RSS

Nghi thức quy y tam bảo – Chùa Phật Quang

04 Tháng 1
Nghi Thức Quy Y Tam Bảo

Trang 1 2

Phần I
Ý KIẾN BAN ĐẦU

Chúng tôi soạn Nghi Thức Lễ Quy Y này với ít cải cách để phù hợp với nhu cầu phát triển của Đạo Phật trong thời đại mới.
Lễ Quy Y là cửa ngõ vào Đạo của mọi Đệ Tử Phật. Nếu Lễ Quy Y chu đáo, hoàn chỉnh, trang trọng thì ấn tượng tốt đẹp để lại trong lòng người Phật tử đủ mạnh để họ có thể tăng tiến Đạo tâm lâu dài về sau. Ngược lại, một lễ Quy Y hời hợt, vội vã, thiếu trang trọng thì người Phật tử cũng dễ mau quên.
Những Nghi Thức chúng tôi giới thiệu trong đây chỉ là sự gợi ý. Các vị Bổn Sư có thể uyển chuyển, sáng tạo sao cho phù hợp với tình hình thực tế và hoàn chỉnh hơn.
Chúng tôi cho rằng Năm Giới Cấm chưa đủ nói lên Đạo Đức của Đạo Phật vốn rất mênh mông vi diệu (xin xem Quan Điểm Người Trụ Trì, Chơn Quang). Vì thế chúng tôi mạnh dạn đưa vào Bảy Điều Nguyện để Phật tử “phải” thọ trì khi Quy Y. Bảy Điều Nguyện đó là: tập ăn chay, học pháp, thực hành tu tập, làm việc từ thiện, Phật hóa gia đình, phổ biến giáo pháp và kiên cường hộ đạo.
Bảy Điều Nguyện này thúc đẩy sự tích cực năng động nơi một người Phật tử. Nếu tất cả Phật tử đều có sự tích cực năng động như vậy thì Toàn Bộ Đạo Phật sẽ chuyển mình để trở thành một sự hiện diện đầy lợi ích cho xã hội.
Chúng tôi đề nghị nên để một người có những hiểu biết về Phật Pháp tương đối nào đó đủ để họ tin rằng trở thành Đệ Tử Phật là một điều đúng đắn, trước khi được vị Bổn Sư chấp nhận cho Quy Y. Có thể họ đã xem qua vài cuốn sách, dự vài buổi giảng, nghe vài cuộn băng và mong được trở thành Phật tử.
Nhưng đôi khi một bậc cha mẹ đã cho con trẻ đến chùa Quy Y khi chúng chưa hiểu nhiều về Phật Pháp, và vị Bổn Sư cũng không thể từ chối. Trường hợp như vậy, vị Bổn Sư phải giao trách nhiệm hướng dẫn sự tu học cho đứa trẻ nơi cha mẹ của chúng.
Nên cho (đúng ra là nên cưỡng bách) trẻ tụng bài “Lời Nguyện Cầu Buổi Sáng Dành Cho Trẻ” mỗi ngày để chúng huân tập những ý niệm đơn giản về lòng tôn kính Phật, về lòng hiếu thảo, về lòng thương người, về Đạo Đức.dần dần.
Trước khi lên Chánh Điện làm lễ thì pháp danh đã được đặt, lá phái đã được viết. Không nên làm lễ rồi mà chưa có pháp danh hay lá phái. Buổi lễ sẽ mất ấn tượng. Nghĩa là Phật tử phải ghi tên từ trước để vị Bổn Sư có thời gian đặt pháp danh, để người trong chùa viết lá phái. Phật tử phải có hình để dán vào sổ lưu của chùa. Trong sổ lưu này có địa chỉ liên lạc và hình chân dung của Phật tử để chùa cần thì liên hệ và… nhìn hình để nhớ mặt.
Về mẫu lá phái thì chúng tôi cũng đề nghị một mẫu mới với lối trang trí hiện đại hơn, đẹp hơn. Trong đây, phần Tam Quy được định nghĩa:
Quy Y Phật, đệ tử nguyện trọn đời tôn thờ Đấng Chánh Giác.
Quy Y Pháp, đệ tử nguyện trọn đời tôn thờ lời Phật dạy.
Quy Y Tăng, đệ tử nguyện trọn đời tôn thờ những vị xuất gia tu hành chân chính.
Phần Năm Giới Cấm thì giới thứ tư ghi là “không nói bậy” vì nói bậy bao gồm cả 4 điều: ác ngữ, nói dối, nói chia rẽ, nói khoe khoang. Giới thứ năm ghi là “không dùng các chất gây say nghiện” để bao gồm luôn cả ma túy.
Sau Năm Giới Cấm là Bảy Điều Nguyện. Dưới Bảy Điều Nguyện là phần tên, năm sinh (không ghi tuổi), pháp danh, địa chỉ và lời phát nguyện Quy Y thọ trì Tam Quy, Năm Giới, Bảy Nguyện.
Hình Phật được chụp Scanner, nền được quét màu chuyển từ vàng sang hồng. Một hoa sen hồng to lót giữa nền phái. Kỹ thuật in Offset thay cho lối in lụa sơ sài.
Có những trường hợp một Phật tử đã từng Quy Y nơi khác, nay lại đến xin Quy Y lại. Vị Bổn Sư nên dè dặt để tránh mích lòng. Nếu vị Bổn Sư cũ đã tịch lâu, ý Phật tử cảm thấy muốn xin Quy Y để gắn bó thân tình hơn thì có thể chấp nhận. Nếu trước kia người Phật tử dự Quy Y tại một chùa nào đó một cách vội vã, hoặc chỉ ghi tên rồi nhận lá phái, hoặc sau Quy Y rồi chẳng hề gặp lại Bổn Sư… thì có thể chấp nhận.
Có trường hợp một người từ Thiên Chúa Giáo xin Quy Y. Vị Bổn Sư, dĩ nhiên phải khuyên họ phải lập bàn thờ Phật để lễ kính, nhưng cũng nên khuyên họ giữ tượng Chúa ở một nơi nào trang trọng. Nên xem Chúa Jésus như là một Bồ Tát thị hiện giáo hóa cho dân Do Thái vốn tin vào Cựu Ước một cách lạc hậu và hẹp hòi. Chúa Jésus đã có những cải cách rất đáng kể và rất gần với Đạo Phật.
Trên đây là vài ý kiến đối với vấn đề Quy Y Tam Bảo, kính mong các vị Tôn Túc khoan thứ cho những sai lầm và xin bổ sung những điều còn thiếu.
Kính ghi
Tỳ kheo CHÂN QUANG
(2007)

NGHI THỨC QUY Y TAM BẢO
—&–

Phật tử mặc áo tràng nghiêm chỉnh tập trung vào chánh điện, đứng chắp tay hướng về tượng Phật, nghe một hồi khánh xá Phật rồi quỳ xuống nghe thầy Bổn Sư niệm hương.

NIỆM HƯƠNG
Nguyện đem lòng thành kính
Gởi theo đám mây hương
Phảng phất khắp mười phương
Cúng dường ngôi Tam Bảo
Thề trọn đời giữ đạo
Theo Phật Pháp làm lành
Cùng pháp giới chúng sanh
Cầu Phật từ gia hộ
Tâm Bồ Đề kiên cố
Xa bể khổ nguồn mê
Chóng quay về bờ giác.

KỲ NGUYỆN
Hôm nay các Phật tử:
…………………………………………………
cần thỉnh đệ tử Tỳ Kheo: ……………………………………………………
tác lễ truyền trao Tam Quy, Ngũ Giới, Thất Nguyện. Cầu trên Mười Phương Tam Bảo lai lâm chứng giám, khiến cho các đệ tử tội diệt phước sanh, thiện căn tăng trưởng, đạo tâm bất thối, tinh tấn tu hành, chóng thành Phật Đạo.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

NIỆM HƯƠNG
Giới hương, định hương, dữ huệ hương
Giải thoát, giải thoát tri kiến hương
Quang minh vân đài biến Pháp giới
Cúng dường Thập Phương Tam Bảo tiền
Nam Mô Hương Cúng Dường Bồ Tát

TÁN PHẬT
Đấng Pháp Vương Vô Thượng
Ba cõi chẳng ai bằng
Thầy dạy khắp trời người
Cha lành chung bốn loại
Nay con nguyện Quy Y
Diệt trừ vô lượng tội
Dâng lên lời tán thán
Ức kiếp vẫn không cùng.
Phật, chúng sanh tánh thường rỗng lặng
Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn
Lưới đế châu ví đạo tràng
Mười Phương Phật bảo hào quang sáng ngời
Trước bảo tòa thân con ảnh hiện
Cúi đầu xin thệ nguyện Quy Y.
LỄ PHẬT
– Chí tâm đảnh lễ: Nam mô khắp Mười Phương hư không tất cả Chư Phật. (1 lạy)
– Chí tâm đảnh lễ: Nam mô khắp Mười Phương hư không tất cả Chánh Pháp. (1 lạy)
– Chí tâm đảnh lễ: Nam mô khắp Mười Phương hư không tất cả Hiền, Thánh, Tăng. (1 lạy)
Thầy Bổn Sư nói:
Hôm nay quý Phật tử phát tâm Quy Y Tam Bảo, trước hết hãy ngồi để nghe thầy giải thích ý nghĩa Quy Y Tam Bảo để hiểu rồi mới thọ trì sau.
Các Phật tử ngồi xuống, Thầy Bổn Sư ngồi ghế bên cạnh chuông.
Thầy Bổn Sư nói: (bài gợi ý)
Quy Y Tam Bảo nói cho đủ là Quy Y Phật, Quy Y Pháp, Quy Y Tăng.
- Quy Y Phật là gì?
Quy Y có nghĩa là trở về và nương tựa, đó là từ xưa của Ấn Độ. Ngày nay hay người ta hay dùng chữ khác là nhập môn, tôn làm Thầy để trở thành đệ tử. Nhưng nói cho đúng nghĩa Quy Y là tôn thờ, tôn kính với trọn lòng tha thiết.
Vậy khi chúng ta Quy Y Tam Bảo nghĩa là kể từ đây chúng ta là đệ tử của Đức Phật, học theo Chánh Pháp, nương với chư Tăng.
Như chúng ta đã biết Đức Phật là một người như mọi người, là chúng sinh như mọi chúng sinh, nhưng là một con người phi thường. Từ vô lượng kiếp xưa Ngài đã tu tập hoàn thiện chính mình rất là tuyệt hảo, Ngài đã tích lũy vô lượng công đức, rèn luyện vô biên giới hạnh, làm lợi ích vô biên khắp chúng sinh. Khi công thành quả mãn đến kiếp cuối cùng Ngài hiện thân ở đất nước Ấn Độ và tu hành thành quả vị Phật. Ở quả vị Phật này Ngài đạt được sự giác ngộ tận cùng tuyệt đối, đạt được sự vô ngã hoàn toàn, lòng từ bi phủ trùm, Ngài thương yêu tất cả mọi loài chúng sinh. Ngài thấu rõ bản thể của vũ trụ pháp giới, từ đó không chuyện gì mà Ngài không biết. Ngài thấu suốt vô lượng kiếp của chính mình, thấy rõ đường đi luân hồi Nhân Quả của chúng sinh. Ngài vĩnh viễn không còn si mê đọa lạc, biết rõ bản chất của cuộc đời là ràng buộc, khổ đau. Từ sự giác ngộ này Ngài trở thành đồng nhất với vũ trụ pháp giới, chúng ta gọi là đạt được sự giải thoát hoàn toàn viên mãn đến tuyệt đối.
Nay chúng ta hiểu được Đức Phật, tin được Đức Phật và đến quỳ dưới chân Ngài để từ đây là đệ tử của Ngài.
Khi chúng ta là đệ tử của Phật, chúng ta hiểu được những ý nghĩa sau:
* Thứ nhất là sự tối cao trong vũ trụ này không phải là một thần linh mà là sự giác ngộ. Nên khi chúng ta Quy Y Phật là chúng ta cũng tự đặt cho mình một mục tiêu, một lý tưởng là hướng về sự giác ngộ, sự giải thoát.
* Thứ hai là Đạo Phật có khác với các tôn giáo khác. Ở các tôn giáo khác đấng tối cao là một vị Thượng Đế, một thần linh mà không ai có thể đạt đến địa vị đó, chỉ có vị đó là tối cao duy nhất. Còn ở Đạo Phật, đấng tối cao là đấng Giác ngộ. Tất cả chúng sinh nếu biết tu tập, đi đúng đường, với sự nỗ lực phi thường thì ai cũng có thể đạt được sự giác ngộ như vậy. Đây là tính nhân bản trong đạo Phật.
Ngoài ra khi Quy Y Phật chúng ta cũng còn được dặn dò một điều là khi đã Quy Y Phật rồi, từ đây không còn Quy Y theo tà thần quỷ vật nào khác. Nghĩa là khi đến ngôi đền, ngôi miếu nào đó chúng ta không còn phải lễ lạy nữa. Vì đến với Phật Pháp chúng ta chỉ cúi đầu trước từ bi, trước trí tuệ, trước sự giác ngộ, trước sự giải thoát chứ không cúi đầu trước cái gì gọi là quyền lực siêu nhiên. Đây là điều mà quý Phật tử phải nhớ trong ý nghĩa Quy Y Phật.
- Quy Y Pháp là gì?
Pháp là lời dạy của Đức Phật. Khi chúng ta Quy Y Pháp nghĩa là từ đây chúng ta là đệ tử Phật, chúng ta học hỏi những lời dạy của Ngài để lại trong kinh điển, sách sử. Tuy nhiên ý nghĩa về Pháp rất rộng, Pháp còn có nghĩa là chân lý, là lẽ phải.
Có một lần đi ngang khu rừng, Đức Phật hái một nắm lá, đưa lên hỏi các đệ tử của Ngài:
– Nắm lá trong tay của ta so với lá trong khu rừng là nhiều hay ít?
Các đệ tử của Ngài đáp:
– Bạch Thế Tôn, nắm lá trong tay của Đức Thế Tôn rất là ít, lá trong rừng rất là nhiều.
Đức Phật nói:
– Này các Tỳ kheo ! Cũng vậy, những điều mà ta biết như lá trong rừng, những điều ta nói như lá trong bàn tay.
Nghĩa là suốt 45 năm Đức Phật thuyết pháp mặc dù rất nhiều nhưng chỉ là một phần rất nhỏ so với những chân lý trong vũ trụ này.
Tuy nhiên, đó là nền tảng, là thềm thang để chúng ta đến với chân lý. Và như vậy, khi một người đệ tử của Đức Phật, học hỏi giáo pháp của Đức Phật thì không được hạn chế trên những gì thuộc về hình thức của Đạo Phật.
Không phải bất cứ điều nào mang nhãn hiệu Đạo Phật đều được chúng ta tin nhận lập tức, vì qua mấy ngàn năm, đã có những sự pha trộn nhiều tư tưởng từ bên ngoài. Chúng ta phải tỉnh táo suy xét xem những tư tưởng đó phù hợp với các giáo lý căn bản của Đạo Phật từ trước hay không. Có những giáo lý, những lời dạy, những tư tưởng không phải của Đạo Phật mà là của một danh nhân, một nhà tư tưởng nào đó nói lên, nhưng khi chúng ta bình tâm suy xét thì chúng ta thấy điều này hợp với lẽ phải thì chúng ta vẫn tôn kính, vẫn chấp nhận. Vì chân lý là lẽ phải.
Cho nên ý nghĩa Quy Y Pháp là chúng ta nương theo lời dạy của Đức Phật đồng thời cũng biết tôn trọng học hỏi những lẽ phải từ mười phương khắp thế giới không hạn cuộc.
Khi Quy Y Pháp chúng ta cũng được dặn dò thêm là từ đây không được Quy Y tà giáo ngoại đạo. Từ đây chúng ta không còn học những kinh sách bậy bạ mà không dựa trên luật Nhân Quả Nghiệp Báo. Chúng ta không mê muội theo những điều chỉ theo sự vẽ vời tạm bợ nào đó chứ không có thực .
Gần đây có một số giáo phái phao lên là đã sắp tới ngày tận thế, họ kêu gọi mọi người đóng tiền cho họ để được cứu rỗi. Hoặc họ tin vào những thần linh nào do họ đặt, do họ dựng lên làm cho tín đồ họ mê muội tin theo, không tự kiểm soát lấy chính mình, không dựa vào luật Nhân Quả. Đó là tin vào tà giáo ngoại đạo.
Vì vậy khi chúng ta Quy Y Pháp, nương vào lời dạy của Đức Phật, tin vào những lẽ phải ở khắp nơi và loại bỏ những gì tà mị, mê tín sai lầm.
- Quy Y Tăng là gì?
Tăng là những người xuất gia từ bỏ gia đình để dành trọn cuộc đời thực hành lời dạy của Đức Phật. Ở đây chúng ta chỉ nói những vị chân tu. Khi chúng ta Quy Y Tăng, chúng ta nương tựa với Mười Phương Tăng không riêng vị Thầy Bổn Sư của mình.
Tuy nhiên chúng ta phải có sự gạn lọc suy xét. Mặc dù chúng ta quý kính chư Tăng nhưng chúng ta phải biết nhận xét những chư Tăng nào mà mình thấy chân chính thì mới tôn kính. Vì thời đại này càng lúc càng xa Phật, trong Phật Pháp đã có sự dễ dãi lỏng lẻo, cho nên có những người tuy mang hình tướng chư Tăng nhưng sự thật nội tâm và hành động không giống như vậy. Do đó chúng ta không dựa vào hình thức để đặt lòng tôn kính mà phải dựa vào thực chất, nghĩa là phải biết rõ, phải nhận xét thấy những chư Tăng chân chính, mình mới nương tựa, mới học hỏi, mới tôn kính.
Ngoài ra nơi ý nghĩa Quy Y Tăng này, chúng ta còn được dặn là từ đây không được Quy Y thầy tà, bạn ác. Nghĩa là những người nào không có cuộc sống tốt đẹp, trong lành để mình có thể học hỏi thì không được thân cận học hỏi họ. Chỉ khi nào đạo lực mình rất vững, mình có khả năng giáo hóa thì lúc đó mới đến với những người xấu để giáo hóa. Còn trong khi mình đang nương tựa học hỏi thì nên tránh những người thầy tà, bạn ác.
Đó là ý nghĩa Quy Y Tam Bảo, Phật – Pháp – Tăng.
Thầy Bổn Sư nói tiếp:
Quý Phật tử đã nghe giải thích ý nghĩa Quy Y Tam Bảo xong. Bây giờ quý Phật tử quỳ lên sám hối cho tam nghiệp được thanh tịnh để làm lễ Quy Y.
Khi Phật tử quỳ lên rồi, thầy Bổn Sư mới đọc để Phật tử đọc theo.
Thầy Bổn Sư:
- Đệ tử chúng con từ vô thủy (ngừng để cho Phật tử lặp lại)
- lỡ tạo bao điều lầm lỗi ( – )
- ngày hôm nay cầu xin sám hối ( – )
- xin chư Phật thương xót cho chúng con ( – )
Nam Mô Cầu Sám Hối Bồ Tát (lạy Phật 1 lạy) (Lặp lại 3 lần Bài Sám Hối.)
Thầy Bổn Sư nói tiếp:
Bây giờ đến lúc phát nguyện Quy Y Tam Bảo. Thầy nói và các Phật tử nói theo, ai tên gì nói tên đó.
Thầy Bổn Sư :
– Đệ tử chúng con tên là:…………………. (ngừng để cho Phật tử lặp lại)
– Xin suốt đời Quy Y Phật. ( – )
– Xin suốt đời Quy Y Pháp ( – )
– Xin suốt đời Quy Y Tăng ( – )
(lạy Phật 1 lạy) – (Lặp lại 3 lần.)

Thầy Bổn Sư nói tiếp, quý Phật tử đọc theo.
– Đệ tử chúng con,
– Quy Y Phật rồi khỏi đọa địa ngục (ngừng để cho Phật tử lặp lại)
– Quy Y Pháp rồi khỏi đọa ngạ quỷ (-)
– Quy Y Tăng rồi khỏi đọa súc sinh (-)
(lạy Phật 1 lạy) – (Lặp lại 3 lần.)

Nghi Thức Quy Y Tam Bảo

Trang 1 2

Thầy Bổn Sư nói:
Bây giờ phần Tam quy đã xong, mời quý Phật tử ngồi xuống nghe Thầy giải thích thế nào là Năm Giới Cấm của người Phật tử tại gia.
Phàm khi người đệ tử cư sĩ đã Quy Y Phật, trở thành đệ tử của Phật thì phải giữ gìn Năm Giới cấm để làm tư cách căn bản của con người.
* Thứ nhất là Giới sát sinh.
Giới sát sinh này có nghĩa là ngăn cấm sự giết người và cả ý nghĩ muốn hại người, trừ trường hợp bảo vệ quê hương và đạo pháp. Các loài thú vật lớn như trâu, bò, heo, chó cũng không được giết hại, vì chúng có nhân quả rất gần với loài người. Còn những thú vật nhỏ như tôm, cá… càng hạn chế càng tốt, rồi tiến dần đến không xâm phạm là hoàn hảo. Đó là giới sát sinh.
Ngoài ra chúng ta còn phải biết bảo vệ môi trường như giữ gìn những cây xanh, không chặt phá cây rừng, trồng thêm cây xanh quanh nhà để góp phần làm tăng thêm thảm thực vật cho địa cầu. Đó là giữ giới sát sinh.
Người giữ được giới sát sinh thì nhiều đời được khỏe mạnh, ít bệnh hoạn, dung mạo đẹp đẽ, ít bị tai nạn, đi vào những chỗ nguy hiểm không sợ sệt. Đó là phước của người giữ giới sát sinh.
* Thứ hai là Giới trộm cắp.
Giới trộm cắp là không lấy những gì không phải của mình, không phải người khác cho mình, nhặt của rơi phải tìm cách trả lại cho người đánh mất, không vui mừng dấu để sử dụng, vì như vậy là mình đã vui mừng trên sự đau khổ của người khác. Ngay cả những người làm viên chức, làm nơi tập thể thì không thâm lạm của công, phải giữ gìn của công một cách kỹ lưỡng. Đối với những tài nguyên chung thì không được xâm phạm, không tham dự các trò chơi, cờ bạc, cá độ, đá gà, đua ngựa… Tự mình xét nét những hành động của mình để không rơi vào giới trộm cắp. Đó là giới trộm cắp.
* Thứ ba là Giới tà dâm.
Người Phật tử khi có vợ có chồng thì phải giữ đời sống một vợ một chồng cho ổn định, không lang chạ ngoại tình. Vì điều đó đem lại hạnh phúc cho gia đình và ổn định cho xã hội.
* Thứ tư là Giới nói bậy.
Giới nói bậy gồm có 4 phần:
1. Không nói lời độc ác.
Người Phật tử khi giữ giới này không nên nói nặng lời với người khác, không chửi rủa, nhục mạ người khác quá đáng.
2. Không nói dối.
Người đệ tử Phật cố gắng chỉ nói sự thật và chỉ nói cho những người đáng nghe. Không được nói dối, nhiều khi sự nói dối đó có đem lại lợi ích nhưng cũng phải dè dặt. Vì lời nói dối không có giá trị lâu dài. Người Phật tử phải ráng sống chân chính và nói thật.
3. Không nói lời chia rẽ.
Thế giới này cần phải thương yêu, người ta đau khổ vì người ta phải đối diện với sự thù ghét, đố kỵ. Vì vậy, để cho cuộc sống được yên vui, hạnh phúc thì chúng ta chỉ nên đem lại sự đoàn kết thương yêu với nhau. Không nói những lời làm cho người này ghét người kia, người kia nghĩ xấu người nọ. Chỉ nên nói những lời vui vẽ, hòa ái, đem lại sự thân ái với nhau.
4. Không nói lời khoe khoang, nói đùa vô ích.
Người Phật tử lúc nào cũng khiêm cung, mình làm phước giúp được rất nhiều người, tu tập có tiến bộ nhưng vẫn dấu lại, kín đáo không khoe khoang, sợ bị tổn phước. Đó là tư cách khiêm cung kín đáo của người Phật tử.
* Thứ năm là Giới dùng những chất làm say, làm nghiện, làm mất trí tuệ như: rượu, ma túy, thuốc lá.
Rượu khi uống vào làm cho đầu óc mình không còn tỉnh táo rồi lại sinh ra nghiện. Thuốc lá hại sức khoẻ mình và mọi người chung quanh. Hoặc ma túy, khi sử dụng ma túy nó làm nghiện rồi quên hết tất cả chỉ biết tới ma túy mà bất chấp tội lỗi. Tư cách của người Phật tử không cho phép mình làm những việc đó.
Đây là Năm Giới cấm mà Đức Phật chế ra để chúng ta có được những tư cách căn bản của con người.
Sau khi giải thích Năm giới xong, Thầy Bổn Sư mời quý Phật tử quỳ lên để thọ trì năm giới.
Thầy Bổn Sư nói:
Quý Phật tử khi nghe Thầy hỏi từng giới, thì nói: “Mô Phật con giữ được”
Thầy Bổn Sư :
– Thứ nhất: Giới sát sinh. Là người đệ tử Phật suốt đời không được sát sinh hại vật, trừ trường hợp bảo vệ quê hương, đạo pháp. Đó là giới của người cư sĩ tại gia. Vậy quý Phật tử có giữ được không?
Phật tử:
‘Mô Phật con xin giữ được’ (lạy Phật 1 lạy)
Thầy Bổn Sư :
– Thứ hai: Giới trộm cắp. Là người đệ tử Phật suốt đời không được gian tham trộm cắp. Đó là giới của người cư sĩ tại gia. Vậy quý Phật tử có giữ được không?
Phật tử:
‘Mô Phật con xin giữ được’ (lạy Phật 1 lạy)
Thầy Bổn Sư :
– Thứ ba: Giới tà dâm. Là người đệ tử Phật suốt đời không được tà dâm, ngoại tình. Đó là giới của người cư sĩ tại gia. Vậy quý Phật tử có giữ được không?
Phật tử:
‘Mô Phật con xin giữ được’ (lạy Phật 1 lạy)
Thầy Bổn Sư :
– Thứ tư: Giới nói bậy. Là người đệ tử Phật suốt đời không được nói bậy, nói điều sai quấy. Đó là giới của người cư sĩ tại gia. Vậy quý Phật tử có giữ được không?
Phật tử :
‘Mô Phật con xin giữ được’ (lạy Phật 1 lạy)
Thầy Bổn Sư :
– Thứ năm: Giới dùng những chất làm say, làm nghiện. Là người đệ tử Phật suốt đời không được dùng các chất làm say, làm nghiện. Đó là giới của người cư sĩ tại gia. Vậy quý Phật tử có giữ được không?
Phật tử :
‘Mô Phật con xin giữ được’ (lạy Phật 1 lạy)
Thầy Bổn Sư :
Đó là năm giới cấm mà quý Phật tử đã thọ trì trước Phật thì phải ráng suốt đời còn lại giữ gìn kỹ lưỡng để không bị sai phạm. Và bây giờ phần thọ trì Tam Quy, Ngũ Giới đã xong mời quý Phật tử ngồi xuống nghe Thầy giải thích Bảy Điều Nguyện để thọ trì. Vì có Bảy Điều Nguyện này mới làm cho Phật Pháp năng động hơn, mạnh mẽ hơn, đem lại lợi ích phước báo vô lượng cho Phật tử.

Thầy Bổn Sư giải thích:
* Điều 1: Phật tử phải phát nguyện tập ăn chay dần dần mỗi tháng.
Ngoài việc thọ trì Năm Giới Cấm, Phật tử phải tập ăn chay. Mới ban đầu dùng ít, có thể 1 tháng ăn chay 2 ngày là mùng 01 và rằm. Sau đó quen dần tăng lên 4 ngày là 30, mùng 01, 14, 15, tăng dần đến khi có thể ăn cả tuần liên tiếp vẫn cảm thấy nhẹ nhàng bình thường. Phật tử phải tập ăn chay để góp phần giảm thiểu nhu cầu dùng thịt cá cho xã hội. Vì chỉ cần một người thêm một miếng thịt thôi, chừng vài ba chục người là đủ giết most con heo. Và cứ nhiều người như vậy thì người ta phải sát sinh quá nhiều. Đó là nguyên nhân làm cho thế giới này chiến tranh không bao giờ chấm dứt. Chúng ta thấy trên thế giới các quốc gia cứ mưu cầu tìm hòa bình, họ lập hết tổ chức này đến tổ chức kia, giàn xếp hết chuyện này đến chuyện kia nhưng không bao giờ chiến tranh chấm dứt được.
Vậy người Phật tử phải cố gắng tập ăn chay mỗi ngày tiến lên dần để giảm bớt sự sát sinh và thế giới sẽ dần dần được hòa bình. Đó là điều phát nguyện thứ nhất.

* Điều 2: Phật tử phải phát nguyện học hỏi giáo pháp.
Người đệ tử Phật khi đã Quy Y rồi thì phải học hỏi giáo pháp. Chính vì chúng ta không nắm vững đạo lý nên chúng ta không biết tu, không biết sống và lập trường mình bị dao động. Đứng trước một cám dỗ nhiều khi mình bị sa ngã, đứng trước một tài sản, mình không cưỡng lại được lòng tham để lao vào tội lỗi. Nhiều khi có người tu thấy người trong gia đình mình bỏ đạo mà vẫn xem bình thường. Vì chính mình không hiểu được đạo lý, không thấy được Phật Pháp là vô cùng lợi ích cho con người, nên để người thân mình bước ra khỏi đạo mà mình vẫn nhìn một cách bình thản. Đó là vô trách nhiệm, là tội lỗi. Nên phải học hỏi giáo Pháp để mình có lập trường kiên định, hiểu sâu áp dụng tu cho mình và làm lợi ích cho những người chung quanh. Chúng ta tôn thờ Phật, phải tôn thờ lời Phật dạy, học hỏi lời Phật dạy để áp dụng cho bản thân mình. Việc học Pháp có nghĩa là hoặc chúng ta trực tiếp đi nghe giảng, hoặc đọc sách, hoặc nghe băng, hoặc trao đổi với những người hiểu đạo.v.v… Dĩ nhiên là chúng ta phải học pháp một cách tỉnh táo có chọn lọc. Đừng tưởng rằng bất cứ vị Thầy nào giảng cũng đều là chân lý Phật dạy, đừng tưởng cuốn sách nào viết là không sai, đừng tưởng các băng nào giảng cũng đều là hoàn hảo. Cho nên chúng ta siêng học hỏi nhưng phải biết tỉnh táo, phán xét và chọn lọc.

* Điều 3: Phật tử phát nguyện mỗi ngày phải có một nghi thức trong ba nghi thức này, hoặc là cả ba, hoặc là một: Lễ Phật, niệm Phật, tọa thiền, mỗi ngày ít nhất một lần.
Mỗi ngày phải bày tỏ lòng tôn kính đối với Đức Phật và có giờ để tu hành. Hoặc chỉ lễ Phật thôi nếu mình quá bận không thể tu tập được. Còn tốt hơn thì một ngày phải lễ Phật một lần rồi sau đó ngồi tọa thiền hay niệm phật tùy theo pháp môn của mình. Không thể một ngày trôi qua mà không nhìn đến mặt Phật ra sao hết. Đó là điều không thể chấp nhận được đối với một người Phật tử. Sở dĩ tín đồ Hồi giáo kiên trung với đạo của họ vì mỗi ngày họ phải cầu nguyện 5 lần. Nếu lâu ngày chúng ta không lễ Phật thì đạo tâm sẽ lui sụt nhanh chóng. Muốn đạo Phật thêm sức mạnh thì từng người Phật tử phải siêng năng lễ Phật.

* Điều 4: Người Phật tử phải suốt đời sống vị tha, siêng năng làm việc từ thiện.
Chúng ta không thể suốt đời chỉ đi tìm miếng ăn miếng mặc cho chính mình, vì như thế thật là một cuộc đời uổng phí. Ý nghĩa tốt đẹp của cuộc sống là chúng ta quên mình để sống cho người khác. Tuy chúng ta còn phải có bổn phận là phải làm ăn kiếm sống, nhưng phải biết sống vì người khác, phải biết làm việc từ thiện . Việc làm từ thiện đó có thể là việc rất nhỏ, có thể là việc rất lớn, nhưng theo khả năng của mình, theo nhân duyên của mình, điều gì làm được thì phải ráng mà làm. Một ngày, một tuần, một tháng trôi qua, nhìn lại thấy mình chưa từng làm một việc từ thiện gì với ai hết thì phải biết đó là những tháng ngày mình sống một cách rỗng tuếch, tầm thường, ích kỷ, thấp kém. Ai nhờ mình làm việc gì nếu làm được phải ráng làm, còn không làm được phải thấy xót xa, thấy tiếc chứ đừng bực bội. Vì nếu bực bội thì tâm vị tha, nguyện từ thiện của mình đang chết dần chết mòn.

* Điều 5: Người Phật tử phải Phật hóa gia đình mình.
Người Phật tử hiểu đạo cần phải làm cho gia đình mình cùng tin hiểu và Quy Y Phật Pháp. Không để tình trạng cha mẹ biết Phật Pháp mà con cái lêu lỏng, hoặc ngược lại, người con biết Phật Pháp cần hướng dẫn tạo điều kiện cho cha mẹ tu hành. Chúng ta báo hiếu cho cha mẹ bằng cách giúp cho cha mẹ biết tu hành, biết Phật Pháp. Đó là sự báo hiếu đúng nghĩa nhất. Trách nhiệm gần gũi nhất đối với chúng ta là gia đình mình. Phải làm sao cho gia đình mình biết Phật Pháp.
Nếu người Phật tử đã thấy Phật Pháp là an vui, là hạnh phúc, là chân lý, là ánh sáng thì phải làm sao cho gia đình mình biết được Phật Pháp. Có khi mình nói gia đình mình không nghe vì sự tu hành của mình chưa đủ sức thuyết phục. Vậy mình phải ráng sống tốt với mọi người, làm mọi người cảm động. Lúc đó họ mới thấy rằng Phật Pháp đã tạo nên niềm vui trong gia đình, rồi dần dần họ tin theo. Bằng lối sống và cư xử tốt đẹp, chúng ta sẽ làm cho mọi người chung quanh tin hiểu Phật Pháp hơn. Do đó, người Phật tử phải phát nguyện Phật hóa gia đình, không được tu riêng cho bản thân mình.

* Điều 6: Người Phật tử phải phát nguyện đem Phật Pháp đến cho những người chưa biết, để mọi người có được niềm vui, được hạnh phúc trong cuộc sống này.
Người Phật tử nên thường xuyên đưa kinh, băng giảng hoặc sách giáo lý cho mọi người tin hiểu được Phật Pháp, tin hiểu luật Nhân Quả. Vì khi tin hiểu luật Nhân Quả họ mới biết tránh tội, làm phước. Họ tin được Phật Pháp, nghe được lời dạy của Đức Phật, của quý Thầy, họ sẽ sửa được cuộc sống của họ. Có như thế cuộc đời họ mới có được niềm vui và những người chung quanh cũng lây lan được niềm vui đó.
Do đó người Phật tử phải suốt đời không bao giờ ngừng ước nguyện đem Phật Pháp đến cho những người chưa biết.
Người Phật tử mà chưa hề nói chuyện đạo lý với ai, chưa hề dắt ai đi chùa, chưa hề đưa băng giảng cho ai nghe, chưa hề đưa sách giáo lý cho ai đọc, phải biết là mình chưa làm tròn trách nhiệm của người đệ tử Phật.

* Điều 7: Người Phật tử phải phát nguyện dù gặp hoàn cảnh khó khăn, gian khổ vẫn kiên cường hộ đạo.
Cuộc đời không bao giờ suôn sẻ. Có những hoàn cảnh thật vô cùng khó khăn. Hoặc chúng ta bị hoàn cảnh gia đình, xã hội gây khó khăn, hoặc là chịu những sự dụ dỗ nào đó, thì chúng ta dù bỏ thân mạng mình chứ không bỏ đạo. Đồng thời, chúng ta còn phải quyết tâm bảo vệ đạo Pháp một cách kiên quyết, khôn khéo, bản lĩnh. Vì thân mạng này bỏ đi kiếp sau chúng ta có thân khác tốt đẹp hơn. Nếu trong tâm mình có một lần bỏ đạo thì những kiếp sau không gặp lại Phật pháp nữa, mà không gặp lại Phật Pháp nữa nghĩa là chúng ta đã quay lưng với ánh sáng và đi dần về phía âm u tăm tối. Nên người Phật tử phải có ý nguyện thà chết vẫn phải kiên cường hộ đạo.
Tương lai sắp tới, thế giới buộc phải tìm ra một tôn giáo đúng nhất cho nhân lọai. Lúc đó, ngoài việc dùng lý luận để chứng tỏ tôn giáo mình hay, một số tôn giáo sẽ dùng đến thủ đọan và bạo lực đ63 tranh giành lãnh thổ và tín đồ.
Nếu tôn giáo bạn dùng lý luận, đệ tử Phật chúng ta dùng lý luận. Nếu tôn giáo bạn dùng họat động từ thiện, đệ tử Phật chúng ta dùng họat động từ thiện. Nếu tôn giáo bạn dùng thủ đọan, đệ tử Phật chúng ta dùng mưu trí. Nếu tôn giáo bạn dùng vũ khí, đệ tử Phật ta cũng cầm vũ khí đứng lên quyết tâm chiến đấu.
Thầy Bổn Sư giải thích xong rồi mời quý Phật tử quỳ lên để thọ trì Bảy Điều Nguyện. Thầy Bổn Sư đọc rồi Phật tử đọc theo.
* Điều 1: Chúng con phát nguyện, từng bước dần dần, dùng thức ăn chay, đều đặn mỗi tháng. (lạy Phật 1 lạy)
* Điều 2: Chúng con phát nguyện, siêng năng học Pháp, cố gắng hiểu sâu, áp dụng tu hành. (lạy Phật 1 lạy)
* Điều 3: Chúng con phát nguyện, mỗi ngày lễ Phật, niệm Phật, tọa thiền, không cho gián đoạn. (lạy Phật 1 lạy)
* Điều 4: Chúng con phát nguyện, suốt cuộc đời này, biết sống vị tha, siêng làm việc thiện. (lạy Phật 1 lạy)
* Điều 5: Chúng con phát nguyện, giúp thân quyến mình, nhất là trẻ em, tin hiểu Phật Pháp (lạy Phật 1 lạy)
* Điều 6: Chúng con phát nguyện, giúp cho tất cả, kẻ gần người xa, tin hiểu Phật Pháp. (lạy Phật 1 lạy)
* Điều 7: Chúng con phát nguyện, dù gặp khó khăn, vẫn quyết một lòng kiên cường hộ đạo. (lạy Phật 1 lạy)

Đó là Bảy Điều Nguyện mà quý Phật tử đã thọ trì trước Phật. Vậy quý Phật tử cố gắng giữ gìn để đem lại niềm vui cho mọi người và làm cho Phật Pháp được ngày càng hưng thịnh.
Sau khi quý Phật tử đã thọ trì Tam quy Ngũ giới và Thất nguyện xong, mời quý Phật tử ngồi xuống để Thầy cho pháp danh mỗi người. Pháp danh là tên trong đạo để khi đến chùa quý Phật tử gọi nhau bằng pháp danh.
Khi trở về địa phương, quý Phật tử nên tập hợp thành Đạo Tràng để cùng nhau sách tấn tu học, làm phước hoặc tham gia theo những Đạo Tràng đã thành lập sẵn.
Tiếp theo Thầy Bổn Sư phát lá phái cho Phật tử . Từng người lên nhận lá phái.
Sau cùng quý Phật tử quỳ lên lễ Tam Tự Quy Y rồi lui ra.
TAM TỰ QUY Y
Tự Quy Y Phật
Nguyện cho chúng sanh
Hiểu sâu đạo cả
Phát tâm vô thượng. (1 lạy)

Tự Quy Y Pháp
Nguyện cho chúng sanh
Thấu rõ kinh tạng
Trí tuệ như biển. (1 lạy)

Tự Quy Y Tăng
Nguyện cho chúng sanh
Tâm ý hòa hợp
Biết thương mến nhau. (1 lạy)

Kinh Tỳ Kheo Na Tiên, Thiện Nhựt
Nghiệp và Kết Quả, TỲ Kheo Thích Chân Quang
Nhập Bồ Tát Hạnh, Tịch Thiên (Shantideva) – Việt dịch: Thích Nữ Trí Hải
Nhập Hạnh Bồ Tát, Sàntideva (Tôn giả Tịch Thiên) – Việt dịch:  Nguyên Hiển
Những Hạt Ngọc Trí Tuệ Phật Giáo, Tỳ Kheo Thích Tâm Quang

About these ads
 
Để lại phản hồi

Posted by on Tháng Một 4, 2010 in Phật Giáo

 

Thẻ:

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: