RSS

Category Archives: Hồi Giáo

Thiên chúa và thánh chiến tại Trung Đông

Thiên Chúa Đang Được Động Viên Trong Cuộc Thánh Chiến tại Trung Đông

Về phương diện địa lý, Trung Đông còn được gọi là Cận Đông (Near East/ Middle East) bao gồm một dải đất chạy dài từ phần Á châu của Thổ-nhĩ-kỳ đến các nước Bắc Phi và Ai-cập.

Về chủng tộc, Trung Đông gồm có những giống dân Do-thái, Ả-rập, Ba-tư, Thổ-nhĩ-kỳ, Kurds, Armenians và Berbers.

Về tôn giáo, Hồi giáo chiếm 90% dân số Trung Đông, tức khoảng 300 triệu tín đồ hoặc 1/4 tổng số tín đồ trên toàn thế giới. Số còn lại là tín đồ Do thái giáo và Ki tô giáo.

Từ đầu thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, nhiều nước Trung Đông bị Anh và Pháp cai trị bóc lột. Hoa Kỳ không có một thuộc địa nào tại Trung Đông, nhưng đã có mặt tại Saudi Arabia từ đầu thế kỷ 20 để khai thác dầu lửa. Thiên nhiên đã đem đến cho Saudi Arabia một món quà tặng khổng lồ, đó là trữ lượng dầu mỏ lớn bằng 1/4 trử lượng dầu trên toàn thế giới. Sự có mặt của Hoa Kỳ tại Saudi Arabia không phải là quân đội mà là các công ty khoan dầu trên căn bản hợp tác hai bên cùng có lợi. Tuy nhiên, người Hồi giáo Ả-rập đã nhìn người Mỹ qua lăng kính khắt khe của Hồi giáo. Lối sống tự do phóng túng của người Mỹ đã làm cho những người Hồi giáo bảo thủ khó chịu vì nó đi ngược lại với lối sống khép kín của xã hội đạo Hồi. Không cần phải làm điều gì xâm phạm đến xã hội Hồi giáo, chỉ riêng sự có mặt của những tư nhân Mỹ tại Saudi Arabia cũng đủ là “sự gieo rắc chất độc văn hóa tây phương” (Westoxification) có tác dụng phá hoại nền tảng luân lý xã hội và gia đình Hồi giáo. 

Xét về phương diện địa thế, Trung Đông được chia ra làm ba khu vực rõ rệt :

1. Khu vực Bắc Phi: Các nước ở phía bắc của Châu Phi Da Đen (Black Africa) gồm có Maroc, Tunisia, Algeria, Lybia và Ai-cập. Đại đa số dân tộc sống ở vùng này là những người da trắng gốc Địa Trung Hải.

2. Khu vực Cao Nguyên: Các nước ở vùng này được gọi chung là “các nước ở vùng cao” (Levantine countries) gồm có Syria, Palestine, Israel, Jordan và Iraq.

3. Các nước vùng Vịnh (Gulf countries) là các nước ở sát Vịnh Ba Tư, gồm có Ba Tư (Iran), Kuwait, Quatar, Saudi Arabia, Yemen, Oman, United Arab Emerald và Baharain.

Về phương diện văn minh và văn hóa, toàn vùng Trung Đông đã đạt tới đỉnh cao của sự phát triển từ thế kỷ 8 đến thế kỷ 13. Lịch sử thế giới đã gọi những thế kỷ này là Thời đại Hoàng kim (The Golden Age) của những người Hồi giáo Trung Đông. Vào thời đó, những người Ả-rập rất ham chuộng nền văn hóa Hy Lạp và chú trọng đến việc nghiên cứu toán học, thiên văn và khoa học thực nghiệm. Họ đã thực hành lời dạy của Muhammad trong kinh Koran : “Ai bỏ nhà đi tìm sự hiểu biết là đi đúng con đường của Chúa. Lạy Chúa! Xin Ngài hãy ban thêm sự hiểu biết cho con”.

(He Who leaves the home in search of knowledge is walking in the way of God. Oh my Lord! increase me knowledge. Koran 20:114)

Đầu thế kỷ 8, Baghdad (thủ đô Iraq) xây dựng trường Đại học đầu tiên trên thế giới. Họ gọi là “căn nhà của sự khôn ngoan” (House of wisdom). Baghdad trở thành một trung tâm văn hoá lớn nhất thế giới.

Năm 800, các tác phẩm của Aristote và Plato đều được dịch sang tiếng Arabic và được phổ biến trong toàn vùng Trung Đông.

Đến giữa thế kỷ 9, các sách y khoa của Hy Lạp được dịch sang tiếng Arabic. Cuối thế kỷ 9 rất nhiều sách dịch về khoa thiên văn và địa lý được phổ biến tại Trung Đông.

Do các kiến thức học hỏi được từ Hy Lạp, người Ả-rập Hồi giáo đã phát minh ra máy Astrolable dùng để đo độ cao của các thiên thể. Họ biến chế máy Astrolable thành một thứ địa bàn để các tín đồ Hồi giáo dù ở bất cứ một nơi nào trên thế giới cũng tìm được hướng Mecca để quay mặt về thánh địa khi cầu nguyện. Tại thánh địa Mecca có đền thờ Ka’aba, tiếng Ả-rập có nghĩa là “Nhà của Chúa” (House of God). Người Ả-rập tin rằng ngôi nhà của Chúa đã được xây dựng lần đầu tiên bởi tổ phụ Abraham.

Năm 1166, nhà địa dư học Ả-rập Al Adrisi là người đầu tiên trên thế giới vẽ bản đồ trái đất hình cầu rất chính xác. Cũng trong khoảng thời gian này, người Ai-cập chế ra đồng hồ quả lắc để coi giờ.

Trường đại học lâu đời nhất và hoạt động liên tục trên 10 thế kỷ là đại học Al-Azhar ở thủ đô Cairo của Ai-cập (thành lập năm 970).

Một ngôi sao sáng ngời trong thế giới toán học là nhà toán học Hồi giáo Ba Tư Muhammad Ibu Musa. Ông đã phát minh ra một môn toán học nhằm mục đích “Phục hồi những phần đã bị tách rời” (to restore the broken parts), tiếng Ả-rập gọi là Al-Jabr. Danh từ này được người Hy Lạp phiên âm thành Algebra tức là môn Đại-số-học. Môn toán học này được Musa phát minh năm 850.

Đều thế kỷ 11, một ngôi sao lớn về quang học xuất hiện tại Ai-cập. Đó là nhà khoa học Hồi giáo Alhazen. Ông chuyên tâm nghiên cứu các sách Hy Lạp về khúc xạ và phản chiếu ánh sáng. Ông là người đầu tiên trên thế giới giải thích hiện tượng cầu vồng và quang phổ. Thế giới khoa học ngày nay tôn vinh ông là ông tổ sáng lập ngành quang học hiện đại.

Nhờ có những sách y khoa dịch từ tiếng Hy Lạp sang tiếng Arabic trong hai thế kỷ 8 và 9, đến thế kỷ 10 người Hồi giáo Ả-rập đã phát minh và đóng góp cho nhân loại rất nhiều tiến bộ về y khoa trên nhiều lãnh vực :

1. Xử dụng Anesthasia trong giải phẩu.

2. Sát trùng vết thương.

3. Phát giác việc lây bệnh do sự tiếp cận với người có bệnh và qua đường hô hấp.

4. Tách rời dược khoa và y khoa thành hai ngành riêng.

5. Do sa mạc thường có bão cát gây đau mắt nên người Ả-rập lập ra ngành nhãn khoa riêng.

6. Năm 925, nhà khoa học Abu Razi cho in bộ sách “Bách khoa Tự điển Y khoa” đầu tiên trên thế giới. Mãi tới hơn 5 thế kỷ sau, tức vào năm 1486, bộ sách này mới được dịch sang tiếng La-tinh để phổ biến tại Âu châu.

Về văn chương, bộ chuyện vĩ đại được in thành nhiều chục tập (volumes) nổi tiếng khắp thế giới và đã được dịch ra đủ loại thứ ngôn ngữ, đó là chuyện “Ngàn lẻ Một đêm”. Đây là tổng hợp đủ các chuyện thần thoại thời Babylon cổ xưa, các chuyện dân gian Ả-rập (Arab legends) và pha trộn với những chuyện thần tiên của Ấn Độ (Indian fairy tales).

Về kiến trúc, người Ả-rập Hồi giáo là những người phát minh ra cách xây những chiếc vòm nhọn đầu (pointed arch) từ thế kỷ 8 để kiến tạo những chiếc cầu bắc qua sông. Người Âu châu sau này bắt chước để lập ra lối kiến trúc Gothic.

Thái độ ham chuộng học hỏi và tôn trọng khoa học của người Hồi giáo rất đáng được mọi người khâm phục. Thái độ đó hoàn toàn trái ngược với những tội ác tày trời của giáo hội Công giáo nhằm mục đích tiêu diệt hoàn toàn nền văn minh Hy Lạp.

Công giáo La mã do hoàng đế Constantine lập nên năm 325. Từ đó, giáo hội Công giáo và đế quốc La mã ra sức thâu góp các sách của nền văn minh Hy Lạp để thiêu huỷ. Toàn bộ các sách của giáo phái Ki-tô lớn nhất thời đó là Gnostic bị đốt, 27.000 cuộn giấy (paprus rolls) có liên quan đến những sách Phúc Âm thật đều bị huỷ diệt. Đến cuối thế kỷ 5 hầu như tất cả sách khoa học, triết học của Hy Lạp đều không còn trên lãnh thổ của đế quốc La mã và giáo hội Công giáo. Tội ác của Công giáo La mã đã làm cho nền văn minh của nhân loại thụt lùi 15 thế kỷ.

Người có công sưu tầm và duy trì những cuốn sách quí giá của nên văn minh Hy Lạp để lưu lại cho thế giới chúng ta ngày nay chính là một ông vua Hồi giáo Ả-rập : Caliph Al-Mamun. Ông lên ngôi tại Baghdad năm 813. Việc đầu tiên là thành lập “Nhà của sự khôn ngoan” (House of wisdom). Ông cho người đi khắp nơi tìm kiếm các sách cổ của Hy Lạp mang về Baghdad rồi thuê người Hy Lạp biết tiếng Ả-rập dịch tất cả các sách đó. Trong suốt 20 năm cai trị, vua Al-Mamun đã dồn hết tâm huyết vào công trình văn hóa độc đáo này.

Các nhà trí thức Hồi giáo ở Trung Đông thời đó nhiệt liệt hoan nghênh sáng kiến của nhà vua và họ đã tiếp tay để biến các thủ đô Hồi giáo thành những trung tâm văn hóa nổi tiếng như : Alexandria (Ai-cập), Antioch Edessa (Thổ-nhĩ-kỳ), Condova (Tây-ban-nha, lúc này là thuộc địa của đế quốc Hồi giáo).

Phong trào ham chuộng hiến thức khoa học của toàn vùng Trung Đông Hồi giáo kéo dài trong 5 thế kỷ, từ thế kỷ 8 đến thế kỷ 12, đã biến vùng Trung Đông thành một khu vực văn minh nhất thế giới. Trong khi đó, do chủ trương tiêu diệt mọi nguồn văn hóa đi ngược lại giáo lý Ki-tô giáo, giáo hội Công giáo La mã đã đưa Âu châu đi vào thời đại bóng tối (The Dark Age) từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 11.

Từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 16, giới trí thức Âu châu bừng tỉnh và tìm cách làm sống dậy những giá trị của nền văn minh Hy Lạp trong mọi ngành khoa học. triết học, kiến trúc và nghệ thuật … đã bị giáo hội Công giáo tiêu diệt trước đây.. Người ta gọi giai đoạn này là Thời Phục hưng (the Renaissance). Danh từ này bắt nguồn từ tiếng Pháp có nghĩa là “sự tái sinh” của một nền văn hóa đã bị bức tử.

Trong thế kỷ 15, trí thức Âu châu mới khám phá ra là kho tàng sách quí của văn hóa Hy Lạp đã được tồn trữ trong các trung tâm văn hóa Hồi giáo tại Trung Đông. Lúc đó họ mới vỡ lẽ ra rằng : những người Hồi giáo Ả-rập đã làm những công việc cần thiết để phục hồi nền văn hóa Hy Lạp trước họ tới 7 thế kỷ!

Nhà danh họa Raphael của Ý thuộc thế kỷ 15 đã phải thốt lên những lời biết ơn đối với các học giả Hồi giáo Ả-rập vì tiền nhân của ông là những người La mã cuồng tín và thiển cận đã huỷ diệt cả một nên văn minh của cổ Hy Lạp để gây ra một tổn thất vô cùng lớn lao cho nhân loại. Nhưng may mắn thay, vẫn có nhiều tác phẩm quí giá của Hy Lạp còn sót lại được bảo tồn do công lao của các học giả Ả-rập. Ông nói: “Các học giả Ả-rập đã cứu những tác phẩm đó cho chúng ta” (“Arab scholars saved those works for us”, A Muslim Primer, by Ira G. Zepp. U. of Kansas Press 1992, trang 139-165).

Như trên đã trình bày. Trung Đong Hồi giáo sống trong thời Hoàng kim của nền văn minh (Tho Golden Age) từ cuối thế kỷ 8 đến đầu thế kỷ 11. Rồi từ đầu thế kỷ 11, những đoàn Thập Tự quân của Công giáo La mã tràn sang tàn phá Trung Đông, với 7 cuộc thánh chiến đẫm máu, khiến cho toàn vùng lâm vào tình trạng suy thoái mọi mặt.

Cuộc Thập Tự chinh thứ nhất (1096-1099) tiêu diệt 30.000 người Ả-rập Hồi giáo và lập nên một vương quốc rộng lớn bao gồm các nước : Palestine, Liban, Syria và phía Nam Thổ-nhĩ-kỳ. Tất cả được đặt dưới quyền cai trị của một ông vua do Vatican bổ nhiệm. Vương quốc Hồi giáo bị người Công giáo cai trị trong 88 năm. Sáu cuộc Thập Tự chinh kế tiếp diễn ra trong gần 2 thế kỷ tàn phá hầu hết các nước Trung Đông với 3 triệu sinh mạng bị sát hại (1096-1291).

Tiếp theo đại họa Thập Tự quân là đại họa Mông Cổ. Từ đầu thế kỷ 14, vùng Trung Đông bị quân Mông Cổ tràn tới tàn phá các thành phố và huỷ diệt con người. Baghdad, Damacus … chỉ còn là những đống gạch vụn với những xác chết la liệt trên các nẻo đường.

Cuối thế kỷ 15, quân Mông Cổ lại tràn tới Trung Đông một lần nữa. Điều mỉa mai là ông vua Mông Cổ là một tín đồ Hồi giáo thuộc giáo phái Sunni. Ông tới để tiêu diệt những người thuộc giáo phái Shiite tại Iran và Iraq. Vì lòng thù hận hẹp hòi giữa các chi phái Hồi giáo với nhau, quân Mông Cổ Sunni đã giết những người Shiite vô số kể.

Từ năm 1467 đến 1520, đế quốc Hồi giáo Ottoman của Thổ-nhĩ-kỳ xua quân đánh phá Syria, Ai-cập, bán đảo Ả-rập và các nước Bắc Phi để mở rộng thế lực của giáo phái Sunni, rất nhiều tín đồ Shiite bị giết. Đế quốc Ottoman khống chế Trung Đông từ đó đến đầu thế kỷ 19. Từ thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 nhiều nước Hồi giáo Trung Đông lần lượt bị rơi vào vòng nô lệ của thực dân Anh và Pháp. Tuyệt đại đa số dân chúng Trung Đông mù chữ và toàn xã hội Ả-rập suy thoái về mọi mặt.

Qua bao nhiêu thế kỷ, Ai-cập vẫn được coi là “linh hồn trí thức của thế giới Ả-rập” với dân số 60 triệu người mà mỗi năm chỉ xuất bản vỏn vẹn 375 cuốn sách, bởi vì đại đa số dân mù chữ nên không có ai tiêu thụ món hàng văn hóa này. Trong khi đó Israel chỉ có 6 triệu dân nhưng hầu như cả nước ham đọc sách nên mỗi năm Israel xuất bản ít nhất 4.000 đầu sách đề cập đến đủ mọi vấn đề của kiến thức (theo Newsweek 15.10.2001, trang 26).

                Phải chăng một xã hội thất bại đã phát sinh chủ nghĩa khủng bố?

Dưới cái nhìn của Tây phương, thế giới Hồi giáo Ả-rập ở Trung Đông là một xã hội thất bại mà nguyên nhân chính là sự cuồng tín tôn giáo. Trong khi đó, những người Ả-rập Hồi giáo lại qui kết mọi nguyên nhân thất bại của họ cho Tây phương. Do đó họ nung nấu lòng hận thù và tổ chức khủng bố để rửa hận. Tất cả mọi hành vi sát nhân tàn bạo của họ, kể cả việc sát hại những người vô tội trong những cuộc khủng bố, đều được biện minh bằng những lời Chúa trong Thánh Kinh Koran. Họ càng căm thù bao nhiêu lại càng trở thành cuồng tín trong niềm tin tôn giáo bấy nhiêu.

Cuối cùng, xã hội Ả-rập Hồi giáo Trung Đông đi vào một cái vòng lẩn quẩn không có lối thoát. Sự cuồng tín của giới lãnh đạo và quần chúng làm cho xã hội Ả-rập càng ngày càng khép kín đối với thế giới bên ngoài, đời sống kinh tế suy sụp trở thành lạc hậu. Những người cuồng tín qui trách nhiệm cho Tây phương là thủ phạm đã gây ra tất cả những thất bại và suy thoái của thế giới Hồi giáo để họ có lý do gia tăng các hoạt động khủng bố. Nhưng càng gia tăng khủng bố bao nhiêu họ càng bị mất thiện cảm và sự giúp đỡ của thế giới bấy nhiêu. Các xã hội Hồi giáo cực đoan đều trở thành những khu vực bị cô lập và là đối tượng của một cuộc chiến tranh huỷ diệt.

Ngày nay, trên khắp thế giới hầu như ở đâu cũng có những hoạt động khủng bố, nhưng chỉ tại Trung Đông người ta mới thấy rõ cái sắc thái cuồng tín hung bạo ghê gớm của người Hồi giáo Ả-rập. Chỉ ở Trung Đông mới là nơi tập trung đông đảo nhất của những Mullahs (học sĩ Hồi giáo) hung dữ.

Trung Đông là nới có nhiều nhất những cụ biểu tình bạo động, đốt cờ, đốt xe, đốt hình nộm và đặc biệt là những vụ ôm bom tự sát (suicide-bombings).

Ngoài ra, từ 1980 đến nay, hầu như các vụ đặt bom khủng bố tại các nơi trên thế giới cũng đều có nguồn gốc tại Trung Đông (Islamic Fundamentalists) chủ mưu. Do đó, mục tiêu của cuộc chiến tranh tiêu diệt khủng bố mà phe Tây phương đang theo đuổi không phải là Afghanistan hay Philippines… mà chính là toàn vùng Trung Đông Hồi giáo!

            Làm thế nào để giải thoát sự bế tắc của một xã hội thất bại tại Trung Đông?

Nguyên nhân chính đưa đến sự bế tắc của các quốc gia Hồi giáo Trung Đông là không có sự phân cách giữa tôn giáo và chính quyền. Thông thường trong những quốc gia sùng đạo, các Mullahs (học sĩ) là những nhà lãnh đạo chính trị. Họ nhân danh tôn giáo để hô hào thánh chiến, thực chất là đề cao những hành vi chém giết thô bạo .

Trong các nươc Hồi giáo sùng tín, người ta không thể phân biệt được ranh giới giáo quyền với chính quyền, cũng không thể phân biệt được đâu là giáo luật và đâu là luật pháp quốc gia.

Trong thế kỷ 19, nhiều trí thức Hồi giáo đã nhìn thấy điều đó và họ đã viết sách để lên tiếng đòi cải cách xã hội Hồi giáo. Một trong những người đó là triết gia Ai-cập Fouad Zakariya. Theo ông, điều tiên quyết để cứu các nước Hồi giáo Ả-rập là phải “tách rời đền thờ ra khỏi quốc gia” (separation of mosque from state). Người ta gọi chủ thuyết này là chủ nghĩa Thế-tục-hóa Xã hội (Secularism). Zakariya đã ca ngợi phong trào đã giúp xã hội thoát ra khỏi sự kềm kẹp của giáo hội La mã bằng chủ thuyết thế tục hóa để đi tới sự phân lập rõ rệt giữa chính quyền và giáo hội. Chính nhở đó Âu châu đã trở nên hùng mạnh và đó là chìa khóa đưa đến một xã hội tiến bộ dân chủ. Mọi chủ trương bảo thủ đều có hậu quả biến Hồi giáo thành công cụ. Zakaria dám đưa ra những nhận định táo bạo: Thế giới Ả-rập không thể nào xây dựng được một xã hội văn minh tiến bộ nếu cứ khư khư giữ lấy những tư tưởng lạc hậu của thời kỳ bộ lạc ở sa mạc vào thế kỷ thứ 7 ! (thời kỳ của giáo chủ Muhammad lập đạo).

Ông cũng nêu rõ: dù bất cứ là tôn giáo nào thì luôn luôn tôn giáo cũng chỉ là một sự sùng bái có tính riêng tư của các cá nhân mà thôi. Không ai có quyền đem sự sùng bái riêng tư đó áp đặt lên cả quốc gia để buộc mọi người cũng phải sùng bái như họ. Cái điều vô lý đó hiện đang xảy ra phổ biến tại các nước Ả-rập. Ông kêu gọi mọi người đứng lên đập tan các chế độ Hồi giáo bảo thủ để giải phóng xã hội Hồi giáo lạc hậu.

Những lời kêu gọi của Fouad Zakariya đã được nhiều chính trị gia hưởng ứng tại Thổ-nhĩ-kỳ, Ai-cập và Iran: 

1. Mustapha Kemal: Ông sinh năm 1881 tại Thổ-nhĩ-kỳ, làm tổng thống đầu tiên của Thổ-nhĩ-kỳ từ 1923 đến 1938. Ông là người thực hiện thành công cuộc cách mạng thế tục hóa xã hội Hồi giáo, chấm dứt đế quốc Ottoman sau gần 5 thế kỷ thống trị. Hoàng đế và toàn bộ triều đình Ottoman đều bị bắt và bị đưa đi đày chung thân. Toàn bộ luật pháp của Hồi giáo bị xé bỏ. các trung tâm Hồi giáo bị đóng cửa. Âm lịch Hồi giáo bị thay thế bằng Dương lịch để hoà đồng cùng thế giới. Năm 1930, quốc hội Thổ-nhĩ-kỳ chính thức chấm dứt chế độ đa thê, huỷ bỏ mọi hình thức áp chế phụ nữ như tục lệ đeo mạng che mặt hoặc áo choàng phủ kín toàn thân. Nam giới bị cấm đội mũ Fez theo kiểu Ả-rập Hồi giáo. Chữ viết theo kiểu Arabic bị thay thế bằng mẫu tự La tinh. Hiện nay không còn ai biết đọc kinh Hồi giáo viết theo chữ Arabic nữa. Nữ tổng thống đầu tiên của Thổ-nhĩ-kỳ là bà Tanser Ciller trong nhiệm kỳ 1993-1996. Trong thực tế, Thổ-nhĩ-kỳ không còn được coi là một quốc gia Hồi giáo nữa. Cuộc cách mạng thành công của Mustapha Kemal đã giải thoát Thổ-nhĩ-kỳ ra khỏi thế giới đóng kín và thất bại của chủ nghĩa bảo thủ cực đoan Hồi giáo. Thổ-nhĩ-kỳ hiện là một nước cộng hòa tự do dân chủ thật sự và đang phát triển mọi mặt.

2. Jasmal Nasser: ông sinh năm 1918, làm thủ tướng Ai-cập từ 1954 đến 1956. Sau đó, Ai-cập biến thành một nước cộng hòa với danh xưng là “Cộng hòa Ả-rập Thống nhất”. Nasser được bầu làm tổng thống tứ 1958 đến 1970. Ông chủ trương thực hiện chủ nghĩa thế tục hóa (secularism) bằng cách loại trừ mọi ảnh hưởng của Hồi giáo ra khỏi chính trị.

Tuy nhiên, từ đầu thế kỷ 20, tại Ai-cập đã có một phong trào Hồi giáo cực đoan mệnh danh là “Huynh đệ Hồi giáo” (Muslim Brotherhood). Phong trào này do Sayid Quit (1906-1966) sáng lập, chủ trương dùng các thủ đoạn khủng bố để ngăn cản và vô hiệu hóa mọi nổ lực cải cách xã hội Hồi giáo. Phong trào xác định các lãnh tụ chính trị theo đuổi chủ trương thế tục hóa là những kẻ tuyên chiến với đực tin Hồi giáo và vì vậy họ phải chết.

Năm 1956, Nasser ra lệnh bố ráp bắt các đảng viên Muslim brotherhood. Nhiều đảng viên bị tử hình, số còn lại đều lãnh án tù. Tuy nhiên, Nasser đã bị dư đảng của đảng này ám sát chết năm 1990.

3. Hoàng đế Ba-tư Reza Pahlavi: Ông là một nhân vật đặc biệt vì sinh ra và lớn lên trong gia đình sùng đạo nhưng ông đã trở thành một người rất căm ghét đạo Hồi và muốn huỷ diệt đạo này. Ông sinh năm 1878, lên ngôi vua năm 1921, cai trị Ba Tư trong 20 năm. Ngay khi vừa lên ngôi, vua Pahlavi đã ra lệnh giải tán Ulama tức “Hội đồng các Học sĩ Hồi giáo”, một cơ quan cao nhất về tôn giáo tại Ba Tư. Luật Hồi giáo Sharia bị thay thế bằng luật pháp quốc gia do quốc hội biểu quyết. Các ngày lễ tôn giáo đều bị hủy bỏ. Việc tổ chức đi hành hương thánh địa Mecca bị cấm chỉ. Các phụ nữ không được đeo mạng. Cảnh sát được lệnh phải tháo gỡ mạng của phụ nữ trên đường phố…

Năm 1935, những người Hồi giáo cuồng tín đã xúi giục phụ nữ biểu tình chống chủ trương thế tục hóa của nhà vua. Cảnh sát được lệnh dùng vũ lực giải tán đám biểu tình. Sau nhiều lần cảnh cáo nhưng đám phụ nữ biểu tình vẫn không chịu giải tán, cảnh sát đã nổ súng bắn chết hàng trăm phụ nữ. Trong dịp này, vị giáo chủ cao cấp nhất của Hồi giáo ba Tư là Aytollah Muddaris cũng bị ám sát chết.

Năm 1941, vua Pahlavi truyền ngôi cho con là Muhammad Reza Pahlavi . Ngay khi tân vương lên ngôi, các học viên thuộc các trường Hồi giáo (tương tự như các học viên Taliban ở Afganistan) đã biểu tình chống nhà vua. Cảnh sát được lệnh xả súng bắn chết hàng trăm học viên Hồi giáo trên đường phố. Sau đó, tất cả các trường đào tạo các học sĩ Hồi giáo trên toàn quốc bị đóng cửa và tất cả đều bị bắt, đa số bị giết, số còn lại đều bị tù. Tân vương Pahlavi cho thành lập một tổ chức mật vụ chuyên việc truy lùng những kẻ muốn khôi phục đạo Hồi tại Ba Tư. Lính mật vụ có quyền tiền trảm hậu tấu, không cần một án lệnh nào của tòa án. Các biện pháp trị an của vua Pahlavi quá mạnh tay nên đã gây quá nhiều bất mãn trong quần chúng.

Năm 1979, học sĩ Khomeini lưu vong tại Pháp lãnh đạo cuộc khởi nghĩa lật đổ vua Pahlevi thành công. Nhà vua phải bỏ nước chạy trốn ra nước ngoài. Khomeini trở thành tổng thống của một nước Cộng hoà Hồi giáo (Islamic Republic). Khomeini là một học sĩ của giáo phái Shiite rất cực đoan và độc tài. Chẳng bao lâu sau, Khomeini mất hết mọi nhiệt tình ủng hộ của quần chúng lúc ban đầu. Dân Iran chợt nhận ra là sống dưới chế độ quân chủ của dòng Pahlevi còn được tự do hạnh phúc hơn nhiều.

Dưới chế độ “Cộng hòa Hồi giáo”, toàn dân bị dồng vào thế bị kềm kẹp bởi các thứ luật lệ của tôn giáo vừa hủ lậu vừa dã man : Bị cáo về một tội trộm thường cũng bị chặt chân, chặt tay. Mọi sinh hoạt ca nhạc hay chiếu phim đều bị cấm. Phụ nữ bị buộc phải mặc áo choàng đen phủ kín từ đầu đến mắt cá chân… Điều nguy hiểm là Khomeini gây hận thù với giáo phái đa số Sunni và đưa cả nước vào một cuộc chiến tranh vô nghĩa. Khomeini chết năm 1989.

                             Sự cuồng tín của người Hồi giáo Ả-rập:

Như chúng ta đã thấy, chủ nghĩa Thế-tục-hóa xã hội (Secularism) là một phương thức chính trị đã đem lại sự thịnh vượng cho cả Âu châu lẫn Hoa Kỳ. Đó cũng là cái chìa khóa bảo đảm nền tự do dân chủ cho toàn dân. Mustapha Kemal thực hiện thành công cuộc cách mạng thế tục hóa xã hội Thổ-nhĩ-kỳ đã biến nước này thành một nước tự do dân chủ và văn minh nhất trong thế giới Hồi giáo. Trong khi đó, cuộc cách mạng của Nasser tại Ai-cập và những nổ lực thế tục hóa của hai cha con vua Pahlevi tại Iran đều đã bị thất bại.

Toàn khối Ả-rập Hồi giáo với 300 triệu người tiếp tục sống trong vũng lầy lạc hậu và nghèo đói. Tình trạng bất ổn tại Trung Đông có thể gây tổn hại cho nền hòa bình thế giới. Vì thế, nhiều chuyên gia của Liên Hiệp Quốc đã kêu gọi cộng đồng thế giới giúp cho toàn khối Ả-rập Hồi giáo một số chương trình như sau để cải thiện đới sống quần chúng : 

1. Đô thị hóa xã hội Ả-rập để xóa bỏ hẳn lối sống lang thang trong sa mạc đã có từ nhiều ngàn năm qua.

2. Đầu tư đại qui mô vào công cuộc giáo dục giới trẻ nhằm đào tạo những thế hệ Ả-rập mới có khả năng đưa toàn xã hội Ả-rập hoà nhập vào thời đại mới trong cộng đồng nhân loại.

Chỉ có sự hiểu biết của những thế hệ trẻ mới có khả năng mở rộng tầm nhìn của quần chúng để cứu họ thoát khỏi sự mê hoặc của tôn giáo và sự lừa mị của giới lãnh đạo độc tài. Theo thống kê năm 2000, các nước Hồi giáo Ả-rập ở Trung Đông có một tỉ lệ những người trẻ (dưới 15 tuổi) rất cao :

- Saudi Arabia : 43%                  - Iraq : 42%                         - Palestine : 45%

Nếu những lớp người trẻ đó hấp thụ được một nền giáo dục khai phóng, họ sẽ làm thay đổi nếp sống và nếp nghĩ của người Ả-rập.

Chủ nghĩa tôn sùng bạo lực và chủ nghĩa khủng bố phát sinh chủ yếu do tinh thần cuồng tín tôn giáo. Giáo dục là phương tiện hữu hiệu nhất diệt trừ nạn cuồng tín tôn giáo và do đó sẽ diệt trừ tận gốc nạn khủng bố thế giới như hiện nay đang diễn ra khắp nới trên thế giới. Chỉ có sự giáo dục mới giải thoát tập thể tín đồ thoát ra khỏi vùng bóng tối tâm linh.

Các nước Hồi giáo bảo thủ hiện nay đều là những xã hội khép kín, trong đó giới học sĩ Ulamas hoàn toàn thao túng đời sống tinh thần của các tín đồ. Cái gọi là sự học vấn của các trường tôn giáo hoặc sự uyên bác của các học sĩ Ulamas thực chất chỉ là một môn học “tán hươu tán vượn” về những điều huyền hoặc của thần học (theology), Thần học của Hồi giáo cũng tương tự như thần học của Do thái giáo hoặc Ki Tô giáo. Thần học là một môn học đầy tính chất hoang tưởng viễn vông nhảm nhí. Càng đi sâu vào thần học, con người càng lún sâu vào “ốc đảo tâm linh” xa vời thực tế và đầy đặc những định kiến sai lầm. Những mảnh bằng “Tiến sĩ Thần học” là những giấy chứng chỉ công nhận sự ngu xuẩn của kẻ được cấp. Chỉ đến khi có cơ duyên tỉnh ngộ, kẻ đó mới cảm thấy xấu hổ đã được cấp những mảnh bằng về thần học mà thôi.

Thế giới Hồi giáo Ả-rập ngày nay vì tự ti mặc cảm đã co cụm lại thành những xã hội khép kín. Giới lãnh đạo không muốn dân chúng biết sự thật của thế giới bên ngoài cho nên họ rất căm ghét tất cả mọi phương tiện truyền thông quốc tế. Nhiều nước Hồi giáo ban hành luật cấm TV, Video, phim ảnh và các loại sách báo ngoại văn. Trong cuộc họp của Tổ chức các Quốc gia Hồi giáo OIC (Organization of Islamic Countries) gồm các đại biểu của 56 quốc gia thành viên họp tại thủ đô Mã Lai Kuala Lumpur ngày 27/2/2000, nhiều đại biểu đã hô hào các nước Hồi giáo đoàn kết để chống lại kỹ thuật tin học Internet vì nó có thể “tiêu diệt các giá trị Hồi giáo” !.

Nền kinh tế của khối Ả-rập Trung Đông hiện nay không có gì để hãnh diện, ngoại trừ kho dầu mỏ thiên nhiên ở mấy nước vùng Vịnh với những trữ lượng bằng khối lượng dầu của thế giới. Nhưng họ không có kỹ thuật thăm dò dầu, kỹ thuật khoan mỏ dầu, chuyên chở và lọc dầu v.v… Họ cũng không có độc quyền tăng gia giá dầu vì các việc tiêu thụ, phân phối và sản xuất không nằm trong tay họ. Năm 1982 giá dầu thô 40 đô la / 1 barrel, đến năm 1998 giá dầu tụt xuống chỉ còn 10 đô la/ 1 barrel! Những mỏ dầu thô đã tạo cho chính quyền các nước Trung Đông một ảo tưởng về quyền lực. Thật sự họ không thể dùng nó để tạo nên một áp lực nào đới với thế giới bên ngoài. Những khoản lợi tức khổng lồ của những mỏ dầu không đem lại lợi ích nào cho quần chúng vì nó đã chui hết vào túi của giới lãnh đạo bất tài và tham nhũng. Chẳng những thế, giới lãnh đạo còn nhân danh Allah và tiên tri Muhammad để tước đoạt những quyền tự do chính đáng của người dân. Tại các nước Bahrain, Jordan, Maroc … và thậm chí ở hai nước nổi tiếng giầu có vì dầu hỏa là Kuwait và Saudi Arabia … phụ nữ không có quyền đi bầu. Đại đa số dân Ả-rập đều đang kéo lê cuộc sống du mục lạc hậu như thời Muhammad lập đạo tại sa mạc Syro-Arabia vào thế kỷ 7 hoặc như tổ phụ Abraham ở vùng đất hứa Canaan cách đây 4000 năm vậy!

Thiên Chúa luôn luôn được các phe động viên trong cuộc thánh chiến hiện nay giữa Do thái và các nước Ả-rập. Thánh kinh Cựu ước được mọi tôn giáo như Do thái, Ki tô và đạo Hồi công nhận. Một trong những chuyện nổi tiếng là chuyện Đại Hồng Thuỷ. Kinh Thánh kể rằng: Sau cơn đại hồng thuỷ tiêu diệt hết mọi sinh vật trên trái đất, loài người vỏn vẹn chỉ còn lại gia đình của ông Nô-e mà thôi. Người con út của ông Nô-e tên Shem sau này trở thành tổ tiên của các dân tộc Do thái – Ả-rập. Do đó, mọi người Do thái và Ả-rập đều có một cái tên chung là chủng tộc Semites. Danh từ này có nghĩa là “con cháu của ông tổ Shem” (Semites = descendants of Shem).

Mới đây, các nhà nhân chủng học đã làm nhiều cuộc thử nghiệm DNA tại các nước Trung Đông. Kết quả xác nhận các người Ả-rập, Do thái, Ba Tư, Iraq, Syria, Liban v.v… đều cùng chung một chủng tộc. Như vậy, truyền thuyết về các dân tộc Ả-rập Do thái cùng chung một ông tổ Shem như chuyện kể trong Kinh thánh đã tỏ ra là đúng với thực tế. Họ quả là “anh em” với nhau. Cũng như người Do thái thường gọi nhau là “Ben-Adam” có nghĩa là “anh em” cùng chung một ông tổ Adam mà ra. Nhưng khi Adam và Eva mới sinh ra được hai thằng con trai là Cain và Abel, lúc đó toàn thể dân số nhân loại chỉ có 4 người, thì Cain đã ra tay giết chết thằng em vì một chuyện cãi nhau vớ vẩn. Chuyện Cain giết Abel đã trở thành câu chuyện mang tính chất biểu tượng cho sự chém giết giữa những người anh em cùng chủng tộc hoặc những anh em cùng thờ Chúa.

Những người Do thái và Ả-rập đã chém giết nhau rất nhiều phen kể từ khi Israel trở thành vương quốc, với vị vua đầu tiên là Saul, vào năm 1025 trước Công nguyên. Vương quốc Israel tồn tại đến năm 70 sau Công nguyên thì bị quân La mã kéo đến san bằng và tàn sát người Do thái vô số kể. Do đó, người Do thái phải bỏ nước ra đi lang thang khắp nới trên thế giới. Từ thế kỷ 4 đến đầu thế kỷ 20, người Do thái tại các nước Công giáo ở Âu châu đã bị kỳ thị và bị sát hại rất nhiều, nhất là trong thời Trung Cổ. trong Thế chiến Thứ hai, Do thái bị Đức quốc xã sát hại 6 triệu người. Do đó, sau Thế chiến II, Liên Hiệp Quốc đã thực hiện kế hoạch cho những người Do thái trên khắp thế giới trở về “cố hương” để tái lập quốc gia.

Năm 1948, quốc gia Do thái được thành lập trên phần đất của người Palestine đang sinh sống. Sự lập quốc Do thái đã khiến cho hàng triệu người Palestine trở thành những người vô gia cư (homeless). Sự bất mãn của những người Ả-rập Hồi giáo bắt đầu từ đó.

Theo lệnh của Liên Hiệp Quốc thì Do thái không được chiếm thành phố Jerusalem vì thành phố này là thánh địa chung của cả ba tôn giáo: Do thái, Ki Tô và Hồi giáo. Nhưng vào năm 1967, Israel đã xua quân chiếm thành phố Jerusalem làm thủ đô của riêng mình. Vụ này đã làm cho toàn thế giới Hồi giáo phẩn nộ. Từ năm 1970 trở đi, thế giới Hồi giáo tổ chức Hội nghị hàng năm để kêu gọi toàn thể các tín đồ Hồi giáo đoàn kết chống lại Israel để giải phóng thánh địa Jerusalem.

Israel đã vin vào Thánh kinh Cựu ước, công khai tuyên bố không bao giờ chịu rút khỏi Jerusalem vì đó là “một sứ mạng tôn giáo” (a religious mission). Nước Israel là bất khả xâm phạm vì đó là “Israel của Thánh kinh” (Biblical Israel). Lịch sử của Do thái là lịch sử của Thánh kinh Cựu ước. Do đó, đối với người Do thái, quốc gia và tôn giáo là một. Chết vì nước cũng là chết vì Chúa của đạo Do thái. Người Do thái sống trong hiện tại với những chứng tích của lịch sử. Tâm linh của người Do thái trong hiện tại luôn luôn gắn bó với tâm linh dân tộc trong lịch sử. Đó là lý do khiến người Do thái đoàn kết và kiên cường trong chiến đấu. Cuộc chiến tranh hiện nay giữa Do thái và những người Ả-rập Hồi giáo là một cuộc chiến tranh vì lịch sử và vì tôn giáo. Chúng ta hãy nghe lời lập luận của mộ thường dân Palestine ở ngoại ô thành phố Jerusalem. Anh Ibrahim Hussein, 48 tuổi, trả lời ký giả Mỹ trong một cuộc phỏng vấn tháng 3/2002 như sau: “Nếu ông đào xới bất cứ chỗ nào ở vùng này ông cũng tìm thấy những dấu tích của lịch sử. Và nếu ông là một người Do thái thì bất cứ lúc nào ông cũng có thể vin vào những dấu tích đó để nói rằng đây là đất thuộc về lịch sử của Do thái.” Nhưng người Do thái chỉ có thể vin vào lịch sử 3000 năm của họ. Còn chúng tôi, con cháu của những người Canaanites, đã định cư trước người Do thái 4000 năm, nghĩa là tổ tiên của người Ả-rập đã có 7000 năm lịch sử tại nơi này!” (Houston Chronicle, March 31, 2002).

Ý kiến chung của những người Ả-rập luôn luôn kết tội Israel là kẻ gây chiến vì Israel đã đến chiếm đất của người Palestine và dùng bạo lực đuổi họ ra khỏi nới cư trú hợp pháp lâu đời của họ. Trong khi đó, người Do thái luôn luôn đem Thánh kinh và Thiên Chúa ra làm chứng cho quyền sở hữu của mình. Họ nói vùng Tây Ngạn sông Jordan (West Bank) hiện có 3 triệu dân Palestine cư trú, chính là hai tỉnh Judea và Samaria của Do thái trong Thánh kinh Cựu ước. Người Do thái chiếm thành phố Hebron ở phía Nam Jerusalem, nơi đây là chốn định cư của trên 100.000 dân Palestine, viện cớ Hebron là nơi có mộ của tổ phụ Abraham, mặc dầu không một ai có thể xác định mộ của ông ta nằm ở chỗ nào!

Người Do thái cũng chiếm luôn thung lũng Kindron ở ngoại ô Jerusalem (Kindron Valley) vì thung lũng này hết sức quan trọng. Cả ba đạo thờ Chúa là dân Do thái, Ki Tô và Hồi giáo đều tin rằng : đến “ngày phán xét cuốn cùng”, tất cả mọi người sống và người chết (sống lại) đều tập trung tại thung lũng Kindron để được Thiên Chúa xét xử lần cuối cùng. Kẻ lành lên Thiên đàng đời đời, còn kẻ dữ (là kẻ chẳng theo trong ba đạo này) sẽ bị đày xuống hỏa ngục muôn đời muôn kiếp.

Đọc tin tức báo chí đến đây tôi liên tưởng đến sự ước tính của giáo sư Trần Chung Ngọc trong sách “Chúa Giê-su là ai? Giảng dạy những gì?” (Giao Điểm xuất bản Xuân 2002, trang 167-169) : Ngày Phán xét cuối cùng là ngày Chúa xét xử cả người sống lẫn các người chết từ xưa đến nay. Những người sống hiện nay là 6 tỉ. Nếu Chúa cho tất cả mọi người chết sống là thì ước tính độ 44 tỉ người. Tổng cộng tất cả mọi người được Chúa xét xử sẽ là 50 tỉ. Nếu Chúa xét xử theo phương pháp siêu tốc mỗi người một giây thì thời gian cần thiết phải có là 1500 năm mới xử xong 50 tỉ người! Đó là về thời gian xét xử, còn về nơi xét xử là thung lũng Kindron không biết rộng bằng nào. Nhưng cho dù thung lũng Kindron lớn rộng bằng cả nước Việt Nam chăng nữa cũng không thể nào chứa được 50 tỉ người trong Phiên xử vĩ đại của Chúa!

Kinh thánh Do thái nói rất nhiều đến ngày Phán xét cuối cũng của Chúa tại thung lũng Kindron. Nhưng nếu đọc sách Phúc Âm sẽ thấy Gioan Baotixita và Jesus còn nói về ngày Phán xét nhiều hơn nữa. Trong niềm tin của những người Ki Tô giáo (Công giáo, Chính thống, Tin Lành và Anh giáo) thì Ngày Phán xét cuối cùng chính là ngày Chúa Jesus Tái lâm (Cơ đốc Phục Lâm) và cũng là Ngày Tận thế, Ngày Nước Chúa trị đến vĩnh viễn trên thế gian… Như vậy, vị Chánh án của Phiên Xử cuối cùng vĩ đại này không ai khác hơn là chính Chúa Jesus.

Hơn một tỉ tín đồ Hồi giáo cũng có niềm tin xác tín về Ngày Phán xét cuối cùng tại thung lũng Kindron như niềm tin của những người Do thái và Ki Tô. Nhưng vị Chủ tọa phiên xử là Thiên Chúa Allah. Ngay chương mở đầu của Kinh Koran đã xác định điều đó: “Nhân danh Thiên Chúa Allah, Đấng chủ tọa của Ngày Phán xét cuối cùng” (In the name of Allah, master of the Day of Last Judgement, Koran 1:4)

Người Do thái càng vin vào Thánh kinh là sách ghi Lời Chúa để biện giải cho các hành vi chiến tranh của mình bao nhiêu thì người Ả-rập Hồi giáo cũng vin vào kinh Koran để cổ vũ người Palestine và toàn khối Ả-rập phải quyết tâm tận diệt Do thái bấy nhiêu.

Ngay từ khi đạo Hồi được thành lập vào đầu thế kỷ 7, Muhammad đã kêu gọi tín đồ tẩy chay những người Do thái và Ki Tô:

“Hỡi các tín đồ! Đừng bao giờ làm bạn với bọn Do thái và Ki Tô. Bất cứ ai làm bạn với chúng sẽ trở thành một kẻ bất chính trong bọn chúng. Thiên Chúa không bao giờ dẫn đường chỉ lối cho những kẻ bất chính”

(Oh you who believe! Do not take the Jews and the Chistians for friends and who amongst you take them for a friend then he is one of them. Allah does not guide the unjust people, Koran 5:15)

Ngày 21.7.2001, chính quyền Palestine của Arafat phổ biến trên các phương tiện truyền thông một bản thông cáo chính trị nhưng được mệnh danh là “Giáo lệnh số 4” (Religious teaching no. 4) : “Thiên Chúa cấm chỉ thừa nhận sự hiện hữu một quốc gia Israel và Ngài ra lệnh phải tiêu diệt nó. Để cụ thể hóa mệnh lệnh này, chính quyền Palestine đã đưa ra 8 điều sau đây:

1. Xác nhận Do thái là kẻ thù của Thiên Chúa.

2. Toàn thể Hồi giáo phát động thánh chiến để chống lại Do thái.

3. Tiêu diệt Do thái là một nghĩa vụ tôn giáo

4. Palestine chiến đấu tại tiền tuyến, thế giới Hồi giáo là hậu phương yểm trợ tiền tuyến.

5. Toàn thể lãnh thổ Israel phải thuộc về Palestine. Bất cứ ai cắt đất của Palestine cho Do thái đều phải sa hỏa ngục đời đời kiếp kiếp.

6. Mọi thỏa ước ký kết với Do thái đều chỉ có giá trị chiến thuật tạm thời.

7. Bất cứ ai trốn tránh nghĩa vụ thánh chiến chống Do thái sẽ bị Chúa trừng phạt.

8. Sự tiêu diệt hoàn toàn Israel là một sự bảo đảm tuyệt đối nhân danh Thiên Chúa Allah.”

Trong công báo chính thức của chính quyền Palestine (Al-Jadila) ngày 18.5.2001 có đăng một bản Huấn thị của chính phủ, trong đó có câu:

“Ngày của mọi người chết sống lại để dự phiên xử cuối cùng sẽ không xảy ra cho đến khi nào người Hồi giáo gây chiến tranh chống Do thái và tiêu diệt chúng.” (The Day of the Resurrection will not arrive until the Muslims make war against the Jews and kill them).

Một viên chức cao cấp của Bộ Tư Pháp Palestine xuất hiện trên màn ảnh truyền hình ngày 13.10.2001 kêu gọi nhân dân Palestine: “Do thái là kẻ nói láo và khủng bố. Cho nên điều cần thiết là phải giết chúng theo lời Chúa. Cấm không ai được thương xót chúng. Đừng thương xót, hãy giết chúng ở khắp mọi nơi.”

(“The Jews are liars and terrorist. Therefore it is necessary to slaughter them according to the Words of God. It is forbidden to have mercy in your hearts for the Jews. Have no mercy on them and murder them everywhere”, First Facts on Islam, by John Weldon and John Ankernerg, Harvest House Pub. 2001, pages 135-137 ). 

CharlieNguyễn (Dominique Bùi Văn Chấn-TV Thánh Gia)
Hè 2002

 

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Mười Hai 27, 2009 in Công Giáo, Hồi Giáo, Tin Lành

 

Thẻ: , ,

Thư mục của Charlie Nguyễn

Mc lc

  • Bài mới

                  * Thơ cám ơn độc giả ngày 2 tháng 7 năm 2004

                  *  Củ khoai lùi bếp tro

 

 

 

  • Thế Giới Hồi Giáo Xưa và Nay

                Tuyển Tập Độc Thần Giáo

(chưa xuất bản thành sách, nhưng có nhiều bài trong tuyển tập này đã được đưa lên webpage Giao-Điểm hoặc đăng trong một số tạp chí)

 

77. Charlie Nguyễn trả lời các bạn Thánh Gia

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Mười Hai 27, 2009 in Công Giáo, Download, Hồi Giáo

 

Thẻ: , ,

Muhammad và Hồi Giáo

THÂN TH, S NGHIP VÀ LP ĐO CA MUHAMMAD

GIAI ĐOẠN I  (570 – 622)

Như chúng ta đã biết, phần đông người Ả Rập sinh sống chủ yếu bằng nghề du mục. Từ thế kỷ 4, một số bộ lạc Ả Rập bỏ nghề du mục để chuyển sang nghề buôn bán. Nhưng việc chuyên chở hàng hóa băng qua sa mạc muốn được an toàn cần phải có người bảo vệ. Một số bộ lạc Bedouin rất giỏi về quân sự chuyển qua nghề làm trung gian và chuyên chở hàng hóa. Họ lập thành những đoàn bộ hành (caravans) chở hàng hóa từ miền Nam bán đảo Ả Rập qua thành phố Petra – thành phố gồm có những căn nhà được đục sâu trong vách đá ở miền nam Jordan – đến thành phố Zenobia thuộc xứ Syria. Vào thời gian này, thành phố Zenobia được tôn xưng là Hoàng Hậu của Phương Đông (Queen of the East).

            Do việc buôn bán càng ngày càng phát triển, thành phố Mecca ở phía nam bán đảo Ả Rập dần dần trở thành một trung tâm thương mại lớn nhất trong vùng. Ngoài lý do thương mại, Mecca còn là một địa điểm hành hương của tất cả mọi người theo đạo cổ truyền Ả Rập. Hàng năm, người Ả Rập từ khắp nơi đổ về Mecca để viếng đền thờ Kaaba mà họ tin rằng đền thờ này đã được xây cất từ thời ông Adam tổ tiên loài người và sau đó được xây cất lại bởi ông Abraham và con trai là Ismael. Số người hành hương Mecca mỗi ngày mỗi đông đã khiến cho Mecca trở thành một thánh địa thiêng liêng bất khả xâm phạm. Tâm lý chung của mọi người là phải tự ý thức dẹp bỏ mọi sự xung đột tại thánh địa để sự an toàn và vẻ trang nghiêm của thánh địa được bảo đảm. Đây là một yếu tố tâm lý đã góp phần quan trọng vào việc phát triển thương mại tại thành phố này.

            Sau khi Mecca đã trở thành một đô thị sầm uất thì bộ lạc Quraysh giã từ đời sống du mục để chuyển hẳn sang nghề thương mại vào cuối thế kỷ 5. Tại Mecca có truyền thuyết kể rằng: Thủ lãnh bộ lạc  Quraysh đã đến Syria mua về 3 pho tượng của 3 nữ thần Al-Lat, Al-Uzza và Manat đem về đặt tại đền thờ Kaaba. Từ đó, bộ lạc Quraysh làm ăn phát đạt, trở thành giàu có và nắm quyền kiểm soát toàn thành phố Mecca.

            Một thương gia rất nổi tiếng thuộc bộ lạc Quraysh là Hassim Manaf mỗi năm lãnh đạo hai chuyến lữ hành (caravans) đông tới hàng ngàn người tải hàng từ Mecca đi Yemen hoặc đi Syria. Ông được hoàng đế Byzantine và vua xứ Abyssinia tiếp kiến.

            Con trai ông là Muttalib cũng là một thương gia giàu có ở Mecca. Muttalib có 10 người con trai và 6 con gái. Người con trai út tên là Abdallah rất nổi tiếng là một thanh niên cao lớn đẹp trai. Abdallah chính là cha của Muhammad. Công cuộc buôn bán của Abdallah thiếu may mắn nên gia sản khánh kiệt. Abdallah đau buồn sinh bệnh và chết hai tháng trước khi Muhammad ra đời. Muhammad chỉ được thừa hưởng cái dáng vóc to lớn đẹp trai của cha nhưng không được hưởng chút gia tài nào của cha để lại cả.

            Sau khi sanh Muhammad, bà Anima quá nghèo không nuôi nổi con thơ nên đành phải bế bé Muhammad đến nhờ ông nội là Muttalib nuôi dùm. Ông già Muttalib mời một thầy pháp xuất hồn (a kahin) đến nhà coi bói cho Muhammad. Thầy pháp cho biết sau này đứa bé sẽ cai trị cả thế giới. Ông già Muttalib quá mừng nên vội vàng bế đứa cháu mới sinh đến đền thờ Kaaba để tạ ơn Thượng Đế.

            Hơn hai năm sau, khi cơn đói kém đã qua đi, bà Anima trở lại nhà ông già Muttalib đón bé Muhammad về nuôi tại nhà riêng của bà tại Mecca. Khi Muhammad lên 6 tuổi thì mẹ chết. Một lần nữa Muhammad được đưa trở lại nhà ông nội Muttalib. Muhammad được đưa đến nhà ông chú là Abu Talib, thủ lãnh đoàn thương buôn của dòng họ Hassim.

            Abu Talib được nhiều người ở Mecca tôn trọng về tư cách và khả năng thương mại, mặc dầu gia sản của dòng họ Hassim lúc này đã suy kiệt.

Khi Muhammad lên 12 tuổi, ông Abu Talib quyết định cho Muhammad được đi theo các chuyến lữ hành tải hàng từ Mecca đi Syria. Kể từ đó cho đến năm 25 tuổi, Muhammad luôn luôn theo sát ông chú trên mọi nẻo đường buôn bán băng qua sa mạc Syro-Arabia. Suốt 13 năm ròng, Muhammad được học đủ mọi môn về quân sự: từ cưỡi ngựa, đấu kiếm, bắn cung, đô vật cho đến các mưu lược chiến thuật  và các phương cách bày binh bố trận chống lại các bọn cướp dọc đường. Từ bẩm sinh, Muhammad đã vốn có một thân hình cao lớn khỏe mạnh, sau 13 năm tập luyện trong thực tế sa mạc, Muhammad trở thành một võ sĩ hay một tướng quân.

Vào năm 595, Muhammad muốn cưới Fakhita, 25 tuổi, con gái của ông chú Abu Talib. Nhưng ông chú Abu Talib quyết định gả Fakhita cho một người giàu có thuộc dòng họ Makhzum. Để đền bù cho Muhammad, ông Abu Talib giới thiệu Muhammad cho bà Khadija là một phụ nữ sang trọng giàu có nhất nhì tại Mecca. Lúc đó bà Khadija khoảng 40 tuổi, đã có hai đời chồng và 7 người con. Bà thuộc đoàn thương mại của dòng họ Asad đang lúc gặp thời. Bà rất cần có một người dũng cảm và có khả năng chỉ huy quân sự để tổ chức những chuyến buôn từ Mecca vượt qua sa mạc xa xôi đến Syria. Bà Khadija đề nghị với Muhammad việc hôn nhân và Muhammad đồng ý.

Mặc dầu bà Khadija lớn hơn Muhammad 15 tuổi nhưng Muhammad vẫn say mê bà. Theo sử sách của Hồi Giáo ghi chép thì bà Khaidija lúc đó tuy lớn tuổi nhưng vẫn trẻ đẹp và có dáng vẻ rất sang trọng. Cuộc hôn nhân giữa bà Khadija và Muhammad kéo dài 24 năm, tức cho đến khi bà Khadija qua đời vào năm bà 64 tuổi.

Cuộc đời của Muhammad và lịch sử thời sơ khai của đạo Hồi đã mang nhiều dấu ấn về tài đức của bà Khadija. Trong cách cư xử với bà Khaidija, Muhammad luôn coi bà như một người mẹ hoặc một người cố vấn hơn là một người vợ bình thường. Trong suốt 24 năm chung sống, Muhammad đã gặp biết bao sự chống phá của mọi kẻ thù và nhiều chuyện rắc rối đau buồn, Muhammad thường bày tỏ tâm sự với bà Khadija và luôn luôn được bà tận tình giúp đỡ nên Muhammad đã vượt qua tất cả. Sau khi bà Khadija qua đời, Muhammad vẫn thường ca ngợi và bày tỏ lòng biết ơn bà Khadija cho đến khi ông trút hơi thở cuối cùng.

Bà Khadija sinh cho Muhammad 7 người con, gồm 3 trai 4 gái. Nhưng 5 người con đầu đều chết trẻ, chỉ còn lại 2 người con gái. Cô gái út tên là Fatimah, về sau trở thành một nhân vật rất nổi tiếng trong thế giới Hồi Giáo. Vào thế kỷ 10, những người Ả Rập tại Ai Cập tự xưng là con cháu của Fatimah đã lập nên một triều đại hiển hách gọi là Triều Đại Fatimids. Triều đại này cai trị toàn vùng Bắc Phi, Trung Đông và Thổ Nhĩ Kỳ trong 315 năm (935-1250).

Ông chú Abu Talif là người đã nuôi dạy Muhammad từ nhỏ đến lớn, lúc về già bị sa cơ thất thế. Bà Khadija và Muhammad đến xin đứa con út của ông chú là bé Ali (lúc đó mới 5 tuổi) đem về nuôi. Muhammad hết lòng thương yêu Ali vì Ali mồ côi mẹ và một phần khác vì ông rất biết ơn ông chú Abu. Về sau, Muhammad đã gả con gái út của ông là Fatimah cho Ali. Hai mươi bốn năm sau khi Muhammad qua đời, Ali trở thành vị vua Hồi Giáo thứ tư (The Fourth Calif). Hiện nay, có một số người Chàm theo đạo Hồi ở Việt Nam tôn thờ Ali và tôn xưng Ali là con của Thượng Đế (Son of God).

Ngoài việc nhận nuôi Ali, vợ chồng Muhammad còn nuôi một bé trai nô lệ là Zayd. Khi Zayd lớn lên, cha mẹ Zayd đem tiền đến chuộc nhưng Zayd xin ở lại. Muhammad trả tự do cho Zayd và từ đó Zayd trở thành con nuôi. Ali và Zayd sống chung với nhau như anh em ruột dưới sự chăm sóc của Muhammad. Sau này cả hai thành đôi bạn khắng khít và đều có quyền lực trong cộng đồng Hồi Giáo sơ khai.

Vào năm 605, lúc đó Muhammad 35 tuổi, bộ lạc  Quraysh quyết định xây lại đền thờ Kaaba. Đây là một công việc trọng đại và tốn kém nên cần phải có sự đóng góp của nhiều người mới thực hiện được. Khi hội họp thảo luận với nhau, các tập đoàn thương mại (clans) đưa ra nhiều ý kiến trái ngược. Sau năm ngày tranh cãi, các tập đoàn không đạt được một sự thỏa thuận nào. Cuối cùng, các tập đoàn giao ước với nhau rằng: Nếu có một người đàn ông nào đó đến đền thờ vào lúc này thì chúng ta sẽ hỏi ý kiến của người đàn ông ấy và ý kiến của người ấy sẽ là ý kiến quyết định.

Thật bất ngờ vì người đàn ông bước chân vào đền thờ lúc đó chính là Muhammad. Muhammad vừa mới lãnh đạo một đoàn lữ hành lớn từ Syria trở về Mecca. Theo thông lệ, sau mỗi một chuyến lữ hành thành công, Muhammad đều đến đền thờ Kaaba để tạ ơn Thượng Đế. Đại diện của các tập đoàn thương mại Mecca đến hỏi ý kiến Muhammad. Ông dõng dạc trả lời: “Tất cả chúng ta hãy tìm mọi cách di chuyển Tảng Đá Đen (The Black Stone) đến giữa đền thờ rồi cùng nhau đoàn kết xây lại nơi thờ phượng Thiên Chúa Allah. Chúng ta sẽ biến nơi này thành một trung tâm của thế giới!”

(Tảng Đá Đen là một thiên thạch đã có sẵn ở bán đảo Ả Rập từ rất lâu đời, không ai có thể xác định được niên đại của nó. Người Ả Rập từ ngàn xưa đã tỏ lòng tôn kính tảng đá này và họ coi nó như một biểu tượng của Đấng Tối Cao. Họ xây đền thờ hình khối phủ lên tảng đá đen và gọi đền thờ đó là Kaaba. Tiếng Ả Rập Kaaba có nghĩa là “nhà hình khối” (Cubic Building). Đền thờ Kaaba và tục lệ hành hương đã có từ nhiều ngàn năm trước Công Nguyên).

Sứ giả của Thiên Chúa  (Messenger of God)

Vào năm 610, lúc đó Muhammad vừa tròn 40 tuổi, ông thường cầu nguyện, bố thí và thích tìm đến nơi vắng vẻ một mình để suy tưởng về Thiên Chúa. Vào đêm thứ Bảy mùa chay Ramadan, Muhammad một mình leo lên đỉnh núi Hira ở ngoại ô Mecca và tìm đến một cái hang. Bỗng nhiên, một thiên thần hiện ra với ông và ra lệnh “Hãy thuật lại” (Recite!)

Vào thời đó, ở Ả Rập có nhiều người làm nghề thầy pháp (soothsayers). Họ thường nhảy múa lên đồng để xuất hồn xuống âm phủ gặp hồn ma người chết. Sau đó thầy pháp “thuật lại” những điều người chết muốn nói với thân nhân còn sống. Vì thế các thầy pháp được gọi là “người thuật lại” (Reciter/ kahin). Khi thiên thần ra lệnh cho Muhammad thuật lại, ông liền từ chối và trả lời ngay rằng: “Tôi không phải là một thầy pháp!” (I’m not a reciter!)

Ngay lúc đó, thiên thần ôm choàng lấy Muhammad một cách thân mật và nói nhỏ nhẹ bên tai ông những lời mặc khải đầu tiên:

“Hãy thuật lại nhân danh Chúa

Là đấng đã tạo ra loài người từ một giọt máu

Hãy thuật lại: Thiên Chúa hào phóng vô cùng

Ngài dùng ngòi bút để dạy dỗ loài người

Về những gì loài người chưa biết”.

(Recite in the name of thy God

Who createth man from a clot of blood

Recite: Thy Lord is the Most Bountiful

He who taught by the pen

taught man what he knew not – Koran 96:1)

 

Muhammad sợ hãi chạy ra khỏi hang và leo lên đỉnh núi với ý định gieo mình xuống vực để tự tử – Nhưng vừa mới chạy được nửa đường thì nghe có tiếng nói từ trên trời xuống: “Hỡi Muhammad, con là Sứ giả của Thiên Chúa. Ta là thiên thần Gabriel đây!”

Muhammad đứng trân trân nhìn vị thiên thần và không thể bước tới bước lui. Muhammad quay mặt đi hướng khác, nhưng dù quay hướng nào cũng vẫn nhìn thấy thiên thần ở trước mặt. Muhammad kể rằng: vị thiên thần là một người đàn ông và không đẹp như tranh vẽ của Ki Tô Giáo. Thiên thần tự xưng là “Thần linh của Chân lý” (The Spirit of Truth). Nhiệm vụ của ngài là một phương tiện truyền thông của Thiên Chúa xử dụng để truyền mọi điều của Chúa cho loài người được biết.

Muhammad nghe thiên thần Gabriel giảng giải những điều như vậy liền cảm thấy yên lòng nên bỏ ý định tự tử và chạy về nhà thuật lại cho bà Khadija biết. Khi vừa trông thấy bà Khadija, Muhammad vội quì xuống rồi bò tới bằng hai tay và hai đầu gối. Muhammad nhào vào lòng bà Khadija như một đứa bé nhào vào lòng mẹ. Muhammad nói: “Hãy che chở tôi, hãy che chở tôi”. Bà Khadija ôm lấy Muhammad trong vòng tay và nói những lời âu yếm dịu dàng nhằm trấn an, vì lúc đó bà nghĩ rằng Muhammad có thể đã bị ma ám (Jinni-possessed). Vào thời đó, người Ả Rập không biết đến các chứng bệnh tâm thần. Mỗi khi gặp trường hợp có người mắc bệnh điên loạn hay khủng hoảng tinh thần, người ta thường gán cho là bị ma ám! Bà Khadija tin tưởng nơi Thượng Đế nên đã an ủi Muhammad: “Anh là người tốt đối với mọi người và anh hay giúp đỡ những người nghèo khó. Nhất định Thượng Đế không bao giờ làm điều gì xấu cho anh đâu, cưng ạ!”

Liền sau đó bà Khadija dẫn Muhammad đến nhà người anh họ cao niên của bà là Waraqua. Ông này là một tín đồ Ki Tô Giáo rất thông thạo Thánh Kinh Tân Ước bằng tiếng Hy Lạp. Khi thấy bà Khadija và Muhammad đến, Waraqua không tỏ vẻ ngạc nhiên. Ông vui vẻ đón chào: “Thật là một điều thánh thiện! Thiên Chúa đã ban cho Muhammad một bộ luật lớn như ngài đã ban cho Thánh Mai-sen xưa kia. Ôi! Muhammad là tiên tri của các dân tộc Ả Rập.” (Holy! Holy! There has come to him the greatest MANUS who came to Moses aforetime and lo, he is the prophet of the Arab peoples – Muhammad, a biography of the prophet by Karen Amstrong. Pages 84, 85).

            Waraqua đã dùng tiếng Hy Lạp “MANUS”, có nghĩa là Sách Luật, có ý ám chỉ Muhammad là môt tiên tri sẽ mang đến cho các dân tộc Ả Rập một cuốn sách luật vĩ đại như Maisen đã mang đến cho dân tộc Do Thái cuốn sách Kinh “TORAH”, theo tiếng Hebrew cũng có nghĩa là Sách Luật. Muhammad đã tiếp thu ý kiến này. Về sau, Muhammad đã đưa vào kinh Koran rất nhiều điều luật về hình sự, dân sự và cả về các mặt xã hội chính trị, kinh tế nữa.

            Waraqua giải thích cho Muhammad: “Sự mặc khải của Thiên Chúa cho loài người qua các trung gian là các vị tiên tri (prophets) có tính cách liên tục từ xưa đến nay: khởi đầu từ tổ tiên loài người là Adam, sau đó đến Noah, Abraham, Moses, Isaiah, Gioan Baotixita và Jesus”.

            Muhammad chấp nhận quan điểm của Waraqua nên sau này Muhammad khẳng định đạo Hồi không phải là đạo mới mà chỉ là “Đạo Thiên Chúa Canh Cải” mà thôi (Islam is a Reformed Religion of God).Waraqua cảnh báo cho Muhammad biết trước về những mối nguy hiểm sẽ xảy đến cho người được Chúa chọn làm tiên tri: “Anh sẽ là tiên tri của các dân tộc Ả Rập. Tôi già rồi nhưng tôi sẽ ráng sống cho đến khi người ta ném anh ra ngoài xã hội.” Muhammad nghe nói vậy tỏ ra rất bối rối sợ hãi. Waraqua bèn mượn lời của Chúa Jesus trong Thánh Kinh để giải thích cho Muhammad: “Không có tiên tri nào được trọng vọng ở quê hương mình!” (A prophet is always without honor in his own country!).

             Waraqua tỏ ra là một người học thức sáng suốt và rất am tường tình hình của xứ Ả Rập lúc đó, Ông đã đưa ra những lời khuyên Muhammad rất xác đáng:

            1. Rao giảng những điều mới được mặc khải là một sứ mạng hết sức nguy hiểm nên cần phải có thời gian chuẩn bị mọi việc kỹ càng.

            2. Trong thời gian đó, đế quốc Ki Tô Giáo Byzantine đang dòm ngó bán đảo Ả Rập, Waraqua khuyên Muhammad cần tránh tỏ ra thân Ki Tô Giáo hoặc Byzantine để khỏi bị quần chúng gán cho tội thông đồng với địch.

            3. Waraqua biết Muhammad chủ trương độc thần tuyệt đối nhưng ông khuyên Muhammad đừng vội triệt phá các tượng thần – Lý do vì dân Ả Rập dù có thờ ba nữ thần là những con gái của Thiên Chúa Allah thì họ cũng vẫn là những tín đồ của đạo Abraham (Abrahamic Religion). Đạo Abraham chính là đạo Do Thái trước thời Moses (Pre-Mosaic Judaism) và cũng là đạo cổ truyền của dân Ả Rập. Muhammad nghe lời khuyên của Waraqua nên đã hoàn toàn im hơi lặng tiếng trong hai năm và sau đó thực hiện đúng những điều Waraqua đã dặn.

            Năm 612, tâm lý chung của dân Mecca là chỉ lo làm giàu bằng mọi cách, bất chấp mọi giá trị đạo đức. Các tập đoàn buôn bán coi nhau như thù địch nên xã hội Mecca lâm vào tình trạng chia rẽ cùng cực. Tâm lý quần chúng Ả Rập lúc đó khao khát đi tìm một giải pháp tôn giáo mới (a new religious solution) đáp ứng nhu cầu chung của dân tộc Ả Rập.

            Muhammad cũng như đại đa số dân Ả Rập không thể chấp nhận quan niệm Thiên Chúa Ba Ngôi của đạo Ki Tô vì nó mang nặng tính chất thần thoại Hy Lạp. Người Ả Rập đã cảm nhận từ rất lâu đời tinh thần tôn giáo Abrahamic, tức tinh thần của đạo Do Thái Nguyên Thủy (4000 TCN – 1250 TCN), cho nên Muhammad tìm về gốc đạo Do Thái như tìm về với cội nguồn tinh thần của cả dân tộc. Chính vì quan niệm này mà trong đạo hồi Abraham được coi là một tín đồ Hồi Giáo đầu tiên (The First Muslim) là vị tổ phụ lập đạo và cùng là tổ phụ của dân tộc Ả Rập.

            Muhammad không bao giờ tự coi mình là người lập đạo, không bao giờ tự xưng mình là giáo chủ hoặc là Đấng Cứu Thế. Ông không công nhận mình có một sứ mạng nào đối với cả thế giới (no universal mission) cũng không có một nhiệm vụ chính trị nào. Ông chỉ nhấn mạnh một điều rằng: Ông là tiên tri cuối cùng của Thiên Chúa. Nói cách khác, sau Muhammad sẽ không có một tiên tri nào cả. Điều này rất quan trọng đối với Hồi Giáo: Sau khi Muhammad qua đời, tất cả những người kế vị (Caliphs) đều chỉ là những người kế vị với tư cách lãnh đạo Cộng đồng (Leaders of Community) chứ không ai có thể kế vị với tư cách tiên tri (prophet). Điều này ngụ ý: không ai có tư cách sửa đổi giáo lý đạo Hồi hoặc sửa đổi những điều đã ghi trong kinh Koran.

            Muhammad là một người bản tính giản dị, rất ghét lối sống xa hoa phù phiếm. Ông thường mặc loại quần áo may bằng vải thô. Khi kiếm được tiền, ông thường chia sẻ rộng rãi với những người nghèo. Ông có khuynh hướng sống khổ hạnh. Ông không kết án người giàu một cách quá khích như Jesus “Kẻ giàu vào thiên đàng khó hơn lạc đà chui qua lỗ kim”. Nói như vậy có nghĩa là mọi kẻ giàu đều phải xuống hỏa ngục. Muhammad không tin như vậy, ông nói: “Người nghèo vào thiên đàng trước người giàu”. Ông tin rằng Chúa nhân lành nên không bao giờ phạt một người nào đời đời trong hỏa ngục. Thậm chí như quỉ Satan, Muhammad tin rằng Satan sẽ được Chúa tha tội trong ngày Phán Xét Cuối Cùng. Vào thời Muhammad, hai phần ba phụ nữ trong xã hội là nô lệ. Muhammad muốn đem đến cho họ một niềm hy vọng trong tôn giáo. Vì thế đa số những tín đồ Hồi Giáo đầu tiên là những người nô lệ, phụ nữ và những người khốn cùng trong xã hội.

            Muhammad là người khiêm tốn nên ông cũng xác định Kinh Thánh Koran có một nhiệm vụ cũng rất khiêm tốn: “Koran chỉ làm nhiệm vụ của một kẻ nhắc lại những điều mà mọi người đã biết” (The Quran claimed to be a reminder of things that every body knew already – Koran 80: 11).

            Tất cả những nghi lễ lớn của đạo Hồi hiện nay như hành hương Mecca, sự tôn kính thánh tích Tảng Đá Đen ở đền thờ Kaaba, tục lệ bố thí cho người nghèo, ăn chay trong tháng Ramadan, giết súc vật làm lễ hy sinh (animal sacrifice)… đều xuất phát từ tôn giáo cổ truyền của các bộ lạc Ả Rập nhiều ngàn năm trước khi Muhammad ra đời.

            Có thể nói mọi người Ả Rập đều đã sẵn có niềm tin vào Thiên Chúa, Muhammad không phải tốn công thuyết phục đồng bào của mình về điểm này, chỉ cần làm sao thuyết phục họ tin rằng Muhammad là tiên tri cuối cùng của Thiên Chúa.

            Công việc trọng tâm trong sự thuyết phục đó tưởng đơn giản mà thật khó khăn. Sau hai năm viết sách Koran và thuyết phục mọi người, Muhammad chỉ chinh phục được mấy người trong gia đình: vợ, bốn con gái và hai con nuôi. Ông chú Abu Talib không chịu theo. Tuy nhiên, một người xa lạ là Abu Bakr chẳng những nhiệt tình theo đạo Hồi mà còn hết lòng bênh vực che chở cho Muhammad. Abu Bakr là một thương gia rất giàu và có uy quyền đối với các tập đoàn thương mại ở Mecca. Nhờ uy tín của ông, nhiều thanh niên và những người có thế lực tại Mecca đã theo đạo Hồi.

            Cuộc Tỵ Nạn tại Ethiopia

            Người Ả Rập tin Adong – Evà là tổ tiên loài người và tin có một Thiên Chúa mà họ gọi là Allah, nhưng không biết từ bao giờ họ lại tin rằng Thiên Chúa Allah có 3 cô con gái tên là Al-Lat, Al-Uzza và Manat. Tại đền thờ Kaaba ở Mecca, người Ả Rập tôn thờ Thiên Chúa là chính yếu. Thiên Chúa vô hình vô tượng nhưng ba nữ thần con của Thiên Chúa thì có tượng thờ tại đền này. Ngoài ra, người dân Mecca còn làm thêm 360 tượng thần cai quản 360 ngày trong một năm Âm Lịch.

            Năm 616, Muhammad giảng đạo tại đền thờ Kaaba và thuyết phục mọi người hãy phá bỏ các tượng thần, nhất là 3 tượng nữ thần con của Thiên Chúa.

            Muhammad thuyết giảng rằng: đạo thật của Abraham là chỉ tôn thờ một Thiên Chúa mà thôi. Thiên Chúa không đẻ con nên không có thần nào là con trai hay con gái của Thiên Chúa cả!

            Trước đây 6 năm, Waraqua đã cảnh báo Muhammad về sự nguy hiểm khi khuyên người ta phá bỏ các tượng thần. Nay Muhammad phải đối diện với sự nguy hiểm trong thực tại: Muhammad mất hết sự ủng hộ của mọi người. Các tập đoàn thương mại ở Mecca công khai tuyên bố Muhammad là kẻ thù của quần chúng. Mọi người kết tội Muhammad đã nhục mạ những vị thần thiêng liêng của họ. Nhiều người cuồng tín mang theo vũ khí đi lùng bắt Muhammad. Lúc đó, Muhammad vội chạy trốn để tránh mặt. Bọn người cuồng tín kéo đến nhà ông chú của Muhammad là Abu Talib để hành hung ông mặc dù lúc đó ông đã rất già. Cuối cùng bọn cuồng tín bắt hết những người nô lệ theo đạo Hồi trói vào cọc rồi thiêu sống.

            Muhammad biết tình hình rất căng thẳng và không thể hòa giải nên nội trong đêm hôm đó Muhammad cùng 53 người thân nhân và tín đồ bí mật lẻn ra khỏi thành phố Mecca đi tỵ nạn tại xứ Abyssinia (tức Ethiopia ngày nay). Muhammad và mọi người đi theo được vua Negus tiếp kiến và bảo vệ – Muhammad biết vua Negus và triều đình Abyssinia theo Ki Tô Giáo nên ông bảo Zayd chọn lựa các đoạn trong kinh Koran nói về Chúa Jesus và bà Maria đọc to lên cả triều đình cùng nghe. Sau khi nghe những câu thơ của kinh Koran ca ngợi Chúa Jesus và đức bà Maria, nhà vua khen ngợi Muhammad và nghĩ rằng đạo Hồi cũng là đạo Ki Tô!

            Những Vần Thơ của Quỉ Sa Tăng.-

            Trong thế giới Tây Phương thù nghịch với đạo Hồi, người ta đã phổ biến nhiều chuyện bề ngoài có tính cách lịch sử nhưng bên trong nhằm chế nhạo hoặc bôi bẩn giáo chủ Muhammad. Một trong những chuyện đó rút ra từ sách Sử Ký của Ibn Sad và Tabari. Chuyện đó kể rằng: Sau khi giảng đạo tại Kaaba nhằm thuyết phục mọi người phá bỏ các tượng thần, Muhammad không ngờ bị mọi người phản đối kịch liệt. Chẳng những thế, Muhammad còn bị những người cuồng tín phẫn nộ đi lùng bắt để giết chết. Muhammad bị dồn vào thế kẹt hết sức nguy hiểm. Để tạm thời đối phó với tình thế, Muhammad viết trong chương 53 của kinh Koran hai câu thơ nhượng bộ những người đa thần giáo như sau:

            “Các người không coi trọng ba vị nữ thần

            Al-Lat, Al-Uzza và Manat sao?

            Những vị đó đều là những thiên thần

            mà lời cầu nguyện của họ đều được

            Thiên Chúa chấp nhận”.

(Have you considered Al-Lat, Al-Uzza and Manta?

They are the exalted angels whose intercession is approved – Koran, sura 53: 19-20).

            Sau đó, Muhammad sai người đưa kinh Koran cho những người ở Mecca đọc, đặc biệt lưu ý họ về hai câu thơ nói về ba vị nữ thần. Những người đa thần giáo ở Mecca cho rằng Muhammad đã chịu thừa nhận các nữ thần của họ và họ bằng lòng bỏ qua cho Muhammad về tội xúc phạm thần thánh trước đây.

            Mấy năm sau, Muhammad kéo 10.000 quân trở lại chiếm Mecca. Đợi đến lúc hoàn toàn làm chủ tình hình ở Mecca, Muhammad mới dám hủy bỏ hai câu thơ 19-20 trong Sura 53. Muhammad viết trong chương 5 những câu thơ phủ nhận các nữ thần, gọi các nữ thần là sản phẩm tưởng tượng không đáng tôn thờ.

            Chương 5 trong kinh Koran còn nói rõ rằng: Các câu thơ trước đây chấp nhận sự tôn thờ các nữ thần Ả Rập là những câu thơ đã được gợi ý bởi quỉ Sa Tăng. (The verses inspired by Satan)

            Năm 1988, nhà văn Anh gốc Ấn Salman Rushdie đã mượn ý của câu chuyện trên để viết cuốn tiểu thuyết “The Satanic Verses”. Rushdie sưu tầm các chuyện huyền thoại của Tây Phương từ xưa đến nay nói về Muhammad nhằm mục đích tạo ấn tượng nơi độc giả về Muhammad như một gã lừa đảo với những tham vọng chính trị.

            Chủ đích của cuốn tiểu thuyết cũng nhằm chứng tỏ rằng cuốn kinh Koran của đạo Hồi không phân biệt được điều lành và điều dữ. Koran chẳng bao giờ là sách ghi lời của Chúa mà hoàn toàn được sáng tạo bởi cá nhân Muhammad mà thôi.           

Chuyến Du Hành Ban Đêm (The Night Journey).-

Trong một buổi tối năm 620, Muhammad đến thăm cô em họ là Umm Hani (chị ruột của Ali) cư ngụ ở gần đền thờ Kaaba. Sau đó, Muhammad vào đền thờ để ngủ qua đêm. Trong lúc đang ngủ thì ông được thiên thần Gabriel đánh thức dậy rồi đặt ông ngồi trên lưng một con ngựa thần. Tiếng Ả Rập gọi con ngựa thần là Buruq. Đó là một con ngựa có đầu người và có hai cánh giống như cánh chim rất lớn. Ngựa thần chở ông từ Mecca đến Jerusalem rồi đáp trên núi Đền Thờ (Temple Mount). Tại đây, Muhammad được đón chào bởi các tiên tri Do Thái: Abraham, Mai-sen và Jesus. Thiên thần Gabriel dẫn Muhammad đến một cái thang và cả hai cùng leo lên. Tại tầng trời thứ nhất, Muhammad gặp tổ tiên loài người  là Adam. Tầng thứ hai do Jesus và Gioan Baotixita cai quản. Tầng thứ ba có Joseph. Tầng thứ tư do Enoch chủ trì. Tầng thứ năm do Aaron, tầng sáu do Mai-sen. Tầng thứ bảy do Abraham. Vòm trời trên cùng là nơi ở của Thiên Chúa Allah.

Sau khi được yết kiến Thiên Chúa và được ngài căn dặn phải cầu nguyện mỗi ngày 50 lần, Muhammad cùng với thiên thần Gabriel xin cáo từ và xuống thang. Khi xuống đến tầng thứ sáu thì Mai-sen dặn Muhammad rằng: “Không nên bắt tín đồ cầu nguyện nhiều quá. Thiên Chúa đòi phải cầu nguyện mỗi ngày 50 lần nhưng chỉ cần cầu nguyện mỗi ngày 5 lần cũng đủ rồi!”

Sau giấc mơ đi Jerusalem năm 620, Muhammad viết kinh Koran qui định mỗi ngày các tín đồ Hồi Giáo phải cầu nguyện 5 lần. Mỗi lần cầu nguyện phải quay mặt về hướng Jerusalem. Năm 627, Muhammad ra lệnh hành quyết tập thể 700 người Do Thái tại Medina vì những người này có âm mưu chống lại ông. Sau vụ này ông thù ghét người Do Thái và đạo Do Thái nên ông viết lại kinh Koran qui định cho các tín đồ khi cầu nguyện phải quay mặt về hướng Mecca chứ không phải là Jerusalem như trước.

Ngôi vị của Mai-sen (giáo chủ đạo Do Thái) trước đây cao hơn ngôi vị của Jesus (Giáo Chủ đạo Ki Tô). Nay Muhammad đảo ngược lại: nâng Jesus lên cao hơn Mai-sen vì lúc này Muhammad chưa có điều gì thù oán với Ki Tô Giáo. Ngày nay, các tín đồ Hồi Giáo kính trọng nhất là Tiên tri Muhammad, kế đến là tiên tri Jesus và tiên tri Mai-sen. Đối với họ, tất cả các tiên tri này đều là những người trần mắt thịt và đều là đầy tớ của Thượng Đế (Servants of God).

                                                                              Charlie Nguyễn

Viết Mà Chơi Về Đối Thoại (Trần Chung Ngọc)
Vài Nhận Xét về bài…của Nguyễn Tường Tâm (Trần Chung Ngọc)
Vài Ý Kiến Về Bài “Giáo Hội Công Giáo Roma” của ông Nguyễn Học Tập (Trần Chung Ngọc)
Về Bức Thư Ngỏ của ông Chu Tất Tiến (Trần Chung Ngọc)

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Mười Hai 20, 2009 in Hồi Giáo, Tin Tức

 

Thẻ: ,

Thập tự chinh của Công Giáo chống Hồi Giáo

CÁC CUỘC THẬP TỰ CHINH CỦA CÔNG GIÁO LAMÃ CHỐNG HỒI GIÁO

Tiếng La Tinh CRUX có nghĩa là Thánh Giá hoặc Chữ Thập, biểu tượng của đạo Ki Tô. Từ chữ Crux phát sinh ra danh từ CRUSADE có nghĩa là cuộc viễn chinh của đoàn quân Công Giáo từ Âu Châu kéo qua các nước lân cận để tấn công những người Hồi Giáo trong thời Trung Cổ. Những người lính trong đoàn quân viễn chinh Công Giáo này đều mang huy hiệu chữ thập ở phía trước ngực và phía sau lưng nên được gọi là Thập Tự Quân (Crusaders). Suốt trong hai thế kỷ từ 11 đến 13 (1096-1291) những đoàn quân thập tự này đã gieo rắc biết bao kinh hoàng tang tóc cho những người Hồi Giáo Ả Rập. Hình ảnh tàn bạo man rợ của đoàn quân Công Giáo Âu Châu đã in sâu vào tim óc của thế giới Hồi Giáo nói chung và của những người Hồi Giáo Ả Rập nói riêng. Đến nỗi ngày nay, người Hồi Giáo đã đồng hóa Công Giáo với chủ nghĩa thực dân đế quốc. Mỗi khi lên án hành động bành trướng bá quyền của Tây Phương, họ thường tố cáo hành vi đó là “Tân chiến tranh thập tự”. (Neo-Crusade). 

Cổ nhân thường nói “ôn cố tri tân”, chúng ta hãy coi lại lịch sử của hai thế kỷ chiến tranh đẫm máu do những đoàn viễn chinh chữ thập Công Giáo La Mã phát động chống những người Hồi Giáo ở Trung Đông trong hai thế kỷ từ 11 đến 13. Những bài học lịch sử sẽ soi sáng cho chúng ta trong nhiều vấn đề của thời cuộc hôm nay và cũng để hiểu thêm thực chất của một tôn giáo thường hay vỗ ngực tự xưng là đạo của Công bằng bác ái!

       Để trình bày về đề tài này, chúng tôi tham khảo các tài liệu sau đây:

1.    The CRUSADES, by Brenda Staleup, Green Haven Press xuất bản 2000.

2.    The Oxford Illustrated History of Medieval Europe, by George Holmes, Oxford University Press 1986.

3.    The Cross and the Crescent, by Malcoms Billing, Sterling Publication 1988.

                                       NGUYÊN NHÂN CHIẾN TRANH

Có hai nguyên nhân dẫn đến chiến tranh thảm khốc giữa hai tôn giáo anh em (fraternal faiths) kéo dài 195 năm là: sự xung đột như nước với lửa về giáo lý và sự tranh chấp lãnh thổ giữa hai tôn giáo (nhưng thực chất cả hai đều là đế quốc). 

1. Sự xung đột về giáo lý

Mặc dầu kinh Koran là Kinh Thánh của đạo Hồi (Koran: The Muslim Gospel) công nhận Jesus là vị tiên tri đứng hàng thứ hai sau Muhammad, nhưng Koran phủ nhận tính cách thiêng liêng của Jessus. Koran gọi các phép lạ của Jesus là những trò ảo thuật học mót ở Babylon (Magic and such things as come down at Babylon – Koran 2:102).

Kinh Koran hoàn toàn phủ nhận tội tổ tông, hoàn toàn phủ nhận cái chết của Jesus trên thập giá. Koran khẳng định người Do Thái không giết và không đóng đinh Jesus (The Jews killed him not, nor cruxified him – Koran 4:157)

Muhammad thù ghét Công Giáo vì đạo này thờ ảnh tượng, vi phạm điều răn thứ hai của Maisen. Một điều nữa mà Muhammad ghét cay ghét đắng là thuyết Thiên Chúa Ba Ngôi của đạo Ki Tô. Đối với Muhammad, đạo Ki Tô là Đa Thần Giáo, đi ngược lại chủ thuyết độc thần của tổ phụ Abraham. Hồi Giáo và đạo Do Thái là hai đạo Độc Thần đúng nghĩa vì chỉ thờ một Thiên Chúa Duy Nhất (Monotheist Religion = Only-One-God Religion). Công Giáo La Mã thờ ảnh tượng, thờ ba Thiên Chúa, quá tôn sùng bà Maria và các thánh do họ tự phong… do đó Công Giáo là một tà đạo đa thần chứ không phải là đạo Thiên Chúa đúng nghĩa.

Muhammad cũng ghét đạo Do Thái vì Do Thái gọi Thiên Chúa bằng số nhiều Elohim (số nhiều của El). Đạo Hồi gọi Thiên Chúa bằng số ít. Danh từ El trong tiếng Ả Rập là Il. Đi liền với Il có chữ “ah” là một mạo tự (article) trong ngôn ngữ Ả Rập. Vì thế Il thành Il-ah. Khi chuyển sang Anh Ngữ, các chữ I đổi thành A, vì thế Il – ah thành ALLAH (cũng như Ibrahim trong tiếng Ả Rập đổi thành Abraham trong tiếng Anh).

Muhammad gọi chung những người theo đạo Do Thái và Ki Tô Giáo là “Những tín đồ của các sách thánh kinh” (The People/The followers of the Books) hoặc gọi chung là “Những kẻ không tin Thiên Chúa Allah” (The Unbelievers). Riêng đối với các tín đồ Công Giáo, Muhammad gọi là “Những kẻ thờ thần tượng”. (The Idolers).

Trong kinh Koran, Muhammad công khai kêu gọi các tín đồ đạo Hồi Giáo phải chiến đấu chống lại những kẻ theo Do Thái, đạo Ki Tô và tất cả những ai không tin theo đạo Hồi. Trong vùng kiểm soát của Hồi Giáo, bất cứ một ai ngoại đạo đều phải nộp thuế thân và phải chấp nhận một địa vị thấp kém trong xã hội. (Fight those who do not believe God and His Messenger, those who among the People of the Books, fight them until they personnally pay tax on non – Muslims adknowledging their inferiority – Koran, sura 9).

Những người Công Giáo thờ ảnh tượng bị coi là hạng người dơ bẩn và bị cấm vào các đền thờ Hồi Giáo (The idolers are nothing but unclean, so they shall not approach the sacred mosques – Koran 9:28).

Các người Do Thái và Ki Tô bị cấm không được xây nhà thờ mới hay sửa chữa nhà thờ cũ, cấm đeo thánh giá trước ngực, không được đọc kinh to tiếng và cấm ngặt rước kiệu trên đường phố. Người Ki Tô Giáo bị coi là đa thần giáo có thể bị sát hại bất cứ lúc nào. Kinh Koran chương 9 câu 5 đã qui định: “Khi những tháng thánh qua đi, các ngươi hãy giết những kẻ đa thần bất cứ nơi nào bắt gặp chúng, hãy phục kích để bắt chúng” (When the sacred months have passed away then kill the polytheists wherever you saw them, take them captives and wait for them in every ambush – Koran Sura 9: verse 5).

Người Tây Phương gọi những câu thơ nói trên là “Những câu thơ của đao binh” (The verses of the swords). Trong thực tế, những câu thơ của kinh Koran đã tạo nên sự dũng mãnh của những đoàn quân Hồi Giáo trong công cuộc mở mang nước Chúa Allah (The Kingdom of Allah). Chỉ trong một thế kỷ, đoàn quân Hồi Giáo đã chiếm hết Bắc Phi, Trung Đông, một phần Âu Châu và tràn tới Trung Á, tới tận biên giới Trung Quốc. Nhưng đồng thời những câu thơ nói trên cũng đã gây hận thù sâu sắc giữa các tôn giáo anh em và cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến các cuộc thánh chiến.  

                       2. Sự tranh chấp lãnh thổ giữa hai tôn giáo

Từ thế kỷ thứ nhất đến thế kỷ thứ 6, toàn vùng Bắc Phi và Trung Đông thuộc về lãnh thổ của các giáo phái Ki Tô. Nhưng đến đầu thế kỷ thứ 7, đạo Hồi xuất hiện và bành trướng với tốc độ vũ bão chưa từng thấy khiến cả thế giới phải ngạc nhiên.

       Chỉ trong 10 năm kể từ khi Mohammad qua đời, quân Hồi chiếm trọn bán đảo Ả Rập bao la (bằng 4 lần tiểu bang Texas hoặc 8 lần Việt Nam) chiếm các nước Iraq, Syria, Palestine, Ai Cập và phía tây của nước Iran. Hai năm sau, quân Hồi chiếm Bắc Phi, Carthage và Hy Lạp.

       Qua đầu thế kỷ 8 (711 – 716) quân Hồi dám đánh chiếm một nước Âu Châu nổi tiếng sùng đạo Công Giáo, đó là nước Tây Ban Nha. Trong thời gian đó, kỵ binh Hồi Giáo chiếm trọn Ba Tư (Iran) và từ đây xuất quân chiếm hết các nước Trung Á ở phía Nam nước Nga, chiếm trọn vùng Bắc Ấn (tức Pakistan và Afganistan ngày nay) đánh qua biên giới Trung  Quốc và đụng trận với quân nhà Đường trên sông Talas năm 751.)

       Ki Tô giáo bị mất rất nhiều đất và đồng thời cũng mất rất nhiều tín đồ. Tuy nhiên, trong thời gian đó đế quốc La Mã và Ki Tô bị lâm vào tình trạng chia rẽ và suy yếu nên không dám thực hiện một hành vi trả đũa nào cả!

       Đến đầu thế kỷ 11, Ki Tô giáo chia thành hai giáo phái với hai giáo đô thù nghịch nhau. Đó là Công Giáo La Mã (Roman Catholic) đóng đô tại Vatican và Giáo Hội Chính Thống Giáo Đông Phương (The Eastern Orthodox Church) đóng đô tại Byzantine, còn được gọi là Constantinople tức Istambul, thủ đô của Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay.

       Năm 1091, quân Hồi tấn công Byzantine. Hoàng đế Alexius Comnenus đứng đầu Giáo Hội Chính Thống Giáo tuy không ưa Công Giáo nhưng cũng đành phải gửi văn thư chính thức yêu cầu giáo hoàng La Mã đem quân đến cứu giúp. Vatican lúc đó muốn giúp Byzantine thì ít nhưng điều quan tâm hàng đầu là tái chiếm thánh địa Jerusalem để giáo dân toàn Âu Châu được tự do đến đó hành hương. Mối thù lớn nhất của dân Công Giáo Âu Châu đối với đạo Hồi là trong thời gian chiếm đóng Jerusalem, quân Hồi đã triệt phá Nhà Thờ Kính Mộ Chúa (Church of the Holy Sepulchre). Tội triệt phá nhà thờ Mộ Chúa trở thành lý do chính cho cuộc thánh chiến trả thù của Công Giáo. Lý do thứ hai được nêu lên là vụ người Hồi Giáo hành hạ những người Công Giáo Âu Châu đi hành hương ở Jerusalem năm 1076. Những người hành hương sống sót trở về Âu Châu đã kể nhiều chuyện về sự ngược đãi của người Hồi khiến cho dân Âu Châu rất phẫn nộ.

       Tu sĩ Peter Hermit là người hết sức cuồng nhiệt vận động quần chúng tín đồ Công Giáo ở các nước Âu Châu tham gia cuộc thánh chiến chống Hồi Giáo. Các giáo dân Âu Châu vào thời đó đa số là những nông dân thất học và cuồng tín, nhất là giới thanh thiếu niên, trong số đó có rất nhiều trẻ vị thành niên đã mù quáng ghi tên tham gia vào đoàn quân chữ thập. Lịch sử Âu Châu đã gọi đoàn quân chữ thập này là “Đoàn quân Nông Dân” hoặc “Đoàn quân con nít” (Popular Crusade – The Children’s Crusade).

       Vào thời đó, Âu Châu đang ở trong thời đại bóng tối tinh thần (The Dark Age) nên từ vua tới dân, từ các tu sĩ đến các bổn đạo, tất cả đều không có một chút hiểu biết nào về Hồi Giáo, không có một chút kiến thức nào về tình hình chính trị xã hội và địa thế của các nước phương Đông. Sự thiển cận về kiến thức và tinh thần cuồng tín tôn giáo đã mau chóng biến việc tái chiếm Jerusalem khỏi tay quân Hồi thành một khát vọng thiêng liêng vô cùng cuồng nhiệt. Chẳng mấy chốc đã có hàng trăm ngàn nông dân ghi tên, trong số đó có ít nhất là 60.000 trẻ vị thành niên!

CUỘC THẬP TỰ CHINH THỨ NHẤT

 (1096-1099)

 Như trên đã trình bày, sự vận động cho cuộc viễn chinh đầu tiên của đoàn quân Thập Tự khởi đầu từ năm 1091 do sự cầu viện của hoàng đế Byzantine, nhưng mãi tới năm 1096, tức 5 năm sau, mới thực hiện được.

Đoàn quân thập tự gồm hàng trăm ngàn người được điều khiển bởi các hiệp sĩ chuyên nghiệp, xuất phát từ hai nước Ý và Pháp. Đoàn quân của Pháp chia làm hai nhánh: nhánh quân ở miền Bắc tập trung tại Normandie, nhánh quân ở miền Nam tập trung tại Toulouse. Cả hai nhánh này tiến quân thẳng tới Constantinople.

Trên đường hành quân, khi đi ngang qua đồng bằng sông Rhin, đoàn quân thập tự của Pháp đã lùng bắt những người Do Thái rồi đưa họ ra những bãi hoang chém giết tập thể. Hiện nay tại vùng đồng bằng sông Rhin thuôc nước Đức có nhiều nơi vẫn còn ghi dấu bằng những bia đá ghi tên những người Do Thái bị sát hại trong dịp này.

Vào mùa thu năm 1096, một đạo quân thứ ba của Pháp tập trung tại Clairmont đi thẳng đến Rome để kết hợp với 50.000 quân Ý. Sau đó liên quân Pháp-Ý cùng kéo đến Constantinople. Vua và triều đình Byzantine vô cùng ngạc nhiên khi thấy đoàn quân thập tự chỉ là một đám nông dân rách rưới bẩn thỉu và có quá nhiều trẻ vị thành niên ngơ ngác. Vua Byzantine lập tức ra lịnh cho quân đội ngăn chặn không cho đoàn quân ô hợp này vào thành phố. Tuy nhiên, nhà vua cung cấp cho đoàn quân này một số lương thực,thực phẩm và cho quân đội áp tống đám thập tự quân này đến Boporus thuộc miền nam Thổ Nhĩ Kỳ.

Trong lúc đoàn quân thập tự trú đóng tại Boporus thì bị quân Hồi Giáo Thổ Nhĩ Kỳ bất thần tấn công giết chết rất nhiều. Đoàn quân còn lại tiếp tục đi tới Anatolia, một thành phố thuộc phần đất Á Châu của Thổ Nhĩ Kỳ rồi đến bao vây thành phố Hồi Giáo Antioch ở phía cực nam nước Thổ.

Trong lúc đang bao vây thành Antioch, đoàn thập-tự-quân bất ngờ bị quân Hồi Giáo Iraq kéo đến bao vây vòng ngoài từ ngày 21-10-1097 đến ngày 3-6-1098. Đoàn thập tự quân bị kẹt ở giữa vì thành Antioch quá kiên cố không thể xâm nhập, trong khi đó đoàn quân Iraq lại quá hùng hậu nên thập tự quân không thể phá được vòng vây. Sau hơn 5 tháng bị vây hãm quá chặt, thập tự quân cạn hết lương thực nên bị chết đói rất nhiều. Cuối cùng, ngày 3-6-1098, đoàn quân thập tự buộc lòng phải chấp nhận một trận quyết tử để mở đường máu phá vỡ vòng vây của quân Hồi Giáo Iraq.

       Đoàn quân chữ thập tiếp tục lên đường trong hơn một năm mới tới được Jerusalem. Tại thành phố thánh địa này lúc đó có rất ít quân Hồi phòng thủ nên đoàn thập tự quân đã chiếm thành phố thánh địa một cách dễ dàng vào ngày 15-7-1099. Sau khi chiếm Jerusalem, thập tự quân ra lịnh cấm người Hồi Giáo không được leo lên tháp cao ở đền thờ để kêu gọi mọi người đọc kinh, không được ăn chay trong tháng Ramadan, không được xây đền thờ mới, cấm sửa chữa đền thờ cũ. Tất cả những tín đồ Công Giáo cải sang đạo Hồi đều bị tử hình.

       Chỉ trong vòng vài tuần lễ đầu chiếm đóng Jerusalem, đoàn thập tự quân tàn sát những người đàn ông Do Thái và người Hồi Giáo Ả Rập tổng cộng lên đến 30.000 người. Thánh địa của cả ba tôn giáo độc thần biến thành một nhà xác khổng lồ. Lý do là vì số người chết nhiều hơn quân số của thập tự quân tại Jerusalem và không có ai lo chuyện chôn người chết cả. Cho tới năm tháng sau, các cống rãnh và các thung lũng ở Jerusalem vẫn còn sặc mùi hôi thối của các xác chết.

       Cuộc chiến tranh thứ nhất của Thập Tự Quân Công Giáo La Mã (The First Crusade) là một ấn tượng ghê tởm nhất đối với người Hồi Giáo và Do Thái Giáo, và là một bài học kinh nghiệm nhớ đời cho toàn thế giới Hồi Giáo về sự man rợ khủng khiếp của bọn tín đồ Công Giáo cuồng tín.

       Tuy nhiên, cũng do cuộc chiến tranh này mà người Âu Châu đã có cơ hội hiểu biết về thế giới Ả Rập và Hồi Giáo. Họ không ngờ thế giới Hồi Giáo quá rộng lớn, bao trùm một vùng lãnh thổ từ Bắc Phi qua Âu Châu tới tận Viễn Đông. Họ không ngờ Hồi Giáo cũng là một nền văn minh, trong đó có nhiều bộ môn khoa học, toán học, triết học tiến bộ vượt xa Âu Châu. Cũng từ đó, người Âu Châu đã dần dần tự giác ngộ để tự giải thoát ra khỏi thời đại đen tối (The Dark Age).

       Về thành tích giết người tàn bạo của thập tự quân tại Jerusalem trong những ngày đầu của cuộc thánh chiến hiện nay vẫn còn một chứng tích lịch sử độc đáo. Đó là bức thư của vị tướng tổng-chỉ-huy thập tự quân gửi từ Jerusalem về Vatican để báo cáo tin mừng chiến thắng lên Giáo Hoàng Urban II. Bức thư này hiện được lưu trữ tại Văn khố của Tòa Thánh. Trong thư có đoạn viết như sau: “Đức Thánh Cha có biết chúng con đã đối xử với kẻ thù của chúng ta ở Jerusalem ra sao không? Tại cổng thành Solomon và trong Đền Thánh, đoàn kỵ binh của chúng con phải đi qua những vũng máu dơ bẩn của quân Hồi Giáo Saracenes ngập cao đến đầu gối của những con ngựa”. (If You  would know how we treated our enemies at Jerusalem know that in the portico of Solomon and in the Temple, our men rode through the unclean blood of Saracenes which came up to the knees of the horses – Deceptions and Myths of the Bible, by Lloyd Graham, p. 462)

       Kết quả lớn nhất của cuộc viễn chinh đầu tiên của đoàn quân chữ thập là sự hình thành một vương quốc trực thuộc Vatican. Vương quốc này trãi dài 800 km dọc theo bờ biển Địa Trung Hải mang tên “Vương Quốc La Tinh Jerusalem” (Latin Kingdom of Jerusalem) bao gồm: Hai tỉnh Antioch và Edessa ở phía đông nam Thổ Nhĩ Kỳ, nước Syria, nước Liban, xứ Judia và xứ Gallilee, trong đó có thành phố thánh địa Jerusalem.

       Tòa thánh Vatican trực tiếp cai trị bằng cách phong vương cho người đứng đầu vương quốc này. Nhưng thay vì gọi là “vua” của vương quốc, tòa thánh gọi là “Người Bảo Vệ Mộ Chúa” (Protector of the Holy Sepulchre). Vương quốc La Tinh Jerusalem tồn tại được 88 năm (từ 1099 đến 1187) qua 7 đời vua do Vatican chọn lựa và tấn phong. Trong 88 năm cai trị vương quốc Jerusalem, quân thập tự đã tàn sát rất nhiều người Hồi Giáo và Do Thái Giáo, bất kể họ là người già, phụ nữ hay trẻ em. Quân thập tự cũng xây cất rất nhiều pháo đài và lâu đài phòng thủ kiên cố để bảo vệ vương quốc, đến nay vẫn còn những di tích lịch sử để lại tại các nước Trung Đông dọc theo bờ biển Địa Trung Hải.

 CUỘC THẬP TỰ CHINH THỨ HAI

 (1147-1149)

Nguyên nhân dẫn đến cuộc Thập Tự Chinh thứ hai (The Second Crusade) là do biến cố quân Hồi Giáo thuộc giáo phái Sunni từ các nước Ả Rập và Thổ Nhĩ Kỳ tấn công tái chiếm tỉnh Edessa thuộc Vương Quốc La Tinh Jerusalem.

Để thực hiện quyết tâm phục thù, Vatican ra lệnh cho vua Pháp là Louis VII và vua Ý là Courad III phối hợp với nhau tổ chức cuộc Thập Tự Chinh thứ hai. Năm 1147, liên quân Pháp Ý trong đoàn quân chữ thập lên đường đến Thổ Nhĩ Kỳ để chiếm lại Edessa nhưng đã hoàn toàn bị thất bại. Tàn quân rút chạy về phía nam thuộc lãnh thổ Liban và Syria. Đến năm 1949, toàn bộ đám tàn quân nầy bị quân Hồi tiêu diệt tại Damacus (thủ đô Syria ngày nay).

CUỘC THẬP TỰ CHINH THỨ BA

(1190-1192)

Đối với Do Thái Giáo và Ki Tô Giáo thì Jerusalem là thánh địa duy nhất của họ. Đối với Hồi Giáo thì thánh địa quan trọng nhất là Mecca (thủ đô của nước Ả Rập Saudi). Thánh địa thứ hai là Medina, một thành phố cách thủ đô Mecca 250 dặm về phía Bắc. Và Jerusalem là thánh địa thứ ba của Hồi Giáo vì tương truyền rằng Muhammad đã lên trời từ thành phố này.

Quân Thập Tự của Vatican chiếm Jerusalem năm 1096 là một kỷ niệm ô nhục và đau đớn cho thế giới Hồi Giáo. Người Hồi Giáo đã phải nuốt hận chịu đựng trong gần một thế kỷ mới có cơ hội phục thù. Cái nhân của cơ hội phục thù là sự xuất hiện của một nhân vật lừng danh thế giới, đó là vị tướng bách chiến bách thắng Saladin (1137-1193) gốc người Kurd theo giáo phái Sunni. Ông được dân Ai Cập và Syria tôn lên làm vua (Sultan). Nhân vật Saladin trở nên một nhân vật huyền thoại trong nhiều tác phẩm văn chương của các nước Âu Châu thời đó. Quả thật, Saladin đã thu phục được nhân tâm của nhiều dân tộc theo đạo Hồi. Dưới sự lãnh đạo của ông, quân Hồi đã tái chiếm Jerusalem và nhiều phần đất khác của vương quốc La Tinh vào năm 1187. Toàn thế giới Hồi Giáo Ả Rập vui mừng vì thánh địa thứ ba đã được tái chiếm và danh dự của Hồi Giáo đã được phục hồi.

Nỗi vui mừng chiến thắng của Hồi Giáo càng lớn bao nhiêu thì nỗi đau của Vatican và Giáo Hội Công Giáo càng thấm thía ê chề bấy nhiêu. Do rút tỉa kinh nghiệm của những thất bại trước đây, lần này Vatican chuẩn bị chu đáo hơn với sự hội ý của ba ông vua đầy quyền lực tại Âu Châu là vua Pháp, vua Đức và đặc biệt là vua Anh Richard I – người được mệnh danh là “Richard Trái Tim Sư Tử” (Richard The Lion – Hearted).

Cũng xin nói thêm ở đây là Giáo Hội Công Giáo Anh tách rời khỏi giáo quyền của Vatican do vua Henri VIII chủ xướng vào năm 1534. Trước đó, các vua Anh đều thần phục giáo quyền Vatican như hầu hết các vua khác ở Âu Châu. Cuộc thập tự chinh thứ ba có tới 3 hoàng đế Âu Châu điều khiển nên các sử gia thường gọi cuộc thập tự chinh này là “Cuộc Thập Tự Chinh của các vua” (The Crusade of the kings).

Vua Anh Richard I đích thân điều khiển cuộc viễn chinh từ 1190 cho đến khi chiến dịch kết thúc vào năm 1192. Trong hai năm chinh chiến, đoàn quân chữ thập tái chiếm hầu hết lãnh thổ của Vương Quốc La Tinh Jerusalem. Nhưng thành phố quan trọng nhất là thánh địa Jerusalem thì lại không chiếm được. Quân Hồi chặn đứng đoàn quân chữ thập của Richard I tại thành phố Acre ở phía bắc Jerusalem. Trong thời gian trú đóng tại Acre (1191-1192) vua Anh Richard The Lion – Hearted đã ra lệnh chém đầu tập thể trên 3000 người Hồi Giáo Ả Rập. Vụ này đã đi vào lịch sử Hồi Giáo như một bằng chứng về tội ác diệt chủng của Giáo Hội Công Giáo La Mã. (The Cross and The Crescent by Malcom Billing – page 116). Hiện nay, tại Thư Viện Quốc Gia của Pháp (Bibliotheque Nationale) có lưu trữ một bức họa thời Trung Cổ vẽ cảnh Vua Richard The Lion-Hearted ngồi trên khán đài chứng kiến đoàn quân thập tự chém đầu tập thể những người Hồi Giáo. 

CUỘC THẬP TỰ CHINH THỨ TƯ

(1201-1204)

Giáo  Hội Công Giáo La Mã rất thù ghét Giáo Hội Chính Thống là một giáo hội Ki Tô tách rời khỏi giáo quyền Vatican vào giữa thế kỷ 11. Trong thời gian thập tự quân chiếm đóng Jerusalem, các tín đồ đạo Chính Thống ở Âu Châu bị cấm không được đến hành hương thánh địa. Các giáo dân và tu sĩ đạo Chính Thống tại Jerusalem đều bị ngược đãi tàn tệ. Đó là những lý do khiến cho hoàng đế Byzantine và giáo hội Chính Thống không thể ngồi yên trước sự lộng hành của Vatican. Để tránh bị lâm vào cái thế “lưỡng đầu thọ địch”, hoàng đế Byzantine và giáo hội Chính Thống thương thuyết với vua Hồi Giáo Thổ Nhĩ Kỳ, kết quả hai bên đạt tới việc ký hòa ước cam kết không gây chiến tranh xâm chiếm lẫn nhau.

Hòa ước Byzantine – Thổ Nhĩ Kỳ làm cho mối bất hòa giữa Vatican và Chính Thống Giáo càng trở nên sâu sắc. Bọn diều hâu ở Âu Châu lúc đó là các hiệp sĩ (Knights) trong những nước Công Giáo cuồng tín đã lập những kiến nghị yêu cầu tòa thánh Vatican phát động cuộc Thập Tự Chinh Thứ Tư để tiêu diệt đế quốc Byzantine và Chính Thống Giáo. Vatican lợi dụng dịp này ban hành những thông điệp phổ biến cho giáo dân khắp Châu Âu về sự phản bội của Byzantine và Chính Thống Giáo. Cuộc viễn chinh lần này được Vatican ủy nhiệm cho các thủ lãnh hiệp sĩ Ý và Đức thực hiện.

Trên danh nghĩa, cuộc Thập Tự Chinh thứ tư nhằm trừng phạt Byzantine và Chính Thống Giáo nhưng mục tiêu chính là để tiêu diệt một đồng minh tương lai của Hồi Giáo. Cuộc chiến kéo dài trong 3 năm từ 1201 đến 1204, đoàn quân Thập Tự chiếm trọn lãnh thổ đế quốc Byzantine. Vatican đặt tên cho lãnh thổ này là “Đế Quốc La Tinh Constantinople” (The Latin Empire of Constantinople). Vatican chia đế quốc này thành nhiều thái ấp (feuds) và phong chức lãnh chúa cho các hiệp sĩ có công để cai trị các thái ấp đó. Vatican đã biến toàn vùng đế quốc Byzantine xưa kia thành một xã hội phong kiến. Các lãnh chúa thu thuế của dân và trích ra một phần để nộp cho Vatican. Đế quốc La Tinh Constantinople tồn tại được 57 năm (1204-1261).

CUỘC THẬP TỰ CHINH THỨ NĂM

(1217-1221)

 Cuộc thập tự chinh thứ năm không có một nguyên nhân chính trị hay tôn giáo nào mà hoàn toàn do sự bốc đồng của vua Andrew nước Hungary. Hungary chỉ là một nước nhỏ nằm ở giữa Châu Âu. Vua Andrew là người cuồng tín và có quá nhiều ảo vọng quyền lực. Ông ta đã không luờng sức của mình, tự ý thành lập một đạo quân thập tự rồi kéo quân đến tấn công một nước xa xôi là Ai Cập. Ông ta may mắn thành công trong việc chiếm thành phố Dannietta của Ai Cập. Người Ai Cập nhân danh Hồi Giáo thương thuyết với Andrew là nếu nhà vua chịu trả lại thành phố Dannietta cho Ai Cập thì Hồi Giáo sẽ trả lại Jerusalem cho Giáo Hội Công Giáo. Vua Andrew đã kiêu hãnh bác bỏ đề nghị này và kéo quân tiến đánh thủ đô Cairo của Ai Cập. Quân Hồi Giáo Ai Cập hết sức phẫn nộ đã mãnh liệt phản công tiêu diệt hoàn toàn quân xâm lược của Andrew vào năm 1221.

CUỘC THẬP TỰ CHINH THỨ SÁU

(1228-1229)

 Cuộc thập tự chinh lần này do Vatican giao cho vua Đức Frederic II thực hiện để trả thù cho Andrew. Vatican đã cấp cho vua Frederic một ngân khoản rất lớn để võ trang thật hùng hậu cho đoàn quân thập tự. Tuy nhiên, vua Frederic là một nhà quân sự bất tài, đã phạm phải những lỗi lầm nghiêm trọng về chiến thuật nên toàn bộ đoàn quân chữ thập mới đặt chân lên đất Ai Cập đã bị tiêu diệt. Riêng bản thân vua Frederic II bị quân Hồi Giáo Ai Cập bắt sống. Vatican đã phải trả một số tiền rất lớn để chuộc mạng cho Frederic, y được quân Hồi phóng thích cho về nước an toàn.

CUỘC THẬP TỰ CHINH CUỐI CÙNG

(1248-1254)

Lý do dẫn đến cuộc Thập Tự Chinh thứ 7 là vụ quân Hồi đánh chiếm thánh địa Jerusalem vào năm 1244. Vatican trao nhiệm vụ tổ chức cuộc thánh chiến cho vua Pháp Louis IX. Nhà vua tuân lệnh và nhận tiền của Vatican chuẩn bị tổ chức cuộc viễn chinh thập tự lần thứ 7 trong vòng 4 năm.

Năm 1248, vua Louis IX đích thân chỉ huy cuộc viễn chinh, kéo quân qua các nước Syria, Liban, Palestine… Đi tới đâu đều bị quân Hồi phục kích tấn công đến đó. Cuôc chiến dai dẳng không phân thắng bại khiến cho binh sĩ vô cùng chán nản.  Sáu năm sau, đoàn quân thập tự vẫn không tới được Jerusalem. Đến năm 1254, quân Hồi tổng phản công Louis IX phải bỏ chạy, những kẻ sống sót tìm đường trở lại Âu Châu.

Đến năm 1291, quân Hồi chiếm lại tất cả những phần đất đã mất về tay đoàn quân chữ thập trước đây, chấm dứt hoàn toàn Vương Quốc La Tinh Jerusalem sau 195 năm tồn tại.

Cũng xin nói thêm ở đây là trong lịch sử các cuộc viễn chinh thập tự có hai vua Pháp mang tên Louis tham dự. Vua Louis VII bị thất bại nhục nhã trong cuộc thập tự chinh lần thứ hai (1147-1149) và vua Louis IX bị thất bại trong cuộc thập tự chinh cuối cùng (1248-1254). Tuy nhiên, Louis IX đã được lòng Vatican nên ông này đã được Vatican phong thánh. Vì thế, người Pháp không còn gọi Louis IX là vua nữa mà gọi là Saint Louis. Tên của ông đã được dùng để đặt tên cho một thành phố lớn tại Hoa Kỳ vì thành phố này có nhiều người Mỹ gốc Pháp.

NHỮNG ĐIỀU ĐÁNG GHI VỀ CÁC CUỘC THẬP TỰ CHINH

1.    Vấn đề: có bao nhiêu cuộc thập tự chinh?

Khi nghiên cứu về những cuộc viễn chinh của đoàn quân chữ thập thời Trung Cổ, chúng ta sẽ gặp nhiều tài liệu sử học đưa ra những con số khác nhau về những cuộc chiến tranh của thập tự quân. Có tài liệu nói là 6 trận, có tài liệu nói 7, 8 hoặc nhiều hơn. Lý do chính yếu làm cho các sử gia bối rối không thể nêu lên con số chính xác vì cuộc chiến của thập tự quân kéo dài gần 2 thế kỷ (195 năm). Trong thời gian dài dằng dặc đó đã xảy ra nhiều cuộc chuyển quân của thập tự quân giả dạng làm những đoàn người đi hành hương hoặc đoàn người đi buôn bán… nhưng sau đó họ vẫn có thể thực hiện được những cuộc tấn công vào quân Hồi Giáo.

Một điều phức tạp hơn nữa là sau thế kỷ 11, nhiều giáo hội Công Giáo Âu Châu tách rời khỏi giáo quyền Vatican như Chính Thống, Anh Giáo và Tin Lành. Vatican tổ chức những đoàn quân cũng mang danh là Thập Tự Quân đi đàn áp những kẻ ly khai đó. Trường hợp rõ nét nhất là cuộc Thập Tự Chinh lần thứ tư (1201-1204) Vatican đánh chiếm hoàn toàn lãnh thổ đế quốc Byzantine của Chính Thống Giáo. Vậy có nên coi cuộc thập tự chinh này là một trong những cuộc Thập Tự Chinh chống Hồi Giáo hay không? Nhiều sử gia trả lời là có vì mục tiêu chính của Vatican là triệt hạ một đồng minh mới của Hồi Giáo. 

2.    Nhiều con cháu của thập tự quân trở thành Hồi Giáo

Những thập tự quân Âu Châu đến Jerusalem trong cuộc viễn chinh đầu tiên năm 1096, sau mấy chục năm định cư tại đây, họ dần dần hiểu được thực tại và tỉnh ngộ chứ không còn cuồng tín như trước. Vì tại Jerusalem không có phụ nữ Âu Châu nên lính thập tự đều lấy vợ Ả Rập Hồi Giáo. Từ thế hệ thứ hai, thứ ba trở đi, hầu hết con cháu của thập tự quân đều thành người Hồi Giáo. Do đó, khi xảy ra cuộc thập tự chinh thứ hai (1147 tức sau 51 năm) và thập tự chinh thứ ba (1190, tức sau lần thứ nhất gần một thế kỷ) những con cháu của thập tự quân đợt đầu đều rất thù ghét những người Âu đến sau. Họ là những chiến sĩ Hồi Giáo chống đối mãnh liệt nhất những đợt thập tự chinh 2 và 3. 

3. Nạn buôn nô lệ:

Các cuộc chiến tranh của thập tự quân tại Trung Đông đã làm cho tệ nạn buôn bán nô lệ trở thành một kỹ nghệ phát đạt. Cả hai phe Hồi Giáo cũng như thập tự quân đều chú tâm bắt sống tù binh và bắt thường dân ở các vùng chiếm đóng để đem bán tại các chợ ở khắp miền Trung Đông. Các thiếu nữ đẹp luôn luôn là một món hàng đắt giá nhất được các nhà giàu hoặc các quan quyền mua về làm tì thiếp hay nô lệ tình dục. 

4. Giá máu quá đắt cho một chuyện hoang đường.

Trong suốt năm 1095, Giáo Hoàng Urban II đi khắp các nước Công Giáo Âu Châu kích động quần chúng tín đồ đầu quân tham gia đoàn quân thập tự hoặc đóng góp tiền bạc để tài trợ cho cuộc chiến thần thánh nhằm bảo vệ ngôi mộ của Chúa. Nhưng ngôi mộ của Chúa (The Holy Sepulchre) chỉ là chuyện hão huyền vì nó chẳng bao giờ có. Nếu Chúa đã sống lại và lên trời thì làm gì có mộ của Chúa? Còn nếu Chúa đã bị quân La Mã đóng đinh trên thập giá thì theo luật của La Mã là mọi tử tội đã chết trên thập giá phải bị vứt xác ra bãi hoang cho kên kên và chó hoang ăn thịt. Trong lịch sử La Mã tuyệt đối không có chuyện xác tử tội được trao cho người nhà đem về chôn cất tử tế ở trong mồ. Jesus bị quân La Mã xếp vào loại tử tội nguy hiểm chẳng lẽ lại được La Mã dành cho một đặc ân ngoại lệ duy nhất là trao cho người nhà đem về chôn trong mồ hay sao? Chuyện ngôi mộ của Jesus là một chuyện hão huyền của bọn đại bịp. Nhưng câu chuyện hão huyền ấy đã làm đổ máu của ba triệu người, trong số đó có ít nhất là 60.000 trẻ em.

Sử gia Lloyd M. Graham đã viết về vấn đề này như sau: “Chúng ta hãy quan tâm đến những cuộc chiến tranh của Thập Tự Quân, đó là những cuộc chiến tranh khủng khiếp nhằm bảo vệ “ngôi mộ của thánh Chúa mà nó chẳng bao giờ có, thế mà ba triệu người đã bị giết một cách vô ích, trong số đó có sáu mươi ngàn trẻ em”.

(Consider the Crusades, those hellish wars for a “holy sepulchre” that never existed, three million people neeedlessly butchered, among them sixty thousand children – Deception and Myths of the Bible, page 350).

Ba triệu sinh mạng là giá máu quá đắt mà nhân loại đã phải trả cho một chuyện hoang đường của tà đạo đa thần Công Giáo La Mã. Ba triệu người đã tức tưởi chui xuống những nấm mồ có thật chỉ vì một nấm mồ không có thật của một người được mệnh danh là Chúa Cứu Thế!

                                            Charlie Nguyễn

Phải Chăng GS Quang Quá Lo Xa ? (Trần Chung Ngọc)
Quả Đúng Là Chu Tất Tiến (Trần Chung Ngọc)
Thiền Sư Nhất Hạnh
Thư Gửi Bạn: Những Người Tin Có Thiên Chúa (Trần Chung Ngọc)
Thầy Nhất Hạnh

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Mười Hai 19, 2009 in Công Giáo, Hồi Giáo, Tin Lành

 

Thẻ: , ,

Hồi giáo tại Trung Đông

HỒI GIÁO TẠI TRUNG ĐÔNG

Về phương diện địa lý, Trung Đông còn được gọi là Cận Đông (Near East/Middle East) bao gồm một giải đất chạy dài từ phần Á Châu của Thổ Nhĩ Kỳ đến các nước Bắc Phi và Ai Cập.

            Về chủng tộc, Trung Đông gồm có những giống dân Do Thái, Ả Rập, Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ, Kurds, Armenians và Berbers.

            Về tôn giáo, Hồi Giáo chiếm 90% dân số Trung Đông, tức khoảng 300 triệu tín đồ hoặc 1/4  tổng số tín đồ Hồi Giáo trên toàn thế giới. Số còn lại là tín đồ Do Thái Giáo và Ki Tô Giáo.

            Từ đầu thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, nhiều nước Trung Đông bị Anh và Pháp cai trị bóc lột.  Hoa Kỳ không có một thuôc địa nào tại Trung Đông nhưng đã có mặt tại Saudi Arabia từ đầu thế kỷ 20 để khai thác dầu lửa. Thiên nhiên đã đem đến cho Saudi Arabia một món quà tặng khổng lồ, đó là trữ lượng dầu mỏ lớn bằng 1/4 trữ lượng dầu của toàn thế giới.

            Sự có mặt của Hoa Kỳ tại Saudi Arabia không phải là quân đội mà là các công ty khoan dầu trên căn bản hợp tác hai bên cùng có lợi. Tuy nhiên, người Hồi Giáo Ả Rập đã nhìn người Mỹ qua lăng kính khắt khe của Hồi Giáo. Lối sống tự do phóng túng của người Mỹ đã làm cho những người Hồi Giáo bảo thủ khó chịu vì nó đi ngược lại với lối sống khép kín của xã hội đạo Hồi. Không cần phải làm điều gì xâm hại đến xã hội  Hồi Giáo, chỉ riêng sự có mặt của những tư nhân Mỹ tại Saudi Arabia cũng đủ là “Sự gieo rắc chất độc văn hóa Tây Phương” (Westoxification) có tác dụng phá hoại nền tảng luân lý xã hội và gia đình Hồi Giáo.

            Xét về phương diện địa thế, Trung Đông được chia ra làm 3 khu vực rõ rệt:

            1. Khu vực Bắc Phi: Các nước ở phía bắc của Châu Phi Da Đen (Black Africa) gồm có Maroc, Tunisia, Algeria, Lybia và Ai Cập. Đại đa số các dân tộc sống ở vùng này đều là những người da trắng gốc Địa Trung Hải.

            2. Khu vực Cao Nguyên: Các nước ở vùng này được gọi chung là “Các nước ở vùng cao” (Levantine Countries) gồm có Syria, Palestine, Israel, Jordan và Iraq.

            3. Các nước Vùng Vịnh (Gulf Countries) là các nước ở sát Vịnh Ba Tư, gồm có Ba Tư (Iran) Kuweit, Quatar, Saudi Arabia, Yemen, Oman, United Arab Emerald và Baharain.

            Về phương diện văn minh và văn hóa, toàn vùng Trung Đông đã đạt tới đỉnh cao của sự phát triển từ thế kỷ 8 đến thế kỷ 13. Lịch sử thế giới đã gọi những thế kỷ này là Thời Đại Hoàng Kim (The Golden Age) của những người Hồi Giáo Trung Đông. Vào thời đó, những người Ả Rập rất ham chuộng nền văn hóa Hy Lạp và chú trọng đến việc nghiên cứu toán học, thiên văn và khoa học thực nghiệm. Họ đã thực hành lời dạy của Muhammad trong kinh Koran:

            “Ai bỏ nhà đi tìm sự hiểu biết là đi đúng con đường của Chúa. Lạy Chúa! Xin ngài hãy ban thêm sự hiểu biết cho con”.

            (He Who leaves the home in search of Knowledge is walking in the Way of God. Oh my Lord! increase me knowledge – Koran 20: 114)

            Đầu thế kỷ 8, Baghdad thủ đô Iraq xây dựng trường Đại Học đầu tiên trên thế giới. Họ gọi là “Căn nhà của sự khôn ngoan” (House of Wisdom). Baghdad trở thành một trung tâm văn hóa lớn nhất thế giới.

            Năm 800, các tác phẩm của Aristote và Plato đều đã được dịch sang tiếng Arabic và được phổ biến trong toàn vùng Trung Đông.

            Đến giữa thế kỷ 9, các sách y khoa của Hy Lạp được dịch sang tiếng Arabic. Cuối thế kỷ 9, rất nhiều sách dịch về khoa thiên văn và địa lý được phổ biến tại Trung Đông.

            Do các kiến thức học hỏi được từ Hy Lạp, người Ả Rập Hồi Giáo đã phát minh ra máy Astrolable dùng để đo độ cao của các thiên thể. Họ biến chế máy Astrolable thành một thứ địa bàn để các tín đồ Hồi Giáo dù ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng tìm được hướng Mecca để quay mặt về thánh địa khi cầu nguyện. Tại thánh địa Mecca có đền thờ Káaba, tiếng Ả Rập có nghĩa là “Nhà Của Chúa” (House of God). Người Ả Rập tin rằng ngôi nhà của Chúa đã được xây dựng lần đầu tiên bởi tổ phụ Abraham.

            Năm 1166, nhà địa dư học Ả Rập Al-Idrisi là người đầu tiên trên thế giới vẽ bản đồ trái đất hình cầu rất chính xác. Cũng trong khoảng thời gian này, người Ả Rập chế ra đồng hồ quả lắc để coi giờ.

            Trường Đại Học lâu đời nhất và hoạt động liên tục trên 10 thế kỷ là Đại Học Al-Azhar ở thủ đô Cairo của Ai Cập (thành lập năm 970).

            Một ngôi sao sáng ngời trong thế giới toán học là nhà toán học Hồi Giáo Ba Tư Muhammad Ibu Musa. Ông đã phát minh ra một môn toán học nhằm mục đích “Phục Hồi Những Phần Đã Bị Tách Rời” (to restore the broken parts), tiếng Ả Rập gọi là Al-Jabr. Danh từ này được người Hy Lạp phiên âm thành Algebra tức là môn Đại-Số-Học. Môn toán học này được Musa phát minh năm 850.

Đầu thế kỷ 11, một ngôi sao lớn về quang học xuất hiện tại Ai Cập. Đó là nhà khoa học Hồi Giáo Alhazen. Ông chuyên tâm nghiên cứu các sách Hy Lạp về khúc xạ và phản chiếu ánh sáng. Ông là người đầu tiên trên thế giới giải thích hiện tượng cầu vồng và quang phổ. Thế giới khoa học ngày nay tôn vinh ông là ông tổ sáng lập ngành quang học hiện đại.

            Nhờ có những sách y khoa dịch từ tiếng Hy Lạp sang tiếng Arabic trong hai thế kỷ 8 và 9, đến thế kỷ 10, người Hồi Giáo Ả Rập đã phát minh và đóng góp cho nhân loại rất nhiều tiến bộ về y khoa trên nhiều lãnh vực:

            1. Sử dụng Anesthasia trong giải phẩu.

            2. Sát trùng vết thương.

            3. Phát giác việc lây bệnh do sự tiếp cận với người có bệnh và qua đường hô hấp.

            4. Tách rời dược khoa và y khoa thành hai ngành riêng

            5. Do sa mạc thường có bão cát gây đau mắt nên người Ả Rập lập ra ngành nhãn khoa riêng.

            6. Năm 925, nhà khoa học Abu Razi cho in bộ sách “Bách Khoa Tự Điển Y Khoa” đầu tiên trên thế giới. Mãi tới hơn 5 thế kỷ sau tức vào năm 1486, bộ sách này mới được dịch sang tiếng La Tinh để phổ biến tại Âu Châu.

            Về văn chương, bộ chuyện vĩ đại được in thành nhiều chục tập (volumes) nổi tiếng khắp thế giới và đã được dịch ra đủ các thứ ngôn ngữ, đó là chuyện “Ngàn Lẻ Một Đêm”. Đây là một tổng hợp đủ các chuyện thần thoại thời Babylon cổ xưa, các chuyện dân gian Ả Rập (Arab Legends) và pha trộn với những chuyện thần tiên của Ấn Độ (Indian fairy tales).

            Về kiến trúc, người Ả Rập Hồi Giáo là những người phát minh ra cách xây những chiếc vòm nhọn đầu (pointed arch) từ thế kỷ 8 để kiến tạo những chiếc cầu bắc qua sông. Người Âu Châu sau này bắt chước để lập ra lối kiến trúc Gothic.

            Thái độ ham chuộng học hỏi và tôn trọng khoa học của người Hồi Giáo rất đáng được mọi người khâm phục. Thái độ đó hoàn toàn trái ngược với những tội ác tày trời của giáo hội Công Giáo nhằm mục đích tiêu diệt hoàn toàn nền văn minh Hy Lạp.

            Công Giáo La Mã do hoàng đế Constantine lập nên năm 325. Từ đó, giáo hội Công Giáo và đế quốc La Mã ra sức thâu góp các sách của nền văn minh Hy Lạp để thiêu hủy. Toàn bộ các sách của giáo phái Ki Tô lớn nhất thời đó là Gnostic bị đốt, 27.000 cuộn giấy (paprus rolls) có liên quan đến những sách Phúc Âm thật đều bị hủy diệt. Đến cuối thế kỷ 5 hầu như tất cả các sách khoa học, triết học của Hy Lạp đều không còn trên lãnh thổ của đế quốc La Mã và giáo hội Công Giáo. Tội ác của Công Giáo La Mã đã làm cho nền văn minh của nhân loại thụt lùi 15 thế kỷ.

            Người có công sưu tầm và duy trì những cuốn sách quí giá của nền văn minh Hy Lạp để lưu lại cho thế giới chúng ta ngày nay chính là một ông vua Hồi Giáo Ả Rập: Caliph Al-Mamun. Ông lên ngôi tại Baghdad năm 813. Việc đầu tiên là thành lập “Nhà của sự khôn ngoan” (House of Widom). Ông cho người đi khắp nơi tìm kiếm các sách cổ của Hy Lạp mang về Baghdad rồi thuê người Hy Lạp biết tiếng Ả Rập dịch tất cả các sách đó. Trong suốt 20 năm cai trị, vua Al. Mamun đã dồn hết tâm huyết vào công trình văn hóa độc đáo này.  Các nhà trí thức Hồi Giáo ở Trung Đông thời đó nhiệt liệt hoan nghênh sáng kiến của nhà vua và họ đã tiếp tay để biến các thủ đô Hồi Giáo thành những trung tâm văn hóa nổi tiếng như: Alexandria (Ai Cập) Antioch Edessa (Thổ Nhĩ Kỳ) Condova (Tây Ban Nha, lúc này là thuộc địa của đế quốc Hồi Giáo).

            Phong trào ham chuộng kiến thức khoa học của toàn vùng Trung Đông Hồi Giáo kéo dài trong 5 thế kỷ, từ thế kỷ 8 đến thế kỷ 12, đã biến vùng Trung Đông thành một khu vực văn minh nhất thế giới. Trong khi đó, do chủ trương tiêu diệt mọi nguồn văn hóa đi ngược lại giáo lý Ki Tô Giáo, giáo hội Công Giáo La Mã đã đưa Âu Châu đi vào thời đại bóng tối (The Dark Age) từ thế kỷ 5 đến thế kỷ 11. Từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 16, giới trí thức Âu Châu bừng tỉnh và tìm cách làm sống dậy những giá trị của nền văn minh Hy Lạp trong mọi ngành khoa học, triết học, kiến trúc và nghệ thuật… đã bị giáo hội Công Giáo tiêu diệt trước đây.

            Người ta gọi giai đoạn lịch sử này là Thời Phục Hưng (The Renaissance). Danh từ này bắt nguồn từ tiếng Pháp có nghĩa là “sự tái sinh” của một nền văn hóa đã bị bức tử.

            Trong thế kỷ 15, trí thức Âu  Châu mới khám phá ra là kho tàng sách quí của văn hóa Hy Lạp đã được tồn trữ trong các trung tâm văn hóa Hồi Giáo tại Trung Đông. Lúc đó họ mới vỡ lẽ ra rằng: những người Hồi Giáo Ả Rập đã làm những công việc cần thiết để phục hồi nền văn hóa Hy Lạp trước họ tới 7 thế kỷ!

Nhà danh họa Raphael của Ý thuộc thế kỷ 15 đã phải thốt lên những lời biết ơn đối với các học giả Hồi Giáo Ả Rập vì tiền nhân của ông là những người La Mã cuồng tín và thiển cận đã hủy diệt cả một nền văn minh của Cổ Hy Lạp để gây ra một tổn thất vô cùng lớn lao cho nhân loại. Nhưng may mắn thay, vẫn có nhiều tác phẩm quí giá của Hy Lạp còn sót lại được bảo tồn do công lao của các học giả Ả Rập. Ông nói: “Các học giả Ả Rập đã cứu những tác phẩm đó cho chúng ta” (Arab scholars saved those works for us) – (A Muslim Primer, by Ira G. Zepp. University of Kansaa Press 1992, Page 139-165).

            Như trên đã trình bày, Trung Đông Hồi Giáo sống trong thời Hoàng Kim của nền văn minh (The Golden Ages) từ cuối thế kỷ 8 đến đầu thế kỷ 11. Rồi từ đầu thế kỷ 11, những đoàn Thập Tự Quân của Công Giáo La Mã tràn sang tàn phá Trung Đông, với 7 cuộc thánh chiến đẫm máu, khiến cho toàn vùng lâm vào tình trạng suy thoái mọi mặt.

            Cuộc Thập Tự Chinh thứ nhất (1096-1099) tiêu diệt 30.000 người Ả Rập Hồi Giáo và lập nên một vương quốc rộng lớn bao gồm các nước Palestine, Liban, Syria và phía nam Thổ Nhĩ Kỳ. Tất cả được đặt dưới quyền cai trị của một ông vua do Vatican bổ nhiệm. Vương quốc Hồi Giáo bị người Công Giáo cai trị trong 88 năm. Sáu cuộc Thập Tự Chinh kế tiếp diễn ra trong gần 2 thế kỷ tàn phá hầu hết các nước Trung Đông với 3 triệu sinh mạng bị sát hại (1096-1291).

            Tiếp theo đại họa Thập Tự Quân là đại họa Mông Cổ. Từ thế kỷ 14, vùng Trung Đông bị quân Mông Cổ tràn tới tàn phá các thành phố và hủy diệt con người. Baghdad, Damacus… chỉ còn là những đống gạch vụn với những xác chết la liệt trên các nẻo đường.

            Cuối thế kỷ 15, quân Mông Cổ lại tràn tới Trung Đông một lần nữa. Điều mỉa mai là ông vua Mông Cổ lại là một tín đồ Hồi Giáo thuôc giáo phái Sunni. Ông tới để tiêu diệt những người thuộc giáo phái Shiite tại Iran và Iraq. Vì lòng hận thù hẹp hòi giữa các chi phái Hồi Giáo với nhau, quân Mông Cổ Sunni đã giết những người Shiite vô số kể.

Từ năm 1467 đến 1520, đế quốc Hồi Giáo Ottoman của Thổ Nhĩ Kỳ xua quân đánh phá Syria, Ai Cập, bán đảo Ả Rập và các nước Bắc Phi để mở rộng thế lực của giáo phái Sunni, rất nhiều tín đồ Shiite bị giết. Đế quốc Ottoman khống chế Trung Đông từ đó đến đầu thế kỷ 19. Từ thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, nhiều nước Hồi Giáo Trung Đông lần lượt rơi vào vòng nô lệ của thực dân Anh và  Pháp. Tuyệt đại đa số dân chúng Trung Đông mù chữ và toàn xã hội Ả Rập suy thoái về mọi mặt.

Qua bao nhiêu thế kỷ, Ai Cập vẫn được coi là “linh hồn trí thức của thế giới Ả Rập” với dân số 60 triệu người mà mỗi năm chỉ xuất bản vỏn vẹn 375 cuốn sách, bởi vì đại đa số dân mù chữ nên không có ai tiêu thụ món hàng văn hóa này. Trong khi đó Israel chỉ có 6 triệu dân nhưng hầu như cả nước ham đọc sách nên mỗi năm Israel xuất bản ít nhất 4000 đầu sách đề cập đến đủ mọi vấn đề của kiến thức. (Theo Newsweek 15-10-2001, P.26)

Phải chăng một xã hội thất bại đã phát sinh chủ nghĩa khủng bố?

            Dưới cái nhìn của Tây Phương, thế giới Hồi Giáo Ả Rập ở Trung Đông là một xã hội thất bại mà nguyên nhân chính là sự cuồng tín tôn giáo. Trong khi đó, những người Ả Rập Hồi Giáo lại qui hết mọi nguyên nhân thất bại của họ cho Tây Phương. Do đó họ nung nấu lòng thù hận và tổ chức khủng bố để rửa hận. Tất cả mọi hành vi sát nhân tàn bạo của họ, kể cả việc sát hại những người vô tội trong những cuộc khủng bố, đều được biện minh bằng những lời Chúa trong Thiên Kinh Koran. Họ càng căm thù bao nhiêu lại càng trở thành cuồng tín trong niềm tin tôn giáo bấy nhiêu.

            Cuối cùng, xã hội Ả Rập Hồi Giáo Trung Đông đi vào một cái vòng luẩn quẩn không có lối thoát. Sự cuồng tín của giới lãnh đạo và quần chúng làm cho xã hội Ả Rập càng ngày càng khép kín đối với thế giới bên ngoài, đời sống kinh tế suy sụp trở thành lạc hậu. Những người cuồng tín qui trách nhiệm cho Tây Phương là thủ phạm đã gây ra tất cả những thất bại và suy thoái của thế giới Hồi Giáo để họ có lý do gia tăng các hoạt động khủng bố. Nhưng càng gia tăng khủng bố bao nhiêu họ càng bị mất thiện cảm và sự giúp đỡ của thế giới bấy nhiêu. Các xã hội Hồi Giáo cực đoan đều trở thành những khu vực bị cô lập và là đối tượng của một cuộc chiến tranh hủy diệt.

            Ngày nay, trên khắp thế giới hầu như ở đâu cũng có những hoạt động khủng bố, nhưng chỉ tại Trung Đông người ta mới thấy rõ cái sắc thái cuồng tín hung bạo ghê gớm của người Hồi Giáo Ả Rập. Chỉ ở Trung Đông mới là nơi tập trung đông đảo nhất của những Mullahs (học sĩ Hồi Giáo) hung dữ. Trung Đông là nơi có nhiều nhất những vụ biểu tình bạo động, đốt cờ, đốt xe, đốt hình nộm và đặc biệt là những vụ ôm bom tự sát (suicide – bombings).

            Ngoài ra, từ 1980 đến nay, hầu như các vụ đặt bom khủng bố tại các nơi trên thế giới cũng đều có nguồn gốc tại Trung Đông. Tất cả đều do phe Hồi Giáo cực đoan tại Trung Đông (Islamic Fundamentalists) chủ mưu . Do đó, mục tiêu của cuộc chiến tranh tiêu diệt khủng bố mà phe Tây Phương đang theo đuổi không phải là Afganistan hay Philippines… mà chính là toàn vùng Trung Đông Hồi Giáo!

            Làm thế nào để giải thoát sự bế tắc của một xã hội thất bại tại Trung Đông?

 

              Nguyên nhân chính đưa đến sự bế tắc của các quốc gia Hồi Giáo Trung Đông là không có sự phân cách giữa tôn giáo với chính quyền. Thông thường trong những quốc gia sùng đạo, các Mullahs (học sĩ Hồi Giáo) là những nhà lãnh đạo chính trị. Họ nhân danh tôn giáo để hô hào thánh chiến, thực chất là đề cao những hành vi chém giết thô bạo.

            Trong các nước Hồi Giáo sùng tín, người ta không thể phân biệt được ranh giới giáo quyền với chính quyền, cũng không thể phân biệt được đâu là giáo luật và đâu là luật pháp quốc gia.

            Trong thế kỷ 19, nhiều trí thức Hồi Giáo đã nhìn thấy điều đó và họ đã viết sách để lên tiếng đòi cải cách xã hội Hồi Giáo. Một trong những người đó là triết gia Ai Cập  Fouad Zakariya. Theo ông, điều tiên quyết để cứu các nước Hồi Giáo Ả Rập là phải “tách rời đền thờ ra khỏi quốc gia” (Seperation of Mosque from State). Người ta gọi chủ thuyết này là Chủ Nghĩa Thế Tục Hóa Xã Hội (Secularism). Zakariya ca ngợi Phong Trào Khai Sáng (Enlightenment) ở Âu Châu thế kỷ 18 đã giải cứu xã hội thoát ra khỏi sự kìm kẹp của giáo hội La Mã bằng chủ thuyết thế tục hóa để đi tới sự phân lập rõ rệt giữa chính quyền và giáo hội. Chính nhờ đó Âu Châu đã trở nên hùng mạnh và đó là chìa khóa đưa đến một xã hội tiến bộ dân chủ. Mọi chủ trương bảo thủ đều có hậu quả biến Hồi Giáo thành công cụ tạo lập nên những chế độ của các bạo chúa.

            Zakariya dám đưa ra những nhận định táo bạo: Thế giới Ả Rập không thể nào xây d ựng được một xã hội văn minh tiến bộ nếu cứ khư khư giữ lấy những tư tưởng lạc hậu của thời kỳ bộ lạc ở sa mạc vào thế kỷ thứ 7 (thời của giáo chủ Muhammad lập đạo)!

            Ông cũng nêu rõ: dù bất cứ là tôn giáo nào thì luôn luôn tôn giáo cũng chỉ là một sự sùng bái có tính riêng tư của các cá nhân mà thôi. Không ai có quyền đem cái sự sùng bái riêng tư đó áp đặt lên cả quốc gia để buộc mọi người cũng phải sùng bái như họ.

            Cái điều vô lý đó hiện đang xảy ra phổ biến tại các nước Ả Rập. Ông kêu gọi mọi người đứng lên đập tan các chế độ Hồi Giáo bảo thủ để giải phóng xã hội Hồi Giáo lạc hậu.

            Những lời kêu gọi của Fouad Zakariya đã được nhiều chính trị gia hưởng ứng tại Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập và Iran:

            1. MUSTAPHA KEMAL – Ông sinh năm 1881 tại Thổ Nhĩ Kỳ, làm tổng thống đầu tiên của Thổ Nhĩ Kỳ từ 1923 đến 1938. Ông là người đã thực hiện thành công cuộc cách mạng thế tục hóa xã hội Hồi Giáo, chấm dứt đế quốc Ottoman sau gần 5 thế kỷ thống trị. Hoàng đế và toàn bộ triều đình Ottoman đều bị bắt và bị đưa đi đày chung thân. Toàn bộ luật pháp của Hồi Giáo bị xé bỏ. Các trung tâm Hồi Giáo bị đóng cửa. Âm Lịch Hồi Giáo bị thay thế bằng Dương Lịch để hòa đồng cùng thế giới. Năm 1930, quốc hội Thổ Nhĩ Kỳ chính thức chấm dứt chế độ đa thê, hủy bỏ mọi hình thức áp chế phụ nữ như tục lệ đeo mạng che mặt hoặc áo choàng phủ kín toàn thân. Nam giới bị cấm đội mũ Fez theo kiểu Ả Rập Hồi Giáo. Chữ viết theo kiểu Arabic bị thay thế bằng mẫu tự la tinh. Hiện nay không còn ai biết đọc kinh Hồi Giáo viết theo chữ Arabic nữa. Nữ tổng thống đầu tiên của Thổ Nhĩ Kỳ là bà Tanser Ciller trong nhiệm kỳ 1993-1996. Trong thực tế, Thổ Nhĩ Kỳ không còn được coi là một quốc gia Hồi Giáo nữa. Cuộc cách mạng thành công của Mustapha đã giải thoát Thổ Nhĩ Kỳ ra khỏi thế giới đóng kín và thất bại của chủ nghĩa bảo thủ cực đoan Hồi Giáo. Thổ Nhĩ Kỳ hiện là một nước Cộng Hòa tự do dân chủ thật sự và đang phát triển mọi mặt. 

            2. JASMAL NASSER – Ông sinh năm 1918, làm thủ tướng Ai Cập từ 1954 đến 1956. Sau đó, Ai Cập biến thành một nước Cộng Hòa với danh xưng là “Cộng Hòa Ả Rập Thống Nhất”. Nasser được bầu làm tổng thống từ 1958 đến 1970. Ông chủ trương thực hiện chủ nghĩa thế tục hóa (Secularism) bằng cách loại trừ mọi ảnh hưởng của Hồi Giáo ra khỏi chính trị.

            Tuy nhiên, từ đầu thế kỷ 20, tại Ai cập đã có một phong trào Hồi Giáo cực đoan mệnh danh là “Huynh Đệ Hồi Giáo” (Muslim Brotherhood). Phong trào này do Sayid Quitb (1906-1966) sáng lập, chủ trương dùng các thủ đoạn khủng bố để ngăn cản và vô hiệu hóa mọi nỗ lực cải cách xã hội Hồi Giáo. Phong trào xác định các lãnh tụ chính trị theo đuổi chủ trương thế tục hóa là những kẻ tuyên chiến với đức tin Hồi Giáo và vì vậy họ phải chết.

            Năm 1956, Nasser ra lệnh bố ráp bắt hết các đảng viên Muslim Brotherhood. Nhiều đảng viên bị xử tử hình, số còn lại đều lãnh án tù. Tuy nhiên, Nasser đã bị dư đảng của đảng này ám sát chết năm 1990.

            3. HOÀNG ĐẾ BA TƯ REZA PAHLAVI -  Ông là một nhân vật đặc biệt vì sinh ra và lớn lên trong gia đình sùng đạo nhưng đã trở thành một người rất căm ghét đạo Hồi và muốn hủy diệt đạo này. Ông sinh năm 1878, lên ngôi vua năm 1921, cai trị Ba Tư trong 20 năm. Ngay khi vừa lên ngôi, vua Pahlavi đã ra lệnh giải tán Ulama tức “Hội Đồng Các Học Sĩ Hồi Giáo”, một cơ quan cao nhất về tôn giáo tại Ba Tư. Luật Hồi Giáo Sharia bị thay thế bằng luật pháp quốc gia do quốc hội biểu quyết. Các ngày lễ tôn giáo đều bị hủy bỏ. Việc tổ chức đi hành hương thánh địa Mecca bị cấm chỉ. Các phụ nữ không được đeo mạng.  Cảnh sát được lệnh phải tháo gỡ mạng của phụ nữ trên đường phố…

            Năm 1935, những người Hồi Giáo cuồng tín đã xúi giục phụ nữ biểu tình chống chủ trương thế tục hóa của nhà vua. Cảnh sát được lệnh dùng vũ lực giải tán đám biểu tình. Sau nhiều lần cảnh cáo nhưng đám phụ nữ biểu tình vẫn không chịu giải tán, cảnh sát đã nổ súng bắn chết hàng trăm phụ nữ. Trong dịp này, vị giáo chủ cao cấp nhất của Hồi Giáo Ba Tư là Aytollah Muddaris cũng bị ám sát chết.

            Năm 1941, vua Pahlavi truyền ngôi cho con là  Muhammad Reza Pahlavi. Ngay khi tân vương lên ngôi, các học viên thuộc các trường Hồi Giáo (tương tự như các học viên Taliban ở Afganistan) đã biểu tình chống nhà vua. Cảnh sát được lệnh xả súng bắn chết hàng trăm học viên Hồi Giáo trên đường phố. Sau đó, tất cả các trường đào tạo các học sĩ Hồi Giáo trên toàn quốc bị đóng cửa và tất cả các Ulama (the learned men in Islam) đều bị bắt, đa số bị giết, số còn lại đều bị tù. Tân vương Pahlavi cho thành lập một tổ chức mật vụ chuyên việc truy lùng những kẻ muốn khôi phục đạo Hồi tại Ba Tư. Lính mật vụ có quyền tiền trảm hậu tấu, không cần một án lệnh nào của tòa án. Các biện pháp trị an của vua Pahlavi quá mạnh tay nên đã gây quá nhiều bất mãn trong quần chúng.

            Năm 1979, học sĩ Khomeini lưu vong tại Pháp lãnh đạo cuộc khởi nghĩa lật đổ vua Pahlavi thành công. Nhà vua phải bỏ nước chạy trốn ra nước ngoài. Khomeini trở thành tổng thống của một nước Cộng Hòa Hồi Giáo (Islamic Republic). Khomeini là một học sĩ của giáo phái Shiite rất cực đoan và độc tài. Chẳng bao lâu sau, Khomeini mất hết mọi nhiệt tình ủng hộ của quần chúng lúc ban đầu. Dân Iran chợt nhận ra là sống dưới chế độ quân chủ của dòng Pahlavi còn được tự do hạnh phúc hơn nhiều.

            Dưới chế độ “Cộng Hòa Hồi Giáo”, toàn dân bị dồn vào thế bị kìm kẹp bởi các thứ luật lệ của tôn giáo vừa hủ lậu vừa dã man: Bị cáo về một tội trộm thường cũng bị chặt chân, chặt tay. Mọi sinh hoạt ca nhạc hay chiếu phim đều bị cấm. Phụ nữ bị buộc phải mặc áo choàng đen phủ kín từ đầu đến mắt cá chân… Điều nguy hiểm là Khomeini gây hận thù với giáo phái đa số Sunni và đưa cả nước vào một cuộc chiến tranh vô nghĩa. Khomeini chết năm 1989.

Sự cuồng tín của người Hồi Giáo Ả Rập

Như chúng ta đã thấy, chủ nghĩa Thế-Tục-Hóa Xã Hội (Secularism) là một phương thức chính trị đã đem lại sự thịnh vượng cho cả Âu Châu lẫn Hoa Kỳ. Đó cũng là cái chìa khóa bảo đảm nền tự do dân chủ cho toàn dân. Mustapha Kemal thực hiện thành công cuộc cách mạng thế tục hóa xã hội Thổ Nhĩ Kỳ đã biến nước này thành một nước tự do dân chủ và văn minh nhất trong thế giới Hồi Giáo. Trong khi đó, cuộc cách mạng của Nasser tại Ai Cập và những nỗ lực thế tục hóa của hai cha con vua Pahlavi tại Iran đều đã bị thất bại.

            Toàn khối Ả Rập Hồi Giáo với 300 triệu người tiếp tục sống trong vũng lầy lạc hậu và nghèo đói. Tình trạng bất ổn tại Trung Đông có thể gây tổn hại cho nền hòa bình thế giới. Vì thế, nhiều chuyên gia của Liên Hiệp Quốc đã kêu gọi cộng đồng thế giới giúp cho toàn khối Ả Rập Hồi Giáo một số chương trình như sau để cải thiện đời sống quần chúng:

            1. Đô thị hóa xã hội Ả Rập để xóa bỏ hẳn lối sống lang thang trong sa mạc đã có từ nhiều ngàn năm qua.

            2.  Đầu tư đại qui mô vào công cuộc giáo dục giới trẻ nhằm đào tạo những thế hệ Ả Rập mới có khả năng đưa toàn xã hội Ả Rập hòa nhập vào thời đại mới trong cộng đồng nhân loại.

            Chỉ có sự hiểu biết của những thế hệ trẻ mới có khả năng mở rộng tầm nhìn của quần chúng để cứu họ thoát khỏi sự mê hoặc của tôn giáo và sự lừa mị của giới lãnh đạo độc tài.

            Theo thống kê năm 2000, các nước Hồi Giáo Ả Rập ở Trung Đông có một tỷ lệ những người trẻ (dưới 15 tuổi) rất cao:

            -  Saudi Arabia: 43%

            -  Iraq:                                       42%

            -  Palestine:                               45%

            Nếu những lớp người trẻ đó hấp thụ được một nền giáo dục khai phóng, họ sẽ làm thay đổi nếp sống và nếp nghĩ của người Ả Rập.

            Chủ nghĩa tôn sùng bạo lực và chủ nghĩa khủng bố phát sinh chủ yếu do tinh thần cuồng tín tôn giáo. Giáo dục là phương tiện hữu hiệu nhất diệt trừ nạn cuồng tín tôn giáo và do đó sẽ diệt trừ tận gốc nạn khủng bố như hiện nay đang diễn ra khắp nơi trên thế giới. Chỉ có sự giáo dục mới giải thoát tập thể tín đồ thoát ra khỏi vùng bóng tối tâm linh.

            Các nước Hồi Giáo bảo thủ hiện nay đều là những xã hội khép kín, trong đó giới học sĩ ulamas hoàn toàn thao túng đời sống tinh thần của các tín đồ. Cái gọi là sự học vấn của các trường tôn giáo hoặc sự uyên bác của các học sĩ Ulamas thực chất chỉ là một môn học “tán hươu tán vượn” về những điều huyền hoặc của thần học (theology). Thần học của Hồi Giáo cũng tương tự như thần học của Do Thái Giáo hoặc Ki Tô Giáo. Thần học là một môn học đầy tính chất hoang tưởng viển vông nhảm nhí. Càng đi sâu vào thần học, con người càng lún sâu vào “ốc đảo tâm linh” xa rời thực tế và đầy đặc những định kiến sai lầm. Những mảnh bằng “Tiến Sĩ Thần Học” là những giấy chứng chỉ công nhận sự ngu xuẩn của kẻ được cấp. Chỉ đến khi có cơ duyên tỉnh ngộ, kẻ đó mới cảm thấy xấu hổ là đã được cấp những mảnh bằng về thần học mà thôi.

            Thế giới Hồi Giáo Ả Rập ngày nay vì tự ti mặc cảm đã co cụm lại thành những xã hội khép kín. Giới lãnh đạo không muốn dân chúng biết sự thật của thế giới bên ngoài cho nên họ rất căm ghét tất cả mọi phương tiện truyền thông quốc tế. Nhiều nước Hồi Giáo ban hành luật cấm TV, Video, phim ảnh và các sách báo ngoại văn. Trong cuộc họp của Tổ Chức Các Quốc Gia Hồi Giáo OIC (Organization of Islamic Countries) gồm các đại biểu của 56 quốc gia thành viên họp tại thủ đô Mã Lai Kualua Lumpur ngày 27.2.2000, nhiều đại biểu đã hô hào các nước Hồi Giáo đoàn kết để chống lại kỹ thuật tin học Internet vì nó có thể “tiêu diệt các giá trị Hồi Giáo”.

            Nền kinh tế của khối Ả Rập Trung Đông hiện nay không có gì để hãnh diện, ngoại trừ kho dầu mỏ thiên nhiên ở mấy nước vùng vịnh với trữ lượng bằng 1/4 khối lượng dầu của thế giới. Nhưng họ không có kỹ thuật thăm dò mỏ dầu, kỹ thuật khoan mỏ dầu, chuyên chở và lọc dầu v.v… Họ cũng không có độc quyền tăng giá dầu vì các việc tiêu thụ,  phân phối và sản xuất không nằm trong tay họ. Năm 1982, giá dầu thô 40 đô la/1 barrel, đến năm 1998, giá dầu tụt xuống chỉ còn 10 đô la/1barrel! Những mỏ dầu thô đã tạo cho chính quyền các nước Trung Đông một ảo tưởng về quyền lực. Thật sự họ không thể dùng nó để tạo nên một áp lực nào đối với thế giới bên ngoài. Những khoản lợi tức khổng lồ của những mỏ dầu không đem lại lợi ích nào cho quần chúng vì nó đã chui hết vào túi của giới lãnh đạo bất tài và tham nhũng. Chẳng những thế, giới lãnh đạo còn nhân danh Allah và tiên tri Muhammad để tước đoạt những quyền tự do chính đáng của người dân. Tại các nước Bahrain, Jordan, Maroc… và thậm chí ở hai nước nổi tiếng giầu có vì dầu hỏa là Koweit và Saudi Arabia… phụ nữ không có quyền đi bầu. Đại đa số dân Ả Rập đều đang kéo lê cuộc sống du mục lạc hậu như thời Muhammad lập đạo tại sa mạc Syro-Arabia vào thế kỷ 7 hoặc như tổ phụ Abraham ở vùng đất hứa Canaan cách đây 4000 năm vậy!

            Thiên Chúa luôn luôn được các phe động viên trong cuộc thánh chiến hiện nay giữa Do Thái và các nước Ả Rập.

            Thánh kinh Cựu Ước được mọi tôn giáo như Do Thái, Ki Tô và Hồi Giáo công nhận. Một trong những chuyện nổi tiếng trong Cựu Ước là chuyện Đại Hồng Thủy. Kinh Thánh kể rằng: Sau cơn đại hồng thủy tiêu diệt hết mọi sinh vật trên trái đất, loài người vỏn vẹn chỉ còn lại gia đình của ông Nô-e mà thôi. Người con út của ông Nô-e tên Shem sau này trở thành tổ tiên của các dân tộc Do Thái-Ả Rập. Do đó, mọi người Do Thái và Ả Rập đều có một cái tên chung là chủng tộc Semites. Danh từ này có nghĩa là “con cháu của ông tổ Shem” (Semites = descendants of Shem).

            Mới đây, các nhà nhân chủng học đã làm nhiều cuộc thử nghiệm DNA tại các nước Trung Đông. Kết quả xác nhận các người Ả Rập, Do Thái, Ba Tư, Iraq, Syria, Liban v.v… đều cùng chung một chủng tộc. Như vậy, truyền thuyết về các dân tộc Ả Rập Do Thái cùng chung một ông tổ Shem như chuyện kể trong kinh Thánh đã tỏ ra là đúng với thực tế.

            Họ quả thật là “anh em” với nhau. Cũng như người Do Thái thường gọi nhau là “Ben-Adam” có nghĩa là “anh em” cùng một ông tổ Adam mà ra. Nhưng khi Adam và Eva mới sinh ra được hai thằng con trai là Cain và Abel, lúc đó toàn thể dân số nhân loại chỉ có 4 người, thì Cain đã ra tay giết chết thằng em vì một chuyện cãi nhau vớ vẩn. Chuyện Cain giết Abel đã trở thành câu chuyện mang tính chất biểu tượng cho sự chém giết nhau giữa những người anh em cùng chủng tộc hoặc những anh em cùng thờ Chúa.

            Những người Do Thái và Ả Rập đã chém giết nhau rất nhiều phen kể từ khi Israel trở thành vương quốc, với vị vua đầu tiên là Saul, vào năm 1025 trước công nguyên. Vương quốc Israel tồn tại đến năm 70 sau Công Nguyên thì bị quân La Mã kéo đến san bằng và tàn sát người Do Thái vô số kể.  Do đó, người Do Thái phải bỏ nước ra đi lang thang khắp nơi trên thế giới. Từ thế kỷ 4 đến đầu thế kỷ 20, người Do Thái tại các nước Công Giáo ở Âu Châu đã bị kỳ thị và bị sát hại rất nhiều, nhất là trong thời Trung Cổ. Trong Thế Chiến thứ hai, Do Thái bị Đức Quốc Xã sát hại 6 triệu người.  Do đó, sau Thế Chiến II, Liên Hiệp Quốc đã thực hiện kế hoạch cho những người Do Thái trên khắp thế giới trở về “cố hương” để tái lập quốc gia.

            Năm 1948, quốc gia Do Thái được thành lập trên phần đất của người Palestine đang sinh sống. Sự lập quốc Do Thái đã khiến cho hàng triệu người Palestine trở thành những người vô gia cư (homeless). Sự bất mãn của những người Ả Rập Hồi  Giáo bắt đầu từ đó.

            Theo lệnh của Liên Hiệp Quốc thì Do Thái không được chiếm thành phố Jerusalem vì  thành phố này là thánh địa chung của cả 3 tôn giáo: Do Thái, Ki Tô và Hồi.  Nhưng vào năm 1967,  Israel đã xua quân chiếm thành phố Jerusalem làm thủ đô của riêng mình. Vụ này đã làm cho toàn thế giới Hồi Giáo phẫn nộ. Từ năm 1970 trở đi, thế giới Hồi Giáo tổ chức Hội nghị hàng năm để kêu gọi toàn thể các tín đồ Hồi Giáo đoàn kết chống lại Israel để giải phóng thánh địa Jerusalem.

            Israel đã vin vào Thánh Kinh Cựu Ước, công khai tuyên bố không bao giờ chịu rút khỏi Jerusalem vì đó là “một sứ mạng tôn giáo” (a religious mission). Nước Israel là bất khả xâm phạm vì đó là “Israel của Thánh Kinh” (Biblical Israel). Lịch sử của Do Thái là lịch sử của Thánh Kinh Cựu Ước. Do đó, đối với người Do Thái, quốc gia và tôn giáo là một. Chết vì nước cũng là chết vì Chúa của đạo Do Thái. Người Do Thái sống trong hiện tại với những chứng tích của lịch sử. Tâm linh của người Do Thái trong hiện tại luôn luôn gắn bó với tâm linh dân tộc trong lịch sử. Đó là lý do khiến người Do Thái đoàn kết và kiên cường trong chiến đấu.

            Cuộc chiến tranh hiện nay giữa Do Thái và những người Ả Rập Hồi Giáo là một cuộc chiến tranh vì lịch sử và vì tôn giáo. Chúng ta hãy nghe lời lập luận của một thường dân Palestine ở ngoại ô thành phố Jerusalem. Anh Ibrahim Hussein, 48 tuổi, trả lời ký giả Mỹ trong một cuộc phỏng vấn tháng 3/2002 như sau: “Nếu ông đào xới bất cứ chỗ nào ở vùng này ông cũng tìm thấy những dấu tích của lịch sử. Và nếu ông là một người Do Thái thì bất cứ lúc nào ông cũng có thể vin vào những dấu tích đó để nói rằng đây là đất thuộc về lịch sử của Do Thái. Nhưng người Do Thái chỉ có thể vin vào lịch sử 3000 năm của họ. Còn chúng tôi, con cháu của những người Canaanites, đã định cư ở đây trước người Do Thái 4000 năm, nghĩa là tổ tiên của người Ả Rập đã có 7000 năm lịch sử tại nơi này!” (Houston Chronicle March 31.2002)

            Ý kiến chung của những người Ả Rập luôn luôn kết tội Israel là kẻ gây chiến vì Israel đã đến chiếm đất của người Palestine và dùng bạo lực đuổi họ ra khỏi nơi cư trú hợp pháp lâu đời của họ. Trong khi đó, người Do Thái luôn luôn đem Thánh Kinh và Thiên Chúa ra làm chứng cho quyền sở hữu của mình. Họ nói vùng Tây Ngạn sông Jordan(West Bank) hiện có 3 triệu dân Palestine cư trú, chính là hai tỉnh Judea và Samaria của Do Thái trong Thánh Kinh Cựu Ước.

            Người Do Thái chiếm thành phố Hebron ở phía nam Jerusalem, viện cớ Hebron là nơi có mộ của tổ phụ Abraham, mặc dầu không một ai có thể xác định mộ của ông ta nằm ở chỗ nào!

            Người Do Thái cũng chiếm luôn thung lũng Kindron ở ngoại ô Jerusalem (Kindron Valley) vì thung lũng này hết sức quan trọng. Cả ba đạo thờ Chúa là Do Thái, Ki Tô và Hồi Giáo đều tin rằng: đến Ngày Phán Xét Cuối Cùng, tất cả mọi người sống và người chết (sống lại) đều tập trung tại thung lũng Kindron để được Thiên Chúa xét xử lần cuối cùng. Kẻ lành lên Thiên Đàng đời đời, còn kẻ dữ (là kẻ chẳng có đạo) sẽ bị đày xuống hỏa ngục muôn đời muôn kiếp.

            Đọc tin tức báo chí đến đây tôi liên tưởng đến sự ước tính của Giáo Sư  Trần Chung Ngọc trong sách “Chúa Giê-xu là ai? Giảng dạy những gì?” Giao Điểm xuất bản, Xuân 2002, trang 167-169: Ngày Phán Xét Cuối Cùng là ngày Chúa xét xử cả người sống lẫn các người đã chết từ xưa tới nay. Những người sống hiện nay là 6 tỷ. Nếu Chúa cho tất cả mọi người chết sống lại thì ước tính độ 44 tỷ người. Tổng cộng tất cả mọi người được Chúa xét xử sẽ là 50 tỷ. Nếu Chúa xét xử theo phương pháp siêu tốc mỗi người một giây thì thời gian cần thiết phải có là 1500 năm mới xử xong 50 tỷ người! Đó là về thời gian xét xử, còn về nơi xét xử là thung lũng Kindron không biết rộng bằng nào. Nhưng cho dù thung lũng Kindon lớn rộng bằng cả nước Việt Nam chăng nữa cũng không thể nào chứa được 50 tỷ người trong phiên xử vĩ đại của Chúa!

            Kinh Thánh Do Thái nói rất nhiều đến ngày Phán Xét Cuối Cùng của Chúa tại thung lũng Kindron. Nhưng nếu đọc các sách Phúc Âm sẽ thấy Gioan Baotixita và Jesus còn nói về ngày Phán xét nhiều hơn nữa. Trong niềm tin của những người Ki Tô Giáo (Công Giáo, Chính Thống, Anh Giáo và Tin Lành) thì ngày Phán Xét Cuối Cùng chính là ngày Chúa Jesus Tái Lâm (Cơ Đốc Phục Lâm) và cũng là Ngày Tận Thế, Ngày Nước Chúa Trị Đến vĩnh viễn trên thế gian… Như vậy, vị chánh án của phiên xử cuối cùng vĩ đại này không ai khác hơn là chính Chúa Jesus.

            Hơn một tỷ tín đồ Hồi Giáo cũng có niềm tin xác tín về ngày Phán Xét Cuối Cùng tại thung lũng Kindron như niềm tin của những người Do Thái và Ki Tô. Nhưng vị chủ tọa phiên xử là Thiên Chúa  Allah. Ngay chương mở đầu của kinh Koran đã xác định điều đó: “Nhân danh Thiên Chúa Allah, Đấng chủ tọa của ngày Phán Xét Cuối Cùng” (In the name of Allah, Master of The Day of Last Judgement – Koran 1:4)

            Người Do Thái càng vin vào Thánh Kinh là sách ghi Lời Chúa để biện giải cho các hành vi chiến tranh của mình bao nhiêu thì người Ả Rập Hồi Giáo cũng vin vào kinh Koran để cổ vũ  người Palestine và toàn khối Ả Rập phải quyết tâm tận diệt Do Thái bấy nhiêu.

            Ngay từ khi Đạo Hồi được thành lập vào đầu thế kỷ 7, Muhammad đã kêu gọi tín đồ tẩy chay những người Do Thái và Ki Tô:

            “Hỡi các tín đồ! Đừng bao giờ làm bạn với bọn Do Thái và Ki Tô. Bất cứ ai làm bạn với chúng, sẽ trở thành một kẻ bất chính trong bọn chúng. Thiên Chúa không bao giờ dẫn đường chỉ lối cho những kẻ bất chính”

            (Oh you who believe! Do not take the Jews and the Christians for friends and who amongst you take them for a friend then he is one of them. Allah does not guide the unjust people – Koran 5: 51)

            Ngày 21-7-2001, chính quyền Palestine của Arafat  phổ biến trên các phương tiện truyền thông một bản thông cáo chính trị nhưng được mệnh danh là “Giáo lệnh số 4″ (Religious teaching No.4): “Thiên Chúa cấm chỉ thừa nhận sự hiện hữu một quốc gia Israel và ngài ra lệnh phải tiêu diệt nó.”

            Để cụ thể hóa mệnh lệnh này, chính quyền Palestine đã đưa ra 8 điều sau đây:

1.  Xác nhận Do Thái là kẻ thù của Thiên Chúa.

2.  Toàn thể Hồi Giáo phát động thánh chiến để chống lại Do Thái.

3.  Tiêu diệt Do Thái là một nghĩa vụ tôn giáo.

4.  Palestine chiến đấu tại tiền tuyến, thế giới Hồi Giáo là hậu phương yểm trợ tiền tuyến.

5. Toàn thể lãnh thổ Israel phải thuộc về Palestine. Bất cứ ai cắt đất của Palestine cho Do Thái đều phải sa hỏa ngục đời đời kiếp kiếp.

6.  Mọi thỏa ước ký kết với Do Thái đều chỉ có giá trị chiến thuật tạm thời.

7.  Bất cứ ai trốn tránh nghĩa vụ thánh chiến chống Do Thái sẽ bị Chúa trừng phạt.

8.  Sự tiêu diệt hoàn toàn Israel là một sự bảo đảm tuyệt đối nhân danh Thiên Chúa Allah”.

Trong công báo chính thức của chính quyền Palestine (Al-Jadila) ngày 18-5-2001 có đăng một bản Huấn thị của chính phủ, trong đó có câu: “Ngày của mọi người chết sống lại để dự phiên xử cuối cùng sẽ không xảy ra cho đến khi nào người Hồi Giáo gây chiến tranh chống Do Thái và tiêu diệt chúng” (The Day of the Resurrection will not arrive until the Muslims make war against the Jews and kill them).

Một viên chức cao cấp của Bộ Tư Pháp Palestine xuất hiện trên màn ảnh truyền hình ngày 13-10-2001 kêu gọi nhân dân Palestine: “Do Thái là kẻ nói láo và khủng bố. Cho nên điều cần thiết là phải giết chúng theo lời Chúa. Cấm không ai được thương xót chúng. Đừng thương xót, hãy giết chúng ở khắp mọi nơi” (The Jews are the liars and terrorists. Therefore it is necessary to slaughter them according to the Words of God. It is forbidden to have mercy in your hearts for the Jews. Have no mercy on them and murder them every where) – (Fast Facts on Islam, by John Weldon and John Ankerberg. Harvest House Pub. 2001, P. 135-137).

                                                                                                    Charlie Nguyễn

Đọc Thêm

Nhân Đọc Bài “Nhà Chúa hay Nhà Chùa” của LM Thiện Cẩm (Trần Chung Ngọc)
Nhân Đọc Bài “Niềm Tin …” Của Trần Thị Hồng Sương – 2 (Trần Chung Ngọc)
Nhân Đọc Bài “Niềm Tin …” Của Trần Thị Hồng Sương -1 (Trần Chung Ngọc)
Nhân Đọc Mấy Câu Trả Lời của Ông Mục Sư NQM (Trần Chung Ngọc)
Phiếm Luận Về “Phê Bình Và Đối Thoại” (Trần Chung Ngọc)

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Mười Hai 19, 2009 in Hồi Giáo

 

Thẻ:

KINH KORAN – Charlie Nguyễn

TÌM HIU KINH KORAN

Đối với đại khối các dân tộc Ả Rập, nguyên bản bằng ngôn ngữ Arabic của kinh Koran là một kiệt tác phẩm thi văn. Kinh Koran không hẳn là một cuốn thơ trường thiên nhưng là một tác phẩm văn xuôi có vần có điệu (poetic rhymed prose) rất thích hợp với khẩu vị văn chương của những người du mục ở nơi hoang dã. Chính vì vậy mà kinh Koran đã mau chóng được truyền bá qua truyền khẩu rộng khắp bán đảo Ả Rập (lớn gấp 8 lần Việt Nam).

            Về phương diện tâm linh, kinh Koran là sự nối kết những dòng tư tưởng về một tôn giáo độc thần khởi đầu từ tổ phụ Abraham, qua Mai-sen (Moses) qua Jesus đến thiên sứ cuối cùng là Muhammad. Từ 2000 năm trước Công Nguyên, những người Ả Rập đã biết đến Thiên Chúa của Abraham mà họ gọi là Allah. Điều đó có nghĩa là họ đã thờ Allah từ 27 thế kỷ trước khi có Muhammad và đạo Hồi. Qua nhiều thế kỷ tiếp xúc với văn hóa Do Thái, người Ả Rập đã rất quen thuộc với các nhân vật của kinh Thánh Cựu Ước. Từ thế kỷ 1 đến thế kỷ 7, người Ả Rập tiếp xúc với những người Ki Tô Giáo thuộc đế quốc Byzantine rộng lớn và từ những nước lân bang như Syria, Ai Cập và Ethiopia… Mặc dù rất ít người Ả Rập lúc đó theo Ki Tô Giáo nhưng cũng không cảm thấy xa lạ với Jesus và Gioan Baotixita.

            Đọc kinh Koran, chúng ta sẽ thấy những nhân vật quan trọng của hai đạo Do Thái và Ki Tô được Muhammad thường xuyên nhắc tới. Kinh Koran là một tổng hợp những kiến thức tôn giáo đã tiềm tàng sẵn trong đại khối các dân tộc Ả Rập. Sự tổng hợp đó được gọi là Islam, có nghĩa là sự tuân phục tuyệt đối vào Thiên Chúa. (Islam means the absolute submission to God). Người Trung Quốc phiên âm “Islam” thành “Hui” (Hồi) và gọi đạo này là “Hui-jao” tức Hồi Giáo. Kinh Koran trở thành Thánh Kinh (The Holy Book) hoặc sách Mặc Khải (Book of Revelation) của Hồi Giáo.

            Đáng lẽ ra đạo Do Thái, đạo Ki Tô và đạo Hồi đều cùng thờ chung một Chúa thì phải có chung một Kinh Thánh duy nhất mới phải. Trong thực tế, mỗi đạo đều có Thánh Kinh riêng và đạo nào cũng tự cho Thánh Kinh của mình mới là chân lý tuyệt đối. Cả 3 đạo đều tự cho Thánh Kinh của mình là những “sách Mặc Khải”.

            – Kinh Torah (Cựu Ước) được Thiên Chúa mặc khải cho Thánh Mai-sen (Moses) khoảng năm 1250 TCN trên núi Sinai.

            – Các sách Tân Ước/Phúc Âm là các sách Thiên Chúa mặc khải cho Thánh Phao Lô và bốn vị Thánh Sử: Matthew, Mark, Luke và John trong thế kỷ 1.

            – Kinh Koran là sách Thiên Chúa mặc khải cho tiên tri Muhammad qua trung gian của thiên thần Gabriel trong 22 năm liên tục (610-632).

            Trước khi có kinh Koran, người Ả Rập có mặc cảm là một chủng tộc thiếu văn hóa và họ tỏ ra trọng nể người Do Thái và Ki Tô. Cho nên, trong ngôn ngữ Ả Rập có danh từ “Dhimmi” để gọi chung cho Do Thái và Ki Tô. Danh từ này có nghĩa là “những người có sách Thánh Kinh” (People of the Books).

            Sự xuất hiện kinh Koran vào đầu thế kỷ 7 đã đem lại cho các dân tộc Ả Rập một niềm tự hào vì từ nay họ có Thánh Kinh viết bằng tiếng Ả Rập. Họ đón nhận đạo Hồi là đạo của dân tộc chứ không phải là đạo ngoại lai. Kinh Koran và đạo Hồi là hai yếu tố quan trọng đem lại sự hứng khởi tinh thần và là chất keo văn hóa nối kết các bộ lạc Ả Rập lại với nhau và biến đại khối Ả Rập thành một lực lượng chính trị và quân sự hùng mạnh trong nhiều thế kỷ.

I . Công việc biên soạn Kinh Koran.- 

            Khác với Cựu Ước được viết theo lối văn lịch sử kinh Koran được viết theo lối văn kể chuyện thông thường (oral recitation). Tổng cộng có 114 chương (suras/chapters) gồm 6616 câu thơ (verses).

            Sự phân phối các câu thơ trong các chương không đều nhau. Chương dài nhất có 287 câu thơ, chương ngắn nhất chỉ có 3 câu mà thôi. Mỗi câu thơ cũng dài ngắn bất thường: Câu thơ dài nhất chiếm tới nửa trang sách, câu ngắn nhất chỉ có 2 chữ! Phần lớn kinh Koran (85 chương) được Muhammad viết tại Mecca, còn lại 29 chương viết tại Medina. Muhammad viết Koran trên lá cọ khô và trên những tấm da súc vật phơi khô.

            Sau khi Muhammad chết vào năm 632, phần lớn các bản chép tay nói trên bị thất lạc hoặc phân tán rải rác nhiều nơi. Mọi người cảm thấy nguy cơ có thể làm cho cuốn Thánh Kinh của họ bị tiêu vong nếu không gấp rút sưu tầm và thu hồi các nguyên bản của Muhammad. Sau đó, cần phải có người tài giỏi biên tập tất cả các nguyên bản thành một cuốn Thánh Kinh duy nhất.

            Để đáp ứng nhu cầu của các tín đồ Hồi Giáo, người có thẩm quyền đầu tiên đứng ra lo việc này là Abu Bakr (632-634). Ông vừa là cha vợ vừa là người đầu tiên kế vị Muhammad (the first caliph) và cũng là vị vua Hồi Giáo đầu tiên thống nhất bán đảo Ả Rập để biến nơi này thành điểm xuất phát bành trướng Hồi Giáo ra khắp thế giới. Abu Bakr giao cho một thanh niên 22 tuổi tên Zayd đi sưu tầm và gom góp các thủ bản của kinh Koran do Muhammad viết tập trung tại Medina.

            Công việc đang được tiến hành tốt đẹp thì Abu Bakr qua đời. Các tài liệu do Zayd thu thập đều được chuyển giao cho vị vua Hồi Giáo kế nhiệm là Umar Khattab. Vị vua này là một nhà quân sự đại tài, chỉ trong 10 năm (634-644) đã mở rộng lãnh thổ của Hồi Giáo ra toàn vùng Trung Đông và Bắc Phi. Vì quá mải mê lo việc quân sự nên vị vua này đã bỏ quên công việc biên tập kinh Koran. Hậu quả nghiêm trọng là ở những địa phương khác nhau người ta truyền miệng những câu thơ của Kinh Koran khác nhau và sự tranh cãi về tính trung thực của kinh Koran càng ngày càng trở nên gay gắt và hổn loạn. Các cuộc tranh cãi này đã dẫn đến cuộc “thánh chiến” giữa hai phe Hồi Giáo tại Nehavand, gây cảnh thịt rơi máu đổ trong 7 năm (650-657).

            Vị vua kế nghiệp thứ ba (the third caliph) là Uthman (644-657) chú tâm đến việc phục hồi kinh Koran. Năm 652, Uthman giao cho Zayd và 3 người phụ tá nhiệm vụ biên tập các bản thảo của Muhammad thu hồi được thành một cuốn sách duy nhất. Sau 5 năm, nhóm biên tập của Zayd hoàn thành nhiệm vụ. Năm 657, tức 25 năm sau khi Muhammad qua đời, vua Uthman công bố bản kinh Koran do Zayd biên tập và gọi nó là “MUSHAF” có nghĩa là “Kinh Thánh chính thức của mọi người Hồi Giáo” (The Official Codex for all Muslims).

            Ban biên tập của Zayd chép cuốn Kinh Thánh này thành 4 bản giống nhau để lưu trữ tại 4 thành phố: Medina, Basra và Kufa (Iraq) và tại Damacus (Syria).

            Sau đó, Uthman ra lệnh tiêu hủy toàn bộ các bản viết tay của Muhammad trên lá cọ và da thú vật. Công việc này tương tự như hành động của Hoàng Đế La Mã Constantine ra lệnh thiêu hủy toàn bộ các sách thánh kinh và các di tích thật của Jesus sau Công Đồng Nicaea năm 325.

            Do sự thiêu hủy các bản viết tay của Muhammad theo lệnh của vua Uthman đã không được thi hành triệt để nên ngày nay người ta đã thu thập được 5 bản chính viết trên da súc vật:

-2 bản hiện lưu trữ tại thư viện Taskhent ở Uzebekistan.

-1 bản lưu trữ tại thư viện Tpokabi Thổ Nhĩ Kỳ.

-1 bản tại bảo tàng viện London.

-1 bản mới tìm thấy tại Yemen năm 1979.

So sánh các bản chính nói trên với Kinh Koran do Uthman công bố năm 657, người ta đã phát giác có nhiều sự khác biệt.  Các học giả nghiên cứu về Hồi Giáo xác nhận: Việc Uthman ra lệnh tiêu hủy các bản viết tay của Muhammad là một tổn thất hết sức nặng nề cho Hồi Giáo. Năm bản viết tay trên da súc vật mà ngành khảo cổ đã thu thập được cũng đủ xác minh một sự thật đáng buồn: Zayd và ban biên tập của ông ta có thể đã không thu thập đầy đủ các thủ bản của Muhammad, khi chép lại có thể đã bỏ sót một số câu thơ của kinh Koran và cuối cùng không có gì bảo đảm là Zayd và ban biên tập đã không tự ý sửa đổi Kinh Koran theo ý riêng của mình.

            Tuy nhiên, hầu hết các tín đồ Hồi Giáo hiện nay đã không nêu lên những vấn đề nói trên. Họ vẫn tin rằng bản kinh Koran bằng tiếng Arabic do vua Uthman công bố năm 657 là kinh Koran do Thiên Chúa Allah mặc khải cho Muhammad.

II . Sơ lược nội dung Kinh Koran.- 

Những chương đầu tiên của Kinh Koran nói về Thiên Chúa Allah với những đặc tính siêu việt của Ngài. Vì đạo Hồi là đạo Thiên Chúa thứ ba, xuất hiện sau đạo Do Thái và đạo Ki Tô nên đạo Hồi đã in đậm những dấu ấn đức tin của hai đạo Thiên Chúa đàn anh. Tôi đã trình bày đầy đủ vấn đề này trong bài  “Ảnh hưởng thần học Do Thái -Ki Tô trong đức tin Hồi Giáo”. (Xin đọc  “Thực chất đạo Công Giáo và các đạo Chúa”, Giao Điểm xuất bản – Xuân 2003, trang 201-232). Ngoài Thiên Chúa ra, Kinh Koran dạy phải tin có các thiên thần và ma quỉ (Satan), tin các sách Mặc Khải của đạo Do Thái và Ki Tô cùng các vị thiên sứ, tin có ngày tận thế và ngày phán xét cuối cùng, tin mọi kẻ chết đều được sống lại, tin có Thiên Đàng Hỏa Ngục, tin mọi việc do Thiên Chúa Allah tiền định nhưng mọi người có ý chí tự do.

            Tất cả các điều này đã được trình bày đầy đủ qua 32 trang sách dẫn chiếu, vậy tôi xin miễn nhắc lại ở đây.

Khác với Cựu Ước và Tân Ước chỉ đề cập đến vấn đề thiêng liêng hoặc lịch sử, Kinh Koran đồng thời cũng là một bộ luật đầu tiên và cao nhất của Hồi Giáo. Thí dụ:

-  Cấm cho vay nặng lãi (Koran 2:275)

- Cấm ăn thịt heo, thịt đã cúng các thần khác, cấm ăn máu (tiết canh, huyết) Koran 5:3.

- Cấm cờ bạc, Koran 5:90

- Cấm săn bắn trong thời gian hành hương Mecca (Koran 5:93).

- Phải ăn chay trong tháng Ramadan (Koran 2:182).

- Phải rửa chân tay sạch sẽ trước khi cầu nguyện (Koran 5:6).

- Cấm giao hợp với đàn bà có tháng (Koran 2:221).

Trước khi có kinh Koran, phụ nữ Ả Rập giàu có thường lấy nhiều chồng và đa số là những người đàn ông trẻ khỏe. Kinh Koran khẳng định quyền ưu thắng của đàn ông (Koran 4:34) và chính thức bãi bỏ tục đa phu (polyandre).

Bất cứ người đàn bà nào có chồng bị cáo buộc về tội ngoại tình đều bị đem ra cho công chúng ném đá đến chết (Koran 4:15).

Kinh Koran qui định án phạt hết sức nặng nề chống lại bất cứ ai bị kết án: “Chống Thiên Chúa Allah” hoặc “chống Thiên Sứ Muhammad”. Người đó sẽ bị đóng đinh vào thập giá hoặc bị chặt hết chân tay (Sura 5).

Tội trộm cũng có thể bị phạt rất nặng. Dù đàn ông hay đàn bà tùy theo nặng nhẹ nếu bị kết án về tội trộm sẽ bị chặt một tay hay hai tay (Koran 5: 3) 

III. Những điều nên biết về HADITH, SUNNA và SHARIA 

Vì lý do kinh Koran không phải là sách dễ đọc nên trong các xứ Hồi Giáo, các tín đồ đọc kinh Koran đều cần có người hướng dẫn. Những người hướng dẫn không phải là tu sĩ nhưng là những người học thức chuyên nghiên cứu về kinh Koran. Những bài giảng của họ được gọi là HADITH, có nghĩa là một bài phúc trình (report). Qua nhiều thế kỷ, số bài phúc trình giảng giải về Kinh Koran đạt tới con số rất lớn. Các học sĩ Hồi Giáo chọn lựa các bài hay tập trung lại thành một cuốn sách gọi là SUNNA, có nghĩa là “Tuyển tập các phúc trình” (Collection of Reports). Từ đó, sách SUNNA trở thành một cuốn sách bổ túc cho kinh Koran về mặt tín lý, giáo điều.

Các chính quyền của các nước Hồi Giáo chiếu theo tinh thần và luật pháp nêu trong kinh Koran và sách SUNNA để làm ra bộ luật gọi là SHARIA. Danh từ này được dịch sang Anh Ngữ là “Islamic Holly Law” có nghĩa là “Thánh Luật Hồi Giáo”.

Tất cả các sách Sunna và Sharia đã được hoàn thành vào cuối thế kỷ 9 và đã được viết thành nhiều bản khác nhau tại nhiều nơi khác nhau.  Do vậy, các sách này chứa đựng nhiều điều mâu thuẫn, nhất là những giai thoại khác biệt nhau về cuộc đời và lời nói của giáo chủ Muhammad. Đây là một trong những nguyên nhân chính yếu gây ra tệ nạn phân hóa trong đạo Hồi: Giáo phái Sunni chỉ công nhận những Hadiths (reports) của Bukkhari. Giáo phái Shiite công nhận Hadiths của Kulayni và giáo phái Khariji chỉ công nhận Ibn Habib. Giáo phái này kết án giáo phái kia là xuyên tạc hoặc giả mạo Thánh Kinh Koran và gọi nhau là những kẻ tà đạo (mukhtalaq)! Kết quả là những cuộc thánh chiến đẫm máu giữa các giáo phái này trong nhiều thế kỷ qua.  

IV. Các bản dịch kinh Koran.- 

Do nhu cầu truyền bá đạo Hồi trong 14 thế kỷ qua, đến nay kinh Koran đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới. Riêng một mình nhà xuất bản Takrike Tarsile Qu’ran, Inc. ở New York đã sưu tập được trên 600 bản dịch khác nhau!

Lịch sử Hồi  Giáo ghi nhận bản dịch kinh Koran đầu tiên trên thế giới là bản dịch từ tiếng Ả Rập sang tiếng La Tinh do một người Ý tên là Peter Venerable thực hiện năm 1143. Điều đáng chú ý là bản dịch viết tay của ông hiện vẫn được lưu giữ tại tu viện Kluny (Ý). Đúng 300 năm sau, tức vào năm 1543, bản dịch viết tay duy nhất này được đem in và xuất bản tại Rome.

Nhờ có bản dịch kinh Koran bằng tiếng La Tinh này, Âu Châu mới biết đến cuốn kinh Thánh của đạo Hồi.

- Năm 1616, tại Nuremberg xuất hiện kinh Koran bằng tiếng Hòa Lan dịch từ bản La Tinh.

- Năm 1647, kinh Koran bằng tiếng Pháp được xuất bản tại Paris cũng dịch từ bản La Tinh.

- Năm 1776, tại Petersburg cuốn kinh Koran bằng Nga ngữ được xuất bản, dịch từ tiếng Pháp.

- Đầu thế kỷ 18, một người Anh tên là A.Ross dịch kinh Koran từ tiếng Pháp sang tiếng Anh và xuất bản lần đầu tại Mỹ năm 1737.

Cho tới nay, có nhiều bản dịch khác nhau bằng tiếng Anh. Mặc dầu lối hành văn khác nhau nhưng nội dung vẫn tương tự. Điều đặc biệt là Kinh Koran được xuất bản nhiều triệu cuốn một lúc nên giá bán rất rẻ. Phần lớn các bản kinh Koran được in dưới hình thức sách bỏ túi (pocket books) có giá bán thông thường là 5 Mỹ Kim. Với giá này ai cũng có thể mua về đọc chơi hoặc để tham khảo. Số trang trung bình của sách loại này là 500 trang, chữ in cở nhỏ.  

V. Nên đọc sách kinh Koran bằng Anh ngữ như thế nào? 

            Đối với những ai đã từng quen đọc Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước bằng Anh ngữ thì khi chuyển sang đọc kinh Koran qua bản dịch Anh ngữ sẽ cảm thấy không mấy khó khăn. Tuy nhiên, trong nhiều bản dịch Anh ngữ lại có rất nhiều những danh từ chung và danh từ riêng được phiên âm theo tiếng Ả Rập. Nếu không tìm hiểu ý nghĩa của những danh từ này trước khi đọc sách Koran chúng ta sẽ lâm vào tình trạng lúng túng không thể hiểu được nội dung của sách và cũng không biết các nhân vật được nói tới trong Kinh Koran là ai. Lấy một thí dụ điển hình: một nhân vật có tên Ả Rập là ISA được nhắc tới 114 lần trong kinh Koran và nhân vật Myriam được nhắc  tới trên 50 lần. Thực ra họ chẳng phải là ai xa lạ: ISA chính là Jesus và Myriam chính là bà Maria, mẹ của ngài.

            Để giải quyết khó khăn về các từ ngữ phiên âm theo tiếng Arabic, tôi đề nghị quí vị hãy tìm các bảng GLOSSARY OF ARABIC TERMS thường được in cuối các sách Anh ngữ nói về Hồi Giáo. Quí vị chọn một số từ ngữ quí vị cho là quan trọng để học thuộc lòng trước khi bắt đầu đọc kinh Koran hay các sách viết về Hồi Giáo.

            Sau đây là bảng danh sách đối chiếu các tên riêng của Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước được nhắc lại trong kinh Koran theo phiên âm Arabic. Các tên riêng này được xếp theo nhóm gia đình (chứ không theo thứ tự Alphabet)

NHÓM                   Phiên âm ARABIC             Phiên âm ANH NGỮ              Phiên âm VIỆT NGỮ

Thiên Chúa                           ALLAH                 Jehovah Elohim/God                          Thiên Chúa

Tổ tông loài người               ADAM                   ADAM                                   Ông A-dong

HAWAA                                EVE                                                        bà E-và

Gia đình Abraham              AZAR                                    TERAH                                 Cha của Abraham

                                                IBRAHIM                            ABRAHAM                                          Ông Áp-ra-ham

                                                SARA                                     SARAH                                 Vợ của Áp-ra-ham

ISHAAQ                                ISAAC                                   Con trai của Abraham và bà Sarah, tổ tiên Do Thái

                                                AGAR                                    HAJAR                                  Vợ bé, đầy tớ của Abraham

                                                ISMAHIL                             ISMAEL                                                Con của Abraham và Agar, tổ tiên các giống dân Ả Rập                                                                                                                                                    (Ismael là vai anh của Isaac)

Gia Đình Jesus     ISA                                         JESUS                                                    Chúa Giê-xu

                                                MYRIAM                             MARY                                                   Đức bà Maria

                                                Yusuf                                     Joseph                                                    Thánh Giuse

                                                Zakariya                               Zakariah                                               Thánh Gio-a-Kim, cha của Gioan Baotixita

                                                Yahya                                    John Baptist                                         Thánh Gioan Baotixita (cậu họ của Giê-xu)

Các tiên tri Do Thái

cũng là các thiên sứ

 trong đạo Hồi:    

                                                Al-Yasa                 Elisha                                     Tiên tri Ê-li-sa

                                                Dawood                 David                                     Vua Thánh Đavít

                                                Dhulkiit                                  Ezekiel  

                                                Haroon                                  Aaron                                     Anh của Mai-sen

                                                Musa                                      Moses                                    Thánh Mai-sen

                                                Idriis                                       Enoch   

                                                Luut                                       Lot                                          Ông Lot (cháu gọi Abraham bằng bác ruột)

                                                Nuh                                        NOAH                                    Ông No-e

                                                Sulayman                             Solomon                                Vua Slomon (con David)

                                                Yaquub                 Jacob                                     Cha của 12 con trai, tổ tiên 12 bộ lạc Do Thái

                                                Yunus                                    Jonah    

                                                Ayyoub                 Job         

Thánh Kinh                          Tawrah                                  Torah/Old                             Kinh Thánh của đạoDo Thái

                                                Taurat                                    Testament                             tức Cựu Ước của đạo Ki Tô

                                                Injil                                         Gospel/New                          Phúc âm/Thánh Kinh Tân Ước

                                                Al-injil                                    Testament            

                                                Qur’an                                    Koran                                    Thánh Kinh Hồi Giáo

Thiên thần,

ma quỉ   Jibril        Jibreel                                     Gabriel                                   Thiên thần truyền tin

                                    Meekaeel                              Micheal                 Tổng lãnh thiên thần Mi-ca-e

                                                Buraq                                     Buraq                                     Con ngựa đầu người có cánh đưa Mohammad về trời tại Jerusalem

                                                Shaitan / Iblis                       Satan                                     Quỉ Sa tăng

                    Ngoài ra, xin chú ý đến một số chi tiết sau đây:

            1. Một số đại danh từ trong các sách Thánh Kinh thường được viết theo cổ ngữ của tiếng Anh. Thí dụ:

            You được viết thành Thou

            Your được viết thành Thy…

            2. Các quá khứ phân từ, thay vì viết là ED lại được viết thành TH. Thí dụ

            – He opened                                          He openeth

            – He called                                            He calleth

            – You will                                               Thou shalt

            – You have                                            Thou hast

            3. Các kinh Koran Anh ngữ thường đánh số các chương (sura/chapter) bằng số La Mã ở góc trái trên đầu trang sách. Thí dụ: Sura XXXVII: chương 37, Sura CVIII chương 108, LXXIX: chương 79 v.v…

            Khi tra cứu một câu trong kinh Koran, thí dụ:

            “Muhammad is not the father of any of your men but he is the Apostle of Allah and the last of the prophets.  Koran 33:40″. Xin nhớ số ghi trước là số chương (sura/chapter) số ghi sau là câu thơ (verse). Vậy trước hết xin hãy tìm chương 33 sau đó tìm câu thơ số 40 trong chương này, quí vị sẽ gặp đúng câu thơ được trích dẫn.

            Khi đọc các sách về đạo Hồi, chúng ta thường gặp những câu trích dẫn từ kinh Koran, nếu có sẵn một cuốn Koran trong tay để kiểm chứng tính chính xác của sự trích dẫn và sự trung thực của người dịch, thiết tưởng cũng là một điều thích thú.

            Để kết thúc bài viết này, tôi xin mượn lời giới thiệu của nhà xuất bản Tahrike Tarsile Qur’. Ind. New York nói về kinh Koran: “Kinh Koran có khả năng đem lại cho những người ngoại giáo những điều bổ ích và mang lại tất cả mọi thứ cho các tín đồ Hồi Giáo”. (The Qur’an offers at least something to non-believers and everything to believers).

                                                                                     Charlie Nguyễn

ĐỌC THÊM

Comments On John Paul II’s Crossing the Threshold of Hope (Trần Chung Ngọc)
Cuốn Triumph Forsaken của Mark Moyar
Eh! Lữ Giang, alias Tú Gàn, Here we go again! (Trần Chung Ngọc)
Giáo Dân Nguyễn Phúc Liên đả đảo Vatican!(Phúc Lâm)
Khổ Thân Củ Khoai Tôi (Trần Chung Ngọc)

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Mười Hai 19, 2009 in Hồi Giáo, Vatican

 

Thẻ: ,

Đạo thờ Chúa và đạo thờ bò

CÁC ĐẠO THỜ THIÊN CHÚA LÀ NHỮNG BIẾN DẠNG CỦA ĐẠO THỜ BÒ.

Từ ngàn xưa, con người đã được định nghĩa là con vật có tính thần linh (spiritual animals) nên con người luôn có khuynh hướng tìm về các thần linh thiêng liêng cao hơn mình để tôn thờ hoặc để xin phù hộ ban ơn cứu giúp. Các nhà nghiên cứu nhân chủng học và khảo cổ học đều xác nhận rằng: Khi con người bắt đầu đạt tới trình độ hiểu biết cũng là lúc bắt đầu có tôn giáo (Homo sapiens – Homo Religious). Nói cách khác, khi con người bắt đầu nhận ra mình là NGƯỜI khác với những loài vật là lúc con người bắt đầu thờ thần linh. Vì thế tôn giáo xuất hiện cùng lúc với các tác phẩm mang tính chất nghệ thuật (works of art). Qua các tác phẩm nghệ thuật đó, con người biểu lộ sự ngưỡng mộ của mình trước những bí mật kỳ diệu của thiên nhiên và bày tỏ niềm tin vào một sức mạnh vô hình vượt trên con người. Con người luôn luôn cố gắng tìm cho ra cái ý nghĩa đích thực của cuộc sống trên trái đất. Con người không hài lòng với cuộc đời ngắn ngủi thực tại và muốn cuộc sống phải được kéo dài đến vô tận sau cái chết và dưới một hình thức khác.

Thực sự, tôn giáo là một phản ứng tâm lý tự nhiên của con người trước thiên nhiên kỳ bí. Tuy nhiên, cũng như mọi hoạt động khác của con người, tôn giáo đã bị lạm dụng (abused) và gây ra không biết bao nhiêu tai họa cho con người.

Tôn giáo nào cũng tự coi mình như một chiếc thuyền để chở con người đến bến bờ hạnh phúc. Khổ nỗi, tôn giáo nào cũng coi cái thuyền của mình là duy nhất tốt và duy nhất đi đúng hướng. Tín đồ phần đông đều mù quáng, chỉ biết gục đầu xuống tôn thờ chính cái thuyền của mình mà quên mất bến bờ hạnh phúc chung của nhân loại. Những người lái thuyền, được mệnh danh là các vị lãnh đạo tinh thần, bận tâm đánh chìm các thuyền khác để củng cố địa vị độc tôn của tôn giáo mình. Do đó chiến tranh tôn giáo đã xảy ra liên miên trong lịch sử và đến nay nó vẫn còn tiếp diễn dưới cả hai dạng nóng và lạnh trên khắp các lục địa.

Nhiều người nhận thấy tôn giáo là mối nguy hiểm cho hòa bình thế giới nên họ muốn xóa bỏ mọi tôn giáo. Bắt đầu từ cuối thế kỷ 16 tại Âu Châu, phong trào Soi Sáng (Enlightenment) ra đời và dần dần phát triển thành Phong Trào Bài Trừ Tôn Giáo (Secularism) nhằm thiết lập một Chủ Nghĩa Nhân Đạo Tự Do (Liberal Humanism).

Lý tưởng giải thoát con người khỏi mối hiểm nguy do các tôn giáo gây ra đã được thể hiện rõ ràng nhất trong Tu Chính Án 14 của Hiến Pháp Hoa Kỳ. Trong sách “American Government, Political and Political Culture” của ba tác giả Lyons, Scheb và Richarson (West Publishing Co. 1995) trang 110 viết như sau : “Tu Chính Án Thứ Nhất đòi hỏi thiết lập một bức tường ngăn cách giữa giáo hội và quốc gia. Và mặc dầu điều khoản thiết lập đó của Tu Chính Án chỉ được áp dụng cho Quốc Hội, nhưng Tối Cao Pháp Viện đã qui định rằng nguyên tắc tách rời Giáo hội ra khỏi Quốc gia phải được áp dụng đồng đều cho Liên bang cũng như mọi chính quyền địa phương theo Tu Chính Án 14 của Hiến Pháp, theo dó, chính sách của chính quyền phải theo đuổi mục tiêu có tính thế tục hoặc vô tôn giáo”. (The First Amendment requires a wall of separation between church and state. And, although the First Amendment ‘s Establishment Clause applies only to Congress, the Supreme Court has held that the principle of separation of church and state applies equally to state and local governments under the Fourteenth Amendment : a government policy must have a secular or nonreligious purpose )

Chủ nghĩa Thế Tục Hóa Xã Hội (Secularism) là một quan niệm mới về tôn giáo : Việc chính đáng của con người là lo phục vụ lợi ích của con người chứ không thể bắt con người phải hy sinh để phục vụ thần linh. Con người là chính yếu trên thế gian này chứ không phải là một vị thần nào cả. Con người được sinh ra trên thế gian không phải chỉ để lo có một việc duy nhất là phải “thờ phượng kính mến Đức Chúa Trời trên hết mọi sự” để rồi quên khuấy mọi người ở quanh mình. Điều chúng ta cần phải quan tâm hiện nay là cái chết của nhân loại chứ không phải là cái chết của Thượng Đế.

Chủ Nghĩa Nhân Đạo Tự Do là một tôn giáo không cần Thiên Chúa (a religion without God)*. Nói “không cần Thiên Chúa” không có nghĩa là không cần tôn giáo vì không phải tôn giáo nào cũng là hữu thần (theist) mà cũng có tôn giáo vô thần (atheist) như đạo Phật chẳng hạn.*

Thực tế mà nói, Thiên Chúa chẳng qua chỉ là sự kéo dài những nhu cầu và ước vọng của con người (a projection of human needs and desires). Thiên Chúa chỉ là tấm gương phản chiếu những mối lo sợ và những nỗi khao khát của xã hội cơn người trong mỗi giai đoạn phát triển của nó. Thiên Chúa của Thánh Kinh (God of the Bible) hoàn toàn là một sản phẩm tưởng tượng của con người nhưng lại là một thực tế hắc ám nhất trong đời sống nhân loại suốt trên 4.000 năm qua!

Trong tác phẩm A HISTORY OF GOD (460 trang, the New York Times Best-seller. Ballantine Books xuất bản 1993), tác giả là nữ tiến sĩ Karen Amstrong, nguyên nữ tu Công Giáo và nguyên giáo sư Đại Học Leo Baeck Anh Quốc, đã viết rất chí lý như sau:

“Cuốn sách này không phải là cuốn sử về Thiên Chúa thật vì Thiên Chúa thật là điều không ai có thể tả hoặc nói lên được (ineffable), ngài vượt ra ngoài thời gian và mọi sự đổi thay, nhưng đây là cuốn sử đề cập đến những nhận định về Thiên Chúa của những người đàn ông và đàn bà từ thời Abraham cho tới nay”. (This book will not be a history of the ineffable reality of God itself, which is beyond time and change, but a history of the way men and women have perceived Him from Abraham to the present day. The human idea of God has a history, page XX). Ý tưởng của con người về Thiên Chúa có lịch sử của nó. Vậy, nói đến lịch sử Thiên Chúa là nói đến lịch sử các quan niệm của con người về Thiên Chúa. Nói cách khác, lịch sử Thiên Chúa là lịch sử hình thành các tôn giáo thờ một vị Thiên Chúa Duy Nhất (The One-God Religions) còn được gọi là Thiên Chúa Giáo hoặc Độc Thần Giáo (Monotheism, Monotheist religions).

Đối với người Việt Nam chúng ta, vấn đề danh từ đã làm cho hầu hết chúng ta có những ngộ nhận về Thiên Chúa Giáo. Danh từ Christianity thường được dịch là Thiên Chúa Giáo thật sự không được chính xác. Christianity là Kitô Giáo vì nguyên ngữ của nó là Christ (Chúa Kitô). Christians nên được dịch là người theo đạo Kitô, hoặc Kitô hữu, hoặc tín đồ Ki Tô Giáo, bao gồm tất cả những người tin thờ Jesus là Chúa Cứu Thế (Christ).

Không riêng gì những người Công Giáo tôn thờ và tin rằng MR.JESUS là Đấng Cứu Thế (Chúa Kitô) mà những tín đồ Chính Thống Giáo ở Nga, Hy Lạp, Đông Âu, Anh Giáo ở Anh, Úc, Tân Tây Lan và hàng trăm giáo phái Tin Lành, Cơ Đốc Phục Lâm, Báp Tít, Mormon, Methodists…. ở Hoa Kỳ và nhiều nước khác cũng đều tin như vậy cả. Đó là niềm tin Ki Tô. Ai có niềm tin Ki Tô thì người đó là Christian. Tuy có cùng một niềm tin Ki Tô nhưng những người anh em Ki Tô thường xuyên có thánh chiến với nhau và giết nhau như ngóe. Nếu không có niềm tin Ki Tô quái đản đó thì người ta sẽ không còn lý do để chém giết nhau nữa !

Tất cả các tôn giáo thờ Jesus và tin Ngài là Đấng Kitô, Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người chuộc tội cứu thế, đều được gọi chung là Ki -Tô Giáo. Công Giáo chỉ là một ngành chính trong hệ thống các đạo Ki Tô (Roman Catholic is the main line of Christianity) và toàn bộ các đạo Ki Tô cũng chỉ là một hệ phái trong hệ thống Độc Thần Giáo gồm có cái gốc của hệ thống này là Do Thái Giáo. Sau hết, cả hai tôn giáo Độc Thần là Do Thái Giáo và Ki Tô Giáo đã phát sinh một hệ phái thứ ba là Hồi Giáo vào giữa thế kỷ 7. Người Việt Nam chúng ta thường lầm lẫn gọi Công Giáo La Mã là Thiên Chúa Giáo hoặc Đạo Thiên Chúa (Montheism) . Thực sự, Thiên Chúa Giáo bao gồm rất nhiều tôn giáo bao gồm tất cả các đạo thờ Thiên Chúa của Thánh Kinh Cựu Ước Do Thái (God of the Bible) cùng những tín điều căn bản về thiên đàng, địa ngục, tổ tông loài người là A-Dong E-Và, thiên thần truyền tin Gabriel và nhất là đều nhận Abraham làm tổ phụ của tôn giáo mình. Đó là các đạo Do Thái, Ki Tô và đạo Hồi.

Jesus là một nhân vật có thật, được phỏng định sinh khoảng năm từ 6 đến 4 trước Công Nguyên. Kitô là một nhân vật thần thoại của Do thái, bắt nguồn sâu xa từ huyền thoại Babylon đã có từ nhiều ngàn năm trước khi Do Thái lập quốc. Tiếng Việt KI-TÔ được phiên âm từ tiếng Tây Ban Nha “Cristo” do các giáo sĩ Tây Ban Nha đến giảng đạo ở nước ta lần đầu vào tiền bán thế kỷ 16. Trong những thế kỷ trước, người Công Giáo Việt Nam phiên âm danh từ CRISTO thành “Chúa Ki-Ri-Xi-Tô”. Trước 1954, các bài kinh giáo dân Việt Nam thường đọc có những câu như: “Chúa Ki-Ri-Xi-Tô thương xót chúng tôi, Chúa Ki-Ri-Xi-Tô nhậm lời chúng tôi”. Sau 1954 danh từ Ki-Ri-Xi-Tô đã được rút gọn lại là Kitô. Các kinh sách Công Giáo hiện nay đều viết “Chúa Giê Su Ki tô”. Vậy thiết nghĩ chúng ta không nên dịch chữ Christianity là Thiên Chúa Giáo mà nên dịch là Kitô Giáo cho sát nghĩa. Kitô là một ý niệm đặc biệt của người Do Thái đã có từ nhiều thế kỷ trước khi Chúa Jesus ra đời. Nguyên gốc tiếng Do Thái là Messiah, có nghĩa là một vị cứu tinh của dân tộc Do Thái. Vị đó thuộc dòng dõi vua David, sẽ sinh ra và cứu dân tộc Do Thái thoát ách nô lệ ngoại bang, cuối cùng sẽ đưa dân tộc Do Thái lên một địa vị cao hơn các dân tộc khác. Lúc đầu, tiếng Messiah chỉ có nghĩa là một minh quân David mới của Do Thái (a new King David) hoặc là một Đấng Cứu Chúa của dân tộc đã được Chúa chọn (the Savior of the chosen people). Nhưng với sự phát triển của giáo lý đạo Kitô, chữ Messiah đã bị biến nghĩa thành Chúa Cứu Thế chuộc tội nhân loại (The Redeemer of mankind).Trong thế kỷ thứ tư và thứ ba trước Công Nguyên, Do Thái bị Hy Lạp cai trị. Những người giàu và giới quyền thế Do Thái hầu hết đều rất thông thạo tiếng Hy Lạp. Do đó, các cuốn kinh thánh của đạo Do Thái đã được dịch sang tiếng Hy Lạp từ vài trăm năm trước Công Nguyên.

Chữ Messiah của Do Thái đã được người Hy lạp dịch ra là Christos. Tiếng Anh và tiếng Pháp sau này phiên âm thành Christ. Tiếng La Tinh là Christus. Tiếng Tây Ban Nha là Cristo. Công Giáo Việt Nam chịu ảnh hưởng của các cố đạo Tây Ban Nha nên đã phiên âm tên của Chúa và các thánh từ tiếng Tây Ban Nha. Thí dụ:

Anh Pháp La Tinh TB Nha V N

Christ

Mary

Peter

Paul

Francis Christ

Marie

Pierre

Paul Francis Christus

Maria

Petrus

Paulus Francis Cristo =

Maria =

Pedro =

Pabblo = Francisco = Kitô

Maria

Phê rô

Phao lô Phanxicô

Chúa Jesus là một người thật, còn Chúa Kitô là một nhân vật huyền thoại được tạo thành do sự mong ước của dân tộc Do Thái. Đặc tính của Chúa Kitô là giải thoát mọi người bị áp bức (to let the oppressed go free) theo định nghĩa của tiên tri Isaiah, thế kỷ 8 trước Công Nguyên. Người Do Thái không công nhận Jesus là Kitô vì Jesus đã không làm nỗi cái công việc giải cứu những người bị áp bức. Tới nay, người Do Thái vẫn tin rằng Chúa Cứu Thế Kitô chưa ra đời. Họ chỉ tôn thờ Thiên Chúa mà họ gọi là Jehovah, xưa kia tổ tiên của họ gọi là Elohim. Đối với những người theo đạo Kitô thì Jehorah là Đức Chúa Cha, Jesus là Đức Chúa Con và ngôi thứ ba của Thiên Chúa là Đức Chúa Thánh Thần. Ba Ngôi Thiên Chúa là Một Đức Chúa Trời. Đó là quan niệm của Ki Tô Giáo về Thiên Chúa (Christian God : Trinity God).

Những người Hồi Giáo tôn thờ Thiên Chúa của đạo Do Thái, tiếng Ả Rập gọi là ALLAH (God), tức là Đức Chúa Cha của đạo Kitô. Họ coi các vị lập các đạo này, từ Abraham đến Moses và Jesus, là các thánh tiên tri (prophets). Đạo Do Thái và đạo Hồi quan niệm Thiên Chúa là Duy Nhất (Unity God) khác với đạo Kitô quan niệm Thiên Chúa Ba Ngôi (Trinity God). Theo người Tây phương, bao gồm các quốc gia Âu Mỹ, Do Thái và Ả Rập, Thiên Chúa Giáo là các tôn giáo thờ MỘT THIÊN CHÚA (The One-God Religions) được mệnh danh là ĐỘC THẦN GIÁO (Monotheism). Danh từ Monotheism xuất phát từ tiếng Hy Lạp: “Mono” là Một, “Theo” là Thiên Chúa. Theo quan điểm của người Tây Phương thì Thiên Chúa Giáo, tức Độc Thần Giáo, gồm có 4 đạo:

1. Khới đầu là đạo Do Thái Nguyên Thủy (Pre-Mosaic Judaism) là đạo thờ bò El.

2. Đạo Do Thái hiện nay do Moses lập ra từ năm 1250 TCN (Mosaic Judaism) thờ Jehovah.

3. Giữa thế kỷ 1, Đạo Kitô nguyên thủy xuất hiện và tồn tại đến đầu thế kỷ 4. Quan niệm về Thiên Chúa Ba Ngôi chưa thành hình. Đế quốc La Mã tiêu diệt các giáo phái Ki Tô nguyên thủy để lập ra đạo phục tùng đế quốc là Công Giáo La Mã. Quan niệm về Thiên Chúa Ba Ngôi xuất hiện trong Công đồng đầu tiên tại Nicaea năm 325 và phải đợi đến thế kỷ 5 quan niệm Thiên Chúa Ba Ngôi mới được kiện toàn bởi nhà thần học người Algeria là Augustine (396- 430).

Danh từ Công Giáo La Mã (Roman Catholic) có nghĩa là : một giáo phái Công Giáo, trong hệ thống Ki Tô Giáo, thuộc quyền cai quản của giáo hoàng ở Vatican. Ngoài Công Giáo La Mã còn có nhiều giáo hội Công Giáo khác không có liên hệ gì với Vatican như Công Giáo Hy Lạp (Greek Catholic), Công Giáo Ai Cập và Ethiopie (Coptic), Công Giáo Nam Phi với giám mục nổi tiếng Desmond Tutu v.v… Công Giáo La Mã cũng chỉ là một ngành lớn trong hệ thống Ki tô giáo. Ngoài Công Giáo La Mã ra còn có nhiều tôn giáo khác cũng là Ki tô giáo như Chính Thống Giáo, Anh Giáo và hàng vài trăm giáo phái Tin Lành độc lập khác. Các tự điển Anh Việt, Pháp Việt thường dịch Christianity (Pháp: Christianisme) là Thiên Chúa Giáo đều sai lầm vì căn ngữ của Christianity là Christ (chúa Kitô) do đó chúng ta nên dịch Christianity là Kitô Giáo, Christian là tín đồ đạo Kitô hoặc Kitô hữu. Kitô Giáo chỉ là một trong 3 ngành (lines) của Thiên Chúa Giáo mà thôi. Hai ngành kia là Do Thái Giáo và Hồi Giáo.

Thiên Chúa Giáo là sản phẩm văn hóa của Tây Phương, vậy muốn hiểu đúng nghĩa tôn giáo này, chúng ta nên hiểu Thiên Chúa Giáo là Độc Thần Giáo (Monotheism) theo quan điểm của họ. Quan điểm của Tây phương về từ ngữ HEATHEN cũng có một ý nghĩa đặc biệt. Nếu chúng ta dịch “heathen” là “ngoại đạo”, chúng ta sẽ hiểu sai ý nghĩa đích thực của nó. Các tự điển Webster và American Heritage đều định nghĩa từ ngữ HEATHEN (noun) : anyone not a Jew, a Christian or Muslim. và HEATHEN (adj) : pagan, irreligious, uncivilized, barbarous.

Rõ ràng từ ngữ heathen (ngoại đạo) được dùng để chỉ những người hoặc những tôn giáo nằm ngoài hệ thống Độc Thần Giáo (bao gồm đạo Do Thái, đạo Kitô và Hồi). Đồng thời nó cũng cho ta thấy cách nhìn chủ quan rất cao ngạo của Thiên Chúa Giáo coi mọi người ngoại đạo là những kẻ ngu đốt, thiếu văn minh hoặc nói trắng ra là mọi rợ (barbarous). Thực sự Thiên chúa Giáo chỉ là những biến thái của đạo thờ bò, chẳng có gì đáng làm cho họ hãnh diện.

I. ĐẠO DO THÁI

Trên phương diện lịch sử khách quan, Thiên Chúa Giáo đã khởi nguồn từ đạo thờ bò El của Abraham và biến thể thành đạo Do Thái của Moses. Đến thế kỷ thứ 2 TCN, Do thái Giáo bị phân tán thành 3 giáo phái là Pharisees, Sadducees và Essenes*. Gia đình Jesus vốn theo giáo phái Pharisees là giáo phái chiếm giữ đền thờ Jerusalem nên cha mẹ Jesus thường đưa con đến đây dự lễ. Năm 30 tuổi, Jesus bỏ Pharisees theo giáo phái Essenes của John the Baptist và được John Baptist ban phép rửa tội trên sông Jordan để gia nhập giáo phái này. Từ đó, Jesus bị ảnh hưởng sâu đậm giáo lý của John nên ngày nay các học giả Tây Phương đã coi giáo phái Essenes là tiền thân của đạo Kitô. Họ gọi giáo phái Essenes là “Đạo Kitô trước Jesus” (Christianity before Jesus). Đạo Do Thái là gốc của Thiên Chúa Giáo hiện chỉ có 14 triệu tín đồ trên khắp thế giới.

II. ĐẠO KITÔ

Đạo Kitô không phải đã được sáng lập bởi Jesus, mà thực sự đã được thành lập bởi Paul (tức Phao lồ, sinh năm thứ 5 sau Công Nguyên, chết năm 67) nên các học giả Tây phương thường gọi Đạo Kitô là Thần học của Paul (The Pauline Theology). Lúc đầu đạo này lấy danh xưng là Kitô Giáo (Christianity) vì họ tôn Jesus lên làm Chúa Ki-tô và ghép liền hai từ này làm một thành Jesus-Christ (Giêsu Ki-Tô). Sau gần 3 thế kỷ, mặc dầu bị các hoàng đế La Mã giết hại rất nhiều, đạo Kitô vẫn bành trướng ra khắp đế quốc La Mã và các nước Cận Đông. Hoàng đế La Mã Constantine (285-337) nhận thấy không thể tiêu diệt đạo Kitô bằng vũ lực vì các tín đồ đạo này rất cuồng tín. Do đó, vào năm 313, Constantine đã quyết định bỏ lệnh cấm đạo Ki Tô. Năm 325 y triệu tập Công Đồng Nicaea để thống nhất và củng cố đạo Kitô nhằm mục đích biến nó thành một lợi khí xâm lược thế giới. Khẩu hiệu của y là “IN HOC SIGNO VINCES”: Với dấu hiệu Thánh Giá ta sẽ chiến thắng toàn cầu!

Trong tình hình thế giới hiện nay, khối Ả Rập Hồi Giáo cuồng tín với chủ nghĩa khủng bố quốc tế đang đứng trước nguy cơ sẽ bị tiêu diệt bởi sức mạnh quân sự của Mỹ và đồng minh. Công Giáo La Mã bề ngoài có vẽ như vẫn còn nguyên vẹn, thực sự đầu não của nó là Tòa thánh Vatican đã bị đảo chánh trong Công đồng Vatican II vào tháng 10 năm 1962. Đó là “Cuộc Cách Mạng Tháng Mười” trong nội bộ Giáo Hội Công Giáo. Phe bảo thủ của cố giáo hoàng PIO XII và Spellman đã bị lật đổ. Cho nên các sản phẩm của tên giáo hoàng bạo chúa Mafia Pio XII và Spellman là anh em Kennedy và anh em Ngô đình Dịệm đều bị thủ tiêu trong tháng 11- 1963. Giáo Hoàng Jean Paul II bề ngoài là kẻ đứng đầu Hội Thánh Công Giáo, nhưng thực sự y chỉ là một gã tài xế “lái xe theo kính chiếu hậu”.

Ban tham mưu giấu mặt (faceless) điều khiển Giáo Hoàng và Giáo hội Công Giáo hiện nay là những Christkillers chủ tâm tiêu diệt Công Giáo theo mô hình từ trong ra ngoài và từ đỉnh đổ xuống. Đến một thời điểm thích hợp không xa, nhóm người minh triết cứu tinh nhân loại sẽ hướng dẫn Giáo Hoàng lái chiếc xe giáo hội Công Giáo La Mã lao xuống vực thẳm tự hủy. Đó là Ngày Tận Thế của Giáo Hội Tội Ác Công Giáo La Mã. Công Giáo La Mã hiện đang nằm trên miệng hố diệt vong.

Trong thế kỷ 21, hai tôn giáo lớn nhất của hệ thống Thiên Chúa Giáo là Công Giáo và Hồi Giáo nếu không bị tiêu diệt hoàn toàn thì cũng sẽ không còn là những lực lượng có đủ khả năng khuynh đảo tình hình thế giới như trước nữa. Đó là một thực tế không thể đảo ngược. Nhân loại nhờ đó sẽ có được một cuộc sống mới thanh bình thịnh trị trong sự hòa hợp hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau để cùng xây dựng và phát triển văn minh hạnh phúc cho toàn thế giới, không phân biệt màu da, giai cấp, văn hóa… Nhân loại đã đến lúc tỉnh giấc ngủ mê để dành lại vườn địa đàng của mình từ tay những tên Thiên Chúa độc ác và giả tạo như Elohim,Jehovah, Allah của cái gọi là Kinh Thánh Cựu Ước

Đọc Thêm

“Sản Phẩm Trí Tuệ” của Nguyễn Anh Tuấn (Trần Chung Ngọc)
Ai Dám Tấn Công Đạo Chúa ? (TCN & NMQ)
Chiến Tranh … Lại Chuyện Bất Đắc Dĩ (Trần Chung Ngọc)
Chu Tất Tiến: Here We Go Again (Trần Chung Ngọc)

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Mười Hai 19, 2009 in Công Giáo, Hồi Giáo, Tin Lành

 

Thẻ: , ,

Tiểu Sử Charlie Nguyễn (Bùi Văn Chấn)

Vài nét sơ lược về thân thế của Charlie Nguyễn

Tên thật là Bùi-Văn-Chấn, sinh năm 1937 tại Ninh-Cường, thuộc Bùi-Chu, tỉnh Nam-Định.

Đậu Cử Nhân Luật Khoa tại Saigon năm 1962.

Làm việc tại Công-Quản Hỏa-Xa Việt-Nam trong 3 năm sau khi ra trường. Giữ các chức vụ:

Đại diện Giám-Đốc Hỏa-Xa tại Đà-Nẵng (1963-64)

Trưởng Ty Khai Thác Hỏa-Xa (Saigon-Phan Thiết)

Tháng 4 năm 1965 được gọi nhập ngũ, theo học khóa 20 Sỹ Quan Trừ Bị Thủ Đức.

Từ 1966 đến tháng 4/1975: phục vụ ngành Quân-Pháp, Bộ Quốc-Phòng, với tư cách thẩm phán quân sự:

- Thẩm phán Công Tố, Tòa Mặt Trận Vùng 4 (Cần-Thơ)

- Dự Thẩm Tòa Án Quân Sự Saigon

- Thiếu Tá Thẩm Phán Công Tố, Tòa Mặt Trận vùng 3 và Biệt Khu Thủ Đô (Saigon)

Sau 1975, đi tù cải tạo ở Yên-Báy, Vĩnh-Phú và Xuân-Lộc.

Được trả tự do tháng 8-1984.

Qua Mỹ cùng gia đình đầu năm 1991 theo diện H.O. và định cư tại Houston, Texas từ đó đến nay.

Vào trang chính “Tôn Giáo và Dân Tộc”

Mục lục

Những bài cuối cùng

 

Công Giáo – Huyền Thoại và Tội Ác.

Abraham: Ông Tổ của các Đạo Chúa
Bí Mật Ở Núi Sọ
Con Bạch Tuột của Đức Chúa Trời
Các Khố của Giê Su Trên Thập Giá
Các Tu Sĩ Dòng Tên (Charlie Nguyễn)
Các Yếu Tố Hình Thành Kitô Giáo
Các Đạo Thờ Thiên Chúa và đạo Thờ Bò
Cái Nôi của Các Đạo Chúa
Công Giáo: Huyền Thoại và Tội Ác
Giê-Su đã sống đời như thế nào ?
Huyền Thoại Phục Sinh
Nguồn Gốc Huyền Thoại Kitô
Thiên Chúa Allah của Đạo Hồi
Thiên Chúa Ba Ngôi của Đạo Kitô
Thiên Chúa Elohim của Đạo Do Thái
Thiên Chúa Jehovah
Thư Gửi Bạn Nguyễn Thanh Giản (Charlie Nguyễn)
Truy Tầm Jesus Thật
Tấm Vải Liệm

Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm

Vài lời tâm huyết – Sách Kinh Công Giáo (Charlie Nguyễn)
Bầy Quạ Trên Xác Người Đàn Bà Do Thái (Charlie Nguyễn)
Cha Con Giáo Hoàng Alex VI (Charlie Nguyễn)
Cách Làm Tiền của Vatican (Charlie Nguyễn)
Công Giáo Và Thánh Tử Đạo (Charlie Nguyễn)
Giáo Hội Gian Ác (Charlie Nguyễn)
Kinh Nguyện Và Kinh Thánh (Charlie Nguyễn)
Những Tác Hại Của Các Kinh Sách Công Giáo (Charlie Nguyễn)
Phụ Lục: Tấm Vải Liệm (Charlie Nguyễn)
Sách Kinh Công Giáo – Dòng Tu Đồng Công (Charlie Nguyễn)
Tín Điều Huyền Thoại (Charlie Nguyễn)
Vatican, Xưởng Sản Xuất Phép Lạ (Charlie Nguyễn)
Đoạn Kết – Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm (Charlie)

Thực Chất đạo Công Giáo và các đạo Chúa

Bảy Cuộc Chiến Tranh Chống Hồi Giáo …
Cuốn Thánh Kinh Ô Nhục Của Đạo Công Giáo
Hỏa Giáo Ba Tư là Tiền Thân …
JESUS dưới cái nhìn của Do Thái Giáo và Hồi Giáo
Những tước hiệu bịp bợm của Giáo Hoàng
Thiên Chúa Đang Được Động Viên …
Thập Giá và Lưỡi Gươm của Đại đế Constantine
Truyền Thống Abraham Dưới Ánh Sáng ..
Vai trò của chính quyền (Charlie Nguyễn)
Việt Nam Cần Thưc Hiện Những Biện Pháp Mạnh.. (Charlie Nguyễn)
Đạo Hồi là Đức Tin của Chiến Tranh và Bạo Lực
Đạo Thiên Chúa chỉ là Đạo Thờ Bò Cải Biến
Ảnh Hưởng Thần Học Do Thái Giáo và Kitô Giáo …

Thế Giới Hồi Giáo Xưa và Nay
Các Mô Hình Sinh Hoạt trong Thế Giới Hồi Giáo
Cái Nôi của Đạo Hồi
Hồi Giáo Tại Trung Đông
Hồi Giáo Tại Á Châu
Hồi Giáo Tại Âu Châu và Mỹ Châu
Hồi Giáo và Chủ Nghĩa Khủng Bố
Năm Nghĩa Vụ Tín Đồ Hồi Giáo
Sáu Trụ Cột của Đức Tin Hồi Giáo
Sự Bành Trướng của Đạo hồi
Sự Bành Trướng của Đạo hồi
Sự Nghiệp Muhammad tại Medina
Thân Phận Phụ Nữ Hồi Giáo
Thân Thế Muhammad tại Mecca
Tìm Hiểu Kinh Koran
Tệ Nạn Phân Hóa Trong Nội Bộ Hồi Giáo

Tuyển Tập Độc Thần Giáo

(chưa xuất bản thành sách, nhưng có nhiều bài trong tuyển tập này đã được đưa lên webpage Giao-Điểm hoặc đăng trong một số tạp chí)

Alexandre De Rhodes và Chữ Quốc Ngữ
Con Đường Cụt của Vatican (Charlie Nguyễn)
Các Hoạt Động Chính Trị của Đạo Quân Thứ 5
Hồ Sơ Tội Ác của Hội Thừa Sai …
In God We Trust
Màn Kịch Lộ Đức
Một Vấn Đề về Huyền Thoại Giáng Sinh
Nhận Xét về Thư của Phan Dình Diệm
Quan Niệm Ông Trời của Người Việt
Từ Thái Độ Khinh Miệt …
Việt Nam cần thực hiện …
Đòi Lại Đất bị Nhà Thờ Chiếm Đoạt
Độc Thần Giáo …

Thư liên hệ đến Thánh Gia

Charlie Trả Lời Các Bạn
Hai Lá Thư Úc Châu
Tâm sự với bạn cũ
Vĩnh Biệt Thánh Gia

 
 

Thẻ: , , ,

 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.