi về nơi đau khổ.
Hôm nay trong mùa đông đã về chúng ta có nhân duyên về chùa Bửu Thắng này, gặp nhau để nói với nhau về vài đạo lý yêu thương của Chánh đạo. Xin chúc cho quý Phật tử được nhiều sức khỏe, may mắn và hạnh phúc trong cuộc sống, luôn luôn vững bước đi trên con đường Chánh đạo, không đi lầm vào Tà đạo! Xin chúc cho sư cô trụ trì chùa Bửu thắng làm được nhiều Phật sự từ thiện có ý nghĩa để cho Phật tử được về đây nương tựa! Xin chúc cho tất cả chúng sinh yêu thương nhau và cùng đi theo Chánh đạo!
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

                                                                  THÍCH CHÂN QUANG (Phật Quang)

20. Thanh Gươm Pháp Hộ
Download

20(+1). Bát nhã tâm kinh
Download

21.Gia Đình
Download

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Mười Một 28, 2009 in Bài Giảng, Thích Chân Quang

 

Thẻ: ,

Bài Giảng của TT Thích Chân Quang và các chỉ trích

Bài giảng của TT Thích Chân Quang và các chỉ trích:

Gần đây hộp thư e-mail chúng tôi nhận được rất nhiều spam gởi đến gọi
đích danh một nhà sư ra chửi bới, xỉ vả, họ dùng hình ảnh cạo sửa nối
chắp, trích lục vắn tắt các lời giảng của vị sư nầy rồi luận ra kết án một
cách hàm hồ, thiếu luơng thiện.

Được biết các bài tố cáo sư CQ đều trích ra từ website do ông TN  làm
chủ,   website nầy là chỗ bán các băng, dĩa về phật pháp tại hải ngoại.
Chùa Phật Quang của sư CQ cũng có một website rao bán các băng dĩa
phật pháp, và các băng dĩa ghi những bài giảng của chính nhà sư CQ.

Thoạt tiên nghĩ rằng vì cạnh tranh buôn bán  nên web TN. mới dở trò quấy  động nhà chùa để quảng cáo cho web và sản phẩm của mình. Như Tết  2008 tại quận Cam California, có tờ báo Việt gây scandal bằng cách đưa hình một cái chậu rửa chân của thợ làm móng tay, bên hông sơn màu vàng với ba sọc đỏ lên tờ báo xuân của mình, gây hàng đợt phản đối và biểu tình. Quần chúng tò mò đua nhau mua báo, giá đắt thế mà in mấy lần  cũng không đủ bán.

Nhưng ở đây sự xỉ vả một nhà sư quá tàn nhẫn, vì nó dưạ vào hình ảnh
giả mạo và cắt khúc bình luận xuyên tạc. Lạ nhất là khi họ muốn lấy lòng
người hải ngoại thì kết tội sư CQ là “một tiểu yêu của Cộng Sản“, ”
Công An Cộng Sản” ,
ca ngợi luật rừng… tuyên truyền cho CS“, rồi kêu gọi  đồng bào phật tử hải ngoại đừng gởi tiền cho sư CQ. Mặt  khác họ dùng  tên “Tâm Nguyễn”, người đã di cư trên 15 năm, để bợ đỡ chính quyền  CSVN, yêu cầu chính quyền rút tên sư CQ ra khỏi danh sách những thành  viên tham dự của phái đoàn Việt Nam, Đại Lễ Phật Đản Quốc Tế tổ chức ở VN vào tháng 5-2008, với lý do  nhà sư đã dám phê bình: ” Việt Nam ta  bây giờ kém đạo đức…… Các chùa nổi tiếng nhìn thấy vậy chứ bên trong thối nát hết, bị mua chuộc…..”.  Họ vừa tố Cộng Sản xong, sau đó quay lại bợ đỡ chính quyền CSVN, thỉnh cầu trừng phạt kẻ dám phê bình “VN ta bây giờ kém đạo đức”.

       Tìm hiểu thêm, được biết sư CQ là một nhà sư nổi danh trong nước và hải ngoại, với các bài thuyết pháp của ông được nhiều phật tử ưa thích, băng và dĩa của CQ bán được rất nhiều trong và ngoài nước. Vào Google Search ” chan quang ” thấy ra rất nhiều mục, có đăng nhiều video/cd về các bài giảng của TT Chân Quang, được xem free, không phải mua.

  Khác hẳn các video khác, xem chẳng hiểu họ nói gì, đầy những câu ê a
kinh kệ, xem vài phút là buồn ngủ, video của TT CQ thật sống động với lời lẽ nhẹ nhàng, dễ hiểu như một cuộc nói chuyện vui, nhưng lời khuyến dụ của TT cứ nhè nhẹ đi sâu vào tâm thức. Có lẽ đó là cái tài đặc biệt của TT,  cái  “Phước” được Phật ban cho, và TT đang chia xẻ với thính giả.

Tôi nghe free được vàì đoạn băng ngắn, trong đó TT Thích Chân Quang giảng, tạm tóm tắt:
      TT nói về tôn giáo đạo đức, khuyên nên sống tốt đẹp với mọi người xung quanh. Con người được những ưu đãi như gìàu sang, hoặc có sức khoẻ lực sĩ, trí thông minh, hay sắc đẹp v.v… là do cái Phước của mình. Nhưng cái Phước xài lâu ngày cũng cạn, vậy nên tu bổ bằng cách làm phước, sống tốt đẹp với người chung quanh, giúp đõ, thăm hỏi, và nhất là giúp họ hiểu biết đạo lý phật pháp.

Trong bài “Tu cho ai” TT chỉ trích việc  ” Tu vào chùa để trốn việc quan”.
Khi ở nhà thì lý phải lo kinh kệ không làm gì, để vợ con hầu hạ, còn  tu ần mình trong rừng núi, ngày ngày an nhàn với kinh kệ thì giúp gì được cho chúng sinh hay đạo pháp, tu như vậy thì không thể nào thấy được Niết Bàn. Xưa kia Phật đã đắc đạo rồi mà  suốt 45 năm còn lại, đã bôn ba khắp nơi giảng pháp cho đến lúc chết. Tóm lại tu là phải tích cực giúp đỡ chúng sinh và truyền đạo lý, phát huy rộng rãi đạo phật khắp nơi. Tu là phải hoạt động cung hiến phước đức cho chính mình, cho gia đình, cho mọi người chung quanh, cho đất nước và nếu cần chống ngoại xâm, tôn giáo ngoại lai mà  bảo vệ đất nước và phật pháp.

(có lẽ vì ý niệm tu là phải hoạt động tích cực, truyền bá đạo pháp, khuyên phật tử  chống ngoại xâm, tôn giáo ngoại lai, nên họ gán cho ông là tuyên truyền cho CS, có lý do để nhắn Việt kiều không gởi tiền giúp cho CQ) .

1-  Họ đem một cái hình chụp ra cạo sửa gán ghép ra rồi tố người ta là “dâm tăng”. Phong cảnh đó được ghi trong một cuộc picnic của chùa với rất nhiều đệ tử và phụ tá. Vì danh tiếng của sư CQ nên nhiều người xin chụp hình chung để kỷ niệm hoặc làm quảng cáo cho Công Ty của họ. Người đàn bà chụp hình chung với sư CQ là bà Huỳnh Tiểu Hương, một nhà kinh doanh “Từ Thiện”, hiện là chủ nhân  nhiều cơ sở tại VN, có website riêng, có đăng ký “cơ sở từ thiện” tại California USA để quyên tiền. Bà nầy có trên website một tự thuật tiểu sử rất là “bụi” làm người đọc rất cảm động và thương xót (nhưng không được kiểm chứng hay có nhân chứng, vì quên hết). Như vậy họ có dại gì ra chốn đông người mà “hug” nhau để các ngài chụp hình bêu xấu. Hình ảnh  cạo sửa nên chạy video không được, chỉ có một ảnh, quay đi quay lại giả làm video.   

Nói thêm, ở bên Mỹ các ông bà quen lâu ngày gặp lại, thường “hug” nhau một chút. Chúng tôi đi nhà thờ ngày chủ nhật lúc ra về được các ông các bà “hug” thân thiện và nói ” I love you”. Gần đây một lúc có mấy cô gái Hà Nội cũng bắt chước ra phố “hug” để phố biến tình thân thiện.

2- Về nghiệp tội của một người sống nghề lưới cá, - cá đem thân cho người ăn để được phước. (làm phước hy vọng được tái sanh lại làm người).

Tôi bổ túc thêm cho câu hỏi như sau:

a- người đánh cá hỏi : làm nghề đánh cá phải săn bắt, giết hại cá đem bán để nuôi thân và gia đình. Nếu bỏ nghề thì làm nghề gì sinh sống. Ngày nay cả nước, cả thế giới đều dùng cá làm thực phẩm để sống, không có cá làm sao họ có đủ thực phẩm.

b- người nông dân hỏi: tôi làm nghề nông, đầu mùa ra cầy cuốc làm chết hàng vạn con giun sống trong đất, lúc lúa lên thì phun thuốc giết chết bao nhiêu là sâu bọ, ong bướm, khi luá chín thì đặt bẫy, thuốc độc giết hàng trăm chim chuột để bào vệ mùa màng. Nếu không trồng lúa, hay để sâu bọ chim chóc làm hại lúa thì lấy gì nuôi gia đình và đồng bào, lấy gì cúng dường nuôi các sư sống để giảng đạo? Lúc năm 1945 nước ta thiếu gạo ăn nên cả triệu người chết đói đó.

Tôi xin tạm bàn về thuyết Luân Hồi – Tái Sanh, (xem bài số 8, Nghiêp, Luân
Hồi – (Karma, Samsara) – Phật Học Thực Tiễn và Thiền, có đăng trên
Website http://www.VietnamNewtime.com)
: Con người sau khi chết sẽ tái sinh, có phước đức thì đầu thai làm chư thiên, hay làm người sung sướng, người cực khổ, … tùy theo cái phước của minh có. Nếu thiếu phước đức, có ác đức thì đầu thai làm thú vật, trâu bò, rắn rết, sâu bọ… Nếu trong kiếp thú vật mà tích lũy được phước đức thì kiếp sau cũng có thể được đầu thai làm người.  Cá sông cá biển thì chịu cảnh cá lớn nuốt cá bé, cá nuôi trong ao chật hẹp chen chúc nghẹt thở như ở tù, nuôi ăn chất hóa học kích thích cho mau béo để vài tuần là làm thịt xuất cảng!  Ôi sống làm gì, mong cho được làm thức ăn nuôi người tốt, để tạo phước tốt, may ra được sớm đầu thai làm người. Dân ngư phủ gặp cá linh như cá voi bị chết không xả thịt bán mà lại đưa vào bờ chôn cất long trọng.

Người đánh cá, người nông dân khi giết hại tôm cá, chim chuột, sâu bọ đã tạo ra ác nghiệp, nhưng bù lại họ đã sản xuất thực phẩm để nuôi sống con người được tồn tại mà phát huy phật pháp là một phước lớn.

3- Trích lời giảng của CQ : Vào trường hợp thứ tư là mà nếu đó là một
người không thể cải hóa, không thể khuyên nhủ, mà tụi con không thể
ngăn chận người đó làm việc ác, thì tụi con phải làm gì?  Chiến đấu hả? Tốt, thôi thì tụi con muốn làm gì thì làm, điều đó không biết, miễn làm sao mà bảo vệ được những người lành, có khi là phải tiêu diệt những người xấu. “

Thí dụ 1 : Tôi là một quan toà, gặp một cậu bị can có hoàn cảnh mồ côi cha mẹ sống vất vưởng, bị hà hiếp, đánh đập. Khi lớn lên cũng thành thói quen lại hà hiếp kẻ khác, lại can tội cướp của giết người. Tôi rất thương nên cho án nhẹ và cho đi hoán cải. Nhiều lần như vậy, được ra tù lại tái phạm, vào tù thì chém giết người trong tù. Như vậy có tử hình hay tù chung thân nó  để tránh giết người nữa không, và giúp nó khỏi phạm thêm ác nghiệp?

Thí dụ 2 : Tôi là lính phòng không, trong lúc chiến tranh đã bắn nổ một
máy bay thả bom của địch, trong đó có năm sáu người, có lẽ bị chết hết.
Tôi đã ngăn được nó không cho thả bom, có thể làm cho cả trăm người
chết, bị thương. Tôi cứ ân hận đã sát sanh. Như vậy nghiệp phước của tôi ra sao?

Thí dụ 3:  Trên một chuyến bay với mấy trăm người hành khách, có hai tên không tặc, một tên bị nhân viên an ninh hạ, tên còn lại giết người an ninh nầy, rồi toan mở ngòi thuốc nổ tung. Em là một học sinh chân tu phật tử, không sát nhân. Tên không tặc nầy đứng gần, em có thể giết nó để cứu mọi người, nhưng có thể gây nguy hiểm cho chính em. Em có nên giết nó không?

Thí dụ 4:  Năm nọ giặc tiến quân xâm lăng, em cùng dân làng hợp với lính ra chống cự, lúc đó em giết được mấy tên giặc, chúng nó phải rút lui, không chiếm được nước ta. Nếu nước ta bị chiếm như xưa, nó để đói chết hàng triệu người. Em được tuyên dương là cứu nước, nhưng lo không biết cái nghiệp giết người sau nầy ra sao?

Tôi xin tạm bàn về thuyết Nghiệp (karma), (xem chương 11, Phật Học Thực Tiễn và Thiền  www.vietnamnewtime com).

Với thuyết Nghiệp thì mỗi hành động có dụng tâm đều gây ra một cái
nghiệp.  Khi vì lý do nào, lỡ gây ra một ác nghiệp mà đương sự ăn năn
tránh ác, làm thiện thì cũng được bù trừ.  Kinh Phật có đoạn kể tướng
cướp Angu limala đã giết 999 ngưòi còn toan giết Ðức Phật cho đủ số
1000, nhưng được Phật giác ngộ, hoàn thiện, sau nầy cũng chứng quả
A-Lahán. (Kinh Anguilimala Paritta)

Chỉ nói chung chung bằng con số, như nếu giết một người thì là tạo một ác  nghiệp, bị phạt một điểm âm ( -1) một tội, nếu cứu được một người thì được thưởng một điểm dương (+1), một phước. Nếu giết một người mà cứu được một trăm người, thì được 100 phước và 1 tội. Bù trừ đi qua lại thì còn 99 phước. Đây chỉ tính về con số người thôi, chưa tính đến sự thưởng phạt công minh, thì giết một người tàn ác nguy hiểm cho xã hội là một phước đức chứ không phải tội. Chống xâm lăng là cứu giúp cả nước, đồng bào và Phật giáo khỏi bị tàn sát, bắt bớ hay bỏ chết đói, khi giặc chiếm được nước, Phước đức biết bao!

4- Họ tố cáo CQ muốn ” Lập thanh quy để kiểm soát việc tu hành của quý
Thầy ” và xử lý các Thầy vi phạm.

Có lẽ theo ý họ tự do tôn giáo là, người có tôn giáo, là Thầy thì được tự do
muốn làm gì thì làm, không ai được kiểm soát. Họ thường tố cáo GHPGVN
là Giáo Hội quốc doanh CS. Nhưng họ trở mặt bênh vực các thầy
GHPGVN để chống CQ, và muốn cho các Thầy muốn sống ra sao thì cứ tự
do không cần giới luật !

Tôn giáo rất quan trọng trong đời sống và đạo đức của dân trong nước.
Nhiều khi người dân tin lời người lãnh đạo tôn giáo hơn là pháp lệnh của
chính quyền. Vậy không thể để tự do ai cũng có thể mở chùa, thâu thập đệ
tử rồi kích động làm chính trị hay việc phi pháp. Đã thấy lúc nầy trên thế
giới họ dùng tôn giáo kích động đánh bom, làm nổ máy bay, giết hại rất
nhiều thường dân vô tội.

Hãy bắt chước cách điều hành của tôn giáo lớn nhất thế giới, họ có cả
ngàn nhà thờ lớn lao, lộng lẫy, khắp nước ta và thế giới. Họ tuyển chọn thí
sinh rất cẩn thận, sau khi cho đi học nhiều năm thì trong mười người chỉ
vài ba còn lại được chọn làm Thầy giảng đạo. Việc giảng đạo được kiểm
soát chặt chẽ đúng với chỉ thị của trung ương, họ điều hành đạo như một
chính quyền quốc tế, có phẩm trật, và có cả binh lực ủng hộ cho việc
truyền đạo. (xem http://www.sachhiem.net).

Chỉ nên bắt chước những cái hay của người trong việc điều hành và
truyền đạo, nhưng không nên bắt chước cái không hợp đạo lý, do đó ít
nhất cũng tránh được các lạm dụng và việc tai tiếng: phật giáo cần phải có
thanh quy giới luật. Ngày xưa trên 2000 về trước Phật giáo đã có ba bộ
sách Giới, Kinh, Luận. Giới là Luật áp dụng cho các Tăng Ni.

5- Tiếp theo đó họ phàn nàn sư CQ đã kinh doanh bán các băng và dĩa thay
vì phát cho không
.  Họ muốn phật giáo hoạt động như thời hơn 2500 năm
về trước, chỉ cần đi chân không, vác bình bát ăn xin là đủ, không được
dùng tới tiền bạc, vậy lấy tiền đâu mà làm băng diã và điều hành tu bổ
chùa?  Họ không biết các tôn giáo khác kinh doanh rộng lớn ngần nào và
chắc là họ cũng không biết là khi nhập đạo rồi các con chiên phải đóng
một phần mười thu nhập cho đạo, cần làm lễ gì cũng phải trả tiền.

Chuyện cho free sách:  Một bà nọ cầu xin và được toại nguyện, nên in một
ngàn quyển kinh để phát free cho phật tử đi chùa tại Texas. Thấy phật tử
đi chùa lai rai mỗi tuần không nhiều, mà sao sách bỏ ra bao nhiêu cũng
hết. Sau đó mới biết có  xe chở nhiều người, có người ngoại quốc lái đến
lấy sách mỗi người cả chục cuốn. Tưởng họ phổ biến đạo lý rất mừng,
nhưng thấy họ không kính trọng quyển kinh, cứ vứt bừa lên sàn xe, nên
chạy xe theo sau, thấy họ đi xa rồi đem sách vứt vào thùng rác – có lẽ họ
không thích cho người khác đọc kinh phật.

Xin trích theo đây vắn tắt của chương 11, sách Phật Học Thực Tiễn, www.
vietnamnewtime.com

“4- Trong Tám Chánh Ðạo, quan trọng nhất là Chánh Ðạo ’Nhận định và
hiểu biết đứng đắn’; – và Phật thường ví dụ Pháp (những gì Phật giảng
dạy) như cái bè đưa người qua sông trên đường đến Niết Bàn, hành giả
nên tìm cách để bè ở lại cho người khác xử  dụng qua sông. Nếu còn tiếc
công tiếc của mà khiêng cái bè đi theo thì làm sao đi đến mục đích…. ’Khi
đạt đến bờ bên kia, chánh pháp còn phải buông bỏ huống hồ là những
thứ không phải chánh pháp’.(Kinh Ngụ ngôn người bắt rắn, KTHN bài 31,
Thích Nhật Từ soạn)

Có thể nói Chánh Pháp là kinh kệ, giới luật, luận thuyết dùng để hướng
dẫn con người hiểu được Chân lý của đạo (đến Niết Bàn), khi hiểu được
Chân lý rồi, nếu cần thì có thể xả bỏ chánh pháp.

Việt Nam ta xưa đã có Phật pháp mấy ngàn năm, tổ tiên chúng ta cũng đã
có ’nhận định và hiểu biết đứng đắn’ về Chân lý của đạo, – đến lúc cần
cũng biết xả bỏ, – nên nhiều khi đã phạm giới ‘sát sanh‘, để có thể tồn tại
mà gìn giữ căn bản của Phật Giáo.

- chuột, sâu bọ làm hại mùa màng, không trừ thì nó phá sạch lúa gạo,hoa
quả thì người phải chết đói.
- lúa gạo kém, dân cư đông phải nuôi súc vật ăn thịt.
- ngoại bang xâm lăng, không chống trả thì cả nước bị đô hộ, dân thành
nô lệ, rồi Phật Giáo cùng dân tộc sẽ bị tiêu diệt dần.
- trường hợp tự vệ chính đáng, chống kẻ sát nhân, kẻ áp bức, cướp bóc,
đốt phá xóm làng chùa chiền .
- Nói dối mà không có dụng ác tâm, chỉ muốn thoát khỏi sự ngượng ngập,
hay nguy hiểm.
- không làm ra tiền, không có tài sản, không thế lực, uy quyền thì lấy gì mà
làm công đức…v,v…
- không có cái Ta, thì ai là cái Ta để ủng hộ Tam Bảo.
- các tôn giáo lớn khác đều tham dự trực tiếp vào việc kinh tế, tài chánh,
thương mại để làm ra tiền, có tiền mới có thể tự tồn và giúp người nghèo
khổ.
- các tu sĩ ngoài sự học đạo, cần phải có học bực Ðại Học mới mong đủ
khả năng hướng dẫn dân.
- Phải học tại các trường dân sự và chung đụng với quần chúng mới hiểu
được tâm ý và ước vọng của họ.
- noi gương các tôn giáo lớn, các tu sĩ  phải mang Phật đến nhà người
dân, chứ không yên vị tại chùa chờ người dân đến xin xỏ.
- hiện đại có nhiều nơi lập chùa dưới hình thức công ty hữu hạn, nhóm
người cư sĩ lo việc quản trị tài chánh, điều hành và huấn luyện còn để
Tăng Ni chuyên về lễ bái và kinh kệ. Nhiều cơ sở tôn giáo rất lớn đã nhờ
cách tổ chức như vậy mà bành trướng rất rộng  và tránh được nhiều sự
lạm dụng cá nhân.
……………………..

2- Trên 2500 năm về trước, khi người ta vừa mới biết dùng sắt thay đồng
để làm cầy cuốc và khí giới; xã hội còn trong chế độ bộ lạc và vương quốc
nhỏ, mỗi nơi có tục lệ riêng biệt; giao thông giới hạn bằng đi chân hay xe
ngựa, ngày được mươi dặm, không đi xa thấy rộng.

Ngày nay khoa học và kỷ thuật quá tiến bộ, có thể bay vòng trái đất trong
một ngày. Thế giới quá đông  quá phức tạp và nhiều cạnh tranh. Nguyên
tắc giúp người khỏi cảnh đau khổ của đức Phật vẫn còn có giá trị. Tuy
nhiên phương pháp, cái chánh pháp để giúp người đi đến Niết Bàn, cũng
nên được cải tiến cho hợp với thuyết Tiến Hoá để đạo có thể tồn tại. Phật
giáo phải có nhiều người ủng hộ mới còn. Muốn ủng hộ thì phải có khả
năng, hay tiền của để làm công đức. Phải đoàn kết mới có sức mạnh, phải
có một quốc gia hùng mạnh để bảo vệ chống ngoại xâm. Nếu nước mất thì
nhà tan, đạo giáo tàn; nếu nghèo khổ thì giúp được gì cho đoàn thể Tăng
Ni, giữ gìn và truyền phổ đạo pháp?

==============================================
ngtientri@yahoo.com  USA.  May 2008 , sent to
webmaster@vietnamnewtime.com

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Mười Một 28, 2009 in Quan điểm, Thích Chân Quang

 

Thẻ: ,

 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.