RSS

Category Archives: Phật Giáo

Phần 1: Phép lạ của sự tỉnh thức (Thích Nhất Hạnh)

Tham luận – Sách – Tài liệu

13:53 16/06/2012

Phần 1: Phép lạ của sự tỉnh thức (Thích Nhất Hạnh)

 (TG&DT) – …Uống trà thật thảnh thơi, khoan thai, như nhịp đi của bốn mùa, như nhịp quay của trái đất, thong thả, đều đặn, không hấp tấp. Không đi tìm tương lai. Sống với giờ phút hiện tại. Chỉ có giờ phút hiện tại mới là sự sống. Đừng đồng nhất sự sống với tương lai. Đừng luôn nghĩ tới chuyện phải đi về tương lai. Đừng luôn luôn nghĩ tới chuyện khởi hành.

PHÉP LẠ CỦA SỰ TỈNH THỨC

 

Hơi thở của ZOE

 

Thiều ơi,

 

Ngày hôm qua Steve tới thăm với chú bé Mickey 7 tuổi. Gớm, thằng bé lớn mau quá đi thôi và nghịch ghê. Nó nói giỏi cả tiếng Pháp lẫn tiếng Anh. Nó còn nói được tiếng lóng học ở ngoài đường nữa. Trẻ con bên này được nuôi dạy khác với lối nuôi dạy trẻ con bên mình. Cha mẹ chúng để chúng “tự do phát triển”. Suốt hai giờ ngồi nói chuyện, Steve phải để ý tới thằng bé. Nó chơi, nó nghịch, nó xan vào cả câu chuyện của người lớn. Nó làm cho người lớn không nói chuyện với nhau được. Tôi đưa cho nó mấy quyển sách hình của trẻ con, nhưng nó chỉ lật xem sơ sơ rồi lại bỏ sách, xen vào giữa tôi và ba nó. Nó đòi sự chú ý của thế giới người lớn.

 

Sau đó nó ra ngoài sân chơi với một đứa trẻ con Tây hàng xóm. Tôi mới hỏi Steve đời sống gia đình có dễ chịu không? Steve không có câu trả lời dứt khoát. Năm ngoái hai vợ chồng và thằng bé đi lndonesie trong một chuyến du khảo và ở lại đấy một năm. Đi ba người, về bốn người. Họ mới trở lại Paris tháng trước. 

 

Marie là một họa sĩ, Steve nói từ khi sanh Zoe, Marie buông bút không vẽ nữa. Tất cả thì giờ, cuộc sống, thân mạng là để dành cho cô bé mới ra đời. Marie cũng ít nói đến Mickey nữa. “Không phải là Marie không thương Mickey” Steve nói “Nó thương thằng bé lắm, nhưng hiện giờ nó chỉ sống cho Zoe. Chừng một năm nữa tôi biết nó sẽ cầm bút trở lại và xem Zoe ngang hàng với Mickey”.

 

Steve nói “mấy tuần nay, ít khi Steve ngủ được một giấc dài. Trong đêm, Marie cứ thức dậy, giựt mình và vì mệt quá nó bảo tôi trở dậy xem bé Zoe còn thở không. Tôi chiều Marie, trở chừng em bé rồi lại trở về ngủ lại. Có lần mệt quá tôi nói : thì mới một giờ trước đây nó đang thở mà, không lý gì bây giờ nó hết thở. Marie năn nỉ, tôi lại chiều lòng, có khi bực quá, tôi không chịu trở dậy, và Marie phải trở dậy. Có đêm chuyện đó xảy ra tới hai lần.

 

Đời sống gia đình có dễ chịu hơn đời sống độc thân không?, Steve không có câu trả lời dứt khoát. Nhiều người nói: “có đời sống gia đình thì cuộc sống ổn định hơn, thăng bằng hơn. Steve không nói điều đó đúng mà cũng không nói điều đó sai. Anh ta chỉ ậm ừ, nhưng mà tôi hiểu. Steve nói “Tôi mới tìm ra một cách để có thật nhiều thì giờ”, Tôi hỏi : “Cách gì?”, Steve nói : “trước kia tôi thường chia thời giờ của tôi ra làm nhiều phần, một phần tôi dành cho Mickey, học bài với nó, đọc truyện cho nó, tắm rửa nó. Một phần tôi dành cho Marie, giúp nàng trong việc lo lắng cho Zoe, đi chợ cho nàng, mang quần áo và tã đi tiệm giặt, nói chuyện với nàng khi mấy đứa nhỏ đã đi ngủ. Ngoài những thì giờ dành cho 2 người (Tôi xem Marie và Zoe là 1 người. Bởi vì hơi thở của Zoe cũng là hơi thở của Marie. Nếu một bên không thở được thì bên kia cũng bị ngạt hơi), Tôi còn có thì giờ dành cho riêng tôi. Tôi đọc, viết khảo cứu, đi bách bộ, còn thì giờ đi làm kiếm ăn ở sở thì khác. Đó là thì giờ của Sở”.

 

“Nhưng bây giờ tôi không còn phân chia thời giờ như vậy nữa. Tôi lấy luôn thời giờ của Marie và của Mickey làm thời giờ của tôi. Khi tôi học bài chung với Mickey, tôi không còn có ý niệm : đây là thời giờ của tôi dành cho Mickey, sau khi xong việc này tôi mới thật có thời giờ cho tôi. Trái lại, tôi tìm cách sống cho tôi trong khi học bài với Mickey, tôi chia xẻ sự có mặt của nó. Tôi tìm được hứng thú trong khi học bài với nó và như thế là thời giờ cho nó trở thành thì giờ của tôi. Đối với Marie cũng vậy, bất ngờ, tự nhiên tôi có vô khối thì giờ cho tôi”.

 

Steve vừa nói vừa cười. Tôi thì ngạc nhiên. A! cái anh chàng này khôn nhỉ! Điều này đâu phải anh ta nhờ đọc sách mà biết. Điều này là điều anh ta tự tìm ra trong đời sống hàng ngày. 

 

Mấy tháng nay tôi giảng kinh quán niệm mỗi chiều thứ bảy. Và sau khi giảng, những người trẻ đặt các câu hỏi về những phương thức áp dụng các nguyên tắc nêu ra trong kinh này về đời sống hàng ngày. Chúng tôi cùng bàn luận về phương cách dùng thì giờ…. Điều làm tôi ngạc nhiên là tuy Steve chưa dự buổi giảng nào về kinh quán niệm trong mấy tháng qua, Steve cũng đã đi tới một nhận xét mà vài anh chị đã nêu ra trong các buổi thảo luận. Khả năng tiếng Việt của anh chàng còn yếu khiến chúng tôi không mời tham dự buổi giảng kinh và đàm luận.

 

Nguyên tắc rửa bát để mà rửa bát

 

Thứ bảy tuần rồi, tôi có đem chuyện Steve kể lại cho những người tham dự buổi giảng kinh, có một anh nói : “Steve đã tìm ra nguyên tắc nhưng chưa tìm ra phương pháp. Tôi nói : “Tìm ra nguyên tắc được thì cũng tìm ra phương pháp được”. Nếu Steve tìm được hứng thú trong lúc học bài với Mickey thì tức là Steve áp dựng hữu hiệu một vài phương pháp nào đó mà Steve đã tự tìm ra một mình. Đâu có phải chỉ có kinh quán niệm mới cung cấp được cho mình những phương pháp. Steve tuy có học Phật vâ đọc được Sanscrit, nhưng Steve không phải là người đã qui y. Nhưng không ai cấm người không Phật tử thực hành những phương pháp Phật Giáo, với lại phương pháp Phật giáo không phải là những phương pháp duy nhất. Lại còn điều này nữa, không phải chỉ những Phật tử mới tìm ra phương pháp Phật Giáo. Đức Thích Ca Mâu Ni, các bậc Duyên Giác và Bích Chi Phật cũng đâu có là Phật tử trước khi tìm được con đường và những phương pháp đạt đạo, phải không?

 

Một chị nói : “Thế thì một hôm nào đó, mình sẽ mời Steve tới nói về kinh nghiệm của Steve cho mình nghe, mình có thể học hỏi những kinh nghiệm của Steve. Tôi nghĩ khi chị ấy nói như thế, chị xác nhận một điều quan trọng: người Phật tử không nắm hết chân lý, người Phật tử có thể học được kinh nghiệm của những người không phải Phật tử và quan hệ hơn nữa, người Phật tử có thể học hỏi Phật pháp với những người không Phật. Tôi nhớ lại câu nói quan thuộc trong Phật Giáo Đại Thừa : “Phật Pháp tức là thế gian pháp”. ( Phương pháp của Phật cũng là phương pháp của cuộc sống) và “Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác” (Phương pháp của Phật áp dụng trong cuộc sống không thể tách ra ngoài sự thức tỉnh của cuộc sống). Vậy ta có thể nói : Phương pháp của kinh quán niệm cũng dính líu tới sự thức tỉnh của Steve phải không?.

 

Nhưng mà Steve cũng cô thể áp dụng những phương pháp dạy trong kinh quán niệm, nếu Steve muốn, chắc đâu là những phương pháp mà Steve tìm ra đã đủ để đưa Steve tới chỗ thành công hoàn toàn. Mỗi đêm mà phải thức dậy chừng mười lần để xem thử bé Zoe còn thở không, điều đó cũng hơi làm mình bực mình đấy chứ. Nhiều người mới nghe đã có thề gắt lên rồi, huống hồ là tự họ phải làm như Steve. Biết đâu trong kinh quán niệm lại chẳng có phương pháp giúp Steve xem thì giờ ngủ và thì giờ dậy của bé Zoe là một. 

 

Các tác viên Xã Hội của trường chắc hẳn cũng muốn biết xem thành quả của Steve đạt được lớn lao tới chừng nào, có phải không? Có tác viên nào mà lại chẳng thấy thời giờ dành riêng cho mình quá ít ỏi.

 

Tôi cũng là một loại tác viên. Thiều cũng là một loại tác viên. Chúng mình cùng muốn biết làm thế nào Steve đã giật dược vô khối thì giờ cho Steve. Steve đã đạt được “vô khối. thì giờ” thật chưa! hay chỉ mới đạt trên nguyên tắc?.

 

Bên Mỹ có một anh chàng rất thân với tôi. Tên anh là Jim Forest. Anh ta ở trong tổ chức Catholic Peace Fellowship. Ngày xưa anh ta đã đốt thẻ trưmg binh chống chiến tranh và đi ở tù hơn 1 năm. Hồi đó, nghe anh ta ở tù, tôi hơi ngại, bởi tánh anh ta rất hoạt động, nôn nóng muốn hành động, sợ không kham nổi sự tù túng trong phòng giam. Tôi viết cho anh một lá thư rất ngắn rằng : “Hãy nếm trái quít của anh, hãy hợp nhất với trái quít của anh, bởi vì ngày mai trái quít ấy không còn nữa”. Tôi không ngờ câu nói của tôi có hiệu quả. Ba năm sau hồi tưởng lại chuyện ấy, Jim viết : “Câu ấy giúp cho tôi nhiều hơn là thầy có thể tưởng tượng!” Nhờ câu ấy mà tôi tìm được sự an lạc nơi lao tù, làm bạn được với lao tù và sống trong lao tù những ngày lợi lạc”. Jim đã tìm được tự do trong lao tù, khôi phục được thì giờ và sự sống của mình ngay trong lao tù. Jim cũng khá đấy chứ, phải không Thiều?.

 

Mùa đông năm kia Jim qua đây chơi. Tôi thường hay rửa bát sau khi ăn cơm xong trước khi lên ngồi uống trà. Một tối Jim đòi rửa bát. Tôi nói “rửa thì rửa nhưng phải biết cách rửa” Jim nói : “bộ Thầy nói tôi không biết cách rửa chén hay sao?”, Tôi nói : “Có hai cách rửa chén. Cách thứ nhất là rửa để cho rửa xong, cách thứ hai là rửa không phải để cho rửa xong”. Jim thích quá nói “Tôi sẽ chọn cách thứ hai, rửa chỉ để rửa mà thôi”. Từ đấy Jim hay giành rửa chén. Tôi giao “trách nhiệm” cho anh ta trong cả tuần. Sau đó về xứ, anh đã tuyên truyền “chủ nghĩa rửa chén để mà rửa chén” trong nhiều bài báo. Anh ta tuyên truyền nhiều quá, ngay cả trong gia đình nữa. Khiến Laura cười bảo anh “ở dưới bếp chỉ còn chén bát sạch, nếu anh thích rửa bát để mà rửa bát quá như vậy thì sao anh không xuống đem chén bát sạch ra mà rửa lại một lần nữa đi”.

 

Hồi tôi còn làm “Điêu” tại chùa Từ Hiếu, cách đây 30 năm, rửa chén bát không phải là một việc làm dễ chịu lắm đâu nhé ! Vào những mùa an cư, hai người trực nhật phải nấu cơm và rửa bát có khi cho cho hơn 100 thầy. Xà phòng không có, chỉ có tro trấu và bẹ dừa mà thôi. Ngồi trước một đống chén bát lớn như vậy rất nản. Nhất là nhằm mùa đông phải nấu một nồi nước nóng khá lớn mới rửa được vì nước lạnh, lạnh buốt. Bây giờ đứng rửa bát trong bếp, có xà phòng nước, có tissus Metalliques, có nước ấm chảy dưới tay mình, thật là dễ chịu hơn nhiều quá. ấy vậy mà ai đã rửa bát ai cũng muốn rửa thật mau cho xong, để mà lên ngồi chơi, có nhiều bà đòi chồng mua cho được cái máy rửa chén. Thiều à ! cái máy giặt tôi còn chịu được (Mấy năm ở ngoại quốc tôi chỉ giặt bằng tay chứ còn cái máy rửa chén thật tình tôi không chịu nổi. Các bà ở quê mình sẽ chép miệng ‘Mèng đéc ơi, làm biếng đến vậy là cùng…

 

Theo tinh thần của kinh quán niệm thì trong khi rửa bát mình chỉ nên rửa bát mà thôi: có nghĩa là khi rửa bát mình có ý thức được rằng sự kiện chính mình đang rửa bát? Mới nghe qua thì thấy buồn cười. Rửa bát thì có gì hay ho đâu mà tập trung ý lực vào đấy nhiều như thế. Nhưng quả thực tất cả sự hay ho là nằm chỗ đó nghe Thiều. Sự kiện tôi đứng đây rửa và rửa những cái bát này là một sự kiện mầu nhiệm. Tôi hoàn toàn là tôi, làm chủ được hơi thở tôi, ý thức được sự có mặt, ý thức tâm, ý thức ý và hành động của tôi. Tôi không bị động trong hoàn cảnh như mộ cái nút chai bị những đợt sóng trên mặt biển vùi dập và lôi kéo, tâm ý tôi không tán thất trong loạn tưởng như một mớ bọt biển trên đầu sóng, tan nát thảm thương khi làn sóng đập đầu vào ghềnh đá.

 

Làm hòa với múi quýt

 

Nếu trong lúc rửa bát mà ta chỉ nghĩ tới tách trà, nghĩ tới sự nghỉ ngơi hay bất cứ một công chuyện nào trong tương lai, và chỉ muốn cho việc rửa bát qua mau, xem việc rửa bát như một cực hình thì ta không “rửa bát để mà rửa bát”, ta không sống trong thời gian rửa bát, ta không chứng thật được phép lạ của sự sống trong thời gian rửa bát. 

 

Không biết rửa bát thì khi cầm tách trà lên, có thể ta cũng không biết uống trà. Cầm tách trà lên ta có thể chỉ nghĩ đến những chuyện khác mà không biết là ta đang nâng tách trà trong tay. Cứ như thế, ta bị thâu hút vào trong tương lai, bị con ma vị lai thâu hút hết hỗn vía, đi ngang sự sống mà không sống được giây phút nào của sự sống. Câu chuyện múi quít của Jim cũng đã xảy ra trong trường hợp này. Có lần, lâu lắm rồi, Jim ngồi ăn quít với tôi mà cứ phóng tưởng về công việc trong tương lai. Hồi ấy mỗi khi nghĩ tới một dự tính nào có tánh cách hấp dẫn là Jim hoàn toàn bị thu hút vào đó và quên hẳn thực tại trong hiện tại. Tay Jim bóc vỏ quít mà miệng Jim như nhai hết vỏ quít này tới vỏ quít nọ. Thế mà Jim đâu có biết mình đang ăn quít. Tôi mới nói với chàng ta: “thì anh hãy ăn múi quít của anh đi đã”. Jim giật mình thức giấc.

 

Lúc đó anh ta đang ăn hết múi quít này đến múi quýt khác, không ngưng. Thế mà tôi lại nhắc anh ta ăn quít, làm như anh ta đang không ăn quýt. Mà thực ra anh đâu có đang ăn quít. Anh ta đang “ăn” cái dự tính của anh ta mà. Người xưa nói : “tâm bất tại yên, thị nhi bất kiến, thính nhi bất văn, thực nhi bất tri kỳ v.” (Tâm ý không có mặt, thì nhìn mà không thấy, nghe mà không rõ, ăn mà không biết mùi vị). “Tâm bất tại”, tức là sự vắng mặt của ý thức. Một trái quít có nhiều múi, ăn được một múi quít thì có thể ăn dược hết trái quít, còn nếu một múi mà cũng không ăn được, thì cả trái quít cũng không ăn được. Jim là một anh chàng thông minh. Anh ta dừng tay lại nghe sự có mặt của múi quít trên lưỡi mình, ăn múi quít một cách thật đàng hoàng. và gật dầu trước khl đưa tay gỡ một múi khác. Sau cùng, như Thiều biết, anh ta đã có thể xem lao tù như một múi quít và làm hòa bình với múi quít đó.

 

Hồi tôi mới vào thiền viện, cách đây cũng đã trên ba mươi năm, các thầy trao cho tôi tập ‘Tỳ Ni nhật dụng thiết yếu” của Thiền Sư Độc Thể chùa Bảo Sơn và bảo tôi học thuộc lòng. Đây là một tập sách mỏng chừng bốn mươi trang thôi, ghi chép những ý tưởng mà Thiền Sư Độc Thể đã dùng để thắp sáng tâm ý của ông trong mọi cử chỉ, hành động. Ví dụ khi mới thức giấc vào lúc ban mai, ông cho khởi dậy ý tưởng này trong trí : “vừa mới tỉnh giấc, tôi mong cho mọi người sớm đạt được trạng thái tỉnh thức lớn, hiểu biết thấu suốt mươi phương. Khi múc nước rửa tay, ông sử dụng ý tưởng này để tự đưa mình về trạng thái ý thức : “múc nước rửa tay, tôi mong cho mọi người có những bàn tay trong sạch để đón nhận lấy chân lý”.

 

Toàn tập “Tỳ Ni Nhật Dụng thiết yếu” chỉ có những câu như thế. Mục đích là giúp người hành giả mới vào đạo nắm lấy được tâm ý mình. Thiền Sư Độc Thể đã giúp cho hành giả mới vào đạo thực hiện những điều dạy trong kinh quán niệm một cách tương đối dễ dàng. Mỗi khi mặc áo, rửa chân, đi cầu, trải chiếu, gánh nước, xúc miệng… Người hành giả đều có thể mượn một ý tưởng trong “Tỳ Ni Nhật Dụng” để nắm bắt tâm ý. 

 

Kinh Quán Niệm nói : “Khi đi hành giả ý thức rằng mình đang đi, khi dừng ý thức rằng mình đang đứng, khi ngồi ý thức rằng mình đang ngồi, khi nằm ý thức rằng mình đang nằm, bất cứ thân thể mình đang được sử dụng trong tư thế nào, hành giả cũng ý thức được tư thế ấy của thân thể. Cứ như thế hành giả sống trong sự thường trực quán niệm thân thể….ý thức được những tư thế của thân thể. Tuy vậy vẫn chưa đủ, Kinh Quán niệm nói ta phải ý thức về mọi hơi thở, mọi động tác, mọi hiện tượng sinh lý, vật lý, cảm giác và tư duy liên hệ tới bản thân nữa. 

 

Nhưng quán niệm như thế để làm gì ? Thì giờ đâu mà quán niệm ? Một tác viên nếu bỏ cả ngày để làm việc quán niệm thì còn thì giờ đâu nữa để làm công việc tác động quần chúng trong phạm vi tái thiết và phát triển xã hội ? Anh chàng Steve của chúng ta làm thế nào mà có thì giờ để vừa làm việc vừa quán niệm, vừa học bài với Mickey, vừa đem tã lót của Zoe tới tiệm giặt. 

 

Phép lạ là đi trên mặt đất

 

Steve nó nói là từ khi biết lấy thì giờ của Mickey và của Marie làm thì giờ của mình thì chàng ta có “vô khối”, nhưng đó có thể là đứng trên nguyên tắc mà thôi. Bởi vì Steve có thể quên lãng trong khi học bài với Mickey. Steve có thề quên rằng thì giờ của Mickey cũng là thì giờ của mình, và như vậy Steve có thể đánh mất thì giờ như chơi. Steve có thể mong cho thì giờ ấy chóng qua hoặc sinh ra cáu kỉnh vì thì giờ ấy không thú vị, không phải là thì giờ của mình.

 

Vì vậy muốn thật sự có vô khối thì giờ (nghiã là không chỉ trên nguyên tắc), Steve cần giữ ý thức “Đây là thì giờ của ta” sáng tỏ mãi trong suốt thời gian học bài với con. Trong khi ấy tâm ý con người hay buông lung và từ ý tưởng này, tâm ý bắt sang ý tưởng khác như con vượn chuyền cành. Muốn giữ cho ý thức hiện thực sáng tỏ (từ đây về sau tôi sẽ dùng danh từ “chánh niệm” để thay thế cho mệnh đề “ý thức sáng tỏ về hiện thực”) thì cần đôi chút luyện tập. Tập luyện ngay trong đời sống hàng ngày và thực tập trong những buổi Thiền Quán. Trong khi một tác viên đi bộ trên con đường đất đỏ để tới đầu làng, anh cũng có thể thực tập quán niệm. Anh đi từng bước vững chãi trên con đường đất đỏ hai bên có viền cỏ xanh và khởi chánh niệm trong trí anh, ý thức được là mình đang đi trên con đường đó, con đường dẫn tới làng. Anh tập trung ý tưởng vào đối tượng quán chiếu duy nhất ấy. Ta đi trên con đường đầu làng, trời lạnh hoặc trời mưa. đường khô hay con đường lầy lội. Anh cũng duy trì chánh niệm. Anh không lập đi lập lại trong trí một cách máy móc “Tôi đang đi trên con đường đầu làng!”. Máy móc là sự ngược lại của chánh niệm. Có người niệm Phật như một cái máy trong lúc tâm trí đi phiêu lưu xa thực tại ngoài ngàn dặm. Tôi nghĩ niệm Phật như thế còn tệ hon là không niệm Phật. Nếu ta thực sự duy trì được chánh niệm trong khi ta đang bước trên con đường làng, ta sẽ thấy sự kiện ta đang bước trên con đường làng là một sự kiện mầu nhiệm. Một niềm vui nở ra từ tim ta như một đóa hoa và bao trùm lấy thế giới hiện thực. Tôi ưa đi bộ một mình trên những con đường quê, hai bên có những bông lúa hay cỏ đại và đặt từng bước chân ý thức trên đất, biết mình trong hiện tại đang đi trên hành tinh màu xanh kỳ diệu. Những lúc như thế tôi thấy hiện hữu mầu nhiệm một cách lạ kỳ. Người ta thường nghĩ rằng đi trên mặt nước hay đi trên than hồng là thực hành phép lạ. Tôi nghĩ phép lạ không phải là đi trên mặt nước hay đi trên than hồng mà là đi trên mặt đất. 

 

Hàng ngày ta thực hiện phép lạ mà ta thường không hay biết. Thiều nhìn thử lại xem trời xanh, mây trắng, lá đục và đôi mắt bé Thi Hải Thiều Âm đan lay láy. Hai mắt của Hải Thiều cũng là một phép lạ mà trời kia, mây ấy, lá nọ cũng là phép lạ phải không.

 

Thiền Sư Độc Thể nói : “Khi ngồi nên ngồi thật ngay thẳng và khởi niệm”. Ngồi đây cũng như ngồi trên pháp tọa Bồ Đề. Pháp Tọa Bồ Đề là chỗ một Đức Phật đã ngồi mà chứng ngộ. Nếu có hằng hà sa số Phật tức là đã có sa số người đã giác ngộ, và chỗ bãi cỏ tôi ngồi hôm trước ấy thế nào cũng có một Đức Phật đã ngồi.

 

Thi sĩ Nguyễn Công Trứ cũng có ý thức sáng khi ông ngồi xuống một chỗ ngồi và thấy dược rằng ngày xưa, cổ nhân đã từng ngồi trên chỗ ông đang ngồi, và ngàn muôn năm sau cũng sẽ có người tới ngồi chỗ ấy.

 

“Ngã kim nhật tại tọa chi địa
Cổ chi ngân tằng tiên ngã tọa chi


(Ngàn muôn năm âu cũng thế ni
Ai hay hát mà ai hay nghe hát)”.

 

Chỗ ngồi và thời gian trong giờ phút ấy trở thành hợp nhất trong một hiện tại vĩnh cửu. 

 

Nhưng người tác viên không phải có thì giờ để suốt ngày thong thả chơi trên những con đường cỏ xanh và ngồi dưới gốc cây. Người tác viên phải soạn thảo, dự án công tác, bàn bạc với dân làng, giải quyết trăm vàn khó khăn lao động nơi ruộng vườn, đối phó với cường hào ác bá. Trong thời gian thực hiện công tác đó. Anh hoặc chị phải để tâm ý vào công việc, đề cao cảnh giác, sẵn sàng phản ứng một cách thông minh và hữu hiệu. Tất cả những điều ấy chính là quán niệm. Thực tập quán cũng là để có thể để hết tâm ý vào công việc, đề cao cảnh giác và phản ứng thông minh. Trong lúc bàn cãi giải quyết và đối phó, sự bình tâm và tự chủ là những yếu tố cần thiết để đi tới kết quả tốt đẹp, anh chị tác viên nào cũng rõ điều ấy. Nếu ta không tự chủ mà để cho sự nóng giận hoặc đãng trí kéo đi thì hiệu năng của ta không còn bao lăm nữa.

 
Quán niệm là một phép lạ mà ta có thề sử dụng để khôi phục và thâu hồi tự thân. Giả dụ một nhà ảo thuật nào đó đem thân thể ta chia làm nhiều phần và dặt mỗi phần ở một địa phương khác nhau. Bàn tay đặt nam, bắp chân đặt ở bắc, cánh tay đặt đông… Rồi dùng phép lạ hô lên một tiếng. Mỗi phần của thân thể lặp tức liền lại với nhau, để thân thể ta trở nên toàn vẹn trở lại. Quán niệm cũng thế, đó là phép lạ để tụ họp trong chớp nhoáng tâm ý phiêu lưu, tản mát khắp chốn và thực hiện tự tâm toàn vẹn trong giây phút hiện tại của sự sống.

 

Nắm lấy hơi thở: Nắm lấy Chánh niệm

 

Như vậy quán niệm vừa là một phương tiện vừa là một cứu cánh, vừa là nhân, vừa là quả. Khi thực tập quán niệm để luyện định tâm thì ta gọi quán niệm là nhân. Nhưng quán niệm vốn là sự sống tỉnh thức (sự có mặt của quán niệm là sự có mặt của sự sống mầu nhiệm), do đó ta cũng gọi quán niệm là quả. Quán niệm để xua đuổi quên lãng và phân tán. Quán niệm dể thực sự sống từng giây, từng phút của cuộc sống. Quán niệm để duy trì chánh niệm và duy trì sự sống. 

 

Người tác viên biết sử dụng hơi thở để duy trì chánh niệm, bởi vì hơi thở là dụng cụ rất mầu nhiệm để đình chỉ loạn tưởng. Hơi thở là cây cầu bắt từ bờ sinh lý sang bờ tâm lý, là môi giới giữa thăn và tâm. Mỗi khi chợt nhớ ra rằng tâm ý mình đang phân tán, rong ruổi, người tác viên nên dùng hơi thở dể nắm giữ nó lại. Anh thở vào nhè nhẹ một hơi thở khá dài và ý thức rằng mình đang thở vào một hơi dài. Anh lại thở ra một hơi dài, đưa ra ngoài hết không khí trong buồng phổi anh và ý thức rằng mình đang làm như thế. Kinh quán niệm dạy về cách nắm lấy hơi thở như sau: 

 

“Hành giả thở vào với ý thức minh mẫn là mình đang thở vào. Người ấy thở ra với ý thức minh mẫn là mình đang thở ra. Thở vào một hơi dài người ấy ý thức rằng ta đang thở vào một hơi dài. Thở ra một hơi dài, người ấy ý thức rằng ta đang thở ra một hơi dài. Thở vào một hơi ngắn, người ấy ý thức là ta đang thở ra một hơi ngắn. Người ấy tự mình luyện tập như sau : “Tôi có ý thức rõ rệt về trọn cả hơi thở mà tôi đang thở vào. Tôi có ý thức về trọn cả hơi thở mà tôi đang thở ra. Tôi đang thở vào và làm cho sự điều hành trong thân thể tôi trở nên tĩnh lặng. Tôi đang thở ra và làm cho sự điều hành trong thân thể tôi trở nên tĩnh lặng”. 

 

Trong một tu viện Phật giáo, vị nào cũng được khuyến khích sử dụng hơi thở để đình chỉ loạn tưởng, tập trung tâm ý và thực hiện định lực. Định lực là sức mạnh của sự tập trung tâm ý, là năng lực có thể phát khởi sự tỉnh thức lớn. Nhưng sự tỉnh thức lớn cũng là một sự tỉnh thức. Khi người tác viên nắm lấy hơi thở mình, anh ấy đã là một người tỉnh thức rồi. Để duy trì chính niệm lâu dài, ta nên tiếp tục nắm lấy hơi thở. Mùa này ở đây lá vàng rơi đẹp lắm. đi ở van rừng khoảng mười lăm phút trong chánh niệm, giữ lấy hơi thở tôi thấy khỏe khoắn và tỉnh táo lạ. Tôi tiếp xúc được với từng chiếc lá. 

 

Khi Thiều đi một mình trên con đường quê, Thiều dễ nắm giữ chánh niệm hơn. Nếu Thiều có một người bạn cùng đi bên cạnh không nói năng gì, cùng nắm lấy hơi thở thì Thiều vẫn nắm giữ chánh niệm một cách dễ dàng. Nhưng khi người bạn đi bên cạnh hỏi chuyện ‘Thiều thì sự tình trở nên khó khăn hơn chút ít. 

 

Nếu Thiều khởi ra trong tâm ý niệm “cái anh chàng này cứ hỏi chuyện hoài, không để cho mình chánh niệm” thì Thiều dễ trở thành bực mình. Nhưng nếu Thiều tự nhủ : “Anh chàng hỏi chuyện thì hỏi chuyện, mình trả lời thì trả lời, nhưng mình vẫn nắm giữ chánh niệm, biết mình với anh chàng đang đi trên dường với nhau, biết anh chàng hỏi gì, biết mình trả lời những gì, và dù sao mình vẫn còn có thể nắm lấy hơi thở”. Nghĩ như vậy, Thiều tiếp tục duy trì chánh niệm, biết rằng trường hợp này hơi khó hơn trường hợp đi bộ một mình, nhưng cứ thực tập để từ từ đạt tới một khả năng tập trung ý lớn hon. Có câu ca dao nói : “Thứ nhất là tu tại gia, thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa”. Trong hoàn cảnh náo nhiệt phiền toái mà giữ được chánh niệm, đó mới là làm được chuyện khó, có phải không?.

 

Đếm hơi thở và theo dõi hơi thở

 

Trong kinh điển Phật thường dạy nên sử dụng hơi thở để luyện thành sự định tâm. Có một bài kinh đặc biệt nói về sự sử dụng hơi thở để duy trì hơi thở, gọi là kinh An Ban Thủ Ý (Anapana sati Sutta). Kinh này được thiền sư Việt Nam gốc Trung Á tên là Khương Tăng Hội dịch và chú giải vào khoảng đầu thế kỷ thứ ba Tây lịch. Anapana là hơi thở (dịch âm là An Na Pan Na), Tăng Hội viết tắt là An Ban, còn Sati (tiếng Bắc Phạn gọi là Sam ti) có nghĩa là niệm quán niệm hay chánh niệm, thời ấy Tăng Hội dịch là Thủ ý (gìn giữ tâm ý).

 

Vậy Kinh An Ban Thủ Ý là kinh dạy “gìn giữ tâm ý bằng cách sử dụng hơi thở”. Kinh này là kinh thứ 118 trong Trung Bộ Kinh (Maijhina Nikaya) dạy rõ phương pháp sử dụng hơi thở. Tôi sẽ đính kèm theo đây một bản dịch kinh quán niệm và bản tóm tắt kinh Anban Thủ ý cùng một vài đoạn kinh khác để Thiều và các bạn bên nhà dùng.

 

Trong những lớp hướng dẫn thiền tập (cho người ngoại quốc) bên này, tôi thường đề nghị những phương pháp mà tôi đã từng thí nghiệm, những phương pháp thật đơn giản. Ví dụ đối với người mới tập, tôi đề nghị phương pháp “đo chiều dài” của hơi thở. Tôi mời một học viên nằm xuống và thở tự nhiên, rồi tôi mới mời người quan sát và chỉ cho họ thấy những điều đơn giản như sau:

 

1/ Tuy thở ra và thở vào là việc làm của phổi, tức là của ngực, nhưng không phải vì thế mà bụng không có tham dự. Sự lên xuống của bụng hòa nhịp với sự lên xuống của ngực. Ta nhặn thấy khi ta bắt đầu thở vào thì bụng bắt đầu lên cao. Nhưng khi hơi thở vào đi được hai phần ba con đường của nó thì bụng bắt đầu xuống bớt.

 

2/ Giữa ngực và bụng có một ranh giới gọi là hoành cách mạc. Khi ta thở vào đúng phép, ta đưa không khí vào phần dưới của phổi trước khi ta thở đầy phần trên của phổi. Khi phần dưới của phổi có đầy không khí vào nó đẩy hoành cách mạc xuống dưới. Do đó bụng ta bắt đầu phình lên cao. Khi ta thở đầy phần trên lá phổi, ngực ta căng đầy và do đó bụng ta bắt đầu xuống bớt.

 

3/ Vì vậy cho nên người xưa hay nói “Hơi thở bắt đầu từ rốn và chấm dứt ở chót mũi. 

 

Đối với người mới tập, tư thế nằm ngửa rất thuận lợi. Phải để ý là không nên thở dài với mức tối đa. Làm như thế có thể nguy hiểm cho phổi, nhất là trong trường hợp phổi yếu vì chưa bao giờ biết tập thở. Ban đầu người hành giả nên nằm xuống, hai tay xuôi theo hai chân, đầu không gối, trên một mặt phẳng hay hơn là trên nệm. Buông thả tay chân cho thư thái. Thở vài hơi tự nhiên rồi khởi sự chú ý đến hơi thở ra xem nó kéo dài bao lâu, có thể đếm thầm trong trí : một, hai, ba …. Sau vài lần như thế, ta biết được “chiều dài” của hơi thở ra. Ví dụ chiều dài ấy là 5, sau đó ta dự tính thêm vào một hay hai nữa để cho hơi thở ra của ta dài tới 6 hay 7. Thế là lần này khi thở ra ta bắt đầu đếm từ 1 đến 5. Đến 5 thay vì chuẩn bị hít thở vào, ta cứ tiếp tục thở ra thêm 1 hay 2, đếm tiếp là 6 đến 7. Nhtr vậy có nghĩa là ta đưa thêm không khí tồn dư trong phổi ra ngoài. Xong rồi ta buông tay đề hai phổi tự động đưa không khí trong lành vào. Chúng đưa vào được bao nhiêu không khí thì đưa. Mình không nên cố gắng hít thêm. Cố nhiên là chiều dài của hơi thở vào sẽ ngắn hơn chiều dài của hơi thở ra. Nhưng ta nên đếm thầm dể biết nó dài bao nhiêu. 

 
Người mới tập nên tập như thế trong nhiều tuần. Trong khi thở luôn ý thức được mình đang thở và ý thức được chiều dài của hơi thở vào và ra (nếu có chiếc đồng hồ trong phòng có nhịp tíc tắc chậm thì ta cũng có thể sử dụng nhịp ấy làm nhịp đếm). Trong khi đi bộ, đứng, ngồi, nhất là ở những nơi thoáng khí ta cũng nên tập như thế. Khi đi bộ ta có thể dùng bước chân dể đếm rất tốt.

 
Chừng một thoáng sau khoảng cách giữa chiều dài của hơi thở vào và chiều dài của hơi thở ra sẽ rút ngắn lại. Bây giờ ta có thể cho hơi thở vào và ra bằng nhau, nghĩa là nếu thở ra sâu thì thở vào cũng sâu. Tuy nhiên, nếu thấy hơi mệt thì nên dừng lại. Nếu không mệt, ta cũng nên thực tập có giới hạn, ví dụ từ 10 đến 20 hơi thở. Khi thấy hơi mệt là tiêu chuẩn rất tốt, nó báo hiệu cho ta nên nghỉ hay có thể tiếp tục. Khi đếm ta có thể dùng con số hay dùng mệnh đề ta ưa thích, ví dụ nếu đó là số 6, ta có thể dùng mệnh đề “Hiện hữu quanh tôi mầu nhiệm” hay “Tâm tôi thanh tịnh an lạc”. Nếu đó là số 7, ta có thể dùng mệnh đề ‘Tôi bước từng bước trên trái đất” hay “Nam mô bổn sư Thích ca Mâu Ni Phật”. Khi đi bách bộ, mỗi tiếng nhịp theo mỗi bước chân.

 

Hơi thở phải thật nhẹ nhàng, đều đặn, trôi chảy tiếp nối như một lạch nước trôi trên cát mịn. Hơi thở phải thật im lặng, im lặng đến nỗi người gần cũng không nghe thấy mình thở. Hơi thở nên uyển chuyển như một dòng sông, một con rắn đang bò, chứ không thể như một dãy núi lởm chởm, hay như nhịp phi của một con ngựa. Chủ động được hoi thở của mình như thế tức la chủ động được thăn tâm mình. Mỗi khi tâm ý tán loạn mà ta khó dùng những biện pháp khác để nhiếp phục thì phương pháp quán sát hơi thở phải được đem ra áp dụng. Mới ngồi xuống để thiền định, người hành giả sau khi điều chỉnh tư thế ngồi liền điều chỉnh ngay hơi thở. Ban đầu thở tự nhiên rồi làm cho hơi thở dịu dần, êm dần, lắng dần, sâu dần và dài dần. 

 
Trong suốt thời gian ngồi xuống cho đến khi hơi thở đã trở nên im lặng sâu thẳm, hành giả ý thức được tất cả những gì đang trải qua. Kinh quán niệm nói : “Tôi đang hít vào và biết rõ là tôi đang hít vào. Tôi đang thở ra và biết rõ là tôi đang thở ra. Tôi đang thở vào một hơi ngắn và biết rõ rằng tôi đang thở vào một hơi ngắn. Tôi đang thở ra một hơi ngắn và biết rõ rằng tôi đang thở ra một hơi ngắn. Tôi đang thở vào một hơi dài và biết rõ rằng tôi đang thở vào một hơi dài. Tôi đang thở ra một hơi dài và biết rõ rằng tôi đang thở ra một hơi dài. Tôi ý thức trọn vẹn về cả chiều dài hơi thở mà tôi đang thở vào. Tôi ý thức trọn vẹn chiều dài hơi thở mà tôi đang thở ra. Tôi đang thở vào và điều hòa cho thân thể tôi trở nên tĩnh lặng”.

 

Trong khoảng 10 đến 20 phút, tâm ý của hành giả lặng xuống như hồ nước trong và không bị lôi kéo và phăn tán nữa. Phương pháp theo dõi hơi thở tĩnh lặng và điều phục hoàn toàn hơi thở được gọi là phương pháp “tuỳ tức”. Tùy là theo dõi, tức là hơi thở, tuỳ tức là theo dõi hơi thở.

 

Nếu thấy phương pháp theo dõi hơi thở hơi khó, ta có thể theo dõi bằng phương pháp đếm hơi thở. Thở vào đếm “1”, thở ra đếm “1”. Thở vào đếm “2”, thở ra đếm “2”. Thở cho đến hơi thở thứ 10 thì bắt đầu đếm lại từ 1. Trong lúc thở như vậy, sự đếm là sợi dây buộc tâm vào hơi thở. Ban đầu đếm là để chú ý, kẻo nếu không chú ý thì đếm lộn. Đó là hình thức định tâm sơ đẳng nhất, cột được tâm vào sự đếm rồi, đạt tới cái định tâm sơ đẳng ấy rồi thì bắt đầu bỏ sự đếm và chuyển sang theo dõi hơi thở. Phương pháp đếm hơi thở được gọi là phương pháp sổ tức. Sổ là đếm, tức là hơi thở.

 

Những lúc tâm trí bị phân tán khó tập trung để quán niệm, ta lại nắm lấy hơi thở, nắm lấy hơi thở cũng là quán niệm. Hơi thỏ là một phương tiện thần diệu để nắm lấy tâm ý. Giới thứ bảy của dòng tu Tiếp Hiện cũng dặc biệt chú trọng tới hơi thở : “Không được buông thả theo (vọng) loạn tưởng và hoàn cảnh để tự đánh mất mình, Phải biết dùng hơi thở để nắm lấy thân tâm, thực hiện chánh niệm, phát triển định tuệ và đi tới trên đường thành tựu đạo nghệ.

 

Mỗi động tác là một lễ nghi

 

 

Thiều ơi, tôi thường nghe một ví dụ này khá hay về hơi thở. Có một bức tường cao không có cách gì leo lên đứng phía trên được, duy chỉ có sợi chỉ mong manh vắt qua bức tường. Người khôn khéo sẽ buộc đầu sợi chỉ ấy vào dây gai rồi qua bên kia kéo đầu sợi chỉ xuống để cho sợi dây gai vắt lên thay thế. Xong rồi, lại buộc đầu sợi gai với đầu sợi dây thừng để kéo nó vắt qua bức tường. Sau khi cột một đầu thừng xuống chân bức tường bên này, ông ta sang bên kia tường bám vào sợi dây thừng mà trèo lên đứng phía trên bức tường. hơi thở của ta là sợi dây chỉ mỏng manh kia, nếu ta biết sử dụng thì ta có thể biến nó thành một khí cụ thần diệu cứu ta ra khỏi những trường hợp xem như vô vọng. Hơi thở cũng là một cây cầu bắt từ thân sang tâm, hơi thở điều hòa cả thân và tâm, hơi thở thiết lập sự thể giữa thân và tâm. Thân và tâm đều có liên hệ tới hơi thở, và hơi thở có thể dùng để điều hợp thân tâm, đưa đến trạng thái tĩnh lặng sáng chiếu của cả hai.

 

Có nhiều người và nhiều sách nói đến những ích lợi lớn lao của sự tập thở đúng phương pháp. Người biết thở là người biết sử dụng một kho tàng sinh lực vô tận : Hơi thở thanh lọc buồng phổi, thanh lọc máu trong huyết quản, thanh lọc và đổi mới cả cơ thể. Hơi thở quan trọng hơn thức ăn. Những điều ấy rất đúng. Hồi xưa tôi từng bị ốm nặng và qua mấy năm thuốc thang không lành, tôi đã dùng đến phương pháp thở, phương pháp này đã cứu sống tôi.

 

Tuy vậy trong câu chuyện mà tôi đang nói với Thiều đây, hơi thở là dụng cụ và đối tượng của quán niệm. Hai lá phổi tốt, một hơi thở khỏe là những thiện duyên rất lớn, tuy nhiên không phải là mục đích lớn mà chỉ là những vật phó sản (gous prodrets) của sự thực hiện quán niệm mà thôi. 

 

Ở Paris tôi có hướng dẫn một lớp ngồi Thiền cho người ngoại quốc. Trong số đó có nhiều người trẻ. Tôi nói với họ mỗi ngày ngồi một giờ đồng hồ thì tốt lắm, nhưng không đủ thiếu gì. Phải tập thiền trong khi đi, đứng, ngồi, nằm và làm việc. Tôi chỉ cho họ cách quán niệm trong khi rửa tay, rửa bát, quét nhà, nói chuyện. Tôi nói trong khi rửa bát, có thể ta nhớ tới tách trà và muốn rửa cho thật mau để lên ngồi uống trà. Nhưng như thế là ta không thấy được sự sống trong khi rửa bát. Trong khi ta rửa bát thì rửa bát phải là chuyện quan trọng nhất trong đời. Trong khi ta đi cầu, thì đi cầu là chuyện quan trọng nhất trong đời. Cứ thế mà nhìn, bửa củi cũng là thiền mà gánh nước cũng là thiền. Người hành giả tu 24 tiếng đồng hồ một ngày chứ không phải chỉ tu trong giờ tụng kinh và ngồi thiền. Mọi động tác đều được nhiếp phục trong chánh niệm. Mỗi động tác là một lễ nghi. Dùng chữ lễ nghi thì hơi nặng nề nhưng tôi phải dùng chữ ấy qua một lượt để Thiều thấy tính cách sanh tử của sự tỉnh thức.

 

Hãy là nụ cười

 

Ngày nào cũng thực tập quán niệm, giờ nào cũng thực tập quán niệm… Nói thì dễ nhưng thực hành cho được thường xuyên là chuyện không dễ… Vậy cho nên tôi đề nghị những người trong lớp thiền tập nên để dành một ngày trong tuần để khởi sự thực tập. Đã đành trên nguyên tắc ngày nào cũng là ngày của mình, giờ nào cũng là giờ của mình, nhưng trên thực tế mình hoàn toàn chưa thể nào chủ động được và mình có cảm tưởng gia đình, sở làm và xã hội chiếm mất hết thì giờ của mình. Vì vậy tôi đề nghị họ lấy một ngày trong tuần làm “ngày của mình”. Ngày này sẽ là bàn đạp tạo nên thói quan tốt đẹp của sự thực tập quán niệm. 

 

Tác viên xã hội ai cũng có quyền có 1 ngày như vậy mỗi tuần, nếu không ta sẽ tự đánh mất mình một cách dễ dàng trong cuộc đời náo động. Ta tạm gọi cái ngày thứ bảy kia là ngày quán niệm. Muốn tổ chức ngày quán niệm ta hãy chuẩn bị làm sao khi thức dậy trong buổi sáng, ta có thể nhớ ngày dó là ngày quán niệm. Treo một cái gì ở trên trần nhà hay ở trong mùng. Ví dụ như một chữ “quán” hay một cành thông chẳng hạn, để khi thức dậy là ta có thể trông thấy và biết đây là ngày quán niệm, ngày “của mình”.

 

Nhớ ra như vậy rồi, ta nên mỉm cười để chứng tỏ rằng ta đang có ý thức trọn vẹn và cũng là nuôi dưỡng ý thức trọn vẹn đó. Nằm trên giường ta bắt đầu theo dõi hơi thở, điều phục hơi thở, thở những hơi chậm, dài và ý thức. Rồi ta từ từ vén chăn ngồi dậy (đừng tung chăn chồm dậy như thường nhật). Nuôi dưỡng quán niệm trong từng cử chỉ. Ta xúc miệng đánh răng, chải đầu, cạo râu hay điểm trang một cách nhẹ nhàng, thong thả, cử động nào cũng được nhiếp phục trong quán niệm. Theo dõi hơi thở, nắm lấy hơi thở, đừng để tâm loạn động. Khi làm những cử động thể dục buổi sáng cũng vậy. Các cử động thể dục nên làm thong thả, đi đôi với nhịp thở dài và nhẹ. Trong khi tập thể dục, duy trì nụ cười hàm tiếu trên môi.

 

Nên để ra ít nhất là nửa giờ để tắm gội thong thả trong chánh niệm. Đôi khi tắm xong là ta đã thấy nhẹ nhàng khoan khoái rồi. Sau đó ta có thể đi làm việc nội trợ, giặt áo quần, chùi nhà, lau bàn, sửa bếp, xếp dọn sách vở. Những công việc ấy phải được làm thật khoan thai, nhẹ nhàng trong chánh niệm. Làm tức là tu, đừng mong cho chóng xong. Bí quyết là làm thong thả. Để tâm ý vào đó, ưa thích nó, đồng nhất với nó. Phải tìm được sự an lạc trong khi làm những việc đó. Nếu không thì ngày quán niệm đó xem như là thất bại. Những người mới tập thì nên giữ im lặng trong ngày quán niệm. Vận tốc của các cử động dưới ảnh hưởng của quán niệm được giảm xuống rất nhiều. Hãy nhìn những vị thiền sư. Họ đi đứng khoan thai, nhất cử nhất động đều nhẹ nhàng, không vụt chạc hay nóng nảy. Nói như thế không có nghĩa là trong ngày quán niệm ta không nên nói chuyện. Ta cũng có thể nói chuyện và cũng có thể hát nữa. Nhưng ta chỉ nên nói hay hát ít thôi, trong khi duy trì ý thức minh mẫn về những gì ta đang nói hoặc đang hát. Cố nhiên ta có thể vừa hát vừa quán niệm. Biết rõ là ta đang hát và ta đang hát gì.

 

Tuy thế, nên biết rằng trong khi ta hát, tình tiết và âm diệu có thể đưa ta lạc ra ngoài chánh niệm nếu năng lực tập trung của ta còn yếu kém. Buổi trưa ta có thể tự nấu cơm. Việc ăn cơm, rửa bát, nghỉ ngơi, tất cả cũng đều được thực hành trong chính niệm. Buổi sáng sau khi nhà cửa đã được dọn hay chăm bón, vun mấy khóm hoa. ta pha trà và ngồi uống trà trong chánh niệm. Để dành thật nhiều thì giờ cho công việc này. Đừng uống trà như người ta ăn hủ tiếu, cà phê ngoài tiệm trước khi đi làm, nghĩa là hấp tấp quá. Uống trà thật thảnh thơi, khoan thai, như nhịp đi của bốn mùa, như nhịp quay của trái đất, thong thả, đều đặn, không hấp tấp. Không đi tìm tương lai. Sống với giờ phút hiện tại. Chỉ có giờ phút hiện tại mới là sự sống. Đừng đồng nhất sự sống với tương lai. Đừng luôn nghĩ tới chuyện phải đi về tương lai. Đừng luôn luôn nghĩ tới chuyện khởi hành. Ngày xưa trong “Bướm bay vượn cải hoa vàng”, tôi viết: 

 

Em hãy là đóa hoa đứng yên bên hàng dậu, 
Là nụ cười, 
Là một phần của hiện hữu nhiệm mầu. 
Tôi đứng đây, chúng ta không còn khởi hành. 
Quê hương chúng ta đẹp như quê hương của tuổi thơ. 
Xin đừng ai xâm phạm. Tôi vẫn còn hát ca….”.

 

Buổi chiều ta có thể đọc kinh, chép kinh, viết thơ cho bạn, làm bất cứ việc gì mà ta thích từ công việc trong tuần. Tôi nhắc em là làm gì cũng làm trong chánh niệm. Buổi tối ăn ít thôi, khoảng 10 – 11 giờ ta ngồi thiền đến nửa đêm sau khi bách bộ chừng một giờ để thở không khí trong lành, theo dõi hơi thở bằng quán niệm, đo chiều dài hơi thở bằng quán niệm, đo chiều dài hơi thở bằng bước chân ta về phòng và đi ngủ trong chánh niệm.

 

Thiều ơi ! 

 

Thế nào mình cũng tìm cách để tôn trọng tuyệt đối ngày quán niệm của tác viên. Ngày ấy cần thiết quá và ảnh hưởng tốt đến những ngày khác trong tuần rất nhiều. 

 

Mười mấy năm về trước, nhờ ngày bình tĩnh quán niệm ấy mà chú Văn và các anh chị trong dòng Tiếp Hiện đã hướng dẫn được trường đi qua nhiều giai đoạn bão táp. 

 
Thực tập ngày quán niệm được trong vòng ba tháng thì ta đã có sự thay đổi quan trọng trong đời sống của chúng ta rồi. Từ ngày quán niệm, sự thực tập sẽ lan qua những ngày khác trong tuần và ta sẽ có thể tu không phải một ngày trong một tuần mà bảy ngày trong một tuần. Thiều đã thấy ra ngày quán niệm là một bàn đạp quan trọng hay chưa.

 

Thức dậy giữa làng hồng  

 

Không những tác viên cần có một ngày trong mỗi tuần, họ còn cần có một tháng trong mỗi năm nữa. Chắc Thiều còn nhớ lá thư tôi viết để trả lời thầy Châu Toàn về dự tính làng Hổng. Làng Hồng là một quê hương tâm linh cho người tác viên, cũng như phương Bối quê hương tâm linh cho chúng ta ngày xưa vậy.

 

Chúng ta phải có làng Hồng để trở về sau những đợt công tác. Tại đây ta trồng cây, trồng rau thơm, đi bách bộ với trẻ trong làng, thực tập quán niệm và Thiền Tọa. Thầy Châu Toàn trong một lá thư cho tôi đã nói tới dự tính ấy, và gọi khu làng quê hương tâm linh này là làng Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội. Thầy có nói cho tôi hay rằng khu vực chọn lựa có thể nằm gần miền cao nguyên và như thế có thể hạp với cây Hồng. Tôi nói như thế thì đặt tên làng là làng Hồng thì nhẹ và đẹp hon tên kia. Thầy Châu Toàn là một nghệ sĩ, cho nên tôi rất tin cậy nơi Thầy về khía cạnh nghệ thuật của làng. Tôi có dặn Thầy nên giữ tất cả những tảng đá lớn nhỏ có mặt trong khu đất dù dưới suối hay trên đồi. Tôi lại dặn thầy đi đánh dấu tất cả cây lớn nhỏ nào có giá trị nghệ thuật để giữ lại. Làng sẽ có công viên, rừng và rất nhiều con đường đi bộ qua rất nhiều vườn Hồng và tên làng do đó mà có. Làng sẽ có nhiều lô đất, mỗi tác viên có một lô đất, Thiều cũng có 1 lô, tôi cũng có 1 lô. Chúng ta sẽ làm một căn nhà đon giản trong khu đất và trồng cây ăn trái và rau quả quanh nhà. Tôi ưa trồng rau thơm lắm. Tôi sẽ trồng sau nhà của tôi nhiều thứ rau thơm: cây ngò, cây quế, cây hưng, cây tía tô, cây kinh giới, cây tần ô, cây rau răm, cây lá lốt. Tôi cũng sẽ trồng cây lá dứa thơm, cây xả, một giàn mướp ngọt, và có thể có cả một giàn hoa lý trước nhà.

 

Thiều cười tôi đang sống với tương lai phải không. Đúng đó, nhưng tôi cũng đang sống với hiện tại. Bên này tôi cũng trồng đủ thứ rau thơm. Tuyết có gởi cho tôi nhiều loại hột giống, nhưng chỉ trồng được trong mùa ấm thôi. Làng Hồng đối với tôi đã là một thực tại rồi. Làng Hồng cũng đã bắt đầu có mặt nơi Thiều. 

 

Thiều và các bạn nên xúc tiến việc thành lập làng Hồng. Làng Hồng là một hình ảnh tươi mát trong lòng mọi chúng ta. Làng Hồng cũng là hình ảnh ấm áp. Các anh chị tác viên khi lập gia đình cũng nên về cư ngụ tại làng Hồng. Làng Hồng sẽ có hợp tác xã. Mình sẽ săn sóc cho làng. Tổ chức sinh hoạt cho trẻ con và tạo nền nếp sinh hoạt tâm linh cho mọi người. Mỗi tác viên khi về tới làng Hồng là thấy thoải mái. 

 

Trong 1 tháng cư trú tại làng Hồng, người tác viên chơi đùa với trẻ con (bọn Lê Hải Thiều Âm lúc này có lẽ đông lắm), đọc sách, nằm võng, trồng rau, ngồi thiền, rũ bỏ mọi bụi bặm phiền não, luyện thêm ý chí, thêm yêu thương. 

 

 

Thích Nhất Hạnh

Còn nữa…

Nguồn link: http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-80_4-9669_5-50_6-2_17-88_14-1_15-1/#nl_detail_bookmark

 

 

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Bảy 23, 2012 in Phật Giáo

 

Zen Practice – Just Say Om

Zen Practice – Just Say Om

By Joel Stein;David Bjerklie, Alice Park and David Van Biema/New York City, Karen Ann Cullotta/Iowa and Jeanne McDowell/Los Angeles Monday, Aug. 04, 2003

Read more: http://www.time.com/time/magazine/article/0,9171,1005349,00.html#ixzz1yfx0DFFQ

 

The one thought I cannot purge, the one that keeps coming back and getting between me and my bliss, is this: What a waste of time. I am sitting cross-legged on a purple cushion with my eyes closed in a yoga studio with 40 people, most of them attractive women in workout outfits, and it is accomplishment enough that I am not thinking about them. Or giggling. I have concentrated on the sounds outside and then on my breath and then, supposedly, just on the present reality of my physical state–a physical state concerned increasingly with the lack of blood in my right foot. But I let that pass, and then I let my thoughts of the hot women go, and then the future and the past, and then my worries about how best to write this article and, for just a few moments, I hit it. It looks like infinite blackness, feels like a separation from my body and seems like the moment right before you fall asleep, only I’m completely awake. It is kind of nice. And then, immediately, I have this epiphany: I could be watching television.

After 20 minutes we stop for a break, which surprises me, since I would not have guessed that sitting on a cushion is an activity that requires a break. Before we begin again, our instructor, Sharon Salzberg, a cofounder of the Insight Meditation Society in Barre, Mass., and the author of Faith: Trusting Your Own Deepest Experience, asks for questions or comments. Four are about breathing. “Breathing is too complicated for me to concentrate on,” one woman complains. “I mean, breathing must be the most complex thing we do.” I briefly consider waiting outside and mugging the lot of them.

But as pitiably muggable as these people may appear, the latest science says they’ve got something on my judgmental self. For one thing, they will probably outlive me by quite a few years. Not only do studies show that meditation is boosting their immune system, but brain scans suggest that it may be rewiring their brains to reduce stress. Meanwhile, we nonbelievers are becoming the minority. Ten million American adults now say they practice some form of meditation regularly, twice as many as a decade ago. Meditation classes today are being filled by mainstream Americans who don’t own crystals, don’t subscribe to New Age magazines and don’t even reside in Los Angeles. For upwardly mobile professionals convinced that their lives are more stressful than those of the cow-milking, soapmaking, butter-churning generations that preceded them, meditation is the smart person’s bubble bath

Read more: http://www.time.com/time/magazine/article/0,9171,1005349,00.html#ixzz1yfxCYcmu

 

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Bảy 23, 2012 in Phật Giáo

 

Lung linh đêm đại lễ rước ánh sáng Phật – Hai đại đức trụ trì chùa Song Tử Tây ( Trường Sa) – Đoàn tăng sư Việt Nam khởi hành ra Trường Sa

Lung linh đêm đại lễ rước ánh sáng Phật

Vào ti 5/5 (rm tháng 4), mt đi l tràn ngp ánh sáng màu nhim ca đc Pht đã din ra t chùa T Đàm đến bến Nghinh Lương Đình (TP Huế) mang tên rước ánh sáng Pht đ thp sáng 15.000 ngn hoa đăng th trên sông Hương.

 

Trao ánh sáng Phật từ lễ đài chính tại chùa Từ Đàm

Lễ hội nằm trong khuôn khổ tuần lễ Phật đản tại Huế phật lịch 2556 (2012), hưởng ứng “Năm Du lịch Quốc gia duyên hải Bắc miền Trung” do tỉnh Thừa Thiên Huế đăng cai tổ chức. Lễ hội được tổ chức trọng thể, công phu với sự phối hợp của nhiều ban ngành trong tỉnh, thành phố.

Từ 18h tối, các thầy trong Giáo hội Phật giáo tỉnh TT-Huế rước ánh sáng là một ngọn lửa của Phật từ Lễ đài Phật đản chính của Giáo hội tỉnh ở chùa Từ Đàm. Đoàn rước dưới sự hộ tống của lọng, phương trượng, đao trừ tà trong tiếng kèn chiêng trống bát nhã rộn rã. Rất đông người dân mặc áo tràng, đứng chắp tay niệm phật kín sân chùa Từ Đàm và dọc các tuyến phố. Sau khi lên 4 xe hoa, đám rước đi qua đường Phan Bội Châu, Lê Lợi, cầu Phú Xuân và về bến Nghinh Lương Đình.

Tại đây, đúng 19h, Lễ hội chính bắt đầu với 3 phần: Nghi thức hành chính, Nghi lễ tâm linh phụ diễn nghệ thuật trên 2 lễ đài trên bờ và dưới nước ở bến Nghinh Lương Đình. Những tiết mục như Ca Huế, nguyện cầu Quốc thái dân an, múa hoa đăng, phật tử hát với hàng vạn người dân, du khách đứng hai bên bờ sông sát lễ đài xem đã làm cho không khí thêm náo nức nhưng không kém phần trang nghiêm.

19h40’, các thầy thắp ánh sáng của Phật vào các đèn hoa đăng và mời các đại biểu thả xuống dòng Hương giang. Cùng lúc, 5 chiếc đò cùng các đơn vị gia đình phật tử đi thả hoa đăng trên sông . Có tổng cộng 15.000 hoa đăng đã được thả xuống cầu mong cho hòa bình, an lạc và hạnh phúc. Sông Hương đã được thắp sáng bằng ánh nến lung linh trong đêm cầu nguyện mang theo nhiều ước nguyện của người dân Huế và khách du lịch. Các thuyền rồng cùng 14 khóm hoa đăng treo đèn dọc sông đã tôn thêm cảnh đẹp huyền ảo trong đêm rằm Phật đản 2556 đáng nhớ. Pháo bông từ lễ đài và bờ bên kia sông Hương cuối cùng đã cùng thắp sáng bầu trời trên mặt nước sông Hương đầy đèn hoa.

 

15.000 hoa đăng huyền ảo trên mặt nước sông Hương

Theo Hòa thượng Thích Giác Quang, Phó ban thường trực Ban trị sự GHPG tỉnh TT-Huế, Lễ hội đã để lại một ấn tượng tốt, sâu lắng cho những ai tham dự. Lễ hội góp phần giới thiệu nét văn hóa tâm linh – chiều sâu của văn hóa Huế đến với mọi người…
Nguồn đọc thêm: http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=384969#ixzz1u3rtkJlV
http://www.xaluan.com/

Thứ Hai, 16/04/2012, 15:43 (GMT+7)

Hai đại đức trụ trì chùa Song Tử Tây – Trường Sa

* Kỷ niệm 37 năm Ngày giải phóng Trường Sa

TTO – Sáng 15-4, đoàn công tác thăm Trường Sa do ông Trần Sơn Hải, phó chủ tịch thường trực UBND tỉnh Khánh Hòa, làm trưởng đoàn đã có buổi làm việc đầu tiên tại đảo Song Tử Tây sau 2 ngày tàu lênh đênh trên biển.

 
Chuẩn đô đốc Trần Đình Xuyên, phó tư lệnh Quân chủng Hải quân, phó trưởng đoàn công tác, bàn giao chùa Song Tử Tây cho hai tăng sĩ  - Ảnh: Tiến Thành

 

 
Trưởng đoàn công tác – ông Trần Sơn Hải, phó chủ tịch thường trực UBND tỉnh Khánh Hòa, thăm hỏi quân và dân đang sinh sống, làm việc trên đảo Song Tử Tây – Ảnh: Tiến Thành

Sau lễ chào cờ trịnh trọng, lãnh đạo đoàn công tác các tỉnh Khánh Hòa, Điện Biên và Vĩnh Phúc đã lần lượt trao tặng quà cán bộ, chiến sĩ đang làm nhiệm vụ tại đảo Song Tử Tây.

Thay mặt đoàn công tác, ông Trần Sơn Hải đã động viên cán bộ chiến sĩ đảo Song Tử Tây tiếp tục rèn luyện sức khỏe cũng như công tác chiến đấu để hoàn thành tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.

Đáp lại tình cảm của đoàn công tác, thượng tá Vũ Văn Cường, chỉ huy trưởng đảo Song Tử Tây, khẳng định chuyến thăm của đoàn công tác là nguồn cổ vũ động viên tinh thần to lớn, do đó toàn thể cán bộ chiến sĩ trên đảo ra sức quyết tâm rèn luyện, sẵn sàng chiến đấu để giữ vững chủ quyền biển đảo.

 
Cán bộ chiến sĩ và nhân dân trên đảo Song Tử Tây giao lưu văn nghệ tối 14-4 – Ảnh: Tiến Thành

 

 
Lãnh đạo đoàn công tác ra thăm Trường Sa dâng hương tại chùa Song Tử Tây – Ảnh: Tiến Thành

Tiếp đó, đoàn đã dâng hương, làm lễ bàn giao chùa Song Tử Tây cho hai vị đại đức Thích Thánh Thành và Thích Tâm Hiện.

Nhân dịp kỷ niệm 37 năm giải phóng Trường Sa (29-4-1975 - 29-4-2012), các tăng sĩ đã tiến hành lễ cầu an dân cho các ngư dân, cán bộ chiến sĩ. Chuẩn đô đốc Trần Đình Xuyên, phó tư lệnh Quân chủng Hải quân, phó trưởng đoàn công tác, khẳng định việc tăng sĩ trụ trì chùa trên các đảo Trường Sa là hoạt động tích cực để người dân an cư lạc nghiệp, đồng thời bảo vệ vững chắc lập trường về chủ quyền Tố quốc Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa.

Ông Trần Sơn Hải nhấn mạnh: “Đây là cơ hội lớn để huyện đảo Trường Sa cũng như tỉnh Khánh Hòa quảng bá loại hình du lịch tâm linh đối với du khách trong tương lai”.

Cùng ngày, đoàn đã tới thăm hỏi và tặng quà cho các hộ ngư dân trên đảo và làm lễ dâng hương tại tượng đài Trần Hưng Đạo.

Trước đó, tối 14-4, khi đoàn công tác đặt chân lên đảo, quân và dân đảo Song Tử Tây đã có buổi giao lưu văn nghệ với nhóm ca múa nhạc Hải Đăng đến từ Khánh Hòa. Nhiều ca khúc về biển đảo được thể hiện như Gần lắm Trường Sa, Lính đảo đợi mưa, Tình em - Trường Sa

* Ngày 16-4, tập thể cán bộ, chiến sĩ và nhân dân xã đảo Sinh Tồn, huyện Trường Sa (Khánh Hòa) đã long trọng tổ chức mít tinh kỷ niệm 37 năm Ngày giải phóng quần đảo Trường Sa (29-4-1975 – 29-4-2012).

 
Một góc đảo Song Tử Tây, Trường Sa. Ảnh: TTXVN

Tham dự buổi lễ có Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa Trần Sơn Hải, Chuẩn Đô đốc Trần Đình Xuyên- Phó Tư lệnh Quân chủng Hải quân và ông Ngô Hà Thái, Phó Tổng Giám đốc TTXVN.

Cách đây 37 năm, với tinh thần “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ”, Quân chủng Hải quân Việt Nam đã mở các cuộc tấn công, lần lượt giải phóng các đảo Song Tử Tây, Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa… góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước vào mùa xuân năm 1975.

Với phương châm “Đảo là nhà, biển cả là quê hương”, trong 37 năm qua, quân và dân Trường Sa đã không ngừng vượt qua khó khăn, lao động, nhờ đó diện mạo của huyện đảo Trường Sa đổi mới từng ngày, khang trang hơn, kiên cố hơn.

Nhiều công trình như cầu cảng, sân bay, âu tàu, trạm hải đăng, đài khí tượng thủy văn, hệ thống cấp điện bằng năng lương sạch, các công trình văn hoá… được đầu tư xây dựng trên quần đảo, không chỉ phục vụ cho nhiệm vụ quốc phòng, mà còn tạo điều kiện tốt cho quân, dân Trường Sa phát triển kinh tế, nâng cao năng lực bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.

Bên cạnh đó, quân và dân huyện Trường Sa còn là chỗ dựa vững chắc cho ngư dân cả nước trong quá trình khai thác hải sản, như hỗ trợ nước ngọt, nhiên liệu, cứu nạn…

Phát biểu tại lễ kỷ niệm, ông Trần Sơn Hải, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa đề nghị huyện Trường Sa tập trung nâng cao khả năng quản lý, bảo vệ chủ quyền biển đảo; triển khai tốt các chương trình mục tiêu quốc gia, trong đó chú trọng thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khoá X) về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”; chăm lo tốt đời sống của quân và dân trên các đảo, tích cực hỗ trợ, cứu nạn cho ngư dân trong quá trình đánh bắt hải sản trên ngư trường Trường Sa, góp phần xứng đáng vào công cuộc đổi mới của tỉnh.

Với những thành tích đạt được, Đảng và Nhà nước đã khen thưởng nhiều danh hiệu cao quý cho quân và dân huyện Trường Sa, trong đó năm 1983, Trường Sa được tuyên dương danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.

TIẾN THÀNH – TTXVN

http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/487423/Hai-dai-duc-tru-tri-chua-Song-Tu-Tay—Truong-Sa.html

 

 Thứ Sáu, 13 tháng 4 2012

Đoàn tăng sư Việt Nam khởi hành ra Trường Sa

 

 

Hình: AFP

Bức ảnh của Thông tấn xã Việt Nam công bố ngày 14/6/2011 cho thấy đảo Phan Vinh ở quần đảo Trường Sa

5 tăng sư Việt Nam đã khởi hành chuyến đi ra quần đảo Trường Sa trong kế hoạch lưu lại đây ít nhất nửa năm để dựng lại các ngôi chùa tại khu vực mà Trung Quốc cũng có tuyên bố chủ quyền này.

Các hãng thông tấn AP và AFP ngày 13/4 trích lời Đại đức Thích Giác Nghĩa từ trên con tàu hướng ra quần đảo Trường Sa cho biết mục đích chuyến đi nhằm cải thiện đời sống tâm linh cho cộng đồng người Việt trên một trong những hòn đảo ở Trường Sa, đa số là nhân viên quân đội và nông dân-ngư dân.

Theo AFP, phái đoàn tăng sư dự định tái lập 3 ngôi chùa bị bỏ hoang tại đây từ năm 1975, nhưng gần đây đã được trùng tu trong khuôn khổ nỗ lực của Việt Nam khẳng định chủ quyền trên quần đảo giàu tài nguyên này.

Tin cho hay Ủy ban Nhà nước về Người Việt Nam ở nước ngoài cũng sắp cử một phái đoàn ra thị sát Trường Sa. Tại cuộc họp báo ngày 12/4, phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Việt Nam, Lương Thanh Nghị, nhấn mạnh các đảo thuộc huyện đảo Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa, là những địa danh của Việt Nam, và vẫn theo lời ông Nghị, việc người Việt Nam tới thăm các nơi này là điều bình thường.

Nguồn: AFP, AP

http://www.voanews.com/vietnamese/news/canh-sat-vn-pha-vo-phan-khang-cua-dan-lang-04-24-2012-148660705.html

 

 

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Năm 10, 2012 in Phật Giáo, Quan điểm

 

Sự Mầu Nhiệm và Nét Đẹp Của Niệm Phật – Hồng Y Của Vatican Ca Tụng Trí Tuệ Phật Giáo

Sự Mầu Nhiệm và Nét Đẹp Của Niệm Phật

 

Pháp môn niệm Phật, câu niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” họăc ngắn gọn hơn “A Di Đà Phật” đã hiện hữu với dân tộc Việt Nam hơn ngàn năm nay. Lúc tôi lên tám tuổi (1950), sống ở Hải Phòng, bà nội thường kể cho nghe Hội Chảy Chùa Hương lúc bà nội còn trẻ (thập niên 1920 & 1930). Lúc này đường đi còn khó khăn, đường lên Chùa núi dốc quanh co. Thế nhưng các cụ cứ chống gậy trúc mà miệng thì niệm “Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát”. Theo lời bà kể lại thì chẳng mấy chốc mà leo tới nơi, chẳng mệt nhọc gì cả. Đoàn người lên núi gặp đoàn người xuống núi, đoàn người đi ra gặp đoàn người đi vào. Khi gặp nhau ai nấy đều cất tiếng chào “A Di Đà Phật!”. Câu niệm, câu chào âm vang cả một vùng núi non hùng vĩ, biến cuộc hành hương thành một hành trình vừa linh thiêng vừa nên thơ có lẽ độc đáo nhất trên thế giới. Hình ảnh này đã được nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp ghi lại trong bài thơ Chùa Hương:

Mẹ bảo “Đường còn lâu,
Cứ đi ta vừa cầu.
Quan Thế Âm Bồ Tát.

Là tha hồ đi mau.”

Trong đoàn người đi như nước chảy đó, giữa khói hương trầm nghi ngút, “Hương như là sao lạc” cô gái 15 tuổi – nhân vật chính của bài thơ Chùa Hương, theo cha mẹ đi chảy hội, vì còn e thẹn cho nên:

Thẹn thùng em không nói.
Nam Mô A Di Đà.

Lúc còn nhỏ thì không để ý. Nay lúc tuổi già, hồi tưởng lại tâm linh dân tộc, suy nghĩ lại câu niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” hoặc “A Di Đà Phật” của dân mình mới thấy nó có một ý nghĩa linh thiêng và đẹp tuyệt vời. Nó không phải chỉ nằm trong phạm vi tôn giáo mà còn hòa nhập thành truyền thống văn hóa dân tộc. Nó trở thành phong cách sống hài hòa giữa đạo và đời. Khi đi chùa gặp nhau, hoặc trong các lễ hội Phật, chúng ta cất tiếng “A Di Đà Phật!” thì tiếng “A Di Đà Phật” trở thành một câu chào hỏi, một lời thân thiện, một lời mừng rỡ rằng ta còn có nhau, một lời chúc tụng, một sự kính trọng, một ước vọng sau này (khi vãng sinh) sẽ lại gặp nhau trên Quốc Độ Thanh Tịnh của Phật A Di Đà.

Đó là hình ảnh đẹp ngoài đời. Còn trong gia đình, mỗi tối chúng ta thấy bà nội, bà ngoại, mẹ ta ngồi lâm lâm lần chuỗi hạt niệm Phật. Các cụ niệm Phật để làm gì vậy? Đối với chư tăng ni, hoặc Phật tử tu tại gia chắc chắn ai cũng đã hiểu rõ mục đích của niệm Phật. Thế nhưng đối với thế hệ trẻ, người khác đạo có thể họ không hiểu ông/bà/cha mẹ hoặc chúng ta niệm Phật để làm gì? Hoặc giả nếu có hiểu thì cũng có thể hiểu sai cho nên chúng ta cần nói ra cho rõ. Chúng ta cần phân biệt đi chùa lễ Phậtniệm Phật là hai chuyện hoàn toàn khác nhau. Đi lễ chùa có khi chỉ là hành vi hoàn toàn tín ngưỡng, nhưng niệm Phật lại là hành vi huân tập, tu dưỡng bản thân. Ngoài ra chúng ta cần phải làm sáng tỏ cái Có và Không Có trong niệm Phật để cho thấy Đạo Phật không phải là Thần Giáo, chuyên cầu nguyện van vái để xin xỏ cái này cái kia, rồi trở thành tôi tớ cho Thần Linh.

Những Cái Không Có Trong Niệm Phật:

1) Niệm Phật không phải để cầu xin Phật ban cho một điều ước nào đó.

2) Niệm Phật không phải để tăng thêm sức mạnh, thêm can đảm để đối phó với kẻ thù. Cho nên trong Phật Giáo trải qua hơn 2500 năm, không hề có chuyện một đoàn quân lâm trận dương cao biểu tượng hay hình Đức Phật để hăng máu, can đảm xông lên chém giết kẻ thù.

3) Niệm Phật không phải là để van xin Phật ban cho môt giải pháp để giải quyết một tình thế khó khăn.

4) Niệm Phật không phải để xin Phật ban bố phép mầu, vặn cổ kẻ thù giúp chúng ta.

5) Niệm Phật không phải là quỵ lụy khóc than, trở nên hèn kém đối với Phật.

6) Niệm Phật không phải xin Phật chỉ lối, đưa đường cho chúng ta buôn may, bán đắt.

7) Niệm Phật không phải để dông dài kể lể, tâm sự chuyện kín, chuyện riêng tư với Phật.

8) Niệm Phật không giống như cầu nguyện, van vái Thần Linh.

9) Niệm Phật không phải để trở nên đời đời kiếp kiếp làm tôi đòi cho Phật.

10) Niệm Phật nhất thiết không phải để quên đời.

Những Cái Có Trong Niệm Phật:

1) Niệm Phật để tâm hồn thanh thản.

2) Niệm Phật để an trụ tâm. Đang nóng nảy, niệm Phật lòng dịu hẳn xuống. Đang tức giận niệm Phật, lửa Sân từ từ hạ. Đang điên cuồng, niệm Phật tự nhiên bớt điên cuồng. Đang thù hận, niệm Phật hận thù hóa giải. Tham lam, niệm Phật bớt tham. Kẻ hung hăng, niệm Phật bớt hung hăng.

3) Niệm Phật để không cho niệm Ác nảy sinh. Nếu niệm Ác đã nảy sinh thì không cho nó phát triển. Do đó Chư Tổ nói rằng “Niệm Phật quên niệm Ma”. Khi niệm Phật thì tà ma, quỷ thần sẽ lánh xa.

4) Niệm Phật để giữ gìn Thân-Khẩu-Ý.

5) Niệm Phật là phương thuật giữ gìn Chánh Niệm.

6) Niệm Phật tới vô niệm chính là Thiền. Lúc đó sẽ không còn Chỗ Niệm (năng) và Người Niệm (sở), hành giả hiển lộ Phật tánh có sẵn trong con người mình và đi vào trạng thái Định.

7) Niệm Phật để nuôi dưỡng lòng Từ Bi.

8) Niệm Phật riết rồi trở thành Phật chứ không phải trở thành nô lệ hay tôi tớ cho Phật.

9) Niệm Phật cũng là phép điều hòa hơi thở cho nhẹ nhàng. Đi, đứng, nằm ngồi đều có thể niệm Phật. Cho nên niệm Phật cũng là phép trị liệu, bảo vệ sức khỏe.

10) Niệm Phật để giải trừ bớt Ác Nghiệp gây tạo trong quá khứ.

11) Niệm Phật để lúc lâm chung chẳng còn lo sợ. Chẳng cần phải nhờ ai cứu rỗi. Một mình thẳng tiến lên Thế Giới Cực Lạc của Phật A Di Đà.

12) Càng niệm Phật đấu óc càng trong trắng, lòng dạ thảo ngay, tâm tính hiền từ.

13) Kẻ ác khẩu, nói năng hung dữ chuyên niệm Phật sẽ giải trừ được khẩu nghiệp. Niệm Phật khiến ta không vấp ngã trong lời nói. Một lời nói lầm lỡ có thể tiêu tan sự nghiệp.

14) Niệm Phật khiến lời nói dịu dàng, khiếm tốn do đó không gây thù chuốc oán, không bị “vạ miệng”.

15) Mặt mày hung dữ, niệm Phật trở nên hiền từ, dễ coi. Niệm Phật để chuyển nghiệp.

16) Niệm Phật khiến đi đứng dịu dàng, cử chỉ khoan thai.

17) Niệm Phật có thể ngăn chặn được cám dỗ điên cuồng.

18) Chán nản, thất vọng não nề, cùng đường không lối thoát muốn tự tử chết cho rồi, niệm Phật khiến tâm địa bình ổn từ đó mà tìm ra giải đáp hợp lý.

19) Lâm vào vòng lao lý, tù tội mỗi tối nên ngồi ở tư thế “bán già”, xoay mặt vào tường niệm Phật khoảng nửa tiếng đồng hồ, sẽ thấy tâm hồn thanh thản, thời gian ở tù qua nhanh, không phạm thêm tội lỗi, may mắn ân xá, giảm án sẽ tới. Nhờ niệm Phật mà sau khi ở tù ra lấy lại tự tin để xây dựng cuộc đời mới. Đây không phải là chuyện bịa đặt vì người viết bài này đã từng ở tù 9 năm. Những năm cuối cùng, tuyệt vọng, chán nản muốn tự tử chết, sau trở sang nghiên cứu Phật pháp, chuyên chú niệm Phật, kể cả tụng kinh và giờ đây dù bao gian khổ vẫn sống khơi khơi và sống đẹp.

20) Trong một đám đông hỗn loạn, đâm chém, phẫn nộ, cuồng điên, niệm Phật khiến ta bình tĩnh, không hăng máu lao vào chuyện thị phi, hoặc a tòng theo phe này phe kia, bênh-chống, khiến sau này hối không kịp. Tâm bình thế giới bình là như thế. Xin nhớ cho bình an là chân hạnh phúc.

21) Niệm Phật có thể đạt tới trạng thái Định: Năm 2003 báo Life cho xuất bản cuốn 100 Photographs that Changed the World (Một Trăm Bức Hình Làm Thay Đổi Thế Giới) trong đó có hình Hòa Thượng Thích Quảng Đức tự thiêu. Những ai chưa gặp ngài thì thôi, những ai đã có lần gặp ngài ngài phải ngạc nhiên vì trong lúc ngồi hay đi, đứng, cả thân hình và khuôn mặt ngài ôn tĩnh như một pho tượng. Lúc nào trên tay ngài cũng có chuỗi hạt, chứng tỏ ngài theo pháp môn Tịnh Độ tức tụng kinh, niệm Phật. Ngài đã đạt tới trạng thái Định, tức xác thân ngài ở đây nhưng thần thức ngài đã ở Quốc Độ tức ở Cõi Phật rồi. Chính vì thế mà vào năm 1963, khi ngài ngồi kiết già tại ngã tư Phan Đình Phùng – Lê Văn Duyệt, bật ngọn lửa để thiêu đốt thân hình, để phản đối Ngô Triều đàn áp tôn giáo, cả thân thể ngập trong biển lửa mà không hề lay động. Thế gới Phương Tây đã kinh hãi và kính phục gọi ngài là Bậc Đại Định. Đó là công năng của phép niệm Phật chứ ngài chẳng có phép mầu nhiệm của thần linh nào hết.

Tại sao niệm Phật lại có uy lực ghê gớm như vậy?

Niệm Phật phát xuất từ pháp môn Tịnh Độ mà pháp môn Tịnh Độ phát xuất từ bộ Kinh A Di Đà. Phật nói kinh này tại Thành Xá Vệ do tấm lòng thành của tỉ phú Cấp Cô Độc, dám trải vàng để mua vườn ngự uyển của Thái Tử Kỳ Đà làm đạo tràng cho Phật thuyết pháp. Trong pháp hội này Phật nói rằng Kinh A Di Đà còn có tên Nhất Thiết Chư Phật Hộ Niệm. Chúng ta hãy nghe lời Phật dạy ngài Xá Lợi Phất:

Này Xá Lợi Phất, ý ông thế nào? Sao gọi kinh này là Nhất Thiết Chư Phật Hộ Niệm? Xá Lợi Phất, nếu có thiện nam hay thiện nữ, nghe kinh này rồi mà chịu nhớ lấy, cả những danh hiệu, chư Phật sáu phương nghe rồi nhớ lấy, thì thiện nam ấy, thiện nữ ấy đều được hết thảy chư Phật hộ niệm và được tới cõi A Nậu Da La Tam Miệu Tam Bồ Đề chẳng hề thối chuyển.” Lại nữa, “Xá Lợi Phất ơi, Phật kia sáng láng vô cùng, vô lượng, soi khắp các nước suốt cả mười phương, không đâu chướng ngại, vì thế nên gọi A Di Đà.” (1)

Chính vì thế mà khi chúng ta cất tiếng niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” hoặc “A Di Đà Phật” thì chư Phật sáu phương cùng hoan hỉ và hết lòng trợ lực. Hơn thế nữa, vì hào quang của A Di Đà Phật chiếu xuyên suốt không chướng ngại cho nên, dù ở đâu, khi chúng ta niệm danh hiệu ngài thì Phật A Di Đà cũng sẽ hộ trì cho chúng ta đạt mục đích và không thoái chuyển.

Còn trong pháp hội ở Núi Kỳ Xà Quật, ông trưởng giả Diệu Nguyệt cũng là Phật tử tại gia (Ưu Bà Di) của Phật, từ trong đại chúng đứng lên khẩn thiết thưa thỉnh Phật như sau:

Như Đức Thế Tôn từng chỉ dạy, đời mạt pháp các chúng sanh trong cõi Diêm Phù Đề cang cường, ngỗ nghịch, tâm tạp, nghiệp nặng, mê đắm ngũ dục, không biết hiếu thuận cha mẹ, không biết cung kính sư trưởng, không thực lòng qui y Tam Bảo, thiếu năng lực thọ trì năm giới cấm, làm đủ mọi chuyện tệ ác, phỉ báng thánh nhân v.v… Cho nên con suy gẫm như thế này, phải có một môn tu thật đơn giản, thật tiện lợi nhất, dễ dàng nhất để tất cả những chúng sanh kia khỏi đọa vào các đường ác, chấm dứt luân chuyển sanh tử trong ba cõi, được thọ dụng pháp lạc (pháp vui), sớm bước lên địa vị Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.” Sau lời thưa thỉnh tiếp theo của Quốc Mẫu – Hoàng Thái Hậu Vi Đề Hi, Đức Phật đã dạy như sau:

Muốn hàng phục và chuyển biến cái sát-na tâm sanh diệt ấy, thì không có pháp nào hơn là pháp niệm Phật. Này Diệu Nguyệt cư sĩ, nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào, đủ lòng tin, thì chỉ cần chuyên nhất xưng niệm danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật, suốt cả sáu thời trong ngày và giữ trọn đời không thay đổi, thì hiện tiền chiêu cảm được y báo và chánh báo của Phật A-Di-Đà ở cõi Cưc Lạc.” Và Đức Phật nhấn mạnh thêm “Đây là môn tu Đại Oai Lực, Đại Phứơc Đức.” (2) Ngay các bậc thượng thủ như Bồ Tát Văn Thù, Bồ Tát Phổ Hiền cũng đều niệm Phật. Còn thiền sư Bách Trượng (720-814) cũng phải nhận định rằng “Tu hành, dùng pháp môn niệm Phật là vững vàng nhất.” (3)

Những oai lực và phước đức của phép niệm Phật nói ở trên thuộc về mặt kinh điển và tín niệm. Còn về phương diện lý giải khoa học. Khi chúng ta chí tâm, chí thành, chí thánh niệm Phật thì chúng ta sẽ phát huy hết năng lực của trí tuệ, tâm đại bi, sự dũng mãnh của chính chúng ta (Bi-Trí-Dũng). Đạt tới trạng thái này rồi thì ung dung tự tại, không còn lo sợ gì nữa (Vô hữu khủng bố) giống như sự “hành thâm” thực chứng Bát Nhã Ba-la-mật Đa Tâm Kinh của Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát. Đó cũng là trạng thái Vô Ngại và Tự Tại của Chư Phật ẩn dụ chư Phật ngồi tòa sư tử.

Do những kết quả tốt lành nói trên mà chúng ta:

- Buổi tối nên niệm Phật.

- Trước khi đi ngủ nên niệm Phật cho đến khi nào đầu óc thanh thản để từ từ đi vào giấc ngủ.

- Sáng thức dậy nên niệm Phật, dù vài câu, bởi vì sau giấc ngủ dài đầu óc con người thường hôn trầm. Niệm Phật vào đầu sớm mai cũng là dấu hiệu bắt đầu một ngày mới tốt lành.

- Khi nào thấy buồn chán nên niệm Phật.

- Thấy mất tự tin nên niệm Phật.

- Thấy lòng xao xuyến nên niệm Phật.

- Thấy có thể bị cám dỗ nên niệm Phật.

- Thấy thời gian kéo dài, vô vị nên niệm Phật.

- Gặp rắc rối về pháp lý nên niệm Phật để bình tĩnh ứng phó.

- Bị ai chọc giận, công kích nên niệm Phật.

- Tại đám đông tụ họp, ăn nhậu, vui chơi, thấy người ta nói chuyện “vô duyên”, tào lao, nhảm nhí mất thì giờ, nên niệm Phật để không giây dưa vào chuyện vô ích.

- Các em khi vào thi, nên niệm Phật để đầu óc thanh thản, bình tĩnh. Thiếu bình tĩnh, quá lo âu, xao xuyến đưa đến việc không đọc kỹ câu hỏi, đề tài, tính toán sai, lạc đề v.v…

- Đêm khuya thanh vắng một mình trên tàu, xe, trên sông nước nên niệm Phật.

- Khi bệnh tật, đau ốm nằm nhà thương nên niệm Phật để không mất tinh thần, không sợ chết. Càng rên la, càng mất tinh thần, càng chết sớm, càng làm khổ gia đình.

- Nếu niệm Phật cùng lúc lại quán sổ tức (theo dõi hơi thở) thì công năng rất lớn chẳng khác gì thiền định vậy.

Kết Luận:

Niệm Phật miễn phí, không phải trả tiền (free) mà cũng không bị đóng thuế, đem lại tốt lành cho đời tại sao chúng ta không thử xem? (why not?). Xin quý vị, quý bạn mạnh dạn thực hành. Nếu thấy chẳng công hiệu gì cả thì bỏ đi cũng chẳng mất mát gì. Đức Phật cũng chẳng phiền trách hay trừng phạt bạn. Cuối cùng, xin thưa rằng như chúng ta đây – những con người gọi là trần tục, sống, thở hít không khí, gia đình đầy đủ và hưởng tất cả những lạc thú của kiếp người mà vẫn cảm thấy lo âu, xao xuyến, bất an và lo sợ ngày mai. Trong khi đó, hằng vài trăm ngàn, có khi hằng triệu tăng/ni trên khắp thế giới, sống đời âm thầm, đơn sơ, đạm bạc, không gia đinh, không của cải, không danh vọng, không quyền thế, không lạc thú trần gian như chúng ta…thế mà các vị lúc nào tâm hồn cũng thanh thản, cử chỉ dịu dàng, giới hạnh trang nghiêm, miệt mài đi tới mục đích cuối cùng: Giải thoát cho chính mình và cứu độ chúng sinh. Tại sao những vị này có thể “hy sinh” và sống đời cao thượng đến như thế? Các ngài có gì bí mật chăng? Xin thưa qúy ngài chẳng có loại “vũ khí” bí mật nào cả. Các ngài cũng chẳng có phép mầu hoặc sự che chở của bất cứ thần linh mầu nhiệm nào cả. Hành trang duy nhất mà các ngài mang theo là giáo lý của Đức Phật và phương tiện tiến tu là Thiền Định hoặc Tụng Kinh, Niệm Phật…điều mà tôi và quý bạn đã thấy rõ như ban ngày.

Không còn bàn cãi gì nữa. Tụng kinh niệm Phật công năng ghê gớm và lợi lạc có thể nhìn thấy. Còn như chuyện tu hành như thế nào, hành trì như thế nào, giới luật như thế nào, phát nguyện lớn như thế nào mà có thể đắc đạo, ngồi yên trong biển lửa, cắt xẻ thân thể mà không kêu than như Đức Phật thường nói trong nhiều bộ kinh…thì hàng sơ cơ, thô thiển như tôi hoàn toàn không biết. Không biết mà nói bừa sẽ mang tội vọng ngữ. Để nghiên cứu thấu đáo hơn về uy lực của Pháp Môn Niệm Phật, quý vị, quý bạn có thể tham khảo: Cuốn sách nhỏ nhan đề Nam Mô A-Di-Đà Phật: Tông Chỉ Pháp Môn Tịnh Độ của Hòa Thượng Thích Trí Tịnh biên soạn năm 1956. Cuốn Niệm Phật Thập Yếu của Hòa Thượng Thích Thiện Tâm biên soạn hết sức công phu và cuốn Kinh Niệm Phật Ba-la-mật cũng do Hòa Thượng Thích Thiền Tâm dịch ra Việt Ngữ xuất bản tại Hoa Kỳ năm 2001. Một Đời Vãng Sanh, Chấm Dứt Luân Hồi của HT. Tịnh Không xuất bản ở Hoa Kỳ năm 2010. Kính chúc quý vị, quý bạn thành công. Thành công ở đây có nghĩa là An Vui và Tự Tại – một giá trị to lớn không gì đối sánh được trên thế gian này.

(California Tháng 8 năm 2554.PL – 2010.TL)

ĐÀO VĂN BÌNH

(1) A Di Đà Kinh Yếu Giải của Hòa Thượng Tuệ Nhuận.

(2) Kinh Niệm Phật Ba-la-mật.

(3) Một Đời Vãng Sanh Chấm Dứt Luân Hồi.

http://daovanbinh.cattien.us/?p=439#comment-60

 

Hng Y Ca Vatican Ca Tng Trí Tu Pht Giáo

Daily Star

http://sachhiem.net/TONGIAO/tgD/Dailystar.php

 

16-Apr-2012

 

Hồng Y Jean-Louis Tauran – Photo: AFP
Hồng Y Của Vatican Ca Tụng Trí Tuệ Phật Giáo, Ngày 3 tháng 4, 2012

Đô Thị Vatican: Ngày thứ ba, trong một thông điệp về ngày lễ Tam Hợp của Phật Giáo, một Hồng y Ca-Tô Rô-ma đã ca ngợi Phật Giáo vì đã dạy cho giới trẻ thấm nhuần những giá trị của trí tuệ, từ bi và bất bạo động.  

Jean-Louis Tauran, trưởng ban đối thoại liên tôn giáo của Vatican, nói:

Là Phật tử, quý vị truyền lại cho những người trẻ tuổi trí tuệ liên quan đến sự cần thiết phải kiềm chế không làm hại người khác, và sống cuộc đời rộng lượng và từ bi”.

Ông nói rằng khía cạnh này của giáo dục Phật giáo là “một món quà quý giá cho xã hội”.

Ông ta nói: “Ngày nay, càng ngày càng nhiều trong các lớp học trên khắp thế giới, các sinh viên học sinh trong các tôn giáo khác nhau ngồi cạnh nhau”

Ông Hồng Y kêu gọi “sự suy nghiệm sâu sắc hơn” về sự cần thiết “sẵn sàng tiếp tay với các tôn giáo khác để giải quyết những xung đột”.

Giới trẻ “đặt áp lực trên chúng ta phải phá hủy tất cả những bưc tường bất hạnh thay vẫn còn ngăn cách chúng ta”

Tháng trước, Tauran lên án sự “ngu dốt” trong những mối liên hệ giữa Ki Tô Giáo và Hồi Giáo, đặc biệt chỉ trích sự tăng gia bài Hồi giáo ở Âu Châu”.

 

(Vatican cardinal hails Buddhist wisdom
April 03, 2012 04:33 PM)

[VATICAN CITY: A Roman Catholic cardinal on Tuesday praised Buddhism for instilling the values of wisdom, compassion and non-violence in young people in a message to mark the Buddhist feast day of Vesak.

"As Buddhists you pass on to young people the wisdom regarding the need to refrain from harming others and to live lives of generosity and compassion," said Jean-Louis Tauran, the Vatican's head of inter-religious dialogue.

He said this aspect of Buddhist education was "a precious gift to society".

"Today, in more and more classrooms all over the world, students belonging to various religions and beliefs sit side-by-side," he said.

The cardinal called for "deeper reflection" on the need "to be ready to join hands with those of other religions to resolve conflicts."

Young people "put pressure on us to destroy all the walls which unfortunately still separate us," he added.

Tauran last month condemned the "ignorance" in relations between Christians and Muslims, criticizing in particular rising Islamophobia in Europe.]

 

Source: http://www.dailystar.com.lb/News/International/2012/Apr-03/169076-vatican-cardinal-hails-buddhist-

http://sachhiem.net/index.php?content=showrecipe&id=5297

 

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Năm 10, 2012 in Phật Giáo, Tin Tức

 

Hướng Dẫn Thiền – Tài Liệu Chùa Phật Quang

Hướng Dẫn Thiền

 

 Lời ngỏ
Về phần lý thuyết cơ bản của pháp môn thiền theo tinh thần Tứ Niệm Xứ đã được Sư Phụ chúng tôi triển khai một cách chi tiết và có hệ thống trong giáo trình Thực Tập Thiền Quán cũng như trong tập Giáo Trình Thiền Học để dạy cho Tăng Ni sinh tại các trường Phật học. Pháp môn Thiền này cũng đã được áp dụng tu tập tại chùa Phật Quang bấy lâu nay. Thời gian gần đây Phật tử tu tập ở các đạo tràng rất cần việc hệ thống hóa trình tự thực hành thiền sao cho ngắn gọn nhưng đầy đủ căn bản để mỗi người tự ứng dụng được dễ dàng hiệu quả. Đại chúng chùa Phật Quang chúng tôi đã cùng nhau rút ý chính từ giáo trình thực tập thiền quán và giáo trình thiền học, cộng với sự thực hành trong thời khóa hàng ngày để viết thành tập sách nhỏ nhằm đáp ứng cho nhu cầu Phật tử vừa kể trên.
Phần hướng dẫn thiền trong đây gồm có 4 phần:
+ Trình tự căn bản dành cho người có nhiều thời gian thực tập.
+ Hướng dẫn thiền ngắn gọn dành cho người có ít thời gian.
+ Hướng dẫn thiền kết hợp với niệm Phật
+ Khẩu quyết tu thiền.
Kính chúc chư vị đạo hữu tu tập tinh tấn, nội tâm an tịnh, công đức tăng trưởng để cùng nhau đi trên con đường tu tập giải thoát giác ngộ và đạt được kết quả viên mãn thù thắng.

A. GIỚI THIỆU:
Đức Phật thành tựu đạo quả vô thượng chánh đẳng chánh giác bằng pháp môn Thiền định.
Ngày nay để tỏ lòng tôn kính Phật, khắp nơi trên thế giới, người đệ tử Phật vẫn tôn thờ Ngài với hình tượng toạ thiền.

B. ĐỊNH NGHĨA:
Thiền là phương pháp thực hành nhiếp tâm vào định, đưa tâm trí đến chỗ an tĩnh, sáng suốt không xuất hiện ý nghĩ, dấy động tình cảm…

C. MỤC TIÊU CỦA VIỆC TU TẬP:
Mục tiêu tối thượng của thiền định trong Đạo Phật là đạt đến Vô Nga, giải thoát Niết Bàn.

I. CÁCH HƯỚNG DẪN THIỀN:
Người hướng dẫn thiền phải nắm vững trình tự hệ thống của hướng dẫn thiền. Vì đây là việc làm hết sức cần thiết để giúp cho người hướng dẫn đỡ lúng túng, và người mới tập tu thực hiện dễ dàng có kết quả vững chắc, đồng thời không bị phản ứng phụ phát sinh.

A. NỀN TẢNG CĂN BẢN:
Để bắt đầu cho sự tu tập thiền định và đạt kết quả tốt trong công phu tu tập. Trước hết, chúng ta phải chuẩn bị ba nền tảng căn bản vững chắc đó là: Đạo Đức- Công Đức- Khí công.
1. Đạo Đức:
Là sự thánh thiện trong sạch trong tâm hồn, với lòng tôn kính Phật, thương yêu chúng sinh, và khiêm hạ tột cùng. Tâm đạo đức là một khía cạnh khác của thiền định. Vì thế, đạo đức và sự thanh tịnh hỗ trợ nhau rất mạnh. Cũng có những người không chuẩn bị trước với đạo đức, nhưng bằng sự nỗ lực với một phương pháp nào đó cũng đạt được thanh tịnh. Tuy nhiên, cuối cùng thiền định sẽ đổ vỡ. Và dù chưa đổ vỡ thì nhân cách họ cũng không thuyết phục được người.

2. Công Đức:
Là công lao đem an vui hạnh phúc đạo lý đến cho mọi người. Sự an vui trong tâm hồn mọi người sẽ biến thành sự an vui trong tâm hồn chúng ta với thiền định. Nhiều người lầm cho rằng muốn có sự thanh tịnh phải quay lưng với cuộc đời, xa lánh mọi người. Đâu ngờ rằng chính công đức đem an vui đạo lý đến cho mọi người mới tạo thành kết quả thiền định về sau. Cũng có người không lo gây tạo công đức gì cả, chỉ cần tinh tấn miên mật rồi cũng được thanh tịnh. Người này đang hưởng phước quá khứ, hết phước rồi sẽ mất định.

3. Khí Công:

Là để giữ tiềm lực luôn lắng xuống dưới giúp cho não bộ ổn định trong sự tu tập. Có nhiều phương pháp khí công phức tạp không thích hợp cho người tu thiền. Vì vậy ta chỉ chọn phương pháp nào đơn giản, căn bản và hiệu quả mà thôi, chứ không tập tràn lan. Chính Đức Phật trước khi xuất gia lúc còn là Thái Tử cũng được các vị võ sư trong hoàng cung, và vua cha Tịnh Phạn truyền dạy khí công theo Ấn Độ. Thời đó, vua chúa đều phải là người giỏi võ. Truyện kể về Đức Phật đều nói rằng Ngài có sức mạnh phi thường, võ nghệ tuyệt luân. Đó chính là kết quả thực hành khí công Ấn Độ. Nhờ tiềm lực khí công tuyệt đỉnh đó, Ngài đã nhanh chóng đắc định sau khi xuất gia tu hành.

B. KỸ THUẬT THIỀN:
Trình tự kỹ thuật thiền trải qua ba bước:
• Điều thân đúng tư thế.
• Điều hơi thở.
• Điều tâm.

1. Điều thân đúng tư thế :
a. Động tác bắt đầu buổi tọa thiền :
- Phải lễ Phật ít nhất từ ba lễ trở lên với lòng tôn kính tuyệt đối.
- Trải một tấm toạ cụ trên mặt phẳng. Kích thước toạ cụ làm sao rộng hơn diện tích ngồi lên là được. Toạ cụ có thể làm bằng vải dày, bằng chiếu lát, hoặc bằng một miếng nệm mỏng vài phân, miễn sao ngăn hơi ẩm dưới đất thấm lên trên và giúp bớt cấn đau da thịt là được.
- Không nên kê bồ đoàn hoặc gối mềm để ngồi dễ thẳng lưng. Ngồi bồ đoàn làm cho ta cảm giác dễ thẳng lưng, vững hơn. Vì thế đỡ phải ráng giữ lưng cho thẳng do phần mông đã được nâng lên một chút.
- Nhưng, thật ra ngồi bồ đoàn có những điều tai hại sau :
+ Chính cái dễ thẳng lưng nên không cần dụng tâm để giữ lưng thẳng. Đâu ngờ rằng chính sự cố gắng thường xuyên giữ lưng thẳng làm tăng sức mạnh tinh thần về sau. Ngồi bồ đoàn làm mất đi ưu điểm này. Thêm nữa, ngồi bồ đoàn, sức nặng cơ thể chỉ còn dồn trên ba điểm; mông và hai đầu gối lâu ngày sẽ khó chịu. Ngồi không có bồ đoàn, sức nặng toàn thân trải đều trên mông và hai đùi nên dễ chịu hơn.
+ Nói là ba điểm chứ thật ra là bốn điểm vì nơi mông có hai xương mông hai bên. Sức nặng dồn vào hai xương mông không đều. Lâu ngày một bên xương sẽ xệ xuống nhiều hơn và làm cho hành giả có cảm giác đau cấn.
+ Ngồi không kê gối thì đầu tiên một bên đầu gối bị vênh lên. Nhưng không ngại, ngồi một thời gian thì đầu gối sẽ hạ xuống sát. Với nữa, khi ngồi quen không cần kê gối, ta thấy thật là dễ chịu an ổn hơn là kê gối. Đi đâu cũng không cần đem theo bồ đoàn, chỉ cần một mặt phẳng gì đó là ngồi thiền được.
- Đừng mặc quần áo chật chội, bó chặt. Nhưng cũng không nên mặc quần áo thiếu
trang nghiêm. Nếu ngồi trong chánh điện hoặc nơi trang nghiêm thì nên mặc áo tràng.
- Ánh sáng nên được dễ chịu, đừng sáng quá cũng đừng tối đen. Tránh chỗ gió thổi đến từ sau lưng. Nơi yên tĩnh vẫn là chỗ thích hợp nhất cho việc toạ thiền.
- Sắp xếp thời gian đều đặn mỗi ngày để toạ thiền thì tốt. Còn không thì tuỳ những lúc thuận tiện mà ngồi. Không nên ngồi những lúc bụng còn no.
- Không nên bày tỏ khoe khoang cho người khác biết là mình có tu tập thiền định vì có thể làm công phu bị lui sụt. Nên ngồi chỗ không ai trông thấy, trừ khi ngồi chung tập thể.
b. Ngồi đúng tư thế kiết già:
- Tư thế: Bắt chân trái đặt lên đùi phải, sau đó kéo chân phải gác lên đùi trái (thật ra chân phải gác lên cả bắp vế và đùi trái).
- Phải cố gắng ngồi kiết già, đừng ngồi bán già (chỉ bắt tréo một chân). Ngồi bán già tuy dễ nhưng lâu ngày tâm trở nên lỏng lẻo vì thân không được khóa chặt.
- Do bị bắt tréo nên chân phải ghì xuống rất mạnh khiến cho khớp bàn chân trái chịu lực rất căng. Những người gân khớp bàn chân yếu, hoặc người lớn tuổi gân cũng bị yếu thì không chịu nổi sự đè căng như thế, rất đau và không thể yên tâm ngồi lâu được. Vì vậy, cho phép trong trường hợp đó được dùng miếng khăn xếp lại kê phụ chịu lực ngay phía dưới khớp bàn chân trái. Nhưng đừng lạm dụng kê độn lên dày quá, chỉ vừa đủ mà thôi.
- Có những người gân cứng (có thể do lớn tuổi) nên bắt chân kiết già rất khó. Người này phải xoa bóp bẻ nắn chân một lát trước khi bắt chân kiết già.
- Hai bàn chân : Nằm vắt lên hai đùi ở một vị trí vừa phải, không quá sát hông, cũng không xa quá hông.
- Lưng : Giữ cho thẳng, không được để lưng cong chùng xuống, cũng đừng ưỡn lưng thẳng quá sức sẽ làm mau mệt và đầu bị căng (thần kinh não mệt mỏi).
- Hai vai : Để xuôi tự nhiên, tránh nghiêng bên cao bên thấp.
- Hai bàn tay: Đặt chồng lên nhau và cùng ngửa lên trên, nằm trên hai gót chân, bàn tay phải để dưới, bàn tay trái để trên lòng bàn tay phải, đầu hai ngón cái chạm nhẹ vào nhau. Giữ bàn tay thẳng đẹp, đừng để bàn tay cong vòng. Hai ngón út chạm vào nhau định một điểm ở đan điền.
- Hai cánh tay: Phải hơi khuỳnh ra xa hông. Nhớ giữ đừng để hai cánh tay buông xuôi ép sát vào hông. (giữ hai cánh tay như vậy có vẻ mất công, nhưng đó là điều kiện để tăng thêm sức mạnh. Nếu hai cánh tay lơi lỏng ở gần hông, sau này việc nhập định bị chướng ngại.)
- Đầu: Không ngẩng lên, có vẻ hơi cúi xuống một chút xíu. Đừng để nghiêng qua một bên, hay quay qua một bên.
- Lưỡi: Để lên chân răng trên. (khi tâm nhiếp được, tự nhiên răng sẽ cắn chặt với nhau.)
- Miệng: Ngậm kín tự nhiên.
- Mắt: Mở rõ và nhìn xuống một điểm gần trước mặt. Giai đoạn mới tập tu tuyệt đối không được nhắm mắt, vì phải mở mắt mới thấy thân mình có lắc động, nghiêng hay không khi so sánh với cảnh vật chung quanh.
Đến chừng nào thành tựu chánh niệm tỉnh giác, dù nhắm mắt mà vẫn không bị mê mờ thì mới nên nhắm mắt.
Khi mở mắt nhìn xuống, ta nên giữ cho cảnh vật luôn luôn hiện bày rõ ràng, không bị mờ mờ ảo ảo, không ngó qua chỗ khác. Nhưng không chú ý ngoại cảnh vì phải lo tập trung kiểm soát toàn thân.
- Khi đã ngồi đúng tư thế nghiêm trang, hành giả chắp tay niệm hồng danh Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni ba lần.(nếu ngồi một mình thì niệm thầm, nếu ngồi tập thể thì niệm chung với đại chúng.)
- Sau khi niệm Phật xong giữ tay chắp đó và tiếp tục tác ý thầm ba tâm hạnh :
+ Nguyện trên Chư Phật gia hộ cho con biết tôn kính Chư Phật, Chư Tổ, Chư Hiền Thánh Tăng với lòng tôn kính tuyệt đối vô lượng, vô biên.
+ Nguyện trên Chư Phật gia hộ cho con biết trải lòng thương yêu khắp tất cả chúng sinh, dù là thế giới hữu hình hay thế giới vô hình, cho con thương yêu cả loài người cũng như chim thú trong rừng, cá trong nước và chúng sanh đang trong địa ngục, cho đến cỏ cây.
+ Nguyện trên Chư Phật gia hộ cho con biết giữ được lòng khiêm hạ, lúc nào cũng thấy mình như cỏ rác, cát bụi.
(Ba tác ý trên phải huân tập suốt đời mỗi khi toạ thiền.)
- Nếu là người xuất gia chúng ta tác ý thêm một tâm nguyện nữa:
+ Con nguyện lòng quyết tâm giữ giới hạnh trong sạch.
- Sau đó, để tay xuống theo đúng tư thế đã nói trên.

c. Biết rõ toàn thân:
- Bước công phu này kiên nhẫn đến khi thuần thục có thể vài tháng hoặc vài năm.
- Tâm luôn quay vào kiểm soát biết rõ toàn thân. Kiểm soát khắp thân xem có phần nào đi sai ra ngoài những tiêu chuẩn đã nêu trên hay không. Nếu có phần nào đó bị sai lệch phải nhanh chóng điều chỉnh lại. Như để ý xem lưng có bị chùng xuống không, hai vai có bị lệch không, đầu có bị nghiêng không, hai bàn tay có thẳng đẹp không, hai cánh tay có bị ép sát hông không, mắt có bị ngó chỗ khác không.v.v… trong cơ thể mình bị sai lệch như thế nào phải biết rõ để mà điều chỉnh. Nếu cơ thể mình bị sai lệch mà không biết, có nghĩa là cái biết bị yếu, vậy là sai. Luôn luôn tỉnh giác biết rõ, nhưng biết một cách nhẹ nhàng, không cố ý biết, và không dằn ép, cũng không quá chăm chú. Nếu có sự cố ý biết, hoặc dằn ép đầu sẽ căng thẳng, vì lực chạy lên đầu. Như ta đã biết, mỗi phần trên cơ thể đều có liên quan đến khu vực của não. Thân bị lay động hay căng thẳng gồng cứng, chú ý, dằn ép thì não cũng ảnh hưởng theo.
- Khi biết rõ toàn thân, tâm để ý nhiều ở phần bụng (đan điền), phần chân, và hai lòng bàn tay.
- Việc biết rõ toàn thân có lợi:
+ Giúp cho cơ thể được khỏe hơn
+ Không bị hôn trầm
+ Không bị vọng tưởng chi phối
+ Tạo thành sức tỉnh giác biết rõ,
Sức tỉnh giác sẽ ứng dụng vào việc kiểm soát tâm và giúp ta điều tâm sau này.
- Tâm thức chúng ta rất phức tạp. Nếu không có sức tỉnh giác mạnh, chúng ta không thể thấy rõ được tâm mình.

d. Giữ thân mềm mại bất động:
- Song song với việc biết rõ toàn thân, chúng ta nhẹ nhàng giữ thân bất động mềm mại không nhúc nhích, không gồng cứng. Và luôn kiểm tra xem có bộ phận nào bị gồng cứng hay nhúc nhích không, toàn thân có được mềm mại và bất động chưa. Từng thớ thịt của bắp tay, ngón tay, ngón chân, bắp đùi, bắp vế, đều được giữ yên không cử động. Sự kiểm tra thường xuyên như thế chính là công phu điều thân.
Kiểm tra tư thế là điều thân ở mức độ cơ bản. – Kiểm tra sự mềm mại bất động là điều thân ở mức độ sâu hơn.
- Cái tác ý giữ thân bất động lâu ngày sẽ là một sự hỗ trợ lớn lao cho việc nhiếp tâm vào định sau này.
- Nếu không tác ý giữ thân bất động, thân sẽ không được vững chắc và có thể bị nghiêng ngửa, lay động, nhúc nhích về sau. Khi đó, tâm cũng bị ảnh hưởng rất nặng và sức định sẽ bị phá.
- Tuy nhiên, giữ thân bất động không có nghĩa là kiềm chặt, gồng cứng thân người. Toàn thân phải được ở trong trạng thái mềm mại.
- Bất động nhưng phải mềm mại.
- Không nhúc nhích nhưng cũng không gồng cứng.
- Chúng ta phải luôn luôn kiểm soát coi chừng ngồi yên một lát sẽ có những thớ thịt, ngón tay… tự nhiên gồng cứng lên, phải nhận biết và buông lỏng ngay.
- Khi thân giữ được yên, buông lỏng, mềm mại, không nhúc nhích, não sẽ bắt đầu ổn định dần dần. Những stress tiềm tàng trong não từ lâu cũng bắt đầu được tháo gỡ.
- Khi vọng tưởng khởi lên, không cần diệt trừ vọng tưởng, chỉ cần quay trở lại biết rõ toàn thân, kiểm tra tất cả toàn bộ phận cơ thể là vọng tưởng sẽ tan.
- Nếu vọng tưởng khởi lên quay trở lại biết rõ toàn thân mà vọng tưởng vẫn không tắt, thì biết đó là nghiệp phải niệm Phật sám hối. Khi tâm yên, quay vào kiểm soát biết rõ toàn thân trở lại.
- Cái biết toàn thân phải rõ ràng, không được biết một cách mờ mờ ảo ảo, vì dễ đưa vào hôn trầm.
- Khi cơn hôn trầm kéo đến phải tìm nguyên nhân:
+ Trong cuộc sống hằng ngày cơ thể có bị thiếu ngủ không ?
+ Công việc hằng ngày có làm cơ thể mệt mỏi không ?
+ Khi ngồi thiền có tỉnh giác biết rõ ràng toàn thân hay không ?
Nếu trong cuộc sống hằng ngày mình bị thiếu ngủ, công việc làm mình mệt mỏi và khi ngồi thiền sức tỉnh giác không có, thì phải khắc phục như ngủ bù cho đủ giấc, điều chỉnh giờ giấc làm việc, tập khí công.
Ngược lại, trong cuộc sống hằng ngày không bị thiếu ngủ và khi ngồi thiền có tỉnh giác mà cơn hôn trầm vẫn kéo đến thì biết đó là nghiệp phải niệm Phật sám hối. Khi tâm yên tĩnh rồi, quay trở lại kiểm soát toàn thân.

Lưu ý: Thân là gốc của tâm, tâm và thân là một hợp thể thống nhất. Những gì của tâm đều ảnh hưởng đến thân và những gì của thân đều ảnh hưởng đến tâm.
Đây là nguyên tắc vàng của công phu tu tập thiền định. Cho nên :
+ Giữ thân bất động lâu ngày sẽ hỗ trợ lớn lao cho việc nhiếp tâm vào định sau này.
+ Giữ thân nghiêm trang cũng chính là giữ tâm nghiêm trang.
+ Giữ thân bất động cũng chính là giữ tâm có sức mạnh bất động trước cám dỗ hay bình thản trước nghịch cảnh sau này.
+ Giữ thân mềm mại cũng chính là giữ tâm có điều kiện thư giãn, khinh an.
- Sau này ta sẽ dần dần thấy rõ sự nhiếp tâm không bao giờ rời xa sự kiểm soát thân. Điều thân cho đúng là bước đầu tiên của công phu tu tập thiền định và cũng là căn bản mãi mãi về sau này.
- Ngay trong lần thực hành tọa thiền đầu tiên nên cố gắng điều thân ít nhất 30 phút.
- Thời gian thực hành điều thân kỹ lưỡng chuyên chú như vậy phải được một tháng trở lên, ta sẽ bước sang các công phu kế tiếp.

e. Quán thân vô thường hư ảo:
- Ngồi yên theo dõi thân chừng vài phút. Chúng ta tự nhủ thầm « thân này là vô thường hư ảo ». Lâu lâu lại tự nhắc như vậy. Chúng ta phải thấy sự biến đổi của thân từ trẻ đến già, từ già đến chết, từ chết đến tan hoại hoàn toàn.
- Đức Phật dạy, khi quán thân vô thường chúng ta phải chiêm nghiệm vô thường thật kỹ cho đến nơi đến chốn, không được cạn cợt.
- Phải thấy rõ thân này tồn tại chỉ trong hơi thở, một ngày nào đó sẽ tan hoại. Sau khi chết khoảng ba ngày, thân này sẽ sình trướng. Qua mười ngày bốc mùi hôi thối và đầy dòi bọ. Qua một tháng các tế bào bị phân hủy ra hôi thối, không còn hình dáng rất là ghê sợ, không ai dám lại gần. Thời gian sau thịt da tan rã, khô héo chỉ còn lại bộ xương khô. Rồi qua nhiều năm tháng xương mục nát, tan thành tro bụi và gió thổi bay đi. (chúng ta phải thực hành quán thân vô thường trong thời gian vài tháng và tất cả các hình ảnh từ khi chết cho đến khi xương thành tro bụi chỉ trải qua vài giây).

f. Quán tâm hư vọng:
- Bước đầu tiên điều thân cho đúng tư thế, giữ thân mềm mại bất động và quán thân vô thường. Tùy nhân duyên mà có người tu 2, 3 tháng, nhưng có người phải nửa năm hay một
năm mới thuần thục. Tiếp theo là phương pháp quán tâm hư vọng.
- Đến đây, người tu biết rằng mọi ý niệm vọng động của thiện ác đều là không thật hư ảo nên buông bỏ, tắt dừng và tâm sẽ yên tĩnh trong sáng.
- Người có công phu tu tập nhiều năm nhưng không quán tâm hư vọng vẫn dễ trở thành bướng bỉnh, chấp ý, bảo thủ mà không biết.
- Phải thận trọng với tà kiến phát sinh ở pháp quán này như có chủ trương cho rằng : « Thiện ác đều là vọng tâm cần buông bỏ, nên không làm ác và cũng không làm thiện. »
- Phật dạy :
+ Dứt bỏ ‘bất thiện pháp’ tức là những tâm niệm ác độc, ích kỷ, đố kỵ, mưu toan.v.v…
+ Siêng làm tất cả những điều thiện.
+ Đồng thời với tu tập thanh lọc nội tâm.
- Hễ làm đúng yếu chỉ này thì khi vào định, tâm hành giả thanh tịnh yên lặng, nhưng bản chất luôn là thuần thiện chứ không phải trơ trơ không thiện không ác.
- Đến đây người tu rất trầm tĩnh, nhẹ nhàng thanh thản nhưng tràn đầy tình thương, bao dung độ lượng và trí tuệ cực kỳ sắc bén linh mẫn. Trạng thái này khác xa với người có ý niệm thiện thương người nhưng tâm còn lăng xăng vọng động, nên phiền não chấp công vẫn còn sinh khởi.
- Người bản tâm thanh tịnh thuần thiện cũng khác xa với người không làm thiện không làm ác. Ở người này bản chất ích kỷ, hẹp hòi thụ động, kiêu ngạo, lạnh lùng, vô trách nhiệm, khiến cho phước lực tiêu mòn, đạo tâm thoái thất bởi chấp vào tà kiến.

2. Điều hơi thở:
- Sau khi điều thân thuần thục, quán thân vô thường, quán tâm hư vọng nhuần nhuyễn. Chúng ta sẽ thực hiện pháp tu hơi thở:
a. Cách dụng công :
+ Trước hết:
Hơi thở vào, ta biết rõ hơi thở vào.
Hơi thở ra, ta biết rõ là hơi thở ra.
Để rèn luyện sự chăm chú và tỉnh giác, chúng ta phải biết rõ là hơi thở đang ra hay vào. Ta sẽ thấy rõ hơi thở vào, rồi dừng lại, rồi đi ra, rồi dừng lại, rồi vào… nghĩa là ta theo dõi sự chuyển động của hơi thở một cách sát sao từng chút một. Nếu có lúc nào ta lơ mơ không rõ hơi thở đang ra hay đang vào, hay đang dừng lại để chuẩn bị đổi chiều, tức là ta đang mất tỉnh giác.
+ Kế đến:
Hơi thở vào dài, ta biết hơi thở vào dài.
Hơi thở vào ngắn, ta biết hơi thở vào ngắn.
Tức là hơi thở dài hay ngắn đều được biết rõ. Nhưng điều quan trọng ở đây là biết mà không can thiệp. Không được can thiệp để kéo hơi thở dài hay ngắn theo ý mình. Chỉ đơn giản là biết mà thôi. Có khi hơi thở dài, có khi hơi thở ngắn, chỉ nên yên lặng biết rõ không can thiệp.
+ Khi biết rõ hơi thở vào ra, chúng ta để ý nhiều ở dưới bụng (đan điền) và dưới chân để cho khí lực lắng xuống một cách tự nhiên. Thực hiện được kỹ thuật này thần kinh não bộ sẽ thư giãn và ổn định.
+ Chúng ta có thể vừa biết toàn thân, vừa để ý một điểm đan điền, vừa theo dõi hơi thở ra vào rõ ràng không lầm lẫn.
+ Chú ý: Có hai cực đoan cần phải tránh:
Một là không biết rõ về hơi thở.
Hai là biết mà can thiệp vào hơi thở.
- Trung đạo của phương pháp hơi thở chính là biết rõ một cách thụ động, biết mà không can thiệp.
- Vì sao biết mà không can thiệp ?
Vì có biết thì tâm mới tỉnh, có tỉnh giác nên biết rõ hơi thở. Không can thiệp để buông bỏ Bản Ngã vì hễ có tác ý can thiệp điều khiển sẽ làm hơi thở bị bế tắc ngưng trệ và Bản Ngã tăng trưởng.
- Trong suốt thời gian ngồi thiền chắc chắn hơi thở sẽ không đều đặn. Những vọng động bí mật của nội tâm sâu kín sẽ chi phối vào hơi thở khiến cho hơi thở khi mạnh khi yếu, khi dài khi ngắn khác nhau.
- Khi nội tâm yên tĩnh, hơi thở êm dịu và dài hơn; khi nội tâm xao động, dù âm thầm vẫn khiến cho hơi thở mạnh ngắn và gấp gáp.
 

3. Kết hợp hơi thở với các phép quán:
a. Kết hợp hơi thở với biết rõ toàn thân:
Hơi thở vào, biết rõ toàn thân.
Hơi thở ra, biết rõ toàn thân.
Để tâm dưới bụng và biết hơi thở nhẹ nhàng cùng một lúc.

b. Kết hợp hơi thở với quán thân vô thường:
Hơi thở vào, biết thân này là vô thường.
Hơi thở ra, biết thân này là vô thường.
Vừa để tâm dưới bụng vừa biết hơi thở nhẹ nhàng cùng một lúc. (Hơi thở này giúp chúng ta phá vỡ chấp thân dần dần.)

c. Hơi thở vào, biết trong thân vô thường có hơi thở vào.
Hơi thở ra, biết trong thân vô thường có hơi thở ra.

d. Kết hợp hơi thở với lời nguyện:
Hơi thở vào nguyện lòng thương yêu chúng sanh.
Hơi thở ra nguyện lòng thương yêu chúng sanh.
Cùng một lúc vừa để tâm dưới bụng vừa biết hơi thở nhẹ nhàng. (Hơi thở này có công năng diệt trừ vọng tưởng rất tốt những khi ta bị thất niệm. Phước của tâm từ bi giúp cho ta tỉnh giác hơn và thoát ra khỏi vọng tưởng.)

e. Kết hợp hơi thở với biết tâm này là phiền động:
Hơi thở vào, biết tâm còn phiền động.
Hơi thở ra, biết tâm còn phiền động.
- Hơi thở này được áp dụng khi tâm đã được yên lắng, để ngăn chặn tâm niệm kiêu mạn tự hào bí mật phát sinh, vì lúc này ta hay tự âm thầm khen mình. Dù tâm có yên lắng nhưng phiền não, xao động, chấp trước vẫn còn, vọng tưởng, phiền não vẫn có thể bất ngờ xuất hiện. Vì vậy sự cảnh giác, không chủ quan là cần thiết là công đức.

- Ghi chú: Mới ban đầu ta chỉ vừa thở vừa biết rõ toàn thân. Lâu ngày tự nhiên biết rõ thêm nội tâm dù không cố ý. Lúc đó, ta vừa biết hơi thở, vừa biết toàn thân, vừa biết nội tâm. Cùng một lúc biết cả ba điều mà vẫn nhẹ nhàng thoải mái.

4. Kết hợp hơi thở với khí công tâm pháp và cố căn:

a. Bước chuẩn bị:
- Muốn dụng công thực hành khí công tâm pháp này, trước hết chúng ta phải có nền tảng thiền của Đạo Phật, bao gồm những công phu căn bản như ngồi đúng tư thế, giữ thân mềm mại bất động, biết rõ toàn thân, quán thân là vô thường, tâm là hư vọng, thở ra vào theo tứ niệm xứ. Nền tảng này phải được củng cố vài năm cho vững chắc.
- Phải tu dưỡng đạo đức với những tâm lý căn bản như tôn kính Phật, từ bi thương yêu chúng sinh, khiêm hạ để tôn trọng mọi người…
- Siêng năng gây tạo nhiều công đức bằng cách giúp đỡ mọi người trong cuộc sống.

b. Cách dụng công:
- Chúng ta cũng bắt đầu giống như nghi thức vào thiền, tác ý khởi ba tâm hạnh căn bản, dụng công theo thiền khoảng 10 phút rồi mới bắt đầu tư thế này.
- Bàn tay phải để dưới bàn tay trái như thường lệ, nhưng đan chen một ngón trỏ với nhau để giữ hai bàn tay cho chặt.
- Hai đầu ngón út chạm vào nhau và chỉa vào huyệt đan điền. Chỉ chạm nhẹ, vừa đủ, không đẩy vào sâu, không rời xa khỏi da.
- Khi thở vào biết rõ toàn thân an trú tâm nhẹ nhàng một điểm nhỏ ở đan điền, rồi nín thở đóng van mũi hoàn toàn (giống như lúc lặng xuống nước) sau đó nhíu mạnh cơ hậu môn (cố căn). Khi thở ra để tâm an trú ở long vĩ quan (ba đốt xương sống cuối cùng).

Lưu ý:
- Khi hít vào để cho hơi thở tự nhiên không can thiệp, tâm nhẹ nhàng an trú tại một điểm nhỏ ở đan điền (nơi hai đầu ngón tay út chạm nhau).
- Điều cực kỳ hệ trọng là ta chỉ an trú ngoài da chứ không được để tâm sâu vào một ly nào bên trong da thịt.
- Mỗi lần nín thở, ta cố căn một lần, hai lần, hoặc ba lần tùy theo khả năng mỗi người. Hễ thấy căng đầu là phải dừng, không được tiếp tục cố gắng.
- Khi hơi thở đi ra, nhớ là để cho hơi thở tự nhiên, không can thiệp điều khiển. Lúc này tâm an trú tại long vĩ quan và chỉ ở ngoài da, không được để sâu vào đốt sống.
- Không cố ý dẫn, kéo, đẩy hơi thở đi. Chỉ nhẹ nhàng tuần tự an trú tâm theo ba điểm: đan điền, cố căn hậu môn và long vĩ quan.

5. Điều tâm:
a. Biết rõ cảm giác hỷ thọ:
- Khi điều thân thuần thục vọng tưởng lắng yên nhẹ nhàng, cảm giác hỷ thọ sẽ xuất hiện. Cảm giác này làm cho người tu hân hoan thích thú, đây là dấu hiệu của kết quả tốt nhưng không được cố chấp, bởi vì ý niệm này sẽ trở thành sự tự hào bí mật.
- Phật dạy chúng ta chỉ biết rõ chứ không được hưởng thụ, đắm luyến và đi tìm lại cảm giác này.
- Khi cảm giác hỷ thọ xuất hiện chúng ta chỉ biết rõ chứ không chấp nhận.

b. Biết rõ cảm giác lạc thọ:
- Kết quả xuất hiện sau cảm giác hỷ thọ là cảm giác lạc thọ. Trạng thái này vi tế hơn, làm tâm ta vui sướng, êm ả nên bỏ quên việc theo dõi hơi thở và Bản Ngã âm thầm phát triển.
- Phật dạy chúng ta luôn biết rõ hơi thở mặc dù cảm giác vui sướng nhẹ nhàng xuất hiện tràn ngập trong tâm.

c. Ý muốn buông bỏ vọng tưởng:
- Phải có ý muốn buông bỏ vọng tưởng một cách dứt khoát. Có ba giai đoạn cần biết:
+ Vọng tưởng khởi lên hành giả không biết nên bị chìm theo.
+ Biết vọng tưởng đang khởi nhưng không muốn vọng tưởng chấm dứt.
+ Biết vọng tưởng khởi lên và muốn cho vọng tưởng tắt nên dừng lại được.

d. Cảm giác về tâm:
- Tu tập đến mức độ vọng tưởng và tình cảm vắng bóng, tâm sẽ đạt đến trạng thái thanh tịnh, sáng suốt, an lạc phủ trùm mênh mông.
- Đến lúc này vẫn biết rõ hơi thở (mặc dù hơi thở hết sức vi tế) vì Bản Ngã vẫn còn tồn tại, dấu mặt rất kín đáo.

6. Kết quả:
a. Chánh niệm tỉnh giác:
- Tùy theo nhân duyên của mỗi người mà kết quả của việc tu tập sẽ xuất hiện sớm hay muộn và kết quả đầu tiên là xuất hiện chánh niệm tỉnh giác (tâm hân hoan, vui sướng, rỗng rang và có khả năng kiểm soát thân tâm một cách rõ ràng tự nhiên)
- Người tu theo trình tự căn bản trên thì khi có chánh niệm tỉnh giác, kết quả sẽ ngày càng tiến triển không bị lui sụt và nhất là sức khỏe ngày càng ổn định bởi phần chân âm được lắng xuống dưới (nhờ khí công hỗ trợ).
- Người có chánh niệm tỉnh giác nhưng không có kết hợp khí công sẽ làm cho lực kéo lên trên, dần dần sức khỏe suy kém, bệnh tật phát sinh và chánh niệm tỉnh giác mờ dần cho đến khi tắt hẳn nếu không khắc phục kịp thời. Đồng thời, nếu có chánh niệm tỉnh giác mà lầm tưởng đây là chân tâm phật tánh thì thoái đọa lại càng mau hơn nữa.
- Có chánh niệm tỉnh giác chưa là gì cả, chỉ giúp cho người tu một niềm tin vững chắc vào hành trình tu tập, không còn chạy đi tìm kiếm sự thần bí kỳ diệu ở pháp tu này pháp tu nọ. Đồng thời người tu bắt đầu thấy được lỗi lầm, kiểm soát được vọng tưởng và bắt đầu đi vào hành trình cam go của điều phục tâm ý (dứt được nghi).
- Nhờ có chánh niệm tỉnh giác, vùng não được khai mở nên trong cuộc sống bình thường cũng như khi ngồi thiền vọng tưởng vừa chớm khởi lên là bị ta thấy, phát hiện và tách ra thành đối tượng bên ngoài, một cách nhẹ nhàng tự nhiên.
- Nếu lúc này còn ráng suy nghĩ gì đó, chúng ta cực kỳ trọng tội và đời đời kiếp kiếp mất hạt giống giải thoát. Đã biết rõ vọng tưởng thì phải cương quyết buông bỏ không được chấp nhận, nuôi dưỡng.
- Khi ngồi thiền vừa thực hiện khí công tâm pháp vừa canh giữ ý niệm một cách nhẹ nhàng (giai đoạn này là giai đoạn chăn trâu).
- Khi trâu vừa dẫn vào ruộng là kéo lại, lúc này vừa thụ động, vừa tỉnh giác, vừa kiên cường, vừa cố gắng, vừa nhẹ nhàng. Đồng thời kết hợp với khí công tâm pháp, vừa thở vào an trú một điểm ở đan điền, rồi nín thở cố căn, khi thở ra để tâm ở long vĩ quan mà vẫn canh giữ vọng niệm ở trên đầu.

b. Phá năm triền cái:
- Đến đây chúng ta cứ tu như thế đợi đến ngày phá được năm triền cái.
+ Tham Ái: Không còn niệm ưa thích người khác phái, nhưng chưa phá hẳn được tham dục.
+ Sân: Có khả năng bình thản trước nghịch cảnh.
+ Hôn Trầm: Có thể thức khuya mà vẫn tỉnh táo.
+ Trạo Cử: Thân hoàn toàn bất động tự nhiên, không một rung động nhỏ.
+ Nghi: Vững niềm tin với Tam Bảo, lòng tôn kính Phật vô biên, xác định đường tu đến mục tiêu giải thoát không còn hồ nghi do dự.

c. Chứng tứ thiền
Đến giai đoạn này tu cho thuần, đợi đến ngày chứng được sơ thiền.
- Sơ thiền: Trạng thái sơ thiền là ly dục, ly bất thiện pháp, nhưng vẫn còn tầm còn tứ.
Đến đây trong tâm dứt sạch ác pháp, tràn đầy thiện pháp, bản năng tính dục gần như chấm dứt và toàn thân khi vào định hết sức mềm mại và chỉ còn tu trên hơi thở.
- Nhị thiền
- Tam thiền
- Tứ thiền
7. Xả thiền:
a. Động tác xả thiền:
- Khi kết thúc tọa thiền. Chúng ta chắp tay và phát nguyện nghiêm túc với Chư Phật là:
“Suốt đời sẽ tận tụy giúp mọi người chung quanh được an vui trong chánh pháp và trong thiền định.”
- Kế tiếp là những động tác xoa bóp nhẹ nhàng (mỗi động tác lặp đi lặp lại từ 3 – 5 lần):
+ Cúi đầu lên xuống.
+ Xoay đầu qua lại chậm chậm.
+ Chuyển động hai vai theo hình tròn lên xuống.
+ Xoay toàn thân dựa trên trục eo lưng qua lại hai bên.
+ Xoa nắn hai bàn tay và hai cánh tay.
+ Đưa hai bàn tay chà xát cho nóng. Rồi đưa tay lên xoa đầu, mặt, hai tai, cổ, gáy.
+ Xoa hai bàn tay thật nóng áp vào mắt.
+ Xoa ngực, bụng, sườn.
+ Kéo chân ra xoa bóp nhẹ nhàng từ bắp đùi, đầu gối đến bắp chân, mắt cá chân, lòng bàn chân và từng ngón chân.
- Sau đó, ngồi tại chỗ một chút cho thoải mái.

b. Kinh Hành
- Quỳ lạy Phật (3 lễ) rồi đi kinh hành (kinh hành là động tác chuyển tiếp từ trạng thái tĩnh lặng sang trạng thái hoạt động)
- Khi đi bách bộ kinh hành tâm vẫn để ý ở phía dưới bụng, vẫn gắng giữ tâm yên tĩnh như khi ngồi thiền, hơi thở vẫn điều hòa không can thiệp.
- Ta biết rõ từng bước chân chạm đất một cách tự nhiên không cần cố ý. Lát nữa đây, bước vào cuộc sống đầy lao xao biến động, ta vẫn giữ được sự bình thản, an ổn nhẹ nhàng với tấm lòng thương yêu tràn đầy.

HƯỚNG DẪN THIỀN VỚI NGƯỜI ÍT CÓ THỜI GIAN

Trong những buổi toạ thiền ở các dịp lễ hội đông người. Người mới tu lần đầu và thời gian thực tập không có nhiều thì ta vẫn linh động hướng dẫn những căn bản để sau đó khi về nhà người ta có thể áp dụng có kết quả:
1. Ngồi đúng tư thế.
2. Thở vào biết rõ toàn thân; thở ra biết rõ toàn thân.
3. Thở vào giữ thân mềm mại bất động; thở ra giữ thân mềm mại bất động.
4. Thở vào thấy thân này vô thường; thở ra thấy thân này vô thường.
5. Thở vào nguyện lòng thương yêu chúng sanh; thở ra nguyện lòng thương yêu chúng sanh. (khi tâm loạn)
6. Thở vào biết tâm còn phiền động; thở ra biết tâm còn phiền động. (khi tâm yên)
7. Xả thiền

THIỀN KẾT HỢP VỚI NIỆM PHẬT

A. ĐIỀU THÂN ĐÚNG TƯ THẾ

1. Tư Thế:
- Bắt chân kiết già, giữ lưng thẳng, bất động nhưng mềm mại.
- Biết rõ toàn thân nhất là ở vùng bụng dưới (đan điền).
- Toàn thân buông lỏng, mềm mại đến từng thớ thịt từ đầu mặt, vai, lưng, từng ngón tay, từng ngón chân.
* Tránh hai cực đoan:
- Gồng cứng cả người để giữ lưng thẳng (sẽ làm nhức đầu, mệt mỏi, căng thẳng).
- Hoặc tư tế ngồi dễ dãi để lưng khòm cúi (dễ bị hôn trầm, tu lâu nhưng không tiến bộ).
2. Lợi Ích:
- Điều thân đúng tư thế và thuần thục giúp khắc phục những chướng ngại thường mắc phải của người tu như: hôn trầm hoặc nhức đầu, mất ngủ…

B. KẾT HỢP HƠI THỞ VỚI NIỆM PHẬT
1. Cách dụng công:
- Khi điều thân thuần thục sẽ biết được hơi thở đi vào và hơi thở ra một cách tự nhiên.
- Đến lúc này vừa biết rõ toàn thân vừa kết hợp câu niệm Phật với từng hơi thở vào, hơi thở ra một cách thong thả nhẹ nhàng.
- Đến khi tâm an tịnh rồi, chỉ biết rõ hơi thở vào, hơi thở ra, còn câu niệm Phật sẽ buông luôn.
- Ghi nhớ: Hơi thở kết hợp với câu niệm Phật phải tự nhiên nhẹ nhàng không gượng ép.

2. Chú ý:Tuyệt đối tránh các trường hợp:
+ Niệm Phật kết hợp với hơi thở một cách máy móc gò bó như phương pháp hít hơi vào niệm ba chữ: Nam Mô A, thở hơi ra niệm: Di Đà Phật; Hơi thở khi bị khống chế ép buộc theo lối này sẽ phát sinh phản ứng phụ như tức ngực, khó thở, choáng váng, nhức đầu…
+ Hoặc có pháp môn vừa niệm Phật, vừa hít hơi dẫn khí theo vòng chu thiên. Khi tập trung tinh thần để dẫn khí đi, sẽ vô tình làm lực kéo lên đầu gây nghịch khí (tẩu hỏa nhập ma), rối loạn tâm thần, tim mạch…

C. CÔNG ĐỨC – ĐẠO ĐỨC – KHÍ CÔNG LÀ NỀN TẢNG CẦN THIẾT.
1. Công Đức:
- Khi phước mỏng công đức thiếu sẽ phát sinh nhiều chướng ngại về tinh thần lẫn vật chất, rất khó cho việc tiến tu.
- Vừa tu tập thanh lọc nội tâm nhưng phải siêng năng làm phước, sống đời vị tha làm tất cả công đức mang lại an vui hạnh phúc cho con người.
2. Đạo Đức:
- Người thiếu Đạo đức giới hạnh khuyết lỡ tạo nhiều lỗi lầm, cho dù quả báo xấu chưa đến nhưng tâm sẽ phiền động rối loạn bất an và đời sống tu tập bị thoái đọa.
- Vừa siêng năng tu tập vừa kiểm soát nội tâm luôn giữ lòng khiêm hạ thấy mình nhỏ bé trước chư Thánh và mọi người… để tiêu trừ tâm kiêu mạn, luôn hoan hỷ trước thành công của người khác, dứt bỏ tâm ích kỷ, hẹp hòi, hơn thua, đố kỵ, ác độc…
3. Khí Công:
- Một cơ thể bệnh hoạn yếu đuối, bạc nhược sẽ gây trở ngại rất lớn cho việc tu tập.
- Chọn những động tác khí công có hiệu quả, kiên trì tập luyện hàng ngày để giữ ổn định sức khỏe.
- Cần phải tiết chế sự ăn uống, tránh những thức ăn thực phẩm dẫn đến những căn bệnh thời đại như tiểu đường, béo phì, cao huyết áp…

D. LUÔN GIỮ GÌN SỰ ĐOÀN KẾT HÒA HỢP TRONG ĐẠO PHẬT.

- Tất cả pháp môn tu đều là phương tiện và kết quả giải thoát giác ngộ mới là cứu cánh, cho nên các tông phái đều chọn Bát Chánh Đạo là điểm quy đồng chung để xây dựng sự hòa hợp trong đạo Phật.
- Trên bước đường tu tập cần thông tỏ tất cả các pháp môn để tùy duyên hóa độ cho chúng sinh đạt đến mục tiêu chung, tuyệt đối tránh tình trạng ca ngợi tông phái của mình, công kích, chê bai tông phái khác…

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Tư 22, 2012 in Phật Giáo

 

Hai đại đức trụ trì chùa Song Tử Tây – Trường Sa * Kỷ niệm 37 năm Ngày giải phóng Trường Sa

Thứ Hai, 16/04/2012, 15:43 (GMT+7)

Hai đại đức trụ trì chùa Song Tử Tây – Trường Sa

* Kỷ niệm 37 năm Ngày giải phóng Trường Sa

TTO – Sáng 15-4, đoàn công tác thăm Trường Sa do ông Trần Sơn Hải, phó chủ tịch thường trực UBND tỉnh Khánh Hòa, làm trưởng đoàn đã có buổi làm việc đầu tiên tại đảo Song Tử Tây sau 2 ngày tàu lênh đênh trên biển.

 
Chuẩn đô đốc Trần Đình Xuyên, phó tư lệnh Quân chủng Hải quân, phó trưởng đoàn công tác, bàn giao chùa Song Tử Tây cho hai tăng sĩ  - Ảnh: Tiến Thành

 

 
Trưởng đoàn công tác – ông Trần Sơn Hải, phó chủ tịch thường trực UBND tỉnh Khánh Hòa, thăm hỏi quân và dân đang sinh sống, làm việc trên đảo Song Tử Tây – Ảnh: Tiến Thành

Sau lễ chào cờ trịnh trọng, lãnh đạo đoàn công tác các tỉnh Khánh Hòa, Điện Biên và Vĩnh Phúc đã lần lượt trao tặng quà cán bộ, chiến sĩ đang làm nhiệm vụ tại đảo Song Tử Tây.

Thay mặt đoàn công tác, ông Trần Sơn Hải đã động viên cán bộ chiến sĩ đảo Song Tử Tây tiếp tục rèn luyện sức khỏe cũng như công tác chiến đấu để hoàn thành tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.

Đáp lại tình cảm của đoàn công tác, thượng tá Vũ Văn Cường, chỉ huy trưởng đảo Song Tử Tây, khẳng định chuyến thăm của đoàn công tác là nguồn cổ vũ động viên tinh thần to lớn, do đó toàn thể cán bộ chiến sĩ trên đảo ra sức quyết tâm rèn luyện, sẵn sàng chiến đấu để giữ vững chủ quyền biển đảo.

 
Cán bộ chiến sĩ và nhân dân trên đảo Song Tử Tây giao lưu văn nghệ tối 14-4 – Ảnh: Tiến Thành

 

 
Lãnh đạo đoàn công tác ra thăm Trường Sa dâng hương tại chùa Song Tử Tây – Ảnh: Tiến Thành

Tiếp đó, đoàn đã dâng hương, làm lễ bàn giao chùa Song Tử Tây cho hai vị đại đức Thích Thánh Thành và Thích Tâm Hiện.

Nhân dịp kỷ niệm 37 năm giải phóng Trường Sa (29-4-1975 - 29-4-2012), các tăng sĩ đã tiến hành lễ cầu an dân cho các ngư dân, cán bộ chiến sĩ. Chuẩn đô đốc Trần Đình Xuyên, phó tư lệnh Quân chủng Hải quân, phó trưởng đoàn công tác, khẳng định việc tăng sĩ trụ trì chùa trên các đảo Trường Sa là hoạt động tích cực để người dân an cư lạc nghiệp, đồng thời bảo vệ vững chắc lập trường về chủ quyền Tố quốc Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa.

Ông Trần Sơn Hải nhấn mạnh: “Đây là cơ hội lớn để huyện đảo Trường Sa cũng như tỉnh Khánh Hòa quảng bá loại hình du lịch tâm linh đối với du khách trong tương lai”.

Cùng ngày, đoàn đã tới thăm hỏi và tặng quà cho các hộ ngư dân trên đảo và làm lễ dâng hương tại tượng đài Trần Hưng Đạo.

Trước đó, tối 14-4, khi đoàn công tác đặt chân lên đảo, quân và dân đảo Song Tử Tây đã có buổi giao lưu văn nghệ với nhóm ca múa nhạc Hải Đăng đến từ Khánh Hòa. Nhiều ca khúc về biển đảo được thể hiện như Gần lắm Trường Sa, Lính đảo đợi mưa, Tình em - Trường Sa

* Ngày 16-4, tập thể cán bộ, chiến sĩ và nhân dân xã đảo Sinh Tồn, huyện Trường Sa (Khánh Hòa) đã long trọng tổ chức mít tinh kỷ niệm 37 năm Ngày giải phóng quần đảo Trường Sa (29-4-1975 – 29-4-2012).

 
Một góc đảo Song Tử Tây, Trường Sa. Ảnh: TTXVN

Tham dự buổi lễ có Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa Trần Sơn Hải, Chuẩn Đô đốc Trần Đình Xuyên- Phó Tư lệnh Quân chủng Hải quân và ông Ngô Hà Thái, Phó Tổng Giám đốc TTXVN.

Cách đây 37 năm, với tinh thần “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ”, Quân chủng Hải quân Việt Nam đã mở các cuộc tấn công, lần lượt giải phóng các đảo Song Tử Tây, Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa… góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước vào mùa xuân năm 1975.

Với phương châm “Đảo là nhà, biển cả là quê hương”, trong 37 năm qua, quân và dân Trường Sa đã không ngừng vượt qua khó khăn, lao động, nhờ đó diện mạo của huyện đảo Trường Sa đổi mới từng ngày, khang trang hơn, kiên cố hơn.

Nhiều công trình như cầu cảng, sân bay, âu tàu, trạm hải đăng, đài khí tượng thủy văn, hệ thống cấp điện bằng năng lương sạch, các công trình văn hoá… được đầu tư xây dựng trên quần đảo, không chỉ phục vụ cho nhiệm vụ quốc phòng, mà còn tạo điều kiện tốt cho quân, dân Trường Sa phát triển kinh tế, nâng cao năng lực bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.

Bên cạnh đó, quân và dân huyện Trường Sa còn là chỗ dựa vững chắc cho ngư dân cả nước trong quá trình khai thác hải sản, như hỗ trợ nước ngọt, nhiên liệu, cứu nạn…

Phát biểu tại lễ kỷ niệm, ông Trần Sơn Hải, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa đề nghị huyện Trường Sa tập trung nâng cao khả năng quản lý, bảo vệ chủ quyền biển đảo; triển khai tốt các chương trình mục tiêu quốc gia, trong đó chú trọng thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khoá X) về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”; chăm lo tốt đời sống của quân và dân trên các đảo, tích cực hỗ trợ, cứu nạn cho ngư dân trong quá trình đánh bắt hải sản trên ngư trường Trường Sa, góp phần xứng đáng vào công cuộc đổi mới của tỉnh.

Với những thành tích đạt được, Đảng và Nhà nước đã khen thưởng nhiều danh hiệu cao quý cho quân và dân huyện Trường Sa, trong đó năm 1983, Trường Sa được tuyên dương danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.

TIẾN THÀNH – TTXVN

http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/487423/Hai-dai-duc-tru-tri-chua-Song-Tu-Tay—Truong-Sa.html

 

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Tư 22, 2012 in Phật Giáo

 

Tăng sĩ dấn thân

Tăng sĩ dấn thân

Trường Sa Lớn, Song Tử Tây, Sinh Tồn sẽ đón tăng sĩ từ đất liền ra tiếp quản các ngôi chùa vừa xây xong.

Từ đây, trên quần đảo Trường Sa, ngoài những ngôi trường vang tiếng trẻ thơ, còn có những ngôi chùa với câu kinh lời kệ, nuôi dưỡng đời sống tâm linh, tôn giáo cho cán bộ, chiến sĩ và người dân.

 

Những người khoác áo cà sa ra Trường Sa không phải chỉ tìm cho mình một nơi để tu tập, một cộng đồng để hành đạo, mà lựa chọn một vùng biển đảo phên giậu của tổ quốc để dấn thân. Những tăng sĩ tuổi còn rất trẻ, đến Trường Sa vì làm việc phật sự nhưng cũng vì một lẽ yêu nước thương nòi. Lịch sử đất nước còn ghi danh nhiều nhà sư yêu nước. Ngày nay cũng thế.

 

Trường Sa có những ngọn hải đăng là cột mốc chủ quyền, có cán bộ, chiến sĩ là những cột mốc sống. Hôm nay, Trường Sa có những ngôi chùa của nước Việt, có lời kinh được đọc bằng tiếng Việt, đó là những cột mốc tín ngưỡng và văn hóa được đóng sâu, chôn chặt vào biển đảo ngàn dặm quê hương. Nhiệm vụ đó được các tăng sĩ đảm đương. Đã đến Trường Sa, nhiệm vụ nào cũng khó khăn, cũng đối diện với hiểm nguy và với tinh thần dấn thân cao nhất.

 

Người tu hành không thiếu những sóng gió, những cám dỗ của đời thường, những mời mọc an thân. Cho nên, đến với những hòn đảo san hô xa xôi để hành đạo cũng là một lựa chọn rất đáng trân trọng.

 

Không chỉ hành đạo, những tăng sĩ ra Trường Sa tiếp quản các ngôi chùa đều là những trí thức được đào tạo bài bản, có người được tu học ở nước ngoài. Cho nên, ngoài dạy đạo, tăng sĩ trên Trường Sa còn là những người thầy dạy chữ, dạy văn hóa, lịch sử, ngoại ngữ. Sự kết hợp giữa tu và hành, đạo và đời thật rất có ý nghĩa.  

 

Lê Thanh Phong (theo Lao Động)

http://dantri.com.vn/c673/s673-577517/tang-si-dan-than.htm

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Ba 22, 2012 in Phật Giáo

 

Bình yên những ngôi chùa Trường Sa

Cập nhật : Chủ Nhật, 22/01/2012 – 11:11 CH

Bình yên những ngôi chùa Trường Sa

(VOV) – Giữa ngàn trùng sóng nước, những ngôi chùa Việt sừng sững ở Trường Sa đã khẳng định chủ quyền từ muôn đời của dân tộc Việt Nam tại vùng biển này.

Từ lâu, ở huyện đảo Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa đã tồn tại 3 ngôi chùa trên các đảo quanh năm sóng gió. Ở đây, ngôi chùa không chỉ là điểm tựa tâm linh cho người dân mà còn là khẳng định chủ quyền cũng như khát vọng hòa bình, hữu nghị của dân tộc Việt Nam giữa đại dương.

 

Chùa Trường Sa lớn – một trong 3 ngôi chùa vững vàng trước sóng gió Trường Sa.

Gia đình chị Trương Thị Quyên khi ra thị trấn Trường Sa lập nghiệp vẫn giữ nét đẹp lên chùa Trường Sa lớn, thắp nhang, khấn Phật vào những ngày rằm hay ngày đầu tháng.

Giữa bốn bề sóng biển, bên bóng cây đa, cây bồ đề, sân chùa còn có những cây phong ba, bàng vuông nở hoa. Mùi hoa quyện với hương trầm thơm ngát trong gió biển. Sống xa quê, mỗi lần lên chùa thắp nén hương, gia đình chị Quyên lại vững tâm hơn để bám biển, bám đảo.

“Ở trên đảo, khi đến chùa, tôi cảm thấy giống như mình đang sống trong ở đất liền vậy. Tôi lên chùa, tôi cầu điều bình an cho những người dân hoặc những chiến sỹ mà sống, công tác trên đảo Trường Sa. Trước nhất là bình an, sức khỏe dồi dào. Cũng cầu xin cho những người trong đất liền được bình an mọi sự”- chị Quyên tâm sự.

Biển Trường Sa hào phóng với nhiều loài hải sản quý hiếm. Nhưng vùng biển này cũng thường xuyên có sóng to gió lớn bất thường. Nếu như các âu tàu, các vùng rạn là điểm tựa cho các tàu vào tránh bão thì 3 ngôi chùa ở xã Sinh Tồn, Song Tử Tây và thị trấn Trường Sa là điểm tựa tâm linh cho ngư dân. Giữa chuyến biển, họ thường lên đảo vào chùa, thắp nén nhang cầu cho chuyến biển bình an, được nhiều lộc biển.

Anh Nguyễn Tấn Thi, Tổ trưởng dân phố ở thị trấn Trường Sa cho biết, nhiều người dân đã tự nguyện, chung tay lo việc ở chùa. Còn riêng gia đình anh, Trường Sa là nơi cô con gái Nguyễn Ngọc Trường Xuân cất tiếng khóc chào đời.

Anh tâm sự: “Ngôi chùa nơi đảo xa, nghĩ là việc tâm linh công đức, mình làm vừa cho mình vừa cho bao nhiêu người. Mọi việc cũng nghĩ về tổ tiên, về tâm linh một xíu. Mỗi một ngày được làm việc ở nơi chùa, con người mình cũng nghẹ nhàng hơn”.

Các ngôi chùa ở Trường Sa, ngoài điện thờ Phật còn có bàn thờ các anh hùng, liệt sỹ, những thế hệ người Việt đã hy sinh để bảo vệ biển đảo. Tất cả hoành phi câu đối đều được khắc, viết bằng chữ Việt, ca ngợi sự trường tồn của dân tộc, tôn vinh cảnh sắc kỳ vĩ của Trường Sa.

Đặc biệt tại ngôi chùa Trường Sa Lớn còn có  pho tượng Phật bằng đá quý rất ý nghĩa. Đây là món quà của của Liên đoàn Phật giáo Thế giới tặng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, sau đó Thủ tướng đã tặng cho cán bộ, nhân dân huyện Trường Sa.

Ông Nguyễn Viết Thuân, Phó Chủ tịch UBND dân huyện Trường Sa cho biết, những ngôi chùa tại Trường Sa đã có từ rất lâu. Đây cũng là địa điểm viếng thăm của nhiều đoàn công tác từ đất liền ra đảo. Thăm chùa, mọi người thấu hiểu thêm rằng để có những ngôi chùa  nguy nga, tráng lệ này thì biết bao máu xương người Việt đã đổ xuống.

“Chùa ở đây đã có từ lâu. Được sự quan tâm của cả nước, cũng theo ý nguyện của toàn dân trong huyện, nên huyện đảo Trường Sa đã củng cố lại các ngôi chùa. Bà con đi đánh bắt hải sản xa đảo, xa bờ thường lên chùa, được sự may mắn. Chùa vừa góp phần bảo vệ chủ quyền vừa góp phần làm giàu kinh tế cho đảo” – Phó Chủ tịch Nguyễn Viết Thuân tâm sự.

Những ngôi chùa Việt sừng sững ở Trường Sa, đã khẳng định chủ quyền từ muôn đời của dân tộc Việt Nam tại vùng biển này. Giữa ngàn trùng sóng nước, những ngôi chùa cũng gửi gắm ước vọng của dân tộc ta về một vùng biển Đông hòa bình, hữu nghị và thịnh vượng./.

Thái Bình/VOV-Miền Trung

 

 

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Ba 20, 2012 in Phật Giáo

 

An vị tượng Phật ngọc tại Thiền Viện Trúc Lâm Paris

 

VOVNews – Báo điện tử Đài tiếng nói Việt Nam

Cập nhật : Thứ Năm, 01/03/2012 – 6:32 SA

An vị tượng Phật ngọc tại Thiền Viện Trúc Lâm Paris

(VOV) – Đây là bức tượng phật đá ngọc lớn nhất ở Pháp, cao 99 cm, nặng 270 kg làm bằng đá ngọc quý tự nhiên xuất xứ từ Myanmar.

Ngày 29/2, tức mùng 8/2 năm Nhâm Thìn, Hòa thượng Thích Phước Đường, trụ trì Trúc Lâm Thiền Viện ở thành phố Villebon sur Yvette, ngoại ô phía nam thủ đô Paris, tổ chức Lễ an vị tượng Phật đá ngọc lớn nhất ở Pháp. Tham dự buổi lễ, có Thứ trưởng Bộ ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn, Chủ nhiệm Ủy ban nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, Đại sứ Việt Nam tại Pháp, đại diện Ban tôn giáo chính phủ và lãnh đạo thành phố Villebon sur Yvette, Pháp.

 

Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn phát biểu tại buổi lễ

Điều đặc biệt là buổi lễ an vị tượng phật ngọc diễn ra đúng ngày mùng 8 tháng 2 (âm lịch) là ngày Đức Phật Thích Ca Mầu Ni xuất gia từ bỏ cuộc sống vương giả của một thái tử để đi tìm con đường cứu khổ cho muôn loài.

Đây là bức tượng phật đá ngọc quý lớn nhất ở Pháp, do Phật tử Đặng Thị Bích Hòa, Tổng giám đốc Công ty cổ phần chuyển phát nhanh Bưu điện Việt Nam, Pháp danh Nhuận Phổ Hương, phát tâm cúng tiến Thiền viện Trúc Lâm. Tượng cao 99 cm, nặng 270 kg làm bằng đá ngọc quý tự nhiên xuất xứ từ Myanmar, mô tả Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi trên Đài sen theo trường phái Trúc Lâm.

Phát biểu tại buổi lễ, Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn cám ơn các tăng ni, Phật tử Việt Nam, bạn bè Pháp từ khắp nơi đã đến dự lễ và nhấn mạnh: “Tôi nghĩ rằng với sự nhiệm màu của Phật Pháp, sự đoàn kết, nhất trí của bà con chúng ta, Thiền viện Trúc lâm nơi có sự hiện diện của pho tượng phật đá ngọc quý đầu tiên, sẽ trở thành nơi hội tụ không phải chỉ của phật tử kiều bào tại Pháp, tại Paris mà nhiều nước sẽ về đây để cùng chiêm bái tượng Phật ngọc, cầu nguyện quốc thái dân an, hòa bình, thịnh vượng cho nhân loại, cho tình đoàn kết giữa hai đất nước Việt Nam và Pháp”.

Đến tham dự buổi lễ, ông Dominique Fontenaille, Thị trưởng thành phố Villebon sur Yvette phát biểu tại đây đã bày tỏ niềm hạnh phúc và may mắn được dự buổi lễ trang nghiêm an vị tượng Phật. Ông nói: “Tôi xin bày tỏ sự tôn trọng đối với truyền thống và các giá trị của đạo Phật, đề cao hòa bình, sự trong sạch, tình yêu thương giữa con người với con người. Tôi cho đó là những chân giá trị mà tất cả nhân loại cùng chia sẻ, bất kể đó là người Việt Nam, người Pháp hay các dân tộc khác; và đó cũng là những giá trị mà chúng ta cần thúc đẩy giữa mọi người dù có theo tôn giáo, tín ngưỡng nào”.

Ông Dominique Fontenaille cũng chúc mừng Thiền viện Trúc Lâm luôn là điểm hành hương danh tiếng ở vùng thủ đô Paris, nơi thu hút đông đảo tăng ni, Phật tử tới chiêm bái.

Cũng tại buổi lễ, Đại sứ Việt Nam tại Pháp Dương Chí Dũng bày tỏ mong muốn cộng đồng phật tử Việt Nam ở trong nước và nước ngoài luôn gắn bó, đoàn kết, cùng chung lòng đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, văn minh và hạnh phúc./.

 

Đây là bức tượng phật đá ngọc quý lớn nhất ở Pháp, cao 99 cm, nặng 270 kg, làm bằng đá ngọc quý tự nhiên xuất xứ từ Myanmar

 

 

Hòa thượng Thích Phước Đường, trụ trì Trúc Lâm Thiền Viện

 

 

 

Thùy Vân-Đào Dũng
(Từ Paris)

Bản quyền thuộc VOV Online

Giấy phép hoạt động 14444/GP-BTTTT cấp ngày 05/9/2011

Tổng Biên tập: Đoàn Việt Trung

Phó Tổng Biên tập: Nguyễn Thúy Hoa, Phạm Mạnh Hùng

Đài Tiếng nói Việt Nam – 58 Quán sứ, Hà nội

Điện thoại: 84-4-39344231

Fax: 84-4-39344230

Email: toasoan@vovnews.vn

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Ba 20, 2012 in Phật Giáo

 

Đi lễ chùa, người Việt không hiểu gì về đạo Phật

Cập nhật 07/02/2012 06:00:00 AM (GMT+7)

 

Đi lễ chùa, người Việt không hiểu gì về đạo Phật

- Đến chùa cầu tiền tài địa vị, thậm chí còn phân biệt Đức Phật ở chùa nào thiêng hơn…

Chen chân lên chùa cầu phúc, cầu an
Những hình ảnh nhức nhối nơi cửa Phật
Đền Trần 2012: Trả lại giá trị thật cho lá Ấn
Ngỡ ngàng đêm khai Ấn đền Trần bình yên
Mang tiền thật vay tiền ảo ở Đền Bà Chúa Kho
Nam Định, Thái Bình “tranh nhau” lễ hội Đền Trần?

Trước những hiện tượng xảy ra phổ biến như hoang phí vung tiền lẻ tràn ngập khắp nơi, mê muội cầu tài lộc, chen lấn xô đẩy… tạo nên những hình ảnh xấu trong các mùa lễ hội. Vietnamnet có cuộc trao đổi với Thạc sĩ Trần Văn Phương (Giảng viên Khoa Văn hóa – Phát triển, HV Báo chí và tuyên truyền) để làm rõ nguyên nhân và các yếu tố gây nên các hiện tượng xấu đáng báo động trong các mùa du lịch văn hóa tâm linh.

Đức Phật là một nhà tư tưởng chứ không phải là một vị thần!

- Phật Giáo tại Việt Nam đang được người Việt nhận thức thế thế nào thưa ông?

- Phật Giáo không phải là tôn giáo bản địa của người Việt, đó là một tôn giáo ngoại lai có nguồn gốc từ Ấn Độ. Phật Giáo được du nhập vào Việt Nam không hoàn toàn trực tiếp mà có thêm từ một vài nước thứ ba. Vì vậy Phật Giáo tại Việt Nam đã có nhiều bị thay đổi đi một phần và không còn nguyên bản như chính nơi xuất phát của nó. Vì vậy Phật Giáo ở Việt Nam có rất nhiều dòng khác nhau. Nhưng nguy hại, trong một số bộ phận người dân, Phật Giáo đã bị nhận thức không đúng so với giá trị nguyên bản.

 

Thạc sĩ Trần Văn Phương (Giảng viên Khoa Văn hóa – Phát triển, HV Báo chí và tuyên truyền)

- Vậy Phật Giáo ở Việt Nam bị hiểu sai như thế nào?

Đó là ở sự nhật thức đứng đắn về Đức Phật. Lối tiếp nhận đơn giản kiểu quan niệm của nhiều người Việt cho rằng Đức Phật trở thành một vị thần thánh có nhiều phép thần thông. Họ cho rằng Đức Phật càng gần gũi với họ càng tốt để dễ dàng ban phát, phù hộ cho mình. Điều này dẫn đến tình trạng họ tìm đến Đức Phật để cầu xin cho mình những giá trị thực tiễn như tiền tài, may mắn, địa vị… trong cuộc sống mà quên đi rằng Đức Phật chỉ là là một nhà tư tưởng và họ mới chính là chủ thể quyết định chính cuộc sống của mình.

- Người đến cửa Phật mới chính là người quyết định cuộc sống cho mình, xin ông làm rõ ý này ?

Phật Giáo là một tư tưởng triết học lớn, do đức Thích Ca Mâu Ni là người khởi sướng. Chính vì vậy hình tượng Đức Phật là đại diện Phật Giáo chính là đại diện cho những tư tưởng triết học và giáo lý mà bản thân Phật Giáo muốn đem đến cho người dân. Đó là những khuyên răn về việc hướng thiện, về luật nhân quả tức là tự mình làm việc thiện sẽ nhận lại cho mình những điều tốt đẹp.

Chính vì vậy người đến với Phật không phải để cầu xin ban phát những điều tốt cho mình mà để tìm đến những giáo lý của Phật Giáo để phải tự xuất phát từ bản thân mình làm những việc thiện thì mới mong tự nhận lại cho mình những điều tốt đẹp. Vì vậy Đức Phật ở đây chỉ mang ý nghĩa như một nhà tư tưởng chứ không phải là một vị thần thánh.

 

Đến Chùa không phải để cầu xin may mắn và tài lộc liệu có đúng với tinh thần Phật Giáo?

- Nguyên nhân do đâu khiến nhiều người Việt Nam lại có sự nhận thức sai về Phật Giáo như vậy, theo ông?

Xưa kia, vì Việt Nam là một nước nông nghiệp nên trong quá trình tồn tại và phát triển đã phải chịu sự chi phối rất nhiều của tự nhiên, trong đó có những yếu tố ảnh hưởng tích cực và tiêu cực. Thời đó với trình độ nhận thức hạn hẹp đã cho rằng “Vạn vật hữu linh” tức là mọi sự việc xảy ra đều có sự ảnh hưởng của một vị thần nào đó. Chính vì vậy khi du nhập vào Việt Nam với sự dung dị và hòa bình, dẫn đến Phật Giáo đã giảm bớt tính hàn lâm và tự biện vốn có của nó.

Ngày nay, do nhiều tác động của cuộc sống vật chất đặc biệt là sự kém hiểu biết một bộ phận người dân do chỉ đến với Phật Giáo theo tư cách những người không nghiên cứu hay tu hành, cộng thêm tâm lí đám đông mới dẫn sự lệch lạc như vậy về quan niệm về Phật Giáo. Chính vì hiểu sai nên dẫn đến những hành động chưa đúng thậm chí là sai lệch gay ra nhiều sự biến tướng, sai lệch trong các hoạt động văn hóa tâm linh.

Cùng thờ một đức phật, có chùa lại thiêng hơn?

-Ông giải thích sao về hiện tượng một vài ngôi chùa cứ đến mùng 1 hoặc ngày rằm ùn ùn người dân đổ về cúng lễ?

Đó cũng là sự hiểu sai về Đức Phật như một vị thánh thần đã nói ở trên. Không có chuyện Đức Phật ở chùa Hà lại thiêng hơn ở chùa Thánh Chúa trong đại học Sư phạm Hà Nội gần đó. Bản chất đều là cùng thờ một Đức Phật tư bi hỉ xả, phổ độ chúng sinh. Người đến thờ Phật để tu bản thân mình chứ không phải coi Đức Phật như một vị thánh đem đi điều không may mang đến điều tốt lành mà coi thánh nơi này thiêng hơn thánh nơi khác.

 

Cùng là thờ Phật, có chùa lại thiêng hơn…? (Ảnh: Khôi Ngô)

- Là một người nghiên cứu, ông còn thấy những biểu hiện sai lệch nào khác về việc thờ Đức Phật của người dân?

Có rất nhiều, ví dụ như việc dân dã hóa Đức Phật nay đã biểu hiện rất rõ. Ví dụ như việc thờ cúng tổ tiên không phải là một tôn giáo nhưng khi bắt đầu khấn nhiều người lại khấn câu đầu tiên là “Nam mô a di đà phật”. Tín ngưỡng thờ mẫu không phải là phật giáo, nhưng khi nhiều người đến phủ Tây Hồ, phủ Dầy câu đầu tiên khấn cũng lại là “Nam mô a di đà phật”.

Biểu hiện về mặt vật chất như: Chùa là thánh đường thờ Phật thì nhiều nơi lại đưa cả thờ Mẫu là một tín ngưỡng nguyên thủy của người Việt  thế kỉ 16 để đưa vào trong chùa. Thậm chí ngay cả đức thánh Trần Hưng Đạo cũng được vào trong ngồi chùa thờ cùng với Phật.

Hay là chuyện đi chùa thì lại cúng mặn, đốt vàng mã, thắp hương, công đức tiền lẻ bừa bãi…  tất cả cũng đều bắt nguồn từ nhận thức sai lệch hoặc thiếu hiểu biết của người dân khi đến cửa Phật…

Để hiểu rõ hơn về các nghi thức cũng như nguồn gốc về các nghi thức khi tới cửa Phật làm sao cho đúng, xin mời độc giả xem tiếp kì sau: Đến chùa thắp mấy nén hương, dâng lễ gì cho đúng?

Hoàng Nguyên (thực hiện)

http://vietnamnet.vn/vn/van-hoa/58926/di-le-chua–nguoi-viet-khong-hieu-gi-ve-dao-phat.html

 

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Ba 18, 2012 in Phật Giáo

 
 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.